"Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau." President Ronald Reagan
Friday, December 5, 2014
---- PHỐ ĐÈN ĐỎ - RED LIGHT DISTRICT ----
Trong kỳ báo vừa qua, khi viết về thủ đô Amsterdam của Hòa Lan, tôi có nhắc về khu Phố Đèn Đỏ. Ngay sau khi báo phát hành, đã có nhiều yêu cầu và khuyến khích muốn tôi viết ngay phóng sự xã hội này. Đương nhiên là tôi viết, nhưng theo góc nhìn của một chuyên viên xã hội. “Phố Đèn Đỏ - Red Light District” tại Amsterdam (Hòa Lan) là nơi mua bán tính dục công khai, các cô gái hàng đêm đứng chào mời khách trong các cửa kính có đèn neon màu đỏ. Hòa Lan là một trong 17 quốc gia hiện nay đã hợp pháp hóa mãi dâm. Ước tính có hơn 900 cô gái có giấy phép hành nghề mãi dâm hợp pháp tại Amsterdam, tập trung vào khu Phố Đèn Đỏ ngay tại trung tâm thành phố. Về phương diện luật pháp và quan điểm chung của nhiều người dân Hòa Lan, mãi dâm được xem là một nghề nghiệp như bao nghề khác, có chứng chỉ hành nghề, có đóng thuế, có nghiệp đoàn, có lương hưu, người làm công việc này phải khám sức khỏe định kỳ, được huấn luyện về vệ sinh và an toàn tính dục cho chính họ cũng như cho xã hội.
TÔI ĐI TÌM GÁI BÁN HOA
Tôi đi đến đây bằng metro, ra khỏi trạm Central Metro Station, quẹo vào một con đường, đi thẳng hoài sẽ thấy Chinatown, tiếp tục đi băng qua khu phố Tàu này sẽ thấy khu Phố Đèn Đỏ. Phố Đèn Đỏ tọa lạc ở hai con đường lớn. Từ xa đã thấy cả một góc phố đỏ rực bởi đèn neon từ các khung cửa. Đến gần hơn chút nữa thì thấy rõ các cô gái đứng bên trong những khung cửa kính. Các khung cửa đây không phải là ô cửa sổ nhỏ mà là loại cửa lớn bằng kính cao từ trần nhà xuống đến tận mặt đất. Diện tích nơi các cô đứng chỉ lớn hơn nơi trang trí các mannequin trong những tiệm may, tiệm thời trang chút đỉnh, thông thường được trang trí thêm một cái bàn nhỏ phủ saten bong hoặc khăn nhung cùng với một cái điện thoại giả cổ màu mè và nhiều dây kim tuyến treo hững hờ.... Khi cần trao đổi với khách, các cô sẽ xoay cánh cửa ra để nói chuyện. Thấy tôi đi một mình, các cô đã vẫy gọi rất nhiều và họ có vẻ chú ý tôi hơn các du khách khác đi từng nhóm . Sau này tôi mới biết, theo kinh nghiệm của các cô, những người đàn ông đi một mình thường là những người thật sự có nhu cầu.....
Cánh cửa được xoay ra, Anna ưỡn ẹo bước ra bên ngoài nửa bước, mùi nước hoa Channel Number 5 và son phấn sực nức thơm nồng khiến cô càng thêm nữ tính, nụ cười cô thật rạng ngời trên môi. Phải nói rằng cô rất đẹp! Cô chào tôi bằng tiếng Anh, ngôn ngữ lẫn điệu bộ vô cùng khêu gợi như một diễn viên chuyên nghiệp. Những chàng thanh niên đang đi... “window shopping” thấy người đẹp hé cửa thì ngừng lại ngắm nghía, bàn tán. Tôi nói nhỏ và trao đổi vừa đủ cho Anna nghe....cô ngửa mặt cười ha hả và kéo tôi vào bên trong....phía sau của khung cửa đèn đỏ này là một căn phòng cũng không lớn gì lắm, vẫn là ánh sáng đỏ tràn ngập. Căn phòng nhỏ quá, chỉ vừa đủ kê một cái giường phủ saten trắng muốt và một chiếc ghế. Cô chỉ tôi ngồi trên giường, còn cô thì kéo ghế ngồi xuống. Có lẽ vài câu nói “nho nhỏ” của tôi khi nãy đã làm cô có thái độ trở nên thân mật hơn. Mà trong cái thân mật ấy thì trông cô không còn mấy phù hợp với bộ đồ kim tuyến màu hồng, ngắn cũn cỡn như đồ tắm bikini mà cô đang mặc trên người...Tôi liền nói tiếp câu chuyện dang dở giữa tôi và cô khi còn ở bên ngoài:
- Thì đó Anna, tôi muốn viết về đề tài mãi dâm tại Amsterdam, hy vọng cô sẽ giúp tôi. Cô cứ nói thật hết những gì cá nhân cô suy nghĩ chứ không cần màu mè gì cả. Cô cũng không phải là đại diện của ngành mãi dâm tại Amsterdam mà phải đắn đo lựa lời. Tôi không cần nghe các tuyên bố nảy lửa, và cũng không có chủ đích đi tìm những luận điệu đanh thép như các chính trị gia hay các nhà đạo đức ngồi trong bóng mát mà phán đâu đó....Tôi sẽ trả tiền cho cuộc gặp gỡ này, cô lấy của khách hàng bao nhiêu thì cứ lấy tôi vậy nhé !
Anna gật đầu, nhưng cũng rất sòng phẳng
- Được, được, tôi đồng ý, nhưng giá của tôi là 50 Euros cho một khách hàng, hồi nãy tôi đã trao đổi với anh bên ngoài rồi đó, và nhớ đừng quá lâu hơn một tiếng được không? (cô bỗng hạ giọng nói nửa như năn nỉ, nửa như nhõng nhẻo, rất hồn nhiên thiếu nữ)
Tôi nhìn lại Anna, cô vừa nói vừa đứng lên lấy tấm khăn choàng to bằng lụa đen quấn quanh cơ thể cho bớt lộ liễu. Lúc này nhìn cô đã không còn là một nhục thể khêu gợi như khi đứng ở cửa kính nữa, trông cô bây giờ như một sinh viên rất trẻ, đầy sức sống và hồn nhiên. Không hiểu sao tôi lại hỏi cô
- Cô có từng đến trường, à không, ý tôi nói là sau trung học đó?
- Có chứ, năm nay là năm cuối đại học của tôi mà, tôi cũng mong học xong đi làm và ổn định cuộc sống, ở lâu trong nghề này không được đâu...
Anna bỏ lửng câu nói, không nói tiếp tại sao lại không được... Và rồi cô ấy và tôi ngồi nói chuyện thật tâm đầu ý hợp như hai người bạn học. Anna càng thú vị khi nghe tôi nói tôi đang sống ở Canada, là nhân viên xã hội, tham gia các công tác giúp đỡ người vô gia cư và các bệnh nhân tâm thần, từng có rất nhiều lần tiếp xúc với giới mãi dâm qua những công tác như cổ động cho an toàn tính dục, phòng ngừa HIV/AIDS... Anna bảo hèn chi cô thấy tôi rất tự nhiên khi gõ khung cửa nơi cô đang đứng chứ không lấm lét và ngượng ngùng như một số đông những ông khách làng chơi khác. Cô còn chọc tôi rằng tôi quá tự nhiên ở cái khoảng hỏi giá cả. Trong lúc nói chuyện, Anna đã chỉ tôi căn phòng kế tiếp được ngăn bởi một bức mành kim tuyến. Cô kéo tôi bước vào và nói:
- Đây là phòng tắm đó anh bạn, vừa cho khách rửa ráy trước khi “vào cuộc” với tôi, vừa là phòng tắm của tôi luôn. Còn đây là sink cho tôi rửa mặt, đánh răng. Ở đây không có bếp, tôi phải mua thức ăn từ bên ngoài. Thời gian từ 6 giờ chiều cho đến gần rạng sáng là giờ kiếm tiền của chúng tôi, do đó mọi chuyện ăn và uống đều phải do nhà hàng đem lại hết, chứ chúng tôi đâu có ra ngoài được.
Quan sát thêm vài chi tiết, rồi tôi và Anna cùng quay trở lại căn phòng ngủ của cô, vừa đi tôi vừa hỏi
- Như vậy các cô gái làm ở khu này đều sống tại.... studio hết sao?
- Không hẳn vậy đâu, (Anna trả lời), nhiều cô từ các nước khác đến đây làm việc, họ không có nhà, không có gia đình thì họ phải ở mướn quanh quẩn gần nơi làm việc của họ. Studio này chỉ được mướn 12 giờ đồng hồ mỗi ngày thôi. Còn tôi thì tôi về nhà ở bên ngoài cổ thành, vì tôi còn phải đi học vào ban ngày nữa chứ.
Tôi hỏi tiếp:
- Vậy tiền mướn mắc lắm không?
Anna nói
- Mắc vô cùng, khoảng 150 Euros một đêm, thậm chí ở những góc đường sầm uất, ví dụ gần các quán rượu, hộp đêm, các sân khấu biểu diễn “sex show” thì giá tiền có thể là cao hơn nhiều. Chúng tôi làm nhiều tiền, nhưng trả tiền phòng, tiền ăn, rồi các nhu cầu khác của phụ nữ như áo quần, son phấn...rồi thì cũng không dư lắm đâu.
Tôi hơi thắc mắc
- Nhưng ở trên cô còn có ai nữa không? Ý của tôi là cô có phải trả tiền...commission (tiền hoa hồng) cho ai không?
Anna lắc đầu và nhìn tôi tinh nghịch
- Sao mà anh bạn rành quá vậy? Tôi thì không, bởi vì tôi là self employed (tự làm chủ), tôi có giấy phép hành nghề, tự trả tiền mướn phòng, tất cả đều tự túc. Tuy nhiên, tôi biết có rất nhiều các cô gái khác đến từ các quốc gia Đông Âu hoặc thậm chí từ Châu Á, họ có người dẫn mối, họ có ma-cô, họ không nói rành tiếng Anh. Tiền làm ra đương nhiên phải chia cho các tay đầu nậu đó rồi. À, mà tôi thấy nhiều báo chí hay phóng đại sự việc, xem các cô ấy là những nạn nhân. Tôi thì tôi không thấy vậy, người ta dắt mối đem khách đến cho mình thì mình phải chia hoa hồng thôi, công bằng mà....(rồi bỗng cô phá lên cười và nói tiếp)....tôi học về luật kinh tế, tôi cũng hiểu rằng có “agent” thì sẽ đắc khách, còn tôi, tôi không có “agent” thì hơi lo, ít khách hơn nhưng đổi lại tôi không phải chia cho ai hết.
Tôi hơi nhíu mày phản đối Anna
- Nhưng mà tôi có đọc một vài báo cáo, nghe nói vấn đề buôn người, rồi thì các cô gái bị giam, nhốt vào trong các động mãi dâm, không tiếp khách thì bị đánh đập, làm bao nhiêu bị ma-cô lấy hết... Điều ấy có xảy ra ở đây không?
Anna nhìn tôi hơi lâu, cô ngần ngừ điều gì đó rồi nói tiếp
- Buôn người? Human trafficking đó hả? Có chứ nhưng không có tệ hại và thê thảm như tôi đọc tin tức ở Châu Á. Nếu cho phép tôi dùng từ ngữ khác cho ngành mãi dâm tại Amsterdam, tôi sẽ gọi các nhóm đó là “mãi dâm có tổ chức” thôi. Chung quy là ở đây chúng tôi làm việc có giấy phép hành nghề, có hiệp hội và được cảnh sát bảo vệ...Anh bạn đừng quá...too much được không?
Tôi phì cười vì thấy cô có vẻ giận. Những tìm hiểu thêm về ngành mãi dâm tại đây vào những ngày sau đó tôi mới hiểu rằng họ không cần và không muốn ai thương hại. Các cô làm nghề buôn hương, bán phấn ở Amsterdam chỉ muốn được tôn trọng, không bị diễu cợt hay khinh bỉ. Còn nếu đem tình trạng mãi dâm ở xứ khác ra so sánh, nơi mà các cô gái vừa bị ma cô, chủ động hành hạ bóc lột như nô lệ, vừa lo sợ bị cảnh sát bắt bỏ tù, thì hoàn toàn không giống như tại Amsterdam. Nhìn đồng hồ thấy cũng sắp hết một giờ đồng hồ làm việc của cô ta, tôi tranh thủ hỏi tiếp
- Một đêm như vậy cô có thể tiếp được bao nhiêu người, tôi thấy người đi xem hoa thì nhiều mà chẳng thấy bao nhiêu người....hái hoa.
- Trời ơi! Anh bạn, kiếm đồng tiền không dễ dàng đâu đó. Tôi phải có ít nhất 3 người khách thì mới đủ trả tiền phòng trong một đêm. Giá tiền cho một khách là 50 Euros, tuy nhiên nhiều người khách nói họ chỉ muốn trả 30 Euros thôi, khổ lắm, nhiều khi ế quá, tôi cũng phải đồng ý, vì mình không nhận thì cô ở căn bên cạnh cũng sẽ nhận. Gặp những đêm mưa liên tục là chúng tôi đói.
- Vậy cô thích gì và ghét gì nhất trong nghề này?
- Thích hả? Nó nuôi tôi sống trên mức trung bình, tuy không phải giàu sang gì, nhưng cái gì tôi thích, tôi đều có thể mua sắm được, không cần nhờ vào gia đình chu cấp. Hành nghề ban đêm nên tôi có thể đi học ban ngày. Còn ghét thì....tôi không thích quan hệ tính dục với nhiều người đàn ông quá. Cứ đứng ở cửa kính cho cả ngàn người qua lại dòm ngó, rồi tiếp xúc hết người này đến người khác nên tôi không còn cảm xúc nữa. Đâu phải ông nào cũng lịch sự và sạch sẽ đâu...có những lúc tôi có cảm giác như mình bị hiếp dâm thì đúng hơn...(nói đến đây thì Anna bỗng nghẹn giọng nhưng đã kịp gượng mỉm cười ngay sau đó).
- Cám ơn Anna đã dành thời gian cho tôi nhé, cô có muốn nhắn gởi gì đến những độc giả sẽ đọc bài báo mà tôi sẽ viết không?
Anna im lặng vài giây rồi nói
- Chúng tôi mong mọi người tôn trọng tất cả các cô gái làm việc tại khu Phố Đèn Đỏ này. Khi quý vị đến đây, làm ơn đừng chụp hình chúng tôi rồi đưa lên trên các trang mạng xã hội. Chúng tôi làm việc hợp pháp, có đóng thuế đàng hoàng, chúng tôi không cần ai thương hại bởi vì đây là lựa chọn chứ không bị ép buộc.
Tôi hỏi tiếp lời:
- Cô có lời nào nói với các bà vợ không?
Anna cười ha hả
- Xin các bà vợ đừng ghen, bởi vì tôi chưa thấy có ông khách nào đến khu Phố Đèn Đỏ này rồi đi yêu một cô gái ở đây cả. Các ông đến một cách lén lút, giải quyết sinh lý xong là ra đi vội vã không quay lại, họ bỏ quên nhiều thứ lắm, nhưng có ai quay lại lấy đâu chứ, do đó đừng nói chúng tôi giật chồng. Mà nói thật nghe, tôi cũng không có ý định lấy một ai trong những ông khách đến đây làm chồng đâu.
Tôi thấy thời gian cũng đã lâu nên trao tiền như đã hứa với cô rồi bước ra. Chúng tôi chào nhau thật nhanh vì khi ấy cũng đã hơn 9 giờ tối, giờ cao điểm đông khách của khu phố này. Khi bước ra khỏi căn nhà bằng cửa sau, đi vòng trở ra đường, nhiều anh chàng đứng ngoài đường nhìn tôi cười cười, hình như họ thấy tôi đi ra, có người còn đưa ngón tay cái lên trời, ngụ ý chúc mừng tôi vừa có “happy time”. Tôi chỉ cười đáp lễ lại và bước đi.
Ngày hôm sau ngồi nói chuyện với một người địa phương tại quán nước, tôi mới biết thời gian mà Anna dành cho tôi một tiếng đồng hồ là quá nhiều, bởi vì ít có khách hàng nào được các cô gái tiếp quá 30 phút cả. Tôi rất cám ơn Anna, cũng may mắn cho tôi vì cô đang học đại học, có lẽ đã quen thuộc với các cuộc phỏng vấn, điều tra xã hội trong học trình tại trường, nên cô trả lời không bị lạc đề và khá dí dỏm. Tuy nhiên Anna chỉ là một tiếng nói trong hơn 900 cô gái đang làm công việc mãi dâm ở đây mà thôi.
Tôi muốn mình và bạn đọc có cái nhìn đa chiều hơn về khu Phố Đèn Đỏ, vậy là lại tiếp tục rảo bước đi tìm hiểu tiếp...
MÃI DÂM TẠI AMSTERDAM TRONG THỜI TRUNG CỔ & PHỤC HƯNG
Khu phố này được xây dựng quy mô từ cuối thế kỷ XIV, chính xác là vào năm 1385. Đây cũng là khu phố cổ nhất tại Amsterdam. Trong thời Trung Cổ, Amsterdam là một trong các hải cảng lớn và quan trọng ở khu vực Châu Âu. Các thủy thủ khỏe mạnh trên những con tàu lênh đênh ngoài khơi hàng tháng, có khi cả năm trời mới được cặp bến, họ lên bờ đi vào tiệm ăn, quán rượu và nhất là đi tìm gái bán hoa. Khi gặp các cô gái đứng chào khách ở các góc đường gần nơi tàu bè ra vào thì họ lại dẫn nhau vào các phạn điếm nhỏ dọc theo dãy phố...và từ từ các chàng trai trẻ sông nước ấy đã kháo nhau về một khu phố rất thuận lợi, chỉ cách nơi tàu bè đậu chừng 20 phút đi bộ...khu phố De Wallen từ từ đã trở thành khu phố mãi dâm vào cuối thế kỷ XIV. Theo các tài liệu lịch sử, mùa hè là thời điểm khu phố này đông đúc nhất với hàng trăm, hàng ngàn thương thuyền trở về từ khắp nơi, mà đông nhất là họ đem hàng về từ Châu Á sau nhiều tháng hải hành. Ngay từ thế kỷ XV, các triều đại phong kiến tại Hòa Lan rất muốn dẹp nhưng không làm được, nên cuối cùng cũng đã làm ngơ, mặc dù khu phố nằm ở vị trí không xa hoàng cung, mặc dù từ thế kỷ XVI, đạo Tin Lành tại Hòa Lan cũng đã có những áp lực mạnh vào luật pháp và xã hội cũng như vận động triều đình ra tay nhằm chấm dứt các hoạt động mãi dâm tại đây, nhưng tất cả đều đã không thành công.
Qua đến thế kỷ XVII, ước tính có khoảng trên dưới 1000 cô gái hành nghề mãi dâm tại đây. Có những lúc người ta xem nơi đây là ổ phát tán ra những bệnh phong tình, vì thời xa xưa ấy con người chưa biết cách phòng ngừa, bao cao su cũng chưa được phát minh. Đến thế kỷ XVIII thì bao su cao ra đời và đã được bán tại đây rất nhiều, xem như là thị trường lớn đầu tiên tại Châu Âu. Khi niềm tin về tôn giáo có nhiều ảnh hưởng trong xã hội thì thành kiến về mua và bán dâm đã trỗi lên rất mạnh tại Hòa Lan nửa đầu thế kỷ XVIII, tuy nhiên chỉ kéo dài một thế hệ, vài chục năm sau thì xã hội Hòa Lan lại trở về dễ dãi chấp nhận. Đến cuối thế kỷ XVIII, cả nước đều xem mãi dâm là một nghề như bao ngành nghề khác, người ta phải làm việc cực khổ mới có miếng ăn. Các nhà thổ tuy không treo bảng nhưng họ lại treo lồng đèn nhiều màu sắc, một dấu hiệu cho khách làng chơi nhận biết đâu là nhà thổ mà tìm đến.
Sang đến cuối thế kỷ XVIII, Hòa Lan bị Napoleon xâm chiếm. Hệ thống hành chánh, quân sự, pháp luật đã được thay đổi theo cách quản lý của triều đình Pháp. Các cô gái hành nghề ở đây phải ghi danh với cảnh sát và mỗi tuần đi khám bác sĩ hai lần. Dựa vào giấy xác nhận sức khỏe của bác sĩ, cảnh sát sẽ cấp cho các cô thẻ hành nghề màu đỏ. Nếu cô nào bị bệnh, sẽ được nhận thẻ màu trắng và tạm thời không được hành nghề nhưng sẽ được đưa đi trị bệnh miễn phí. Trong thời gian Hòa Lan bị Pháp xâm chiếm, số lượng các cô gái hành nghề ở đây đã tăng rất cao nhất, có thể trên 3000 người. Khi Napoleon bị thua trận triều đình Anh Quốc, Pháp rút quân vào năm 1813 nhưng cách làm việc và quản lý các cô gái làng chơi này vẫn được tiếp tục sau đó bởi triều đình Hòa Lan.
MỜI GỌI KHÁCH QUA KHUNG CỬA
Cuối thế kỷ XIX, tại Amsterdam đã có những phong trào rất mạnh mẽ kêu gọi chấm dứt nạn mãi dâm. Thành viên của những phong trào này hàng đêm xuống đường với Thánh Kinh trong tay, họ hát vang các bài Thánh Ca tại các nẻo đường từ bến cảng kéo dài đến khu phố De Wallen. Họ gặp khách làng chơi thì khuyên đừng nên đi mua dâm, hãy giữ hạnh phúc gia đình và an toàn cho sức khỏe. Gặp các cô gái đứng đường thì họ khuyên nên đổi nghề khác làm ăn... Nhiều người quá khích đã hành hung các cô gái, có nhiều trường hợp gái mãi dâm bị giết chết. Có giai đoạn tưởng tình trạng mãi dâm tại Amsterdam có thể chấm dứt được. Các hoạt động mua bán tính dục ồn ào một thuở nay như bị co rúm lại....
Tuy nhiên các thương thuyền vẫn cập bến, các anh chàng thủy thủ hừng hực sức sống của biển cả, sau những chuyến hải trình quá dài vẫn tiếp tục đổ lên bờ, họ có tiền nhưng thiếu tình.....Vì sức ép của các phong trào bài trừ mãi dâm, các cô gái không dám đứng đón khách ngoài đường như trước, các nhà thổ cũng không dám treo đèn lồng....và rồi thì họ đổi phương cách khác. Những ô cửa sổ sau đó tại khu phố De Wallen được trang trí đẹp hơn để các chàng trai biết đó mà lần đến. Nhà thổ nào có đèn điện thì dùng đèn điện, ai có đèn manchon hay đèn dầu thì cũng tận dụng. Giai đoạn này, tuy hoạt động mãi dâm phải rút vào âm thầm, nhưng các cô gái làm nghề mãi dâm này vẫn hợp pháp với chính phủ. Họ đã đi tìm thuê các căn nhà mặt tiền có cửa sổ với giá rất cao và hành nghề độc lập. Họ chỉ cần đứng nơi cửa sổ vẫy chào khách qua đường . Công việc này có vẻ đỡ cực hơn như khi phải đứng đón khách ngoài trời mùa đông tuyết lạnh. Các cửa sổ ngày một rộng ra, đẹp hơn. Sang đến thế kỷ XX, điện đã có ở hầu như tất cả mọi nhà, ánh sáng màu đỏ có lẽ gợi tình và bắt mắt hơn cả. Một nơi làm, hai nơi làm và cuối cùng cả khu phố cùng thắp sáng đèn đỏ tự khi nào. Ngày nay trên các tấm bảng đồ của thành phố, khu vực này đã được chính thức được gọi tên là Red Light District.
PHỐ ĐÈN ĐỎ NGÀY NAY
Tôi đi dọc theo con kênh đào, dòng kênh ở giữa, hai bên đường là các căn nhà với ánh sáng đỏ hắt ra, tiếng nhạc vui nhộn vang ra từ các quán bar, quán rượu. Người đi xem rất đông nhưng tôi không rõ có bao nhiêu người dừng lại để...mua bán. Càng về khuya du khách đổ về đây càng đông. Ngày xưa có thủy thủ của các thương thuyền đổ lên bờ sau những chuyến hải hành dài ngày; ngày nay cũng có du khách đổ về từ các du thuyền khổng lồ, các chuyến xe lửa và xe bus xuyên Châu Âu cũng dừng lại đây, và đương nhiên là có cả máy bay. Có lẽ không ít người trong hàng chục ngàn du khách mỗi ngày ấy cũng muốn đi tìm thử của lạ. Theo thời gian, Amsterdam càng ngày càng đông hơn, thu hút du khách với nhiều công trình văn hóa, lịch sử nổi tiếng. Tuy vậy, khu Phố Đèn Đỏ luôn là một nơi du khách luôn muốn tìm đến, đông nhất vẫn là cánh đàn ông đủ mọi lứa tuổi. Tôi biết có nhiều các ông bạn Việt Nam của tôi từ Canada, từ Mỹ, từ Việt Nam... khi đi du lịch ngang qua Hòa Lan cũng đã đến đây , nhưng khi về nhà, ai hỏi gì cũng lắc đầu quầy quậy, bảo không biết, không có tới (!)
Năm 2000, chính phủ Hòa Lan chính thức công nhận mãi dâm là một ngành nghề hợp pháp sau hơn 600 năm đã từng áp dụng đủ mọi hình thức, từ nhắm mắt làm ngơ cho đến tìm cách dẹp bỏ, thuyết phục, cảnh cáo, hướng nghiệp cho các cô gái...Kể từ năm 2007, một tổ chức từ thiện có tên Stichting Geisha (tiếng Anh là Geisha Foundation) đã được thành lập để bảo vệ quyền lợi cho các cô gái hành nghề mãi dâm tại đây. Nhiệm vụ của tổ chức này là tranh đấu cho các thành viên trong ngành có được những quyền lợi căn bản như nhân viên của các ngành nghề khác. Họ cũng có những dịch vụ hướng dẫn, tư vấn cho các cô gái muốn vào nghề, muốn đổi nghề cũng như tránh xa các tổ chức buôn người.
Khi tôi phỏng vấn cô Anna hôm trước, cô có vẻ không xem tình trạng “buôn người” là hệ trọng ở đây, nhưng theo tôi tìm hiểu thì các tổ chức tội phạm luôn tìm cách đưa lậu những cô gái từ Nga, từ Đông Âu và Châu Á sang làm việc không giấy phép rất nhiều. Từ nhiều thế kỷ nay, những hình thức hoạt động mãi dâm tại khu Phố Đèn Đỏ của Amsterdam luôn biến hóa muôn hình vạn trạng, cũng như luôn đi trước luật pháp. Chính phủ chỉ ra tay khi có quá nhiều khiếu nại từ dân chúng hoặc từ các nhà hoạt động xã hội. Rất nhiều các quán bán rượu đi kèm mãi dâm không có giấy phép bị ra tòa, nhiều nhà thổ đã bị đóng cửa vì có sự nhúng tay của các tổ chức xã hội đen cũng như tình trạng “buôn người” từ các nước khác vào.
Ngành mãi dâm tại Amsterdam ngày nay hầu hết hoạt động về đêm với các cô gái đứng chào mời khách sau các khung cửa kính đèn đỏ là chính. Ngoài ra, dọc theo khu phố là một số rạp hát và quán bar có trình diễn “sex show” trên sân khấu. Ban ngày, các cô gái có thể làm thêm dịch vụ escorting (đi ra bên ngoài cùng khách hàng, tính tiền theo giờ). Các công ty kinh doanh “escorting” cũng phải có giấy phép và chịu sự kiểm tra định kỳ của cảnh sát. Khách hàng chính ở khu Phố Đèn Đỏ này là cánh đàn ông. Có một vài nơi có mãi dâm cho đồng tính nữ, mãi dâm do các cô gái chuyển đổi giống mà trước đây là phái nam. Một hình thức khác là khổ dâm dành cho đàn ông. Nói đến khổ dâm, tiếng Anh gọi là Sadomasochism (đôi khi nói vắn tắt là SM), là những người không thích quan hệ tính dục thông thường mà họ yêu cầu bạn tình hành hạ họ bằng roi, bằng điện chích và trói tay chân.... Vấn đề này từng gây nhiều tranh luận xem “khổ dâm” có sự liên quan nào giữa trục trặc tâm thần hay chỉ là tâm lý khoái lạc. Theo nhiều sách vở chính thống về y học hiện nay thì “khổ dâm” (Sadomasochism) chỉ là một lựa chọn tính dục, không phải trục trặc tâm thần. Tôi không phải là một chuyên viên ngành y có chuyên môn về sức khỏe tâm thần nên xin không bàn sâu vấn đề này ở đây.
MÃI MÃI SẼ LÀ NHỮNG TRANH LUẬN KHÔNG CHẤM DỨT
Bất cứ một vấn đề xã hội nào cũng luôn là đề tài gây tranh cãi giữa ủng hộ và chống đối. Đề tài về mãi dâm là một vấn đề vô cùng nhạy cảm. Tại Amsterdam đã có hơn 600 năm tranh cãi với nên hay không nên hợp thức hóa, tưởng như không bao giờ có hồi kết thúc các tranh luận, nhất là Hòa Lan lại là một quốc gia có thể chế đa nguyên và dân chủ. Khu phố mãi dâm mà nay gọi là Phố Đèn Đỏ tại Amsterdam vẫn hoạt động trong suốt sáu thế kỷ qua và thách thức các nhà làm luật. Ngày nay, chính phủ đã hợp thức hóa ngành nghề này vì số đông dân chúng chấp nhận mãi dâm là một nghề lương thiện.
Người Hòa Lan rất tự hào vì hiến pháp và luật pháp của họ rất tự do và phóng khoáng, luôn đi trước các quốc gia khác nhiều thập niên hoặc thậm chí nhiều thế kỷ, mà trong chủ nghĩa và xã hội tự do thì khi nào cũng phải có đối lập. Tôi xin kết thúc bài viết bằng một nhận xét phản biện lại chính phủ của cô Karina Schaapman, từng là một cô gái mãi dâm tại khu Phố Đèn Đỏ, nhưng nay đã thành một nhà văn, một chính trị gia khá nổi tiếng của đảng Lao Động Hòa Lan. Cô phát biểu như sau: “Nhiều người hãnh diện vì khu Phố Đèn Đỏ là một nơi thu hút du khách, vui nhộn, tự do. Nhưng với tôi, tôi thấy ở đây chỉ toàn là băng hoại, nhiều tội ác, nó hạ thấp hình tượng người phụ nữ, gây rối loạn xã hội. Chẳng có gì để hãnh diện cả đâu”
Tôn Thất Hùng - Toronto, Dec 2014
---- PHỐ ĐÈN ĐỎ - RED LIGHT DISTRICT ----
Trong kỳ báo vừa qua, khi viết về thủ đô Amsterdam của Hòa Lan, tôi có nhắc về khu Phố Đèn Đỏ. Ngay sau khi báo phát hành, đã có nhiều yêu cầu và khuyến khích muốn tôi viết ngay phóng sự xã hội này. Đương nhiên là tôi viết, nhưng theo góc nhìn của một chuyên viên xã hội. “Phố Đèn Đỏ - Red Light District” tại Amsterdam (Hòa Lan) là nơi mua bán tính dục công khai, các cô gái hàng đêm đứng chào mời khách trong các cửa kính có đèn neon màu đỏ. Hòa Lan là một trong 17 quốc gia hiện nay đã hợp pháp hóa mãi dâm. Ước tính có hơn 900 cô gái có giấy phép hành nghề mãi dâm hợp pháp tại Amsterdam, tập trung vào khu Phố Đèn Đỏ ngay tại trung tâm thành phố. Về phương diện luật pháp và quan điểm chung của nhiều người dân Hòa Lan, mãi dâm được xem là một nghề nghiệp như bao nghề khác, có chứng chỉ hành nghề, có đóng thuế, có nghiệp đoàn, có lương hưu, người làm công việc này phải khám sức khỏe định kỳ, được huấn luyện về vệ sinh và an toàn tính dục cho chính họ cũng như cho xã hội.
TÔI ĐI TÌM GÁI BÁN HOA
Tôi đi đến đây bằng metro, ra khỏi trạm Central Metro Station, quẹo vào một con đường, đi thẳng hoài sẽ thấy Chinatown, tiếp tục đi băng qua khu phố Tàu này sẽ thấy khu Phố Đèn Đỏ. Phố Đèn Đỏ tọa lạc ở hai con đường lớn. Từ xa đã thấy cả một góc phố đỏ rực bởi đèn neon từ các khung cửa. Đến gần hơn chút nữa thì thấy rõ các cô gái đứng bên trong những khung cửa kính. Các khung cửa đây không phải là ô cửa sổ nhỏ mà là loại cửa lớn bằng kính cao từ trần nhà xuống đến tận mặt đất. Diện tích nơi các cô đứng chỉ lớn hơn nơi trang trí các mannequin trong những tiệm may, tiệm thời trang chút đỉnh, thông thường được trang trí thêm một cái bàn nhỏ phủ saten bong hoặc khăn nhung cùng với một cái điện thoại giả cổ màu mè và nhiều dây kim tuyến treo hững hờ.... Khi cần trao đổi với khách, các cô sẽ xoay cánh cửa ra để nói chuyện. Thấy tôi đi một mình, các cô đã vẫy gọi rất nhiều và họ có vẻ chú ý tôi hơn các du khách khác đi từng nhóm . Sau này tôi mới biết, theo kinh nghiệm của các cô, những người đàn ông đi một mình thường là những người thật sự có nhu cầu.....
Cánh cửa được xoay ra, Anna ưỡn ẹo bước ra bên ngoài nửa bước, mùi nước hoa Channel Number 5 và son phấn sực nức thơm nồng khiến cô càng thêm nữ tính, nụ cười cô thật rạng ngời trên môi. Phải nói rằng cô rất đẹp! Cô chào tôi bằng tiếng Anh, ngôn ngữ lẫn điệu bộ vô cùng khêu gợi như một diễn viên chuyên nghiệp. Những chàng thanh niên đang đi... “window shopping” thấy người đẹp hé cửa thì ngừng lại ngắm nghía, bàn tán. Tôi nói nhỏ và trao đổi vừa đủ cho Anna nghe....cô ngửa mặt cười ha hả và kéo tôi vào bên trong....phía sau của khung cửa đèn đỏ này là một căn phòng cũng không lớn gì lắm, vẫn là ánh sáng đỏ tràn ngập. Căn phòng nhỏ quá, chỉ vừa đủ kê một cái giường phủ saten trắng muốt và một chiếc ghế. Cô chỉ tôi ngồi trên giường, còn cô thì kéo ghế ngồi xuống. Có lẽ vài câu nói “nho nhỏ” của tôi khi nãy đã làm cô có thái độ trở nên thân mật hơn. Mà trong cái thân mật ấy thì trông cô không còn mấy phù hợp với bộ đồ kim tuyến màu hồng, ngắn cũn cỡn như đồ tắm bikini mà cô đang mặc trên người...Tôi liền nói tiếp câu chuyện dang dở giữa tôi và cô khi còn ở bên ngoài:
- Thì đó Anna, tôi muốn viết về đề tài mãi dâm tại Amsterdam, hy vọng cô sẽ giúp tôi. Cô cứ nói thật hết những gì cá nhân cô suy nghĩ chứ không cần màu mè gì cả. Cô cũng không phải là đại diện của ngành mãi dâm tại Amsterdam mà phải đắn đo lựa lời. Tôi không cần nghe các tuyên bố nảy lửa, và cũng không có chủ đích đi tìm những luận điệu đanh thép như các chính trị gia hay các nhà đạo đức ngồi trong bóng mát mà phán đâu đó....Tôi sẽ trả tiền cho cuộc gặp gỡ này, cô lấy của khách hàng bao nhiêu thì cứ lấy tôi vậy nhé !
Anna gật đầu, nhưng cũng rất sòng phẳng
- Được, được, tôi đồng ý, nhưng giá của tôi là 50 Euros cho một khách hàng, hồi nãy tôi đã trao đổi với anh bên ngoài rồi đó, và nhớ đừng quá lâu hơn một tiếng được không? (cô bỗng hạ giọng nói nửa như năn nỉ, nửa như nhõng nhẻo, rất hồn nhiên thiếu nữ)
Tôi nhìn lại Anna, cô vừa nói vừa đứng lên lấy tấm khăn choàng to bằng lụa đen quấn quanh cơ thể cho bớt lộ liễu. Lúc này nhìn cô đã không còn là một nhục thể khêu gợi như khi đứng ở cửa kính nữa, trông cô bây giờ như một sinh viên rất trẻ, đầy sức sống và hồn nhiên. Không hiểu sao tôi lại hỏi cô
- Cô có từng đến trường, à không, ý tôi nói là sau trung học đó?
- Có chứ, năm nay là năm cuối đại học của tôi mà, tôi cũng mong học xong đi làm và ổn định cuộc sống, ở lâu trong nghề này không được đâu...
Anna bỏ lửng câu nói, không nói tiếp tại sao lại không được... Và rồi cô ấy và tôi ngồi nói chuyện thật tâm đầu ý hợp như hai người bạn học. Anna càng thú vị khi nghe tôi nói tôi đang sống ở Canada, là nhân viên xã hội, tham gia các công tác giúp đỡ người vô gia cư và các bệnh nhân tâm thần, từng có rất nhiều lần tiếp xúc với giới mãi dâm qua những công tác như cổ động cho an toàn tính dục, phòng ngừa HIV/AIDS... Anna bảo hèn chi cô thấy tôi rất tự nhiên khi gõ khung cửa nơi cô đang đứng chứ không lấm lét và ngượng ngùng như một số đông những ông khách làng chơi khác. Cô còn chọc tôi rằng tôi quá tự nhiên ở cái khoảng hỏi giá cả. Trong lúc nói chuyện, Anna đã chỉ tôi căn phòng kế tiếp được ngăn bởi một bức mành kim tuyến. Cô kéo tôi bước vào và nói:
- Đây là phòng tắm đó anh bạn, vừa cho khách rửa ráy trước khi “vào cuộc” với tôi, vừa là phòng tắm của tôi luôn. Còn đây là sink cho tôi rửa mặt, đánh răng. Ở đây không có bếp, tôi phải mua thức ăn từ bên ngoài. Thời gian từ 6 giờ chiều cho đến gần rạng sáng là giờ kiếm tiền của chúng tôi, do đó mọi chuyện ăn và uống đều phải do nhà hàng đem lại hết, chứ chúng tôi đâu có ra ngoài được.
Quan sát thêm vài chi tiết, rồi tôi và Anna cùng quay trở lại căn phòng ngủ của cô, vừa đi tôi vừa hỏi
- Như vậy các cô gái làm ở khu này đều sống tại.... studio hết sao?
- Không hẳn vậy đâu, (Anna trả lời), nhiều cô từ các nước khác đến đây làm việc, họ không có nhà, không có gia đình thì họ phải ở mướn quanh quẩn gần nơi làm việc của họ. Studio này chỉ được mướn 12 giờ đồng hồ mỗi ngày thôi. Còn tôi thì tôi về nhà ở bên ngoài cổ thành, vì tôi còn phải đi học vào ban ngày nữa chứ.
Tôi hỏi tiếp:
- Vậy tiền mướn mắc lắm không?
Anna nói
- Mắc vô cùng, khoảng 150 Euros một đêm, thậm chí ở những góc đường sầm uất, ví dụ gần các quán rượu, hộp đêm, các sân khấu biểu diễn “sex show” thì giá tiền có thể là cao hơn nhiều. Chúng tôi làm nhiều tiền, nhưng trả tiền phòng, tiền ăn, rồi các nhu cầu khác của phụ nữ như áo quần, son phấn...rồi thì cũng không dư lắm đâu.
Tôi hơi thắc mắc
- Nhưng ở trên cô còn có ai nữa không? Ý của tôi là cô có phải trả tiền...commission (tiền hoa hồng) cho ai không?
Anna lắc đầu và nhìn tôi tinh nghịch
- Sao mà anh bạn rành quá vậy? Tôi thì không, bởi vì tôi là self employed (tự làm chủ), tôi có giấy phép hành nghề, tự trả tiền mướn phòng, tất cả đều tự túc. Tuy nhiên, tôi biết có rất nhiều các cô gái khác đến từ các quốc gia Đông Âu hoặc thậm chí từ Châu Á, họ có người dẫn mối, họ có ma-cô, họ không nói rành tiếng Anh. Tiền làm ra đương nhiên phải chia cho các tay đầu nậu đó rồi. À, mà tôi thấy nhiều báo chí hay phóng đại sự việc, xem các cô ấy là những nạn nhân. Tôi thì tôi không thấy vậy, người ta dắt mối đem khách đến cho mình thì mình phải chia hoa hồng thôi, công bằng mà....(rồi bỗng cô phá lên cười và nói tiếp)....tôi học về luật kinh tế, tôi cũng hiểu rằng có “agent” thì sẽ đắc khách, còn tôi, tôi không có “agent” thì hơi lo, ít khách hơn nhưng đổi lại tôi không phải chia cho ai hết.
Tôi hơi nhíu mày phản đối Anna
- Nhưng mà tôi có đọc một vài báo cáo, nghe nói vấn đề buôn người, rồi thì các cô gái bị giam, nhốt vào trong các động mãi dâm, không tiếp khách thì bị đánh đập, làm bao nhiêu bị ma-cô lấy hết... Điều ấy có xảy ra ở đây không?
Anna nhìn tôi hơi lâu, cô ngần ngừ điều gì đó rồi nói tiếp
- Buôn người? Human trafficking đó hả? Có chứ nhưng không có tệ hại và thê thảm như tôi đọc tin tức ở Châu Á. Nếu cho phép tôi dùng từ ngữ khác cho ngành mãi dâm tại Amsterdam, tôi sẽ gọi các nhóm đó là “mãi dâm có tổ chức” thôi. Chung quy là ở đây chúng tôi làm việc có giấy phép hành nghề, có hiệp hội và được cảnh sát bảo vệ...Anh bạn đừng quá...too much được không?
Tôi phì cười vì thấy cô có vẻ giận. Những tìm hiểu thêm về ngành mãi dâm tại đây vào những ngày sau đó tôi mới hiểu rằng họ không cần và không muốn ai thương hại. Các cô làm nghề buôn hương, bán phấn ở Amsterdam chỉ muốn được tôn trọng, không bị diễu cợt hay khinh bỉ. Còn nếu đem tình trạng mãi dâm ở xứ khác ra so sánh, nơi mà các cô gái vừa bị ma cô, chủ động hành hạ bóc lột như nô lệ, vừa lo sợ bị cảnh sát bắt bỏ tù, thì hoàn toàn không giống như tại Amsterdam. Nhìn đồng hồ thấy cũng sắp hết một giờ đồng hồ làm việc của cô ta, tôi tranh thủ hỏi tiếp
- Một đêm như vậy cô có thể tiếp được bao nhiêu người, tôi thấy người đi xem hoa thì nhiều mà chẳng thấy bao nhiêu người....hái hoa.
- Trời ơi! Anh bạn, kiếm đồng tiền không dễ dàng đâu đó. Tôi phải có ít nhất 3 người khách thì mới đủ trả tiền phòng trong một đêm. Giá tiền cho một khách là 50 Euros, tuy nhiên nhiều người khách nói họ chỉ muốn trả 30 Euros thôi, khổ lắm, nhiều khi ế quá, tôi cũng phải đồng ý, vì mình không nhận thì cô ở căn bên cạnh cũng sẽ nhận. Gặp những đêm mưa liên tục là chúng tôi đói.
- Vậy cô thích gì và ghét gì nhất trong nghề này?
- Thích hả? Nó nuôi tôi sống trên mức trung bình, tuy không phải giàu sang gì, nhưng cái gì tôi thích, tôi đều có thể mua sắm được, không cần nhờ vào gia đình chu cấp. Hành nghề ban đêm nên tôi có thể đi học ban ngày. Còn ghét thì....tôi không thích quan hệ tính dục với nhiều người đàn ông quá. Cứ đứng ở cửa kính cho cả ngàn người qua lại dòm ngó, rồi tiếp xúc hết người này đến người khác nên tôi không còn cảm xúc nữa. Đâu phải ông nào cũng lịch sự và sạch sẽ đâu...có những lúc tôi có cảm giác như mình bị hiếp dâm thì đúng hơn...(nói đến đây thì Anna bỗng nghẹn giọng nhưng đã kịp gượng mỉm cười ngay sau đó).
- Cám ơn Anna đã dành thời gian cho tôi nhé, cô có muốn nhắn gởi gì đến những độc giả sẽ đọc bài báo mà tôi sẽ viết không?
Anna im lặng vài giây rồi nói
- Chúng tôi mong mọi người tôn trọng tất cả các cô gái làm việc tại khu Phố Đèn Đỏ này. Khi quý vị đến đây, làm ơn đừng chụp hình chúng tôi rồi đưa lên trên các trang mạng xã hội. Chúng tôi làm việc hợp pháp, có đóng thuế đàng hoàng, chúng tôi không cần ai thương hại bởi vì đây là lựa chọn chứ không bị ép buộc.
Tôi hỏi tiếp lời:
- Cô có lời nào nói với các bà vợ không?
Anna cười ha hả
- Xin các bà vợ đừng ghen, bởi vì tôi chưa thấy có ông khách nào đến khu Phố Đèn Đỏ này rồi đi yêu một cô gái ở đây cả. Các ông đến một cách lén lút, giải quyết sinh lý xong là ra đi vội vã không quay lại, họ bỏ quên nhiều thứ lắm, nhưng có ai quay lại lấy đâu chứ, do đó đừng nói chúng tôi giật chồng. Mà nói thật nghe, tôi cũng không có ý định lấy một ai trong những ông khách đến đây làm chồng đâu.
Tôi thấy thời gian cũng đã lâu nên trao tiền như đã hứa với cô rồi bước ra. Chúng tôi chào nhau thật nhanh vì khi ấy cũng đã hơn 9 giờ tối, giờ cao điểm đông khách của khu phố này. Khi bước ra khỏi căn nhà bằng cửa sau, đi vòng trở ra đường, nhiều anh chàng đứng ngoài đường nhìn tôi cười cười, hình như họ thấy tôi đi ra, có người còn đưa ngón tay cái lên trời, ngụ ý chúc mừng tôi vừa có “happy time”. Tôi chỉ cười đáp lễ lại và bước đi.
Ngày hôm sau ngồi nói chuyện với một người địa phương tại quán nước, tôi mới biết thời gian mà Anna dành cho tôi một tiếng đồng hồ là quá nhiều, bởi vì ít có khách hàng nào được các cô gái tiếp quá 30 phút cả. Tôi rất cám ơn Anna, cũng may mắn cho tôi vì cô đang học đại học, có lẽ đã quen thuộc với các cuộc phỏng vấn, điều tra xã hội trong học trình tại trường, nên cô trả lời không bị lạc đề và khá dí dỏm. Tuy nhiên Anna chỉ là một tiếng nói trong hơn 900 cô gái đang làm công việc mãi dâm ở đây mà thôi.
Tôi muốn mình và bạn đọc có cái nhìn đa chiều hơn về khu Phố Đèn Đỏ, vậy là lại tiếp tục rảo bước đi tìm hiểu tiếp...
MÃI DÂM TẠI AMSTERDAM TRONG THỜI TRUNG CỔ & PHỤC HƯNG
Khu phố này được xây dựng quy mô từ cuối thế kỷ XIV, chính xác là vào năm 1385. Đây cũng là khu phố cổ nhất tại Amsterdam. Trong thời Trung Cổ, Amsterdam là một trong các hải cảng lớn và quan trọng ở khu vực Châu Âu. Các thủy thủ khỏe mạnh trên những con tàu lênh đênh ngoài khơi hàng tháng, có khi cả năm trời mới được cặp bến, họ lên bờ đi vào tiệm ăn, quán rượu và nhất là đi tìm gái bán hoa. Khi gặp các cô gái đứng chào khách ở các góc đường gần nơi tàu bè ra vào thì họ lại dẫn nhau vào các phạn điếm nhỏ dọc theo dãy phố...và từ từ các chàng trai trẻ sông nước ấy đã kháo nhau về một khu phố rất thuận lợi, chỉ cách nơi tàu bè đậu chừng 20 phút đi bộ...khu phố De Wallen từ từ đã trở thành khu phố mãi dâm vào cuối thế kỷ XIV. Theo các tài liệu lịch sử, mùa hè là thời điểm khu phố này đông đúc nhất với hàng trăm, hàng ngàn thương thuyền trở về từ khắp nơi, mà đông nhất là họ đem hàng về từ Châu Á sau nhiều tháng hải hành. Ngay từ thế kỷ XV, các triều đại phong kiến tại Hòa Lan rất muốn dẹp nhưng không làm được, nên cuối cùng cũng đã làm ngơ, mặc dù khu phố nằm ở vị trí không xa hoàng cung, mặc dù từ thế kỷ XVI, đạo Tin Lành tại Hòa Lan cũng đã có những áp lực mạnh vào luật pháp và xã hội cũng như vận động triều đình ra tay nhằm chấm dứt các hoạt động mãi dâm tại đây, nhưng tất cả đều đã không thành công.
Qua đến thế kỷ XVII, ước tính có khoảng trên dưới 1000 cô gái hành nghề mãi dâm tại đây. Có những lúc người ta xem nơi đây là ổ phát tán ra những bệnh phong tình, vì thời xa xưa ấy con người chưa biết cách phòng ngừa, bao cao su cũng chưa được phát minh. Đến thế kỷ XVIII thì bao su cao ra đời và đã được bán tại đây rất nhiều, xem như là thị trường lớn đầu tiên tại Châu Âu. Khi niềm tin về tôn giáo có nhiều ảnh hưởng trong xã hội thì thành kiến về mua và bán dâm đã trỗi lên rất mạnh tại Hòa Lan nửa đầu thế kỷ XVIII, tuy nhiên chỉ kéo dài một thế hệ, vài chục năm sau thì xã hội Hòa Lan lại trở về dễ dãi chấp nhận. Đến cuối thế kỷ XVIII, cả nước đều xem mãi dâm là một nghề như bao ngành nghề khác, người ta phải làm việc cực khổ mới có miếng ăn. Các nhà thổ tuy không treo bảng nhưng họ lại treo lồng đèn nhiều màu sắc, một dấu hiệu cho khách làng chơi nhận biết đâu là nhà thổ mà tìm đến.
Sang đến cuối thế kỷ XVIII, Hòa Lan bị Napoleon xâm chiếm. Hệ thống hành chánh, quân sự, pháp luật đã được thay đổi theo cách quản lý của triều đình Pháp. Các cô gái hành nghề ở đây phải ghi danh với cảnh sát và mỗi tuần đi khám bác sĩ hai lần. Dựa vào giấy xác nhận sức khỏe của bác sĩ, cảnh sát sẽ cấp cho các cô thẻ hành nghề màu đỏ. Nếu cô nào bị bệnh, sẽ được nhận thẻ màu trắng và tạm thời không được hành nghề nhưng sẽ được đưa đi trị bệnh miễn phí. Trong thời gian Hòa Lan bị Pháp xâm chiếm, số lượng các cô gái hành nghề ở đây đã tăng rất cao nhất, có thể trên 3000 người. Khi Napoleon bị thua trận triều đình Anh Quốc, Pháp rút quân vào năm 1813 nhưng cách làm việc và quản lý các cô gái làng chơi này vẫn được tiếp tục sau đó bởi triều đình Hòa Lan.
MỜI GỌI KHÁCH QUA KHUNG CỬA
Cuối thế kỷ XIX, tại Amsterdam đã có những phong trào rất mạnh mẽ kêu gọi chấm dứt nạn mãi dâm. Thành viên của những phong trào này hàng đêm xuống đường với Thánh Kinh trong tay, họ hát vang các bài Thánh Ca tại các nẻo đường từ bến cảng kéo dài đến khu phố De Wallen. Họ gặp khách làng chơi thì khuyên đừng nên đi mua dâm, hãy giữ hạnh phúc gia đình và an toàn cho sức khỏe. Gặp các cô gái đứng đường thì họ khuyên nên đổi nghề khác làm ăn... Nhiều người quá khích đã hành hung các cô gái, có nhiều trường hợp gái mãi dâm bị giết chết. Có giai đoạn tưởng tình trạng mãi dâm tại Amsterdam có thể chấm dứt được. Các hoạt động mua bán tính dục ồn ào một thuở nay như bị co rúm lại....
Tuy nhiên các thương thuyền vẫn cập bến, các anh chàng thủy thủ hừng hực sức sống của biển cả, sau những chuyến hải trình quá dài vẫn tiếp tục đổ lên bờ, họ có tiền nhưng thiếu tình.....Vì sức ép của các phong trào bài trừ mãi dâm, các cô gái không dám đứng đón khách ngoài đường như trước, các nhà thổ cũng không dám treo đèn lồng....và rồi thì họ đổi phương cách khác. Những ô cửa sổ sau đó tại khu phố De Wallen được trang trí đẹp hơn để các chàng trai biết đó mà lần đến. Nhà thổ nào có đèn điện thì dùng đèn điện, ai có đèn manchon hay đèn dầu thì cũng tận dụng. Giai đoạn này, tuy hoạt động mãi dâm phải rút vào âm thầm, nhưng các cô gái làm nghề mãi dâm này vẫn hợp pháp với chính phủ. Họ đã đi tìm thuê các căn nhà mặt tiền có cửa sổ với giá rất cao và hành nghề độc lập. Họ chỉ cần đứng nơi cửa sổ vẫy chào khách qua đường . Công việc này có vẻ đỡ cực hơn như khi phải đứng đón khách ngoài trời mùa đông tuyết lạnh. Các cửa sổ ngày một rộng ra, đẹp hơn. Sang đến thế kỷ XX, điện đã có ở hầu như tất cả mọi nhà, ánh sáng màu đỏ có lẽ gợi tình và bắt mắt hơn cả. Một nơi làm, hai nơi làm và cuối cùng cả khu phố cùng thắp sáng đèn đỏ tự khi nào. Ngày nay trên các tấm bảng đồ của thành phố, khu vực này đã được chính thức được gọi tên là Red Light District.
PHỐ ĐÈN ĐỎ NGÀY NAY
Tôi đi dọc theo con kênh đào, dòng kênh ở giữa, hai bên đường là các căn nhà với ánh sáng đỏ hắt ra, tiếng nhạc vui nhộn vang ra từ các quán bar, quán rượu. Người đi xem rất đông nhưng tôi không rõ có bao nhiêu người dừng lại để...mua bán. Càng về khuya du khách đổ về đây càng đông. Ngày xưa có thủy thủ của các thương thuyền đổ lên bờ sau những chuyến hải hành dài ngày; ngày nay cũng có du khách đổ về từ các du thuyền khổng lồ, các chuyến xe lửa và xe bus xuyên Châu Âu cũng dừng lại đây, và đương nhiên là có cả máy bay. Có lẽ không ít người trong hàng chục ngàn du khách mỗi ngày ấy cũng muốn đi tìm thử của lạ. Theo thời gian, Amsterdam càng ngày càng đông hơn, thu hút du khách với nhiều công trình văn hóa, lịch sử nổi tiếng. Tuy vậy, khu Phố Đèn Đỏ luôn là một nơi du khách luôn muốn tìm đến, đông nhất vẫn là cánh đàn ông đủ mọi lứa tuổi. Tôi biết có nhiều các ông bạn Việt Nam của tôi từ Canada, từ Mỹ, từ Việt Nam... khi đi du lịch ngang qua Hòa Lan cũng đã đến đây , nhưng khi về nhà, ai hỏi gì cũng lắc đầu quầy quậy, bảo không biết, không có tới (!)
Năm 2000, chính phủ Hòa Lan chính thức công nhận mãi dâm là một ngành nghề hợp pháp sau hơn 600 năm đã từng áp dụng đủ mọi hình thức, từ nhắm mắt làm ngơ cho đến tìm cách dẹp bỏ, thuyết phục, cảnh cáo, hướng nghiệp cho các cô gái...Kể từ năm 2007, một tổ chức từ thiện có tên Stichting Geisha (tiếng Anh là Geisha Foundation) đã được thành lập để bảo vệ quyền lợi cho các cô gái hành nghề mãi dâm tại đây. Nhiệm vụ của tổ chức này là tranh đấu cho các thành viên trong ngành có được những quyền lợi căn bản như nhân viên của các ngành nghề khác. Họ cũng có những dịch vụ hướng dẫn, tư vấn cho các cô gái muốn vào nghề, muốn đổi nghề cũng như tránh xa các tổ chức buôn người.
Khi tôi phỏng vấn cô Anna hôm trước, cô có vẻ không xem tình trạng “buôn người” là hệ trọng ở đây, nhưng theo tôi tìm hiểu thì các tổ chức tội phạm luôn tìm cách đưa lậu những cô gái từ Nga, từ Đông Âu và Châu Á sang làm việc không giấy phép rất nhiều. Từ nhiều thế kỷ nay, những hình thức hoạt động mãi dâm tại khu Phố Đèn Đỏ của Amsterdam luôn biến hóa muôn hình vạn trạng, cũng như luôn đi trước luật pháp. Chính phủ chỉ ra tay khi có quá nhiều khiếu nại từ dân chúng hoặc từ các nhà hoạt động xã hội. Rất nhiều các quán bán rượu đi kèm mãi dâm không có giấy phép bị ra tòa, nhiều nhà thổ đã bị đóng cửa vì có sự nhúng tay của các tổ chức xã hội đen cũng như tình trạng “buôn người” từ các nước khác vào.
Ngành mãi dâm tại Amsterdam ngày nay hầu hết hoạt động về đêm với các cô gái đứng chào mời khách sau các khung cửa kính đèn đỏ là chính. Ngoài ra, dọc theo khu phố là một số rạp hát và quán bar có trình diễn “sex show” trên sân khấu. Ban ngày, các cô gái có thể làm thêm dịch vụ escorting (đi ra bên ngoài cùng khách hàng, tính tiền theo giờ). Các công ty kinh doanh “escorting” cũng phải có giấy phép và chịu sự kiểm tra định kỳ của cảnh sát. Khách hàng chính ở khu Phố Đèn Đỏ này là cánh đàn ông. Có một vài nơi có mãi dâm cho đồng tính nữ, mãi dâm do các cô gái chuyển đổi giống mà trước đây là phái nam. Một hình thức khác là khổ dâm dành cho đàn ông. Nói đến khổ dâm, tiếng Anh gọi là Sadomasochism (đôi khi nói vắn tắt là SM), là những người không thích quan hệ tính dục thông thường mà họ yêu cầu bạn tình hành hạ họ bằng roi, bằng điện chích và trói tay chân.... Vấn đề này từng gây nhiều tranh luận xem “khổ dâm” có sự liên quan nào giữa trục trặc tâm thần hay chỉ là tâm lý khoái lạc. Theo nhiều sách vở chính thống về y học hiện nay thì “khổ dâm” (Sadomasochism) chỉ là một lựa chọn tính dục, không phải trục trặc tâm thần. Tôi không phải là một chuyên viên ngành y có chuyên môn về sức khỏe tâm thần nên xin không bàn sâu vấn đề này ở đây.
MÃI MÃI SẼ LÀ NHỮNG TRANH LUẬN KHÔNG CHẤM DỨT
Bất cứ một vấn đề xã hội nào cũng luôn là đề tài gây tranh cãi giữa ủng hộ và chống đối. Đề tài về mãi dâm là một vấn đề vô cùng nhạy cảm. Tại Amsterdam đã có hơn 600 năm tranh cãi với nên hay không nên hợp thức hóa, tưởng như không bao giờ có hồi kết thúc các tranh luận, nhất là Hòa Lan lại là một quốc gia có thể chế đa nguyên và dân chủ. Khu phố mãi dâm mà nay gọi là Phố Đèn Đỏ tại Amsterdam vẫn hoạt động trong suốt sáu thế kỷ qua và thách thức các nhà làm luật. Ngày nay, chính phủ đã hợp thức hóa ngành nghề này vì số đông dân chúng chấp nhận mãi dâm là một nghề lương thiện.
Người Hòa Lan rất tự hào vì hiến pháp và luật pháp của họ rất tự do và phóng khoáng, luôn đi trước các quốc gia khác nhiều thập niên hoặc thậm chí nhiều thế kỷ, mà trong chủ nghĩa và xã hội tự do thì khi nào cũng phải có đối lập. Tôi xin kết thúc bài viết bằng một nhận xét phản biện lại chính phủ của cô Karina Schaapman, từng là một cô gái mãi dâm tại khu Phố Đèn Đỏ, nhưng nay đã thành một nhà văn, một chính trị gia khá nổi tiếng của đảng Lao Động Hòa Lan. Cô phát biểu như sau: “Nhiều người hãnh diện vì khu Phố Đèn Đỏ là một nơi thu hút du khách, vui nhộn, tự do. Nhưng với tôi, tôi thấy ở đây chỉ toàn là băng hoại, nhiều tội ác, nó hạ thấp hình tượng người phụ nữ, gây rối loạn xã hội. Chẳng có gì để hãnh diện cả đâu”
Tôn Thất Hùng - Toronto, Dec 2014
Thursday, December 4, 2014
Lăng Ông Tả quân
Lê Văn Duyệt (1763-1832) là danh tướng, đại công thần bậc nhất của vua
Gia Long nhà Nguyễn, đã có công rất lớn đối với việc mở mang bờ cõi
phương Nam. Ông đã hai lần làm Tổng trấn thành Gia Định trong khoảng 15
năm có gián đoạn. Tả quân là tước hiệu do vua Gia Long phong cho Lê Văn
Duyệt vài tháng trước khi giành được giang sơn từ tay nhà Tây Sơn.
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu do sử thần Cao Xuân Dục của nhà Nguyễn chép: "Tân Dậu (1801) tháng 7, phong cho Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng tiền quân, Bình Tây đại tướng quân; cho Lê Văn Duyệt làm Thần sách quân chưởng Tả dinh đô thống chế. Ngài (tức Gia Long) dụ rằng: "Ngươi với Duyệt nên ở cùng nhau cho có đạo nghĩa, có thành thiệt, không nên lấy khí thế, tài danh làm cao thấp, đồng tâm lo việc, để cho thành công; mới gọi là tôi của xã tắc, báu của nước nhà; ngươi phải nghĩ cho kỹ."
Lăng Ông Bà Chiểu là một địa danh nằm lòng của rất nhiều người Gia Định - Sài Gòn trong hơn 180 năm qua, kể từ khi Lê Văn Duyệt mất năm 1832 khi còn đang giữ chức Tổng trấn Gia Định. Lăng là nơi chôn cất Tả quân Lê Văn Duyệt, vì nằm gần khu chợ Bà Chiểu nên người ta đã ghép tên Lăng Ông (Lê Văn Duyệt) với chợ Bà Chiểu để gọi. Vị trí Lăng Ông hiện nay thuộc quận Bình Thạnh, trên đường Đinh Tiên Hoàng.
Tại Lăng Ông này vào năm 1835 vua Minh Mạng đã sai Tổng đốc Gia Định đương thời tới san bằng huyệt mộ, cho trói xiềng xích và khắc lên bia đá 8 chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ", tức "Nơi đây hoạn quan quyền thế Lê Văn Duyệt phải chịu tội", sau khi con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi bị ghép vào tội tạo phản. Đến đầu năm Tự Đức 1848 mới có chiếu rửa tội oan cho Lê Văn Duyệt và năm 1868, thì được truy phục lại danh hiệu công thần, cho thờ vào miếu Công thần Trung hưng.
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim thuật lại lý do khiến Minh Mạng cho san bằng lăng mộ của của đệ nhất danh thần nhà Nguyễn như sau:
"Quan quân bình xong giặc Lê Văn Khôi rồi vua Thánh Tổ (Minh Mạng) sai phá thành Phiên An đi, xây lại chỗ khác và ngài xuống chiếu định truy tội Lê Văn Duyệt và tội Lê Chất (Tổng trấn Bắc Thành, bạn thân của Lê Văn Duyệt). Cứ bình tĩnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ vốn có ý không ưa hai ông ấy, rồi đình thần lại nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài, cho nên thành ra hai cái án thật là không đáng. Nay cứ theo trong sách "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện" mà chép ra, để mọi người đều được lấy lẽ công bằng mà phán đoán. Từ khi tên Khôi khởi loạn, vua Thánh Tổ thường ban trách Lê Văn Duyệt che chở quân phỉ đảng, để gây nên hoạn loạn."
Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện mà Trần Trọng Kim nhắc ở đoạn trên là bộ sách của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép chi tiết tiểu sử của các bà hậu phi, hoàng tử, công chúa, bề tôi, danh tướng, nghịch thần của nhà Nguyễn. Tiểu sử của Lê Văn Duyệt được chép khá dài, nhiều dữ kiện trong hai mục thượng, hạ. Sách ấy ghi như sau:
"Lê văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, cha là Toại dời đến ở tỉnh Định Tường, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra vẫn không có dái (tinh hoàn), mình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực. Năm 14, 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu vậy."
Lê Văn Duyệt có một người con nuôi tên Lê Văn Khôi, tên thật là Nguyễn Hữu Khôi, vốn là thổ mục nổi loạn ở Cao Bằng, được Lê Văn Duyệt cho quy phụ và giao chức phó úy. Khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng vốn đã có hiềm khích với Lê Văn Duyệt từ rất lâu đã viện nhiều cớ để ghép tội ông, nhân khi con nuôi của Lê Văn Duyệt khởi binh đánh thành Phiên An (Gia Định) thì Minh Mạng đã xuống tay trừng trị cả người chết lẫn người sống trong gia phả của Lê Văn Duyệt.
Đại Nam Liệt Truyện chép tiếp: "Minh Mạng năm thứ 14 (1833), tháng 5 đêm 18, (Lê Văn) Khôi ngầm dụ lính 27 người vào thành giết Bạch Xuân Nguyên, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế nghe biến vội vàng ra bắt giặc, lũ Khôi giết cả Quế. Khôi tự biết tội to, bèn giữ thành làm phản, cháu Duyệt là Hán bị hiếp làm quan chức của giặc. Tin ấy báo đến nơi, vua tức giận quá lập tức sai đại đội quan quân đi bắt giặc.
Lúc bấy giờ các tỉnh thành Gia Định đều bị giặc đánh, mà quân ở kinh tiến đi cũng bị giặc chống đánh, lũ Khôi liều chết giữ trong thành Phiên An, quan quân đánh gần 3 năm không hạ được thành ấy. Vua mỗi khi coi chầu quần thần bàn việc binh, bèn truy trách tội Duyệt ấp ủ bọn giặc nuôi thành hoạ thai.
Năm thứ 16 (1835), thành Phiên An đã đánh lấy được...Vua (ra chỉ) dụ Nội các rằng:
Lê Văn Duyệt xuất thân là hoạn quan, vốn là gia nô, ngẫu nhiên gặp lúc trung hưng, rồng mây gặp hội, đánh được Tây Sơn cùng dự công lao. Hoàng khảo ta Thế Tổ Cao Hoàng đế (Gia Long) nghĩ nó lúc bé sai khiến trong cung, tin làm lòng bụng, nhiều lần cho mang cờ tiết búa to, không ngờ lũ này phần nhiều không phải là thiên loại, ngày càng kiêu rông, dần mang lòng bất thần, tha hồ làm bậy ăn nói cuồng bội, chỉ vì lòng sợ thánh minh dẫu có lòng gian, rồi cũng không dám phát, mà Hoàng khảo ta năm cuối đã biết rõ.
Lại nghĩ đứa nô tỳ ấy dầu lòng mang sự trái phép, nhưng thiên hạ đã cả định, thần dân ai theo thằng đã bị thiến ấy. Tất nó không làm gì được, ngày càng xa mà ẩn nhẫn qua đi. Đến lúc trẫm lên ngôi, cũng nghĩ tôi cũ còn chả được mấy người, lại hắn đã tuổi già, tạm khéo đợi hắn ngầm tiêu thói xấu để bảo đảm toàn công danh cũng là một việc tốt.
Không ngờ nó lòng độc như rắn rết, tính dữ như sài lang, cuồng nộ ngày càng quá kiêu tư càng thêm, thường đối mọi người nói cái sở đoản của triều đình khoe cái sở trường của nó, chê bai quá lời, người không nỡ nghe. Những đứa tù phạm Thanh Nghệ (Thanh Hoá & Nghệ An) năm trước hung hãn, đều chiêu ra thú, xin cho thuộc bọn liêu hạ, cho làm nanh vuốt. Lê Văn Khôi là đô vệ lại tiến cử lên quan đến Phó vệ úy, đi theo dưới cột cờ để làm lòng hung...
Sau vài ngày, Nội các là Hà Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh cùng dâng sớ tâu rằng: Duyệt ấp ủ loài giặc gây nên sự biến nó bao chứa mầm họa, không phải là một ngày, nay tìm ra những điều từ trước bày vào chương sớ có hình tích bội nghịch 6 điều...Đến lúc đình thần nghị án, dâng lên, chỉ ra những lời nói việc làm bội nghịch đáng làm tội xử trảm 7 điều.
Duy sự biến ở Phiên An, Duyệt thực là đầu tội, xin chiếu theo luật mưu phản kết án lăng trì, nhưng nó đã bị Diêm vương bắt đi rồi. Nay xin thu bằng sắc bổ quan tài ra chém xác để tỏ gương răn. Những cáo sắc tổ tiên ông bà cha mẹ được phong tặng đều thu lấy cả. Và xem mồ mả cha ông nó có tiếm làm trái phép đều phá bỏ đi, còn các thê thiếp, các con cháu gọi bằng chú bác đều phân biệt xử tội, tài sản tịch thu hết cả.
Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành.
Vua dụ rẳng như thế đủ biết thiên lý không sai, công đạo ở lòng người, thực không thể che được. Đứa quen gieo gây hoạ thiên hạ cũng giận, các tội ác đều về đấy cả. Muôn người cùng một lời, đủ rõ án này là án sát nghìn đời. Lê Văn Duyệt tội khó đếm tóc, nói đến đau lòng, bổ quan tài ra mà chém xác, cũng chả quá đáng, nhưng nghĩ nó chết đã quá lâu, trước bị Diêm la làm tội, lại đã cướp quan tước, còn cái xương khô trong mả cũng không thèm gia hình.
Nay sai Gia Định Tổng đốc đến chỗ mả đắp, san ra làm bằng đất, lại dựng bia đá lên trên, viết khắc to 8 chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" để tỏ tội danh khi đã chết và rõ phép nước vào đời sau, cho những đứa quyền gian răn sợ.”
Đắc Xuyên Gia Khang FB
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu do sử thần Cao Xuân Dục của nhà Nguyễn chép: "Tân Dậu (1801) tháng 7, phong cho Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng tiền quân, Bình Tây đại tướng quân; cho Lê Văn Duyệt làm Thần sách quân chưởng Tả dinh đô thống chế. Ngài (tức Gia Long) dụ rằng: "Ngươi với Duyệt nên ở cùng nhau cho có đạo nghĩa, có thành thiệt, không nên lấy khí thế, tài danh làm cao thấp, đồng tâm lo việc, để cho thành công; mới gọi là tôi của xã tắc, báu của nước nhà; ngươi phải nghĩ cho kỹ."
Lăng Ông Bà Chiểu là một địa danh nằm lòng của rất nhiều người Gia Định - Sài Gòn trong hơn 180 năm qua, kể từ khi Lê Văn Duyệt mất năm 1832 khi còn đang giữ chức Tổng trấn Gia Định. Lăng là nơi chôn cất Tả quân Lê Văn Duyệt, vì nằm gần khu chợ Bà Chiểu nên người ta đã ghép tên Lăng Ông (Lê Văn Duyệt) với chợ Bà Chiểu để gọi. Vị trí Lăng Ông hiện nay thuộc quận Bình Thạnh, trên đường Đinh Tiên Hoàng.
Tại Lăng Ông này vào năm 1835 vua Minh Mạng đã sai Tổng đốc Gia Định đương thời tới san bằng huyệt mộ, cho trói xiềng xích và khắc lên bia đá 8 chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ", tức "Nơi đây hoạn quan quyền thế Lê Văn Duyệt phải chịu tội", sau khi con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi bị ghép vào tội tạo phản. Đến đầu năm Tự Đức 1848 mới có chiếu rửa tội oan cho Lê Văn Duyệt và năm 1868, thì được truy phục lại danh hiệu công thần, cho thờ vào miếu Công thần Trung hưng.
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim thuật lại lý do khiến Minh Mạng cho san bằng lăng mộ của của đệ nhất danh thần nhà Nguyễn như sau:
"Quan quân bình xong giặc Lê Văn Khôi rồi vua Thánh Tổ (Minh Mạng) sai phá thành Phiên An đi, xây lại chỗ khác và ngài xuống chiếu định truy tội Lê Văn Duyệt và tội Lê Chất (Tổng trấn Bắc Thành, bạn thân của Lê Văn Duyệt). Cứ bình tĩnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ vốn có ý không ưa hai ông ấy, rồi đình thần lại nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài, cho nên thành ra hai cái án thật là không đáng. Nay cứ theo trong sách "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện" mà chép ra, để mọi người đều được lấy lẽ công bằng mà phán đoán. Từ khi tên Khôi khởi loạn, vua Thánh Tổ thường ban trách Lê Văn Duyệt che chở quân phỉ đảng, để gây nên hoạn loạn."
Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện mà Trần Trọng Kim nhắc ở đoạn trên là bộ sách của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép chi tiết tiểu sử của các bà hậu phi, hoàng tử, công chúa, bề tôi, danh tướng, nghịch thần của nhà Nguyễn. Tiểu sử của Lê Văn Duyệt được chép khá dài, nhiều dữ kiện trong hai mục thượng, hạ. Sách ấy ghi như sau:
"Lê văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, cha là Toại dời đến ở tỉnh Định Tường, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra vẫn không có dái (tinh hoàn), mình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực. Năm 14, 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu vậy."
Lê Văn Duyệt có một người con nuôi tên Lê Văn Khôi, tên thật là Nguyễn Hữu Khôi, vốn là thổ mục nổi loạn ở Cao Bằng, được Lê Văn Duyệt cho quy phụ và giao chức phó úy. Khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng vốn đã có hiềm khích với Lê Văn Duyệt từ rất lâu đã viện nhiều cớ để ghép tội ông, nhân khi con nuôi của Lê Văn Duyệt khởi binh đánh thành Phiên An (Gia Định) thì Minh Mạng đã xuống tay trừng trị cả người chết lẫn người sống trong gia phả của Lê Văn Duyệt.
Đại Nam Liệt Truyện chép tiếp: "Minh Mạng năm thứ 14 (1833), tháng 5 đêm 18, (Lê Văn) Khôi ngầm dụ lính 27 người vào thành giết Bạch Xuân Nguyên, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế nghe biến vội vàng ra bắt giặc, lũ Khôi giết cả Quế. Khôi tự biết tội to, bèn giữ thành làm phản, cháu Duyệt là Hán bị hiếp làm quan chức của giặc. Tin ấy báo đến nơi, vua tức giận quá lập tức sai đại đội quan quân đi bắt giặc.
Lúc bấy giờ các tỉnh thành Gia Định đều bị giặc đánh, mà quân ở kinh tiến đi cũng bị giặc chống đánh, lũ Khôi liều chết giữ trong thành Phiên An, quan quân đánh gần 3 năm không hạ được thành ấy. Vua mỗi khi coi chầu quần thần bàn việc binh, bèn truy trách tội Duyệt ấp ủ bọn giặc nuôi thành hoạ thai.
Năm thứ 16 (1835), thành Phiên An đã đánh lấy được...Vua (ra chỉ) dụ Nội các rằng:
Lê Văn Duyệt xuất thân là hoạn quan, vốn là gia nô, ngẫu nhiên gặp lúc trung hưng, rồng mây gặp hội, đánh được Tây Sơn cùng dự công lao. Hoàng khảo ta Thế Tổ Cao Hoàng đế (Gia Long) nghĩ nó lúc bé sai khiến trong cung, tin làm lòng bụng, nhiều lần cho mang cờ tiết búa to, không ngờ lũ này phần nhiều không phải là thiên loại, ngày càng kiêu rông, dần mang lòng bất thần, tha hồ làm bậy ăn nói cuồng bội, chỉ vì lòng sợ thánh minh dẫu có lòng gian, rồi cũng không dám phát, mà Hoàng khảo ta năm cuối đã biết rõ.
Lại nghĩ đứa nô tỳ ấy dầu lòng mang sự trái phép, nhưng thiên hạ đã cả định, thần dân ai theo thằng đã bị thiến ấy. Tất nó không làm gì được, ngày càng xa mà ẩn nhẫn qua đi. Đến lúc trẫm lên ngôi, cũng nghĩ tôi cũ còn chả được mấy người, lại hắn đã tuổi già, tạm khéo đợi hắn ngầm tiêu thói xấu để bảo đảm toàn công danh cũng là một việc tốt.
Không ngờ nó lòng độc như rắn rết, tính dữ như sài lang, cuồng nộ ngày càng quá kiêu tư càng thêm, thường đối mọi người nói cái sở đoản của triều đình khoe cái sở trường của nó, chê bai quá lời, người không nỡ nghe. Những đứa tù phạm Thanh Nghệ (Thanh Hoá & Nghệ An) năm trước hung hãn, đều chiêu ra thú, xin cho thuộc bọn liêu hạ, cho làm nanh vuốt. Lê Văn Khôi là đô vệ lại tiến cử lên quan đến Phó vệ úy, đi theo dưới cột cờ để làm lòng hung...
Sau vài ngày, Nội các là Hà Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh cùng dâng sớ tâu rằng: Duyệt ấp ủ loài giặc gây nên sự biến nó bao chứa mầm họa, không phải là một ngày, nay tìm ra những điều từ trước bày vào chương sớ có hình tích bội nghịch 6 điều...Đến lúc đình thần nghị án, dâng lên, chỉ ra những lời nói việc làm bội nghịch đáng làm tội xử trảm 7 điều.
Duy sự biến ở Phiên An, Duyệt thực là đầu tội, xin chiếu theo luật mưu phản kết án lăng trì, nhưng nó đã bị Diêm vương bắt đi rồi. Nay xin thu bằng sắc bổ quan tài ra chém xác để tỏ gương răn. Những cáo sắc tổ tiên ông bà cha mẹ được phong tặng đều thu lấy cả. Và xem mồ mả cha ông nó có tiếm làm trái phép đều phá bỏ đi, còn các thê thiếp, các con cháu gọi bằng chú bác đều phân biệt xử tội, tài sản tịch thu hết cả.
Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành.
Vua dụ rẳng như thế đủ biết thiên lý không sai, công đạo ở lòng người, thực không thể che được. Đứa quen gieo gây hoạ thiên hạ cũng giận, các tội ác đều về đấy cả. Muôn người cùng một lời, đủ rõ án này là án sát nghìn đời. Lê Văn Duyệt tội khó đếm tóc, nói đến đau lòng, bổ quan tài ra mà chém xác, cũng chả quá đáng, nhưng nghĩ nó chết đã quá lâu, trước bị Diêm la làm tội, lại đã cướp quan tước, còn cái xương khô trong mả cũng không thèm gia hình.
Nay sai Gia Định Tổng đốc đến chỗ mả đắp, san ra làm bằng đất, lại dựng bia đá lên trên, viết khắc to 8 chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" để tỏ tội danh khi đã chết và rõ phép nước vào đời sau, cho những đứa quyền gian răn sợ.”
Đắc Xuyên Gia Khang FB
Lăng Ông Tả quân
Lê Văn Duyệt (1763-1832) là danh tướng, đại công thần bậc nhất của vua
Gia Long nhà Nguyễn, đã có công rất lớn đối với việc mở mang bờ cõi
phương Nam. Ông đã hai lần làm Tổng trấn thành Gia Định trong khoảng 15
năm có gián đoạn. Tả quân là tước hiệu do vua Gia Long phong cho Lê Văn
Duyệt vài tháng trước khi giành được giang sơn từ tay nhà Tây Sơn.
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu do sử thần Cao Xuân Dục của nhà Nguyễn chép: "Tân Dậu (1801) tháng 7, phong cho Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng tiền quân, Bình Tây đại tướng quân; cho Lê Văn Duyệt làm Thần sách quân chưởng Tả dinh đô thống chế. Ngài (tức Gia Long) dụ rằng: "Ngươi với Duyệt nên ở cùng nhau cho có đạo nghĩa, có thành thiệt, không nên lấy khí thế, tài danh làm cao thấp, đồng tâm lo việc, để cho thành công; mới gọi là tôi của xã tắc, báu của nước nhà; ngươi phải nghĩ cho kỹ."
Lăng Ông Bà Chiểu là một địa danh nằm lòng của rất nhiều người Gia Định - Sài Gòn trong hơn 180 năm qua, kể từ khi Lê Văn Duyệt mất năm 1832 khi còn đang giữ chức Tổng trấn Gia Định. Lăng là nơi chôn cất Tả quân Lê Văn Duyệt, vì nằm gần khu chợ Bà Chiểu nên người ta đã ghép tên Lăng Ông (Lê Văn Duyệt) với chợ Bà Chiểu để gọi. Vị trí Lăng Ông hiện nay thuộc quận Bình Thạnh, trên đường Đinh Tiên Hoàng.
Tại Lăng Ông này vào năm 1835 vua Minh Mạng đã sai Tổng đốc Gia Định đương thời tới san bằng huyệt mộ, cho trói xiềng xích và khắc lên bia đá 8 chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ", tức "Nơi đây hoạn quan quyền thế Lê Văn Duyệt phải chịu tội", sau khi con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi bị ghép vào tội tạo phản. Đến đầu năm Tự Đức 1848 mới có chiếu rửa tội oan cho Lê Văn Duyệt và năm 1868, thì được truy phục lại danh hiệu công thần, cho thờ vào miếu Công thần Trung hưng.
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim thuật lại lý do khiến Minh Mạng cho san bằng lăng mộ của của đệ nhất danh thần nhà Nguyễn như sau:
"Quan quân bình xong giặc Lê Văn Khôi rồi vua Thánh Tổ (Minh Mạng) sai phá thành Phiên An đi, xây lại chỗ khác và ngài xuống chiếu định truy tội Lê Văn Duyệt và tội Lê Chất (Tổng trấn Bắc Thành, bạn thân của Lê Văn Duyệt). Cứ bình tĩnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ vốn có ý không ưa hai ông ấy, rồi đình thần lại nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài, cho nên thành ra hai cái án thật là không đáng. Nay cứ theo trong sách "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện" mà chép ra, để mọi người đều được lấy lẽ công bằng mà phán đoán. Từ khi tên Khôi khởi loạn, vua Thánh Tổ thường ban trách Lê Văn Duyệt che chở quân phỉ đảng, để gây nên hoạn loạn."
Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện mà Trần Trọng Kim nhắc ở đoạn trên là bộ sách của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép chi tiết tiểu sử của các bà hậu phi, hoàng tử, công chúa, bề tôi, danh tướng, nghịch thần của nhà Nguyễn. Tiểu sử của Lê Văn Duyệt được chép khá dài, nhiều dữ kiện trong hai mục thượng, hạ. Sách ấy ghi như sau:
"Lê văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, cha là Toại dời đến ở tỉnh Định Tường, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra vẫn không có dái (tinh hoàn), mình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực. Năm 14, 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu vậy."
Lê Văn Duyệt có một người con nuôi tên Lê Văn Khôi, tên thật là Nguyễn Hữu Khôi, vốn là thổ mục nổi loạn ở Cao Bằng, được Lê Văn Duyệt cho quy phụ và giao chức phó úy. Khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng vốn đã có hiềm khích với Lê Văn Duyệt từ rất lâu đã viện nhiều cớ để ghép tội ông, nhân khi con nuôi của Lê Văn Duyệt khởi binh đánh thành Phiên An (Gia Định) thì Minh Mạng đã xuống tay trừng trị cả người chết lẫn người sống trong gia phả của Lê Văn Duyệt.
Đại Nam Liệt Truyện chép tiếp: "Minh Mạng năm thứ 14 (1833), tháng 5 đêm 18, (Lê Văn) Khôi ngầm dụ lính 27 người vào thành giết Bạch Xuân Nguyên, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế nghe biến vội vàng ra bắt giặc, lũ Khôi giết cả Quế. Khôi tự biết tội to, bèn giữ thành làm phản, cháu Duyệt là Hán bị hiếp làm quan chức của giặc. Tin ấy báo đến nơi, vua tức giận quá lập tức sai đại đội quan quân đi bắt giặc.
Lúc bấy giờ các tỉnh thành Gia Định đều bị giặc đánh, mà quân ở kinh tiến đi cũng bị giặc chống đánh, lũ Khôi liều chết giữ trong thành Phiên An, quan quân đánh gần 3 năm không hạ được thành ấy. Vua mỗi khi coi chầu quần thần bàn việc binh, bèn truy trách tội Duyệt ấp ủ bọn giặc nuôi thành hoạ thai.
Năm thứ 16 (1835), thành Phiên An đã đánh lấy được...Vua (ra chỉ) dụ Nội các rằng:
Lê Văn Duyệt xuất thân là hoạn quan, vốn là gia nô, ngẫu nhiên gặp lúc trung hưng, rồng mây gặp hội, đánh được Tây Sơn cùng dự công lao. Hoàng khảo ta Thế Tổ Cao Hoàng đế (Gia Long) nghĩ nó lúc bé sai khiến trong cung, tin làm lòng bụng, nhiều lần cho mang cờ tiết búa to, không ngờ lũ này phần nhiều không phải là thiên loại, ngày càng kiêu rông, dần mang lòng bất thần, tha hồ làm bậy ăn nói cuồng bội, chỉ vì lòng sợ thánh minh dẫu có lòng gian, rồi cũng không dám phát, mà Hoàng khảo ta năm cuối đã biết rõ.
Lại nghĩ đứa nô tỳ ấy dầu lòng mang sự trái phép, nhưng thiên hạ đã cả định, thần dân ai theo thằng đã bị thiến ấy. Tất nó không làm gì được, ngày càng xa mà ẩn nhẫn qua đi. Đến lúc trẫm lên ngôi, cũng nghĩ tôi cũ còn chả được mấy người, lại hắn đã tuổi già, tạm khéo đợi hắn ngầm tiêu thói xấu để bảo đảm toàn công danh cũng là một việc tốt.
Không ngờ nó lòng độc như rắn rết, tính dữ như sài lang, cuồng nộ ngày càng quá kiêu tư càng thêm, thường đối mọi người nói cái sở đoản của triều đình khoe cái sở trường của nó, chê bai quá lời, người không nỡ nghe. Những đứa tù phạm Thanh Nghệ (Thanh Hoá & Nghệ An) năm trước hung hãn, đều chiêu ra thú, xin cho thuộc bọn liêu hạ, cho làm nanh vuốt. Lê Văn Khôi là đô vệ lại tiến cử lên quan đến Phó vệ úy, đi theo dưới cột cờ để làm lòng hung...
Sau vài ngày, Nội các là Hà Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh cùng dâng sớ tâu rằng: Duyệt ấp ủ loài giặc gây nên sự biến nó bao chứa mầm họa, không phải là một ngày, nay tìm ra những điều từ trước bày vào chương sớ có hình tích bội nghịch 6 điều...Đến lúc đình thần nghị án, dâng lên, chỉ ra những lời nói việc làm bội nghịch đáng làm tội xử trảm 7 điều.
Duy sự biến ở Phiên An, Duyệt thực là đầu tội, xin chiếu theo luật mưu phản kết án lăng trì, nhưng nó đã bị Diêm vương bắt đi rồi. Nay xin thu bằng sắc bổ quan tài ra chém xác để tỏ gương răn. Những cáo sắc tổ tiên ông bà cha mẹ được phong tặng đều thu lấy cả. Và xem mồ mả cha ông nó có tiếm làm trái phép đều phá bỏ đi, còn các thê thiếp, các con cháu gọi bằng chú bác đều phân biệt xử tội, tài sản tịch thu hết cả.
Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành.
Vua dụ rẳng như thế đủ biết thiên lý không sai, công đạo ở lòng người, thực không thể che được. Đứa quen gieo gây hoạ thiên hạ cũng giận, các tội ác đều về đấy cả. Muôn người cùng một lời, đủ rõ án này là án sát nghìn đời. Lê Văn Duyệt tội khó đếm tóc, nói đến đau lòng, bổ quan tài ra mà chém xác, cũng chả quá đáng, nhưng nghĩ nó chết đã quá lâu, trước bị Diêm la làm tội, lại đã cướp quan tước, còn cái xương khô trong mả cũng không thèm gia hình.
Nay sai Gia Định Tổng đốc đến chỗ mả đắp, san ra làm bằng đất, lại dựng bia đá lên trên, viết khắc to 8 chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" để tỏ tội danh khi đã chết và rõ phép nước vào đời sau, cho những đứa quyền gian răn sợ.”
Đắc Xuyên Gia Khang FB
Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu do sử thần Cao Xuân Dục của nhà Nguyễn chép: "Tân Dậu (1801) tháng 7, phong cho Nguyễn Văn Thành làm Khâm sai chưởng tiền quân, Bình Tây đại tướng quân; cho Lê Văn Duyệt làm Thần sách quân chưởng Tả dinh đô thống chế. Ngài (tức Gia Long) dụ rằng: "Ngươi với Duyệt nên ở cùng nhau cho có đạo nghĩa, có thành thiệt, không nên lấy khí thế, tài danh làm cao thấp, đồng tâm lo việc, để cho thành công; mới gọi là tôi của xã tắc, báu của nước nhà; ngươi phải nghĩ cho kỹ."
Lăng Ông Bà Chiểu là một địa danh nằm lòng của rất nhiều người Gia Định - Sài Gòn trong hơn 180 năm qua, kể từ khi Lê Văn Duyệt mất năm 1832 khi còn đang giữ chức Tổng trấn Gia Định. Lăng là nơi chôn cất Tả quân Lê Văn Duyệt, vì nằm gần khu chợ Bà Chiểu nên người ta đã ghép tên Lăng Ông (Lê Văn Duyệt) với chợ Bà Chiểu để gọi. Vị trí Lăng Ông hiện nay thuộc quận Bình Thạnh, trên đường Đinh Tiên Hoàng.
Tại Lăng Ông này vào năm 1835 vua Minh Mạng đã sai Tổng đốc Gia Định đương thời tới san bằng huyệt mộ, cho trói xiềng xích và khắc lên bia đá 8 chữ: "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ", tức "Nơi đây hoạn quan quyền thế Lê Văn Duyệt phải chịu tội", sau khi con nuôi của Lê Văn Duyệt là Lê Văn Khôi bị ghép vào tội tạo phản. Đến đầu năm Tự Đức 1848 mới có chiếu rửa tội oan cho Lê Văn Duyệt và năm 1868, thì được truy phục lại danh hiệu công thần, cho thờ vào miếu Công thần Trung hưng.
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần Trọng Kim thuật lại lý do khiến Minh Mạng cho san bằng lăng mộ của của đệ nhất danh thần nhà Nguyễn như sau:
"Quan quân bình xong giặc Lê Văn Khôi rồi vua Thánh Tổ (Minh Mạng) sai phá thành Phiên An đi, xây lại chỗ khác và ngài xuống chiếu định truy tội Lê Văn Duyệt và tội Lê Chất (Tổng trấn Bắc Thành, bạn thân của Lê Văn Duyệt). Cứ bình tĩnh mà xét, thì chẳng qua là vua Thánh Tổ vốn có ý không ưa hai ông ấy, rồi đình thần lại nhân đó mà bới việc ra để chiều ý ngài, cho nên thành ra hai cái án thật là không đáng. Nay cứ theo trong sách "Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện" mà chép ra, để mọi người đều được lấy lẽ công bằng mà phán đoán. Từ khi tên Khôi khởi loạn, vua Thánh Tổ thường ban trách Lê Văn Duyệt che chở quân phỉ đảng, để gây nên hoạn loạn."
Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện mà Trần Trọng Kim nhắc ở đoạn trên là bộ sách của Quốc sử quán triều Nguyễn ghi chép chi tiết tiểu sử của các bà hậu phi, hoàng tử, công chúa, bề tôi, danh tướng, nghịch thần của nhà Nguyễn. Tiểu sử của Lê Văn Duyệt được chép khá dài, nhiều dữ kiện trong hai mục thượng, hạ. Sách ấy ghi như sau:
"Lê văn Duyệt tổ tiên là người huyện Chương Nghĩa, tỉnh Quảng Ngãi, cha là Toại dời đến ở tỉnh Định Tường, sinh được bốn con trai, Duyệt là con trưởng, sinh ra vẫn không có dái (tinh hoàn), mình thể ngắn nhỏ, tinh hãn, có tài lực. Năm 14, 15 tuổi thường than thở rằng sinh ở đời loạn, không hay dựng cờ trống đại tướng, chép công danh vào sử sách không phải là trượng phu vậy."
Lê Văn Duyệt có một người con nuôi tên Lê Văn Khôi, tên thật là Nguyễn Hữu Khôi, vốn là thổ mục nổi loạn ở Cao Bằng, được Lê Văn Duyệt cho quy phụ và giao chức phó úy. Khi Lê Văn Duyệt mất, vua Minh Mạng vốn đã có hiềm khích với Lê Văn Duyệt từ rất lâu đã viện nhiều cớ để ghép tội ông, nhân khi con nuôi của Lê Văn Duyệt khởi binh đánh thành Phiên An (Gia Định) thì Minh Mạng đã xuống tay trừng trị cả người chết lẫn người sống trong gia phả của Lê Văn Duyệt.
Đại Nam Liệt Truyện chép tiếp: "Minh Mạng năm thứ 14 (1833), tháng 5 đêm 18, (Lê Văn) Khôi ngầm dụ lính 27 người vào thành giết Bạch Xuân Nguyên, Tổng đốc Nguyễn Văn Quế nghe biến vội vàng ra bắt giặc, lũ Khôi giết cả Quế. Khôi tự biết tội to, bèn giữ thành làm phản, cháu Duyệt là Hán bị hiếp làm quan chức của giặc. Tin ấy báo đến nơi, vua tức giận quá lập tức sai đại đội quan quân đi bắt giặc.
Lúc bấy giờ các tỉnh thành Gia Định đều bị giặc đánh, mà quân ở kinh tiến đi cũng bị giặc chống đánh, lũ Khôi liều chết giữ trong thành Phiên An, quan quân đánh gần 3 năm không hạ được thành ấy. Vua mỗi khi coi chầu quần thần bàn việc binh, bèn truy trách tội Duyệt ấp ủ bọn giặc nuôi thành hoạ thai.
Năm thứ 16 (1835), thành Phiên An đã đánh lấy được...Vua (ra chỉ) dụ Nội các rằng:
Lê Văn Duyệt xuất thân là hoạn quan, vốn là gia nô, ngẫu nhiên gặp lúc trung hưng, rồng mây gặp hội, đánh được Tây Sơn cùng dự công lao. Hoàng khảo ta Thế Tổ Cao Hoàng đế (Gia Long) nghĩ nó lúc bé sai khiến trong cung, tin làm lòng bụng, nhiều lần cho mang cờ tiết búa to, không ngờ lũ này phần nhiều không phải là thiên loại, ngày càng kiêu rông, dần mang lòng bất thần, tha hồ làm bậy ăn nói cuồng bội, chỉ vì lòng sợ thánh minh dẫu có lòng gian, rồi cũng không dám phát, mà Hoàng khảo ta năm cuối đã biết rõ.
Lại nghĩ đứa nô tỳ ấy dầu lòng mang sự trái phép, nhưng thiên hạ đã cả định, thần dân ai theo thằng đã bị thiến ấy. Tất nó không làm gì được, ngày càng xa mà ẩn nhẫn qua đi. Đến lúc trẫm lên ngôi, cũng nghĩ tôi cũ còn chả được mấy người, lại hắn đã tuổi già, tạm khéo đợi hắn ngầm tiêu thói xấu để bảo đảm toàn công danh cũng là một việc tốt.
Không ngờ nó lòng độc như rắn rết, tính dữ như sài lang, cuồng nộ ngày càng quá kiêu tư càng thêm, thường đối mọi người nói cái sở đoản của triều đình khoe cái sở trường của nó, chê bai quá lời, người không nỡ nghe. Những đứa tù phạm Thanh Nghệ (Thanh Hoá & Nghệ An) năm trước hung hãn, đều chiêu ra thú, xin cho thuộc bọn liêu hạ, cho làm nanh vuốt. Lê Văn Khôi là đô vệ lại tiến cử lên quan đến Phó vệ úy, đi theo dưới cột cờ để làm lòng hung...
Sau vài ngày, Nội các là Hà Văn Quyền, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Quỳnh cùng dâng sớ tâu rằng: Duyệt ấp ủ loài giặc gây nên sự biến nó bao chứa mầm họa, không phải là một ngày, nay tìm ra những điều từ trước bày vào chương sớ có hình tích bội nghịch 6 điều...Đến lúc đình thần nghị án, dâng lên, chỉ ra những lời nói việc làm bội nghịch đáng làm tội xử trảm 7 điều.
Duy sự biến ở Phiên An, Duyệt thực là đầu tội, xin chiếu theo luật mưu phản kết án lăng trì, nhưng nó đã bị Diêm vương bắt đi rồi. Nay xin thu bằng sắc bổ quan tài ra chém xác để tỏ gương răn. Những cáo sắc tổ tiên ông bà cha mẹ được phong tặng đều thu lấy cả. Và xem mồ mả cha ông nó có tiếm làm trái phép đều phá bỏ đi, còn các thê thiếp, các con cháu gọi bằng chú bác đều phân biệt xử tội, tài sản tịch thu hết cả.
Án dâng lên, những người nguyên nghị trảm quyết đều đổi làm trảm giam hậu, những đứa dưới 15 tuổi tạm giam lại. Những trẻ bé không biết gì thì tha không bắt. Phát nô 13 đứa đàn bà, đều tha cả. Việc chém xác cũng không thi hành.
Vua dụ rẳng như thế đủ biết thiên lý không sai, công đạo ở lòng người, thực không thể che được. Đứa quen gieo gây hoạ thiên hạ cũng giận, các tội ác đều về đấy cả. Muôn người cùng một lời, đủ rõ án này là án sát nghìn đời. Lê Văn Duyệt tội khó đếm tóc, nói đến đau lòng, bổ quan tài ra mà chém xác, cũng chả quá đáng, nhưng nghĩ nó chết đã quá lâu, trước bị Diêm la làm tội, lại đã cướp quan tước, còn cái xương khô trong mả cũng không thèm gia hình.
Nay sai Gia Định Tổng đốc đến chỗ mả đắp, san ra làm bằng đất, lại dựng bia đá lên trên, viết khắc to 8 chữ "Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ" để tỏ tội danh khi đã chết và rõ phép nước vào đời sau, cho những đứa quyền gian răn sợ.”
Đắc Xuyên Gia Khang FB
Wednesday, December 3, 2014
Ông Hải Quân - Nguyễn Thị Thanh Dương
Chiếc ghe nhỏ cũ và xấu có mái che
lụp xụp đang lướt đi tới một khúc sông vắng, trên đường cũng vắng hoe
chẳng thấy bóng người qua lại, xung quanh chiếc ghe toàn là cây bần, cây
dừa nước và vô số các loài cây hoang dại um tùm làm hẹp cả khúc sông,
những loài cây dại mà Thư không biết tên dù Thư đã có thời học đại học
khoa học, môn thực vật Thư đã đi tới vùng Biên Hoà để tìm hiểu về nhiều
loại cây.
Trên bờ và dưới sông đều hoang vu im ắng như nhau, có lẽ nơi này hiếm khi ai qua lại.
Anh chèo ghe là dân địa phương đã rành rẽ chọn chỗ vắng vẻ nhất để cho chiếc ghe neo lại tạm trú. Anh ta nói nhỏ dặn dò Thư:
- Anh nằm trong ghe đừng ló mặt ra ngoài nghen, đợi chiều tối chúng ta ra ghe lớn.
Thư vừa đùa vừa thật:
- Anh cứ nói to lên, dưới sông trên bờ chỉ có anh và tôi với ruồi muỗi chứ có ai nữa đâu mà phải thì thầm…
Anh chèo ghe cười lỏn lẻn:
- Cẩn thận cho chắc ăn mà anh Hai.
Thế rồi anh chèo ghe ngồi ở cuối ghe còn Thư nằm trong lòng ghe.
Thời gian chờ đợi cho chuyến vượt biên căng thẳng hồi hộp và thời gian trôi chậm làm sao.!.

Thắm Nguyễn
Giá mà lúc này Thư có nổi hứng thay đổi ý định muốn trở về nhà cũng không được nữa, vì anh chẳng biết đường nào mà về, đường sông đường bộ đều hoang vu như nơi này đã bị cuộc đời lãng quên hoặc vô danh, vô thừa nhận trong bản đồ đất nước Việt Nam và nhất là anh chèo ghe rõ ràng đang canh chừng Thư như canh chừng một tên tù binh...
Thư sẽ là hoa tiêu, là nhân vật cần thiết cho chuyến vượt biên này, người ta đã ưu ái cho Thư nên canh chừng Thư là đúng rồi. Tới giờ phút này Thư mà bỏ cuộc thì người ta cũng… gí dao bắt Thư lên ghe lên tàu cho bằng được, vì tổ chức một chuyến vượt biên mất bao công phu, bao sự sắp xếp mới đến ngày ra khơi...
Đánh đổi việc Thư làm hoa tiêu,Thư không phải trả tiền mà còn có thể mang theo một hai người thân nếu muốn, Thư định dắt đứa em gái đi nhưng bố đã ngậm ngùi cản lại:
- Tuy là người ta cho đi không, nhưng chuyện vượt biên bao nhiêu rủi ro, biết được hay thua mà vơ vào, thôi thì cứ lo cho thân con sống chết cũng đành.
Bố nói đúng, mạng Thư là “mạng cùi” thì sẵn sàng thí mạng.
Thư đến thành phố Mỹ Tho được chủ ghe sắp xếp cho ở nhà một người thân của họ, chủ nhà đưa Thư ít tiền tiêu vặt. Hôm sau Thư ra chợ Vòng Nhỏ ăn tô hủ tiếu Mỹ Tho rồi đi chuyến xe lôi ra bến phà Rạch Miễu, qua bên kia sông Thư như người khách đường xa vào ngồi quán nước để chờ người ra đón.
Người này đưa Thư xuống một chiếc ghe nhỏ chèo tay và đưa Thư đến đây. Bây giờ khoảng 2 giờ trưa, như vậy là Thư sẽ nằm chèo queo trong lòng ghe chật hẹp này thêm mấy tiếng đồng hồ nữa chờ đêm tối đến.
Thư gối tay lên đầu, mái tóc mới cắt ngắn. Chiều hôm trước ngày Thư đi Mỹ Tho chị Thái của Thư đã cắt tóc cho Thư.
Cửa tiệm cắt tóc và uốn tóc của chị Thái mở ra trước cửa nhà ế ẩm khách vì chị mới đi học nghề và ra cửa tiệm nên bị hàng xóm chê tay nghề còn non. Sau 1975 chồng đi tù cải tạo chị lo học nghề may, rồi học nghề uốn tóc mà chẳng sống được với nghề nào.
Thư nghĩ nếu đi chuyến vượt biên này thành công thì sẽ giúp đỡ gia đình để chị Thái đỡ vất vả hơn. Mẹ mất mấy chị em sống quây quần bên nhau cùng với bố.
Chỉ trong một thời gian ngắn vài ba năm mà cuộc đời Thư đã qua bao thay đổi. Thư tốt nghiệp đại học sư phạm Sài Gòn và được bổ nhiệm về dạy học tại trường Phan Thanh Giản Cần Thơ năm 1974, sau 1975 trường đổi tên An Cư.
Năm 1979 Thư bị ép phải “tình nguyện” đi bộ đội. Những buổi họp tại trường người ta luôn hô hào khẩu hiệu: “Sẵn sàng đi bộ đội khi cần thiết” và gọi đích danh một số giáo viên để khuyến khích họ tình nguyện trong đó có Thư.
Các học sinh đoàn viên của trường cũng được phát động chiến dịch tình nguyện đi bộ đội.
Tình hình chiến sự đang gay gắt, quân Trung Quốc gây hấn ở miền Bắc. Trong miền Nam thì bộ đội sang Campuchia để “giúp đỡ” quân sự cho người dân Campuchia thoát khỏi Khờ Me Đỏ.
Thư thì lòng dạ não nề, trong đầu óc bao nhiêu là toan tính, nếu học xong khóa huấn luyện quân sự ở Trà Bay họ đưa Thư ra miền Bắc thì chưa biết tính sao, nếu sang Campuchia thì Thư sẽ tìm đường vượt biên bằng đường bộ đến Thái Lan.
May mắn cho Thư, sau khoá huấn luyện quân sự ở Trà Bay trường An Cư đã gọi Thư về dạy học lại vì thiếu giáo viên. Thư không biết đâu là sự thật, hay là họ đã thử lòng Thư? Sau đó một thời gian trường đã đề nghị cho Thư làm hiệu trưởng một trường trung học ở Long Tuyền, cách thành phố Cần Thơ khoảng 12 km, không biết vì “thành tích” tình nguyện đi bộ đội của Thư hay vì Thư đã đạt danh hiệu giáo viên giỏi của tỉnh Hậu Giang?…
Thư không muốn nhận chức vụ này vì càng lớn chức càng nhiều ràng buộc và trách nhiệm mà mục đích của Thư là đang tìm đường vượt biên, luôn chờ thời đi vượt biên.
Thư có một bạn cùng chí hướng, tên Tuấn, tốt nghiệp cùng khóa đại học sư phạm, nhưng Tuấn bỏ dạy học làm nghề tự do cũng vì mục đích vượt biên. Tuấn là dân bản xứ Mỹ Tho đã đứng ra tổ chức chuyến vượt biên như rủ thêm một số bạn đồng hành mua ghe thuyền, máy móc. Thư là hoa tiêu dù bất đắc dĩ nhưng Tuấn tin cậy vào khả năng và sự thông minh nhạy bén của bạn. Thư học lóm “nghề” hoa tiêu từ một anh bạn là sĩ quan hải quân đi tù cải tạo về, anh hải quân còn đưa cho Thư một cuốn sách bằng Anh Ngữ anh mang về sau chuyến sang Mỹ tu nghiệp. Với khả năng tiếng Anh, Thư đã học xong ở Hội Việt Mỹ đường Mạc Đĩnh Chi Sài Gòn thì đọc cuốn sách này không mấy khó khăn.
Để chắc ăn thêm Thư đã vào thư viện quốc gia ở đường Nguyễn Du Sài Gòn tìm đọc thêm những sách liên quan đến đi biển.
Thế là Thư tự tin đảm lãnh nhiệm vụ làm hoa tiêu. Từ Cần Thơ mỗi lần nghỉ dạy là Thư về Sài Gòn la cà ra khu chợ trời để tìm kiếm mua la bàn và bản đồ đường biển.
Chuyến vượt biên này vào năm 1981 đã thất bại khi chưa ra tới cửa biển, cả đám vào tù ở huyện Long Đất Vũng Tàu.
Trong 8 tháng tù giam Thư đã quen thân với một anh tài công trẻ tuổi tên Đực nhà quê và thật thà. Đực là dân lái ghe mướn từ thời mới lớn và được một chủ ghe trọng dụng làm tài công lái chuyến ghe đi vượt biên không may thất bại.
Từ trại giam ở Long Đất ra Thư thành kẻ tay trắng, không chỗ dạy học, không hộ khẩu. Thư về Sài Gòn sống với gia đình, cha và các chị em cưu mang Thư, những ngày này thật hoang mang vô định và đôi khi tuyệt vọng.
Tuấn được gia đình lo cho ra tù sớm và sau đó lấy vợ, thừa hưởng nhiều tài sản ruộng vườn nhà vợ ở Mỹ Tho và không hào hứng chuyện vượt biên như lúc còn độc thân nữa..
Con đường sống duy nhất của Thư là Thư tiếp tục vượt biên.
Biết Thư là hoa tiêu, Đực đã giới thiệu cho Thư chuyến đi này với Đực và Đực vẫn là tài công. Hai anh em sẽ cùng một chuyến tàu định mệnh, sống chết có nhau như những ngày tháng trong tù chia sẻ từng miếng cơm khô, từng con cá mặn, từng buồn vui chuyện đời.
o O o
Khoảng 7-8 giờ tối thì tay chèo ghe bò đến chỗ Thư, lại thì thầm:
- Ta đi nghen anh Hai.
Lần này Thư thấy hồi hộp không đùa với anh ta được nữa.
Chiếc ghe lặng lẽ tách bến sông vắng để đến điểm hẹn gặp ghe lớn.
Trên ghe lớn đã có sẵn hơn 40 “hành khách” không biết họ đã đón lên từ nơi nào, từ lúc nào..
Khi Thư vừa bước lên ghe có một bà cất tiếng hỏi ngay:
- Ông là sĩ quan hải quân hả?
Thư đành …gật đầu vì chẳng có thì giờ đâu mà giải thích.
Anh Tình chủ ghe đến bên Thư dặn dò và một hai đều gọi Thư là “ông hải quân” đầy tin cậy y như chị đàn bà kia.
Ghe rời sông ra cửa biển Bình Đại vào lúc 3 giờ sáng, tuy trời còn tối không nhìn thấy màu nước nhưng Thư biết vùng nước lợ chuyển tiếp giữa sông và biển nửa đục nửa trong, càng đi xa bờ nước càng xanh đậm.
Đến khi trời sáng rõ thì nhiều người trên ghe bỗng phát hiện ra có tàu đang đuổi theo, không biết đó là tàu của lính biên phòng hay tàu đánh cá của tư nhân? Nhưng dù tàu nào thì cũng là mối đe dọa nguy hiểm. Anh Tình đến bên Thư lo lắng giục giã:
- Ông hải quân, có tàu đang đuổi theo mình, cho ghe vọt nhanh đi.
Thư nhìn ra sau thấy chiếc tàu lạ càng hiện rõ nên sau một thoáng suy nghĩ bèn quyết định:
- Anh Tình, không kịp đâu. Anh xem trên ghe mình có mang theo bất cứ cây gậy nào thì tận dụng hết chĩa ra sau ghe giả làm súng ống hù dọa chúng xem? rồi tới đâu mình tính tới đó.
Tình làm y lời, và còn kêu mấy thanh niên đứng trên khoang ra vẻ thách thức, ra vẻ như phe ta rất “ngầu”, đang có vũ khí và sẵn sàng chiến đấu.
Thế mà chiếc tàu kia rút lui thật, nó không tăng tốc độ đuổi theo nữa và khoảng cách càng lúc càng xa. Đúng là trời thương trời cứu..
Mọi người thở phào nhẹ nhỏm và suy đoán chắc chiếc tàu kia chẳng dám dấn thân vào nguy hiểm để lập công làm gì, mà bắt người vượt biên như bắt cóc bỏ dĩa, thua chuyến này thì họ lại đi những chuyến sau, cho tới khi nào không còn khả năng đi nữa thì mới chịu thôi.
Chiếc ghe lại tự tin vượt sóng, như một thủy thủ chuyên nghiệp Thư ghi nhật ký hải hành để theo dõi chuyến đi, Thư tính hướng cho Đực lái tàu đến Mã Lai, địa điểm càng gần thì càng rút ngắn sự hiểm nguy.
Chiếc ghe dài 12 mét, Thư đã vo tròn mớ giấy báo cho người đứng ở đầu ghe ném ra xa xa theo chiều ngang song song với mũi ghe và Thư theo dõi đồng hồ mất 8 giây rưỡi khi đuôi ghe gặp mớ giấy báo vo tròn đang trôi nổi bập bềnh ấy.. Thế là tốc độ ghe đi 12 mét mất 8 giây rưỡi và Thư có thể tính ra tốc độ mỗi giờ bằng bài toán quy tắc tam suất đơn giản..
Ban đêm biển mênh mông đen tối thăm thẳm đến rợn người, tầm nhìn bị hạn chế Thư đã ngắm một ánh sao chênh chếch với mũi ghe khoảng 45 độ và nói Đực cứ nhắm cái hướng khoảng 45 độ ấy mà đi với tốc độ chậm hơn ban ngày để nếu có lạc đường thì cũng không lạc quá xa rồi sáng mai sẽ chỉnh lại hướng đi chính xác..
Thư cho cột cái giẻ dưới đuôi ghe coi hướng gió, giẻ bay ngược chiều hay xuôi chiều, và mục đích ghe đi ngược hay xuôi chiều gió thì cứ lấy cái giẻ bay đó làm chuẩn..
Những điều này Thư đã đọc trong cuốn sách mang từ Mỹ về của anh hải quân cho, tất cả đều được Thư mang ra tận dụng thật hữu ích.
Sau 2 ngày trên biển thì gặp một tàu Thái Lan, họ chặn lại và từ tàu lớn họ xuống ghe uy hiếp mọi người lấy hết vàng bạc nữ trang nhưng không giết hay đánh đập ai. Có lẽ đây là một thương thuyền thấy ghe nhỏ vượt biên nên nổi lòng tham xông vào kiếm chác thêm. Một ông ra dáng chủ tàu lại biết nói bập bõm tiếng Anh thấy đám vượt biên nhớn nhác sợ hãi và có kẻ khóc lóc đã thương cảm sao đó cho cả đám vượt biên lên tàu lớn ăn cơm với cá no nê xong mới trở lại ghe mình. Coi như mất của để “mua” được một bữa ăn no và ngon lành.
Thư đưa ông ta xem cuốn nhật ký hải hành, ông ta khen Thư đã đi đúng hướng và chúc tiếp tục đi đến Mã Lai thành công.
Sự may mắn này hy hữu hơn cả lúc chiếc ghe chĩa cây chĩa gậy làm súng giả và thoát nạn lúc ở cửa biển Bình Đại Mỹ Tho.
Hai ngày sau thì ghe đến bờ biển Mã Lai vào lúc tờ mờ sáng. Mọi người trên ghe la hét reo hò mừng rỡ
Thư ra lệnh cho Đực lái tà tà dọc bờ biển và nói mọi người cứ yên tâm thong thả ngắm cảnh biển đẹp, cảnh thanh bình của Mã Lai đợi tới sáng sẽ lên bờ để khỏi làm phiền chủ nhà.
Sau mấy ngày đêm mệt nhoài vì ít ngủ trên ghe, giờ phút này Thư bỗng cảm thấy khỏe hẳn lên, sức mạnh tinh thần thật là mãnh liệt. Thư vui thích ngắm những hàng dừa, hàng phi lao trên bãi biển rồi lại nhìn những đợt sóng biển đang xô lên bờ trong buổi sáng vắng người êm ả.
Cũng là sóng, cũng là biển mà Thư từng thấy như biển Vũng Tàu ở Việt Nam sao hôm nay biển Mã Lai lại đẹp đến thế, lạ lùng đến thế..
Thư mừng vui thế nhưng khi nhìn ra biển xa chẳng biết chân trời nào là hướng quê nhà Thư bỗng ngậm ngùi. Thư chỉ muốn rời bỏ chế độ chứ không muốn rời bỏ quê hương. Giờ này ở nhà chắc cha Thư, các chị em Thư đang nóng lòng lo lắng cho Thư lắm.
Thư thấy tiếc đã không có đứa em gái đi theo.
Khi trời sáng tỏ thì Đực phóng cho ghe vào sát bờ tối đa, người ta có thể cảm thấy đáy ghe đi lướt trên cát và khựng lại, mọi người rối rít lên bờ, có người sung sướng quỳ xuống hôn lên mặt đất, có người quay ra biển khơi vái lạy cám ơn biển đã yên bình đưa đoàn người đến bến bờ tự do.
Thật vậy, có trải qua mấy ngày đêm trên biển khơi bao la, trên chiếc ghe nhỏ đơn sơ mới biết cái chết và sự sống gần kề mong manh thế nào.
Anh Tình đã mang theo một cái đục lớn, khi mọi người lên bờ xong anh đục cho chiếc ghe thủng đáy thủng vách vài chỗ để phòng hờ có những dân bản xứ không muốn người vượt biên đến đất nước họ đã đuổi mọi người xuống ghe ra biển trở lại đi đâu thì đi, như những tin đồn tin kể của những người vượt biên trước. Khi ghe hư hỏng không thể sử dụng được nữa thì họ phải chấp nhận dung chứa người vượt biên ở lại.
Chủ ghe Tình thật chu đáo.
Người ta xúm vào cám ơn tài công và hoa tiêu:
- Cám ơn anh Đực nhé, anh lái ghe suốt 5 ngày đêm trên biển thật khỏe thật tài.
- Anh Đực là tài công chuyên nghiệp có khác, nghe chủ ghe nói anh lái ghe từ hồi mười mấy tuổi phải không?
Bà đầu tiên gặp Thư bước xuống ghe đã hỏi “Ông là sĩ quan hải quân hả”. Bây giờ cũng là bà, lần này thì bà thoải mái hỏi dài dòng :
- Cám ơn ông hải quân thật nhiều nghe, ông cũng chuyên nghiệp không thua gì anh tài công, chỉ đường ghe đi đúng y boong. Hồi đó ông đi hải quân được mấy năm? rồi ông đi tù cải tạo mấy năm? vợ con gì chưa? Sao không thấy mang theo?...
Một người phải ngắt lời bà:
- Bà hỏi cả chục thứ ông hải quân nghe điếc tai luôn biết đâu mà trả lời.
Mấy người khác nhao nhao lên:
- Phải rồi, công ông hải quân lớn lắm đó, nếu hoa tiêu dở chỉ lầm đường thì tài công cũng chịu thua thôi, xăng dầu đâu mà đi tiếp? chưa kể sóng gió bão bùng.
- Bà nói lạ chưa? Ông ấy là dân hải quân thì phải rành đường biển chứ.
Anh Tình ra bắt tay tài công Đực xong liền bắt tay Thư với vẻ mặt tươi rói và trân trọng:
- Cám ơn ông hải quân.
Cho tới giờ này chủ ghe cũng không nhớ tên Thư, mà chỉ gọi Thư là “ông hải quân”
Thư thấy lúc này thuận tiện và thoải mái nhất để lên tiếng cải chính, nói lên sự thật:
- Anh Tình và bà con cô bác ơi, tôi không phải là hải quân.
Mọi người không tin:
- Ông hải quân giỡn hoài, tài đi biển rành rành mà.
- Ông hải quân vui tính quá trời.
Thư nghiêm trang:
- Tôi nói thật tình một lần nữa tôi không phải lính hải quân. Tôi là nhà giáo, dạy học ở Cần Thơ..
Mọi người bật kêu lên:
- Úy trời, thầy giáo mà dám chỉ đường đi biển hả? Thầy thiệt liều mạng …
- Trời thần thiên địa ơi, nếu tôi biết ông hoa tiêu là nhà giáo thì không dám đi chuyến vượt biên này rồi.
- Nghĩa là ông thầy giáo chưa từng đi biển lần nào hả ??
Thư thành thật kể:
- Tôi chỉ đọc sách của một người bạn hải quân và đọc tài liệu đi biển trong thư viện. Thật ra tôi cũng có làm hoa tiêu một lần trong chuyến vượt biên nhưng ghe vừa khởi hành chưa ra tới biển thì bị bắt rồi.
Một bà giọng Bắc kỳ 54:
- Giời ôi, thế ra chuyến đi vượt biên này là “thử nghiệm” đầu tay của ông đấy hả ? Gan ông to như cái đình.
Thư cũng đáp lại giọng Bắc như bà:
- Vâng, chuyến đầu tiên tôi thử tay nghề hoa tiêu đấy bác ạ.
Một người khác hào hứng:
- Biết đâu nhờ vía của ông nhà giáo hiền lành mà ghe mình gặp hên 2 lần đó, súng giả mà hù được người ta, rồi bị cướp mà còn được cướp mời lên tàu cho ăn cơm với cá..
- Hèn gì trông tướng tá ông …hơi yếu, không có vẻ con nhà lính là bao, tôi cứ tưởng tại ông đi tù cải tạo về nên ốm o gầy mòn đi chứ.
Anh Tình gạt đi:
- Bà con cô bác ơi, chính tôi cũng không ngờ, mà thôi dù là ông thầy giáo thì tài hoa tiêu của thầy giáo cũng tuyệt vời, đã đưa chúng ta tới bến Mã Lai đúng như dự tính.
- Hoan hô ông hải quân…À quên hoan hô ông thầy giáo hoa tiêu
Thư rủ vài người đàn ông khác đi quanh bờ biển để tìm gặp người bản xứ Mã Lai nhờ họ báo tin cho cảnh sát.. Một bà hỏi:
- Thầy giáo ơi, gặp cảnh sát làm chi?
- Để khai báo với họ sự hiện diện của chúng ta thì mới được đưa tới trại tị nạn nào đó. Tất cả bà con cứ tập hợp một chỗ đừng đi đâu xa nhé.
Trên tàu họ đã răm rắp tin cậy ông hải quân thì bây giờ trên bờ biển Mã Lai họ cũng tin cậy vào ông thầy giáo trẻ tuổi .
Đực cũng đi theo Thư, anh chàng nói với Thư:
- Thầy giáo à, nếu khai báo gì thầy khai cho em ở gần thầy nhé, kể cả sau này đi định cư nước nào cho em theo thầy luôn.
Mới ngày nào Đực và Thư là đôi bạn trong tù mù mịt tương lai, nay là đôi bạn trên xứ người tự do thoải mái, tương lai rộng mở phía trước. Chỉ một chuyến vượt biên có thể thay đổi cả cuộc đời.
Họ đi dọc theo bờ biển về phía vài người bản xứ phía xa…
Biển bên cạnh họ, hiền hoà và thân thiện cùng với chân trời rạng ánh bình minh trên biển khơi lấp lánh tươi vui như đang chào đón họ, những người đi tìm tự do may mắn.

Tác Giả
Nguyễn Thị Thanh Dương
Subscribe to:
Posts (Atom)







