Friday, January 21, 2022

Tôi đi thăm chồng "cải tạo" Bút ký:Minh Hoà

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.
Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng thầy mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng ba má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…
Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà Lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến.
Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.
Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới. Mùng sáu Tết Tân Hợi 1971, Sư đoàn Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong dòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.
Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa… Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi: “…phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà Lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.
Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không giấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…
Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các dòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….
Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.
Rồi mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị… Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ Thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng Y Viện Cộng Hòa. Trên đường tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…
Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương cái con người chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một Tướng Patton của Việt Nam, “Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh sẽ làm tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà.” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…
Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế…
Tháng Tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyển vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm thầy mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu Thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chết có nhau…
Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa Tháng Năm đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào Tháng Sáu, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi???…
Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu HQ505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà Lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dần vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp. Anh bị đưa ra Bắc.
Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về… Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đột nhiên bùng nổ. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.
Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định… Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ… Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay… nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn ăn cướp và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…
Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi…
Anh từ miền cực Bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.
Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bị vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.
Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay. Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.
Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.
Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???
Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà chọi sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!
Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.
Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt công an. Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã tự nguyện đi khai hoang rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất. Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:
– Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.
Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.
Tôi cúi mặt giận dỗi:
– Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được…
Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:
– Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ… Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!
Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:
– Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng tiến bộ như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…
Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.
Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà… anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…
Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nước mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu:
-Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em… đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…
Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy ù theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc. Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.
Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…
Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì. Mấy chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.
Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh Hóa.
Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Hai bộ đội tử tế, không lấy tiền, chỉ ăn hai tô cháo lòng mà chúng tôi mời mãi. Ra đến Thanh Hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.
Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.
Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị sâu xa.
Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…
…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:
– Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ… Hà hà..
Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….
Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…
ảnh1: tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng tại Đà Lạt năm 1971.
ảnh 2: tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng trong ngày đám cưới con trai "cu Bi" tháng 4 năm 2009.

Tôi đi thăm chồng "cải tạo" Bút ký:Minh Hoà

Tôi quen anh năm 17 tuổi, khi còn cắp sách đến trường. Lúc ấy anh là sinh viên sĩ quan năm thứ ba, hai mươi tuổi đời, nhưng dạo đó trong mắt tôi anh thật chững chạc, lại tài hoa, và cũng không thiếu… si mê.
Anh nhất định đòi cưới tôi ngay sau khi ra trường, nói rằng thầy mẹ anh sẽ ưng ý, không thể phản đối. Tôi hình như có hơi ngạc nhiên và hơi… sợ sợ, vì tuổi 18, 19 thời đó còn nhỏ lắm, chẳng biết gì, chỉ biết rằng tôi hình như cũng… yêu anh nhiều lắm. Tôi còn nhớ, tuy còn nhỏ và ngây thơ lắm, nhưng những ngày giữa năm thứ tư của anh, từng đêm tôi đã thổn thức một mình. Cảm giác lúc ấy là chỉ sợ mất anh vào nơi gió cát mịt mù mà biết bao người trai đã ra đi không hẹn ngày về. Và tôi nhất quyết lấy anh, tuy anh làm phiền lòng ba má tôi không ít, khi anh dứt khoát từ chối mọi công lao chạy chọt của song thân tôi ngay từ truớc ngày anh tốt nghiệp. Gia đình tôi ngần ngại, nhưng tôi là con gái út, được cưng nhất nhà, vả lại cả nhà ai cũng quý mến anh…
Thế là tôi rời ghế nhà trường năm 19 tuổi, lên xe hoa mà tưởng như đang trong giấc mộng tình yêu thời con gái. Rồi thì giã từ quê huơng Đà Lạt yêu dấu, giã từ những kỷ niệm yêu đương trên từng con dốc, từng vạt nắng xuyên cành trong hơi lạnh thân quen, từng hơi thở thì thầm trong ngàn thông thương mến, tôi theo anh về làm dâu gia đình chồng ở Sài Gòn. Tôi chưa hề được chuẩn bị để làm dâu, làm vợ, đầy sợ hãi trong giang sơn nhà chồng, còn chưa biết ứng xử ra sao, nhưng được cha mẹ và các em chồng hết lòng thương mến.
Các chú em chồng nho nhã luôn luôn hoan hô những món ăn tôi nấu nướng.
Tuần trăng mật thật vội vã nhưng vô cùng hạnh phúc, chỉ vỏn vẹn trong thời gian anh nghỉ phép ra trường, rồi trình diện đơn vị mới. Mùng sáu Tết Tân Hợi 1971, Sư đoàn Dù của anh đi mặt trận Hạ Lào. Hôm ra đi anh vui tưng bừng như con sáo sổ lồng, trong khi tôi thẫn thờ… Anh siết tôi thật chặt, không cho tôi khóc, nói rằng ra đi trong dòng nước mắt vợ hiền là điều xui rủi.
Tôi vội vã gượng cười, để rồi từng đêm thổn thức một mình trong căn phòng lạnh vắng, run rẩy lắng nghe từng tin chiến sự miền xa… Thư anh từ mặt trận toàn những điều thương nhớ ngâp tràn, pha lẫn những lời như những tràng cười say sưa của người tráng sĩ đang tung mình trên lưng ngựa chiến. Mẹ chồng tôi chẳng vui gì hơn tôi. Hai mẹ con buôn bán xong thường đi lễ chùa, khấn nguyện. Bà cụ bảo tôi: “…phải khấn cho nó bị thương nhẹ để mà về, chứ vô sự thì lại không được về, vẫn còn bị nguy hiểm”… Tôi càng hoang mang, thảng thốt, quỳ mãi trong khói hương với đầy nước mắt, chẵng khấn được câu nào… Má tôi trên Đà Lạt cũng vội lặn lội lên tận cốc xa, thỉnh cho được tượng ảnh Bồ Tát Quán thế Âm để chồng tôi về sẽ đeo vào cổ.
Sau trận đầu tiên ở Hạ Lào anh trở về với cánh tay trái treo trước ngực. Tôi run run dội nước tắm cho anh để nước khỏi vào vết thương, mà không giấu được nụ cười đầy sung sướng, pha lẫn… đắc thắng, cảm ơn Trời Phật linh thiêng…
Rồi anh lại ra đi. Tây Ninh, Cam Bốt, cùng những địa danh trong các dòng tin chiến sự mà tôi thuộc nằm lòng. Trảng Bàng, Trảng Lớn, Suông, Chúp, Krek, Đam Be… Anh đi toàn những trận ác liệt một mất một còn với quân thù quái ác. Vừa lành vết thương là lại ra đi. Tôi thành người chinh phụ, thao thức từng đêm, vùi đầu vào gối khóc mùi trong lời khấn nguyện Phật Trời che chở cho sinh mạng chồng tôi. Còn anh, anh cứ đi đi về về trong tiếng cười vui sang sảng, hệt như các bạn chiến đấu trong cùng đơn vị, mà nay tôi vẫn còn nhớ tên gần đủ: các anh Tường, Hương, Trung, Dũng, Sinh, Chiêu, anh Sĩ, anh Tâm, anh Quyền….
Mỗi lần trở về bình an là một lần cả nhà mở hội, và mỗi khi nhận lệnh đi hành quân là một lần tôi thờ thẫn u sầu trong lúc anh hăng hái huýt gió vang vang khúc hát lên đường. Con người ấy không biết sợ hãi là gì, không cần sống chết ra sao, và không hề muốn nghe lời than vãn, chỉ thích nụ cười và những lời thương yêu chiều chuộng. Anh nói không biết tại sao anh có niềm tin kỳ lạ là không có việc hiểm nguy nào hại đựơc thân anh. Tôi chỉ còn biết chiều theo ý chồng, không bao giờ dám hé môi làm anh buồn bực, vì thời gian gần nhau quá ngắn ngủi, tôi chỉ lo cho anh những phút giây hạnh phúc hiếm hoi của người lính chiến, không muốn để anh bận lòng vì những nỗi lo âu. Lấy chồng hơn hai năm sau mà tôi vẫn chưa có cháu, vì anh cứ đi, đi mãi đi hoài, những ngày gần nhau không có mấy.
Rồi mùa Hè đỏ lửa nổ ra. Anh nhảy vào An Lộc, lăn lóc đánh dập đánh vùi với địch quân đông gấp bội trong gần ba tháng trời, mất cả liên lạc bưu chính, ở nhà không hề nhận một chữ một lời. Người hạ sĩ quan hậu cứ mỗi tháng ghé lại gia đình thăm hỏi đều phải vẫy tay tươi cười ngay từ đầu ngõ. Anh về được đúng một tuần, thì lại lên đường đi Quảng Trị… Rồi anh lại bị thương ở cửa ngõ Cổ Thành, trở về trong phòng hồi sinh Tổng Y Viện Cộng Hòa. Trên đường tới bệnh viện cùng với gia đình, tôi ngất xỉu trên xe của người anh chồng…
Nhưng rồi anh vẫn đứng dậy, lại khoan khoái cất bước hành quân. Ôi, không biết tôi mang nợ anh từ tận tiền kiếp xa xôi nào, mà tôi yêu thương cái con người chỉ biết miệt mài say mê chiến trận. Tôi chỉ biết ước nguyện của anh là trở thành một Tướng Patton của Việt Nam, “Rồi nước mình sẽ phải tự chủ hơn lên, mấy năm nữa phải khác hẳn đi chứ. Nền nếp quân đội sẽ phải thay đổi. Anh sẽ làm tư lệnh đại đơn vị, để anh điều động liên quân chủng, cả thiết giáp, máy bay, đánh giặc như Patton cho mà coi. Cam bốt, Hạ Lào Trung Thượng Lào ăn nhằm gì… Hà hà.” Tôi chỉ ậm ừ vì chẳng hiểu gì, khi anh thì thầm bên tai tôi vào một đêm tôi dần thiếp đi trong đôi cánh của hạnh phúc, một lần anh về phép hành quân…
Sinh cháu gái đầu lòng năm 1973 ở Đà Lạt, anh về thăm mẹ con tôi và trường cũ, xong lại bay đi trấn thủ đường ranh giới ngưng chiến ở vùng Tây Nam Huế…
Tháng Tư năm 1975, đơn vị anh đóng quân ở Thủ Đức, chuẩn bị tử chiến với quân thù. Chú em chồng là sĩ quan chuyển vận tàu HQ505. Tàu ghé Sài Gòn để chuẩn bị đi công tác Phú Quốc. Chồng tôi bảo cả gia đình, gồm thầy mẹ, các chú và cả mẹ con tôi, xuống tàu đi Phú Quốc lánh nạn chiến sự, rồi khi yên sẽ lại trở về. Tôi tưởng anh cũng định ra đi, nhưng anh quắc mắt nói tại sao anh lại phải bỏ đi lúc quân lính của anh vẫn còn chưa nao núng, “bọn nó làm gì thắng nổi khi cả Sư Đoàn Dù đầy đủ bung ra phản công, cho nó ăn một cái Mậu Thân nữa thì mới hết chiến tranh, quân Dù đánh giặc một chấp bốn là thường, còn trận cuối này là xong.” Anh hăng say như sắp xung trận, nhưng rồi anh quay lưng lại, run giọng bảo tôi hãy bế con theo xe của ông anh ra bến tàu. Đến nước đó tôi không còn gì sợ hãi, ôm con nhảy xuống, nhất định đòi ở lại. Vợ chồng sống chết có nhau…
Ba lần toan vượt thoát từ đầu đến giữa Tháng Năm đều thất bại não nề. Anh lên đường đi trại tập trung vào Tháng Sáu, khi tôi đang mang bầu cháu thứ nhì… Bé Dung ưỡn người đòi theo bố. Anh quay lại, vẫy tay cười với mẹ con tôi. Vẫn nụ cười ấy, anh vẫn chẳng nệ âu lo sống chết là gì, nhưng còn mẹ con em, anh ơi???…
Gia đình nhà chồng tôi thiệt có phước, hầu hết đã theo tàu HQ505 đi Phú Quốc rồi sang Mỹ, kể từ hôm tôi ôm con ở lại với chồng. Gia đình tôi từ Đà Lạt chạy về Sài Gòn, sống chen chúc quây quần đùm bọc lẫn nhau. Hàng quán của gia đình chồng tôi bị tịch biên hết. Tôi nhất định giữ chặt ngôi nhà của cha mẹ chồng để lại, đuổi mấy cũng không đi. Chị ruột tôi bỏ dần vốn ra mua được ngôi nhà khác, vì ông chồng ôm vợ bé chạy mất, nhà cửa xe cộ bị tịch biên hết. Tôi và các anh chị em tôi chạy vạy đủ điều để lo sinh kế, nuôi con thơ cha già mẹ yếu. Chồng tôi mịt mù tăm tích, chỉ có đôi ba lá thư viết về từ trại Long Giao. Lên Long Giao cũng không gặp. Anh bị đưa ra Bắc.
Năm đó tôi tròn 25 tuổi, dung nhan tuy tiều tụy nhưng vẫn khiến nhiều kẻ phải suýt soa dòm ngó. Biết bao người mai mối thì thầm bên tai tôi, thôi hãy lo cuộc đời mới, sĩ quan ngụy đi Bắc chẳng có ngày về… Bao nhiêu nỗi khổ đau dồn nén đột nhiên bùng nổ. Tôi vùng lên như một con cọp cái: bác thử nghĩ coi cả bọn cả lũ tụi nó đó có đáng xách dép cho chồng tôi không!!! Rồi ba mẹ con tôi ôm nhau khóc vùi trong tủi hận.
Không, không, một ngàn vạn lần không. Quanh tôi chỉ còn toàn rác rưởi. Vâng, những người đàn ông ở miền Nam mà đang đi tù Cộng Sản mới là những người xứng đáng với đàn bà con gái miền Nam ở lứa tuổi tôi. Chị em chúng tôi gọi đó là “tấm bằng tù cải tạo” của các ông để chọn gửi cuộc đời, dù là trao gửi vào một nơi bất định… Còn gì nữa mà chọn lựa! Thà vậy, đành thôi. Tôi đã là vợ anh, tôi vẫn tôn thờ anh trong tim óc, làm sao khỏi lợm giọng trước bọn người lường lọc, bướm ong, hèn hạ… Chị em tôi buôn bán từ thuốc lá đến bánh cuốn, bánh ướt, bánh mì, thuốc tây, thuốc nam, kiêm luôn cắt chải gội uốn tóc, làm móng tay… nhưng luôn tránh chỗ công quyền và nơi phồn hoa nhan nhản những con mắt hau háu của bọn ăn cướp và bọn trở cờ. Mấy anh chị em tôi đồng lòng, đùm bọc lẫn nhau, nên áo rách nhưng một tấm lòng son tôi vẫn vẹn với câu thề…
Vượt qua được thời gian khó khăn cực khổ nhất lúc ban đầu, sau ba mẹ con tôi được gia đình chồng từ Mỹ chu cấp, tuy không dư dả nhưng cũng đủ gửi quà ba tháng một lần, rồi lại dành dụm cho môt chuyến thăm nuôi…
Anh từ miền cực Bắc bị đưa về Thanh Hóa chừng một năm, thì tôi xin được giấy phép đi thăm nuôi. Tôi và chị tôi chạy đôn chạy đáo mua đủ một trăm năm chục ký quà để tôi đem ra Bắc cho chồng. Bà cụ buôn bán quen ngoài chợ lại nhờ đem thêm năm chục ký thăm dùm con trai, vì con dâu cụ đã vượt biên. Cháu Dung đã lên 6, em Long nó 4 tuổi và chưa lần nào thấy được mặt cha. Tôi đem cả hai con đi cho anh gặp đứa con trai.
Xuống ga Thanh Hóa, cả đoàn quân khuân vác vây quanh gọi mời giục giã. Tôi và mấy chị cùng thăm chồng chia nhau giữ chặt hàng hóa không cho ai khiêng vác, rồi tự mình kéo lê kéo lết đi thuê nhà trọ. Có người đã đi về kể rằng cứ sơ ý là bị vác hàng chạy mất. Chúng tôi cũng phải chia nhau ở lại nhà trọ coi chừng hàng và đi chợ. Tôi nhờ một chị mua thêm được ký mỡ, về rang tóp mỡ ngoài sân nhà trọ. Nghe con khóc, tôi vội vã chạy vô nhà. Chưa kịp dỗ con thì nghe tiếng ồn ào. Quay ra, hai kẻ cắp đã bưng chảo tóp mỡ ù té chạy, chị bạn rượt theo không kịp. Tôi khóc thầm tiếc hoài, cứ nghĩ những tóp mỡ kia đáng lẽ đã giúp chồng mình đỡ bao đói khát.
Xe đò đi Thanh Cẩm chật ních những bà thăm chồng. Chúng tôi năm người lớn và hai cháu xuống ngã ba Nam Phát để vô Trại 5. Tôi lê từng bao hàng rồi lại quay lui kéo lê bao khác, chừng hơn nửa cây số mới đến trạm xét giấy tờ vào trại, hai cháu còn quá nhỏ chẳng muốn chúng đụng tay. Cô Út thiệt giỏi, xong phần mình lại xông xáo giúp hết người nọ tới người kia.
Xong giấy tờ, chờ một lát thì một người tù hình sự đánh xe trâu đến. Hàng hóa và hai con tôi được lên xe trâu, tôi và chị Phước, chị Điệp cùng hai mẹ con cô Út lẽo đẽo theo sau. Đường đi xuyên trại xuyên rừng dài tám cây số. Chúng tôi chưa biết lúc trở ra mới càng thê thảm.
Chân tay rã rời, tới chiều tối mới thấy cổng trại 5 Lam Sơn. Đêm xuống bé Dung còn phải phụ tôi gom lá mía cho tôi vội nấu hết gạo thành cơm, nắm lại từng vắt, vì nghe nói công an không cho tù chính trị đem gạo sống vô, sợ các anh âm mưu trốn trại. Đêm chờ sáng để thăm chồng, nhìn hai con thơ ngây ngủ say sưa vì mỏi mệt, tôi rời rã vô cùng nhưng không sao ngủ được. Hằng trăm hình ảnh chồng tôi nhảy múa trong đầu… Chồng của tôi, người lính dù hăng hái húyt sáo mỗi khi nhận lệnh hành quân ấy, nay đã ra sao???
Sáng, đến lượt ra nhà thăm nuôi ngong ngóng chờ chồng, tôi không được phép ra khỏi cửa căn buồng nhỏ xíu, kê một bàn gỗ dài và hai ghế băng dọc hai bên. Đột nhiên một ông lạ hoắc đứng lù lù ngay cửa. Tôi ngỡ ngàng chưa biết điều gì. Cô nữ công an nhìn chòng chọc, hằn học, đợi chờ như con gà chọi sắp tung đòn. Tôi không thể hiểu người con gái Bắc cỡ cùng tuổi tôi kia thù hằn tôi điều gì. Tôi ngó lại, lát sau cô ta coi sổ xong, mới nói đây là anh Đức mà bà cụ nhờ tôi đi thăm dùm. Mất nửa tiếng giao quà và kể chuyện gia đình cho anh Đức nghe, tôi được biết chỉ còn một tiếng rưỡi gặp chồng. Thế là tôi bắt đầu ôm mặt khóc, càng lúc càng nức nở vì tủi cực, không thể nào cầm được. Trên thế giới này có ai phải lặn lội hằng ngàn cây số để chỉ được gặp chồng có một giờ ba mưới phút không hả Trời?!!
Hai cô công an lớn tiếng dọa dẫm, những là phải động viên học tập tốt, không lau sạch nước mắt thì không cho ra thăm… Nhưng kìa, ai như chồng tôi vừa bước ra khỏi cổng trại. Tôi không còn nhớ quy định luật lệ gì nữa, vùng đứng dậy chạy nhào ra như một tia chớp. Hai đứa nhỏ vừa khóc vừa chạy theo. Hai công an nữ bị bất ngờ không cản kịp, đứng nhìn.
Tôi chạy tới ôm anh, và càng khóc dữ, đôi chân khụyu xuống, không còn sức lực. Trời ơi, chồng tôi ốm yếu đến nỗi tôi ôm không trọn một vòng tay. Người anh nhỏ thó hẳn lại, chỉ có đôi mắt sáng với tia nhìn ngay thẳng là vẫn hệt như ngày nào, nhưng nay đượm nét u buồn khiên tôi đứt ruột. Anh vẫn không nói được lời nào, chỉ bặm môi nhìn tôi nhìn con thăm thẳm. Tôi biết anh đang cố trấn tĩnh, vì không muốn rơi nước mắt trước mặt công an. Anh dìu tôi và dắt con trở vào nhà thăm nuôi. Anh nắm chặt tay tôi, đưa vào chiếc ghế băng. Cô công an lạnh lùng chỉ anh bước sang chiếc ghế đối diện, rồi ngồi sừng sững ở đầu bàn, cứ chăm chăm nhìn vào sát tận mặt tôi. Anh khuyên tôi ở nhà ráng nuôi dạy con cho giỏi. Rồi thật nghiêm trang, anh bảo tôi phải đưa con đi vùng kinh tế mới, về tỉnh Mỹ Tho chỗ bác Chánh với chú Cương và cô Huyền đã tự nguyện đi khai hoang rồi, đang chờ vợ chồng mình lên lao động sản xuất. Tôi hơi sững sờ, rồi chợt hiểu, đang khóc lại suýt bật cười hân hoan, khi thấy nét khôi hài tinh anh của chồng tôi vẫn còn nguyên vẹn. Bác Chánh là tên gọi của thầy mẹ chúng tôi, chú Cương và cô Huyền chính là chú Cường, chú em chồng đã đưa cả nhà xuống tàu HQ 505 đi lánh nạn. Cô công an có vẻ rất đắc ý, nhắc tôi:
– Chị phải nói gì động viên anh ý đi chứ.
Anh nhìn mắt tôi, cười thành tiếng. Tôi chợt cười, nhưng lại chợt giận hờn.
Tôi cúi mặt giận dỗi:
– Em không đi đâu hết, em chờ anh về đã rồi muốn đi đâu cũng được…
Tôi lại khóc, hai tay nắm chặt tay anh, chỉ sợ phải xa rời. Cô công an cứ quay nhìn hết người nọ đến người kia, lên tiếng:
– Chị này hay nhỉ! Phải đi kinh tế mới, lao đông tốt thì anh ấy mới chóng được khoan hồng chứ! Trại giáo dục anh ý tiến bộ thế đấy, còn chị thì cứ… Chỉ được cái khóc là giỏi thôi!!
Anh không nhịn được, lại cười khanh khách và nói:
– Đó em thấy chưa, cán bộ ở đây ai cũng tiến bộ như vậy hết, em phải nghe anh mới được… Em cứ thấy anh bây giờ thì biết chính sách nhà nước ra sao, cũng đừng lo gì hết, ráng nuôi dạy con cho nên người đàng hoàng đừng học theo cái xấu, nghe…
Tôi dở khóc dở cười, chỉ nắm chặt tay anh mà tấm tức, dỗi hờn. Anh gọi hai con chạy sang ngồi hai bên lòng. Cô nữ công an do dự, rồi để yên, lại tiếp tục nhìn sững vào mặt tôi. Anh ôm hôn hai cháu, nói chuyện với hai cháu. Đôi mắt chúng tôi chẳng nỡ rời nhau. Mắt tôi nhòa lệ mà vẫn đọc được trong mắt anh những lời buồn thương da diết. Tội nghiệp hai con tôi đâu biết chỉ được gần cha trong giây lát nữa thôi.
Tôi như một cái máy, vừa khóc vừa lay lay bàn tay anh, nhắc đi nhắc lại, em sẽ đợi anh về, anh đừng lo nghĩ gì nghe, em sẽ đợi anh về, em nhất định đợi anh mà… anh về rồi mình cùng đi kinh tế mới… anh ráng giữ gìn sức khỏe cho em và con nghe… Em thề em sẽ đợi anh về…. Em không sao đâu… Anh đừng lo nghĩ, cứ yên tâm giữ gìn sức khỏe nghe, em thề mà, anh nghe…
Tôi chợt thấy chồng tôi nhòa nước mắt. Cô công an lúng túng đứng dậy, bỏ ra ngoài nhưng lại trở vào ngay, gõ bàn ra hiệu cho người ở ngoài. Người nữ công an kia chẳng biết núp ở đâu, lập tức xuất hiện, báo hết giờ thăm… Vợ chồng tôi lại ôm chặt nhau ở đầu bàn bên kia ngay trước cửa phòng, bất chấp tiếng gõ bàn thúc giục. Anh nắm chặt hai bàn tay tôi, chỉ nói được một câu:
-Anh sẽ về đưa em và con đi, không thể quá lâu đâu, đừng lo nghe, cám ơn em… đã quyết đợi anh về… Rồi anh nghẹn ngào…
Tôi bị ngăn lại ngay cửa nhà thăm nuôi, cháu Dung chạy ù theo cha, cu Bi nhút nhát đứng ôm chân mẹ cùng khóc. Tôi ôm cây cột gỗ nhìn dáng anh chậm chạp buớc tới hai cánh cổng gỗ to sầm, mà không thể nào ngưng tiếng khóc.
Anh ngoái đầu nhìn lại hoài, bước chân lảo đảo, chiếc xe cút kít một bánh mấy lần chao nghiêng vì hàng quá nặng…
Sáng hôm sau tôi như người mất hồn. Các chị bạn cũng chẳng hơn gì. Mấy chị em và bà bác dắt díu nhau ra, mới biết không được về lối cũ, mà phải đi vòng bên ngoài trại cả gần hai chục cây số nữa để trở lại chỗ ngã ba Nam Phát.
Đường xuyên rừng, rồi lại ra đồng trống, nắng hanh chang chang như muốn quật ngã ba mẹ con tôi. Cu Bi mệt lắm, có lúc ngồi bệt xuống, áo quần mồ hôi ướt nhẹp. Tôi phải đứng giữa nắng đem thân mình che nắng cho hai con, dỗ dành chúng, rồi lại bế cu Bi, lầm lũi bước thấp bước cao. Bà bác và hai chị cùng cô Út cứ phải đi chậm lại chờ mẹ con tôi. Bao nhiêu cơm gạo đã giao cho chồng hết, chúng tôi không còn gì ăn uống. Dọc dường mua được mấy cây mía, tôi róc cho các con ăn cho đỡ đói. Hai đứa không khóc lóc một lời. Bé Dung thiệt ngoan, luôn miệng dỗ em cố gắng. Bụng đói, chân mỏi rã rời trong lúc chiều cứ xuống dần. Đám người lang thang trong những cánh rừng tre nứa âm u, trên miền đất không một chút tình thương. Ai cũng lo sợ, dớn dác nhìn trước ngó sau, tự nhiên túm tụm lại mà đi, càng mệt lại càng như muốn chạy. Tôi bế cu Bi, mỏi tay quá lại xoay ra cõng cháu, vừa mệt vừa đói vừa sợ, lếch thếch vừa đi vừa chạy, không biết sẽ ngã gục lúc nào. Cháu Bi nhìn thấy mẹ mệt quá, đòi tuột xuống, rồi lại hăng hái tiến bước. May sao, đến hơn 6 giờ chiều, trời gần tối hẳn, thì trở lại được ngã ba Nam Phát. Hai công an dắt xe ra đạp về nhà, dặn chúng tôi ở đó đón xe đò ra Thanh Hóa.
Đám người ngồi bệt xuống bên đường. Lâu lắm mới có một xe chất đầy người chạy qua, nhưng đều chạy thẳng, không ngừng. Đã hơn chín giờ đêm. Dáng cô Út cao mảnh rắn chắc đứng vẫy xe in lên nền trời đêm đầy sao như một pho tượng thần Vệ Nữ. Một xe lớn có hai bộ đội chở đầy tre nứa, từ xa chiếu đèn pha sáng lòa trên dáng người con gái đảm đang ấy, từ từ dừng lại. Chúng tôi xúm lại hứa trả thật nhiều tiền, rồi bà bác cùng hai con tôi được lên ngồi ca bin, còn tôi với hai chị và cô Út đẩy kéo nhau leo lên ngồi nghiêng ngả trên tre nứa, tay bám, chân đạp chặt vô thành xe, qua năm tiếng đồng hồ trên con đường đất dằn xóc kinh hồn, nhiều lần tưởng đã văng xuống đất. Hai bộ đội tử tế, không lấy tiền, chỉ ăn hai tô cháo lòng mà chúng tôi mời mãi. Ra đến Thanh Hóa là hai giờ sáng. Các chị đi thăm chồng xuống tàu đêm thật đông, thăm hỏi tíu tít, trả lời không kịp. Khi ấy sao mà chị em chúng tôi thương nhau quá sức.
Vé về Nam không có, phải mua vé ra Hà Nội rồi mới đi ngược trở về. Đêm hôm sau mới đến ga Hàng Cỏ, mấy bà con ra đường đang ngơ ngác thì các chị đằng xa đã đôn đáo vẫy chào, kéo chúng tôi tới chỗ… lề đường, đầy những chiếu với tấm ni lông, nơi tạm trú mà các bà “vợ tù cải tạo” gọi là… Hotel California.
Vâng, chúng tôi nghiễm nhiên nhận chồng chúng tôi là “các ông cải tạo” như người miền Nam vẫn kêu với tấm tình trân quý, để phân biệt với những người tù hình sự. Cho nên danh từ thường đi theo với ý nghĩa nào mà người ta hiểu với nhau, không còn giữ được nguyên cái nghĩa mà nó được đặt cho vì mục đích chính trị sâu xa.
Ngủ lề đường nhưng chẳng ai thấy khổ, vì gần nhau thấy ấm hẳn tình người đồng cảnh. Các chị em thì thầm trò chuyện suốt đêm, kẻ thì khóc rấm rứt, người lại cười khúc khích. Tôi vừa ôm con ngủ gật vừa quạt muỗi cho hai cháu, hình ảnh chồng tôi quay cuồng mãi trong đầu, khi anh nói, khi anh cười, lúc anh đầy nước mắt… Sau những nguồn cơn cực nhọc và xúc động mạnh này, về nhà tôi bị thương hàn nhập lý, rụng hết mái tóc dài, gần trọc cả đầu, tôi đã trối trăn cho bà chị nuôi dạy hai cháu, tưởng không còn được thấy mặt chồng tôi lần nữa…
…Chín năm sau, đúng ngày giỗ đầu Ba tôi, anh đột ngột bước vô nhà. Tôi suýt té xỉu vì vui mừng, cứ ôm chặt anh mà.. khóc ngất. Anh cười sang sảng:
– Cái chị này chỉ được cái khóc là giỏi thôi, phải động viên cho chồng đi sang Mỹ đi chứ… Hà hà..
Các chị em tôi từ Đà Lạt tất bật xuống thăm. Vừa xong ngày đám giỗ thì cả nhà đã vui như hội. Tất nhiên tôi là người mừng vui nhất….
Hạnh phúc đã trở về trong vòng tay tôi. Tôi sẽ ôm thật chặt lấy nguồn hạnh phúc này, không bao giờ để cho đi đâu xa mất nữa…
ảnh1: tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng tại Đà Lạt năm 1971.
ảnh 2: tác giả Minh Hòa chụp cùng chồng trong ngày đám cưới con trai "cu Bi" tháng 4 năm 2009.

Wednesday, January 19, 2022

Hôm nay 19/1/2022 tưởng niệm 48 năm các Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hoà đã anh dũng hy sinh trong trận Hải Chiến Hoàng Sa 19/1/1974.

Hải chiến Hoàng Sa 19/1/1974.


“Hoàng Sa, Nhật Tảo anh hùng tử
Việt sử ngàn năm mãi khắc ghi.”

 
Tưởng niệm 74 Chiến Sĩ Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa đã hy sinh để bảo vệ biển đảo trước sự xâm lăng của Tàu cộng.


🔥TÓM TẮT
Từ 15/1 tới 18/1 năm 1974, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa phát hiện và truy đuổi tàu Trung cộng xâm nhập vùng biển Hoàng Sa của Việt Nam Cộng Hòa. Trận hải chiến bùng nổ ngày 19/1/1974.

Tàu Trung cộng số 389 và 396 tấn công Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ16. Chiến hạm Nhựt Tảo HQ10 yểm trợ, bắn trúng đài chỉ huy và hủy diệt phòng máy tàu 389 của giặc.

Các chiến hạm TC liền dồn hỏa lực bắn HQ10 khiến tàu bốc cháy, Hạm trưởng NGỤY VĂN THÀ và Hạm phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng. Chiến hạm VNCH bắn tàu Trung cộng 389 và 274 cháy, 271 và 396 trúng đạn, chỉ huy hạm đội Trung cộng trên 274 bị tiêu diệt, 85 lính Trung cộng chết và bị thương.

Tàu săn ngầm 281 và 282 của Trung cộng tiếp tục pháo HQ10 Nhựt Tảo. HQ10 bốc cháy và chết máy. Hạm phó Nguyễn Thành Trí dù bị thương nặng nhưng nhất định không rời tàu. Các chiến sĩ phải dùng sức mạnh để đưa ông xuống bè thoát hiểm. HQ10 Nhật Tảo chìm vào lòng đại dương mang theo Hạm trưởng NGỤY VĂN THÀ và những người con yêu của Mẹ Việt Nam.

CHI TIẾT TRƯỚC GIAO CHIẾN
🔥15/1/1974
Tàu VNCH HQ16 tuần tiễu tại nhóm Lưỡi Liềm (Crescent) bắt gặp các thuyền đánh cá 402 và 407 của Trung cộng (TC) gần đảo Hữu Nhật (Robert Island). HQ16 ra lệnh cho hai tàu đó rời khỏi khu vực và nã pháo vào đảo Hữu Nhật, làm nổ tung cờ của TC cắm ở đó.

🔥16/1/1974
Radar HQ16 phát hiện tàu TC đang di chuyển về hướng đảo Quang Hòa (Duncan). HQ16 yêu cầu tàu TC rời khỏi lãnh hải VNCH. HQ16 phát hiện trên đảo Quang Hòa có dãy nhà gỗ cắm cờ TC và rất nhiều người; đảo Duy Mộng (Drummond) có 2 tàu TC 402 và 407 có trang bị 3 giàn súng được phủ lưới đánh cá để ngụy trang.

Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc gởi công hàm cho Hội đồng Bảo An Liên Hợp Quốc để lưu ý tình hình căng thẳng nghiêm trọng có khả năng đe dọa hòa bình và an ninh Việt Nam cũng như quốc tế.

🔥17/1/1974
Chính phủ VNCH tiếp tục gởi công hàm cho Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đề nghị ban bố mọi biện pháp thích hợp để ổn định tình hình.

Trung cộng (TC) tăng cường lực lượng: hạm đội Nam Hải cho hai tàu săn tàu ngầm lớp Kronstadt số 271 và 274 đến nhóm Lưỡi Liềm, có 2 phi cơ chiến đấu J-6 (MiG-19, phiên bản Trung cộng) yểm trợ.

18h00 HQ4 phát hiện hai tàu TC 271 và 274 tiến về đảo Cam Tuyền. HQ4 dùng quang hiệu yêu cầu các tàu giặc rời khỏi lãnh hải VNCH. Chúng chạy quanh chận đầu HQ4, bất chấp quy tắc hàng hải quốc tế. Trước sự ngoan cố khiêu khích của tàu giặc, HQ4 dùng mũi ủi chúng ra xa. Thấy sự quyết liệt của HQ16 và HQ4, tàu giặc bỏ chạy.

HQ4 cho đổ bộ 20 chiến sĩ Người Nhái lên đảo Vĩnh Lạc (Money), thu dọn cờ TC, cắm cờ Việt Nam Cộng Hòa.

🔥18/1/1974
Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh cố gắng ôn hòa yêu cầu các tàu và người của TC rời khỏi lãnh hải VNCH. Nếu cần sẵn sàng dùng vũ lực để bảo vệ lãnh hải VNCH.

04h30 một tàu TC tiến về HQ4. HQ4 tăng tốc tiến đến chặn đầu tàu địch thì tàu này rút lui.
08h45, HQ16 phát hiện thêm một tàu TC di chuyển phía Đông Nam đảo Duy Mộng. Trên đảo đã thấy cờ TC.
10h00 4 chiến hạm TC lại xuất hiện, gồm 2 chiếc Kronstadt 271 và 274 và 2 chiếc khác mang số 389 và 396.
15h00 HQ4, HQ5 và HQ16 tiến về Quang Hòa để đổ bộ toán hải kích lên đảo thì gặp hai tàu K-271 và K-274 tiến tới chận đường.
19h15 HQ5 phát hiện thêm hai chiến hạm TC loại T43 cải biến mang số 389 và 396.
20h00, HQ10 Nhật Tảo nhập vùng.

🔥19/1/1974
10h25 Trận hải chiến bùng nổ ác liệt. Hải quân VNCH đánh bại 4 chiến hạm TC sau 30 phút giao chiến và kịp thời rút lui trước khi Hạm đội Nam Hải cùng sự hỗ trợ của máy bay và tàu ngầm kéo đến tăng cường. Diễn biến ngày 19/1 như đã kể trên.

Thiệt hại: 2 chiến hạm TC bị chìm, 2 chiếc khác bị thiệt hại nặng và nhiều binh sĩ thiệt mạng. VNCH có 74 chiến sĩ hy sinh. Ba chiến hạm HQ-4 Trần Khánh Dư, HQ-5 Trần Bình Trọng, HQ-16 Lý Thường Kiệt bị hư hại nhưng về được căn cứ. HQ10 Nhật Tảo vĩnh viễn nằm lại trong lòng đại dương cùng với những anh hùng Việt Nam Cộng Hòa.

“Những ai đã chết vì sông núi
Sẽ sống muôn đời với núi sông.” (TTĐ)
================
Trích Net:
Anh hùng Ngụy Văn Thà
Việt Thái
Vào đầu tháng 1 năm 1974, Trung Cộng liên tiếp đưa ra những lời tuyên bố xác nhận chủ quyền tại quần đảo Hoàng Sa nhằm dọn đường cho việc tấn chiếm Hoàng Sa bằng vũ lực. Chính quyền Việt Nam Cộng Hòa liền phản bác các luận điệu này bằng cách đưa ra những bằng chứng lịch sử Hoàng Sa là của Việt Nam, đồng thời ra lệnh Bộ Tư lệnh Hải quân Vùng 1 Duyên Hải thành lập Hải đoàn Đặc nhiệm để tăng cường bảo vệ quần đảo Hoàng Sa.
Ngày 19/1/1974, chiến hạm HQ-16 và HQ-10 tiến gần Hoàng Sa để yểm trợ cho HQ-4
và HQ-5 đổ quân lên đảo Quang Hòa thì đụng độ với 3 chiến hạm Trung Cộng. Một trong 3 chiến hạm này đã nổ súng trước nên chiến hạm VNCH phải bắn trả để tự vệ.
Sau trận hải chiến, 2 chiến hạm Trung Quốc bị chìm, 2 chiến hạm khác bị thiệt hại nặng và nhiều binh sĩ thiệt mạng. Về phía VNCH có 71 chiến sĩ hy sinh và 28 bị thương. Ba chiến hạm HQ-4, HQ-5, HQ-16 bị hư hại nhưng cũng về đến căn cứ.
Riêng Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 bị chìm sau trận hải chiến kéo dài khoảng 3 tiếng đồng hồ, và Hạm trưởng là Thiếu tá Ngụy Văn Thà tử trận. Ông được truy thăng Trung tá và truy tặng Đệ Ngũ đẳng Bảo quốc Huân chương kèm Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu.
Cố Trung tá Ngụy Văn Thà sinh ngày 16/1/1943 tại Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh. Ông tình nguyện gia nhập vào Binh chủng Hải quân VNCH và tốt nghiệp khóa 12 “Đệ nhất Song ngư” tại trường Sĩ quan Hải quân Nha Trang vào tháng 3 năm 1964 với cấp bậc Thiếu úy.
Sau khi tốt nghiệp, ông thực tập trên Hải vận hạm LST-1166 thuộc Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Trong thời gian phục vụ trong Binh chủng Hải quân, ông lần lượt đảm nhận các chức vụ:
-Hạm phó Tuần duyên hạm Ngô Quyền HQ-17.
-Chỉ huy phó Giang đoàn 23 Vĩnh Long,
-Hạm trưởng Chiến hạm HQ-604 và HQ-331.
-Hạm trưởng Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 kể từ ngày 16/9/1973.
Ngày 18 tháng Giêng 1974 , Hộ tống hạm Nhựt Tảo HQ-10 do ông chỉ huy đang tuần tiễu tại vùng biển Đà Nẵng, thì được lệnh hành quân trực chỉ đến quần đảo Hoàng Sa để tiếp ứng Hải đội VNCH. Khi ấy, chiếc HQ-10 đang trong tình trạng hư hỏng động cơ chính và hệ thống hải hành.
Trận giao chiến giữa hải quân VNCH và hải quân Trung Cộng xảy ra vào lúc 10 giờ 22 phút sáng ngày 19/1. Hai chiến hạm Trung Cộng mang số 389 và 396 đồng loạt tấn công Soái hạm VNCH là Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ-16. Chiếc Nhựt Tảo HQ-10 lập tức tiếp trợ, bắn trúng đài chỉ huy và hủy diệt phòng máy chiếc tàu mang số 389 của giặc. Các chiến hạm Trung Cộng liền dồn hỏa lực bắn chiếc HQ-10. Một quả đại bác rơi trúng đài chỉ huy khiến Hạm trưởng Ngụy Văn Thà và Hạm phó Nguyễn Thành Trí bị thương nặng, hệ thống điều khiển tàu hoàn toàn bất khiển dụng, chiến hạm Nhựt Tảo rơi vào tình trạng bị trôi dạt.
Trong giờ phút sinh tử, Hạm trưởng Ngụy Văn Thà ra lệnh cho thủy thủ đoàn rời tàu, đào thoát bằng thuyền cấp cứu, nhưng một số pháo thủ tình nguyện ở lại cùng ông tiếp tục xử dụng các khẩu trọng pháo giao chiến và hủy diệt 2 chiến hạm 389 và 396 của giặc. Chiếc 389 phải ủi lên một bãi san hô, chiếc 396 bị bắn trúng hầm máy và phát nổ. Về phía chiếc HQ-10, Trung úy Huỳnh Duy Thạch, Cơ khí trưởng cùng một số nhân viên cơ khí bị tử thương.
Đến 11 giờ 49 phút, các chiến hạm khác của VNCH được lệnh rút khỏi vùng chiến, 2 chiến hạm số 281 và 282 của Trung Cộng tiếp tục nã trọng pháo vào chiếc Nhựt Tảo. Sau cùng chiến HQ-10 chìm xuống đáy biển, mang theo thân xác vị Hạm trưởng Ngụy Văn Thà và một số thủy thủ can trường vào lúc 2 giờ 52 phút ngày 19/1/1974.
* * *
Bốn mươi năm sau trận chiến, người dân miền Bắc mới biết được sự thật là các chiến sĩ Hải quân VNCH đã anh dũng hy sinh để bảo vệ lãnh hải, trong khi tập đoàn lãnh đạo CSVN đã liên tiếp gửi công hàm công nhận Hoàng Sa thuộc về Trung Cộng.
Điều trớ trêu của lịch sử là tập đoàn CSVN luôn gọi quân lực VNCH là “ngụy quân”, trùng hợp với cái họ của người anh hùng Ngụy Văn Thà, một cái tên được nhắc nhở nhiều nhất trong các cuộc biểu tình chống Tàu Cộng xâm lược mấy năm vừa qua. Nhìn di ảnh của cố Trung tá Ngụy Văn Thà, những ai còn thao thức đến vận mệnh đất nước và tiền đồ của dân tộc đều cảm thấy tự hào về truyền thống bất khuất của nòi giống Tiên Rồng.
Tấm gương hy sinh của Hạm trưởng HQ-10 càng củng cố niềm tin của con dân Việt qua câu thơ bất hủ của đức Nguyễn Trãi trong Bình Ngô Đại Cáo: “Thế nước có lúc thịnh lúc suy, nhưng hào kiệt thì thời nào cũng có”.
Chính vì thế, tên của Hạm trưởng Ngụy Văn Thà xứng đáng được đặt cho nhiều đường phố trên khắp nẻo đường đất nước hơn là những cái tên Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ hay Đoàn Văn Bơ, Huỳnh Văn Bánh chẳng mấy ai biết đến.

FB Ngô Kỷ 



Khi chồng, Hải quân thiếu tá Nguyễn Thành Trí - Hạm phó Hộ tống hạm Nhựt Tảo - tử trận tại Hoàng Sa ngày 19-1-1974, bà Ngô Thị Kim Thanh mới 28 tuổi, đang mang thai đứa con thứ hai. Bà đã ở vậy, nuôi hai con khôn lớn (Nguyễn Thị Thanh Thảo, sinh năm 1969, và Nguyễn Thanh Triết, tự Hoàng Sa, sinh ra 6 tháng sau khi cha mất).
Đây là một tấm ảnh quý, thật sự gây xúc động cho người xem.

Saturday, January 15, 2022

HỒI KÝ VỀ HẢI CHIẾN HOÀNG SA HQ TRUNG ÚY HÀ ĐĂNG NGÂN WICHITA, ngày 3-5-2005



Tôi là HQ/ Tr.U HÀ ĐĂNG NGÂN, thủy thủ của HQ10 và có tham dự trận hải chiến tại Hoàng Sa.
Tôi viết đoạn hồi ký này qua sự gợi ý của anh Thềm Sơn Hà, thời gian cũng khá lâu, nhiều chi tiết cũng đã quên, tôi xin viết lại những gì tôi thấy trong tầm mắt của tôi, không thêm bớt. 
 
HOÀNG SA và HQ10
HQ10 đã hết hạn đi tuần ngoài Cửa Việt, trên đường về Đà Nẵng nghỉ bến và nhận thực phẩm, nước uống thì Hạm trưởng thông báo có lệnh khẩn cấp, quay mũi trực chỉ quần đảo Hoàng Sa và cố gắng đi với tốc độ nhanh nhất.
Theo lời Hạm trưởng, HQ10 ra Hoàng Sa trợ giúp hỏa lực cho hai chiến hạm của Hải quân Việt Nam (HQ/VN) đang thi hành công tác tại Hoàng Sa, đang bị tàu của Hải quân Trung cộng (HQ/TQ) đến Hoàng Sa lấn chiếm và khiêu chiến.
Trên đường đi, Hạm trưởng ra lệnh kiểm soát lại tất cả mọi ụ súng, đem đạn từ hầm đạn lên các dàn súng tối đa. Theo lệnh từ Sài Gòn, tất cả mọi khẩu súng đều phải bao lại và chỉa lên trời, cấm quay ngang.
Kiểm soát súng đạn xong, ông bảo những ai không thuộc phiên 'đi ca', cố ngủ để có sức cho những ngày kế tiếp.
Khoảng gần 11 giờ đêm ngày sau, HQ10 đến Hoàng Sa nhập vùng cùng 3 chiến hạm đang tuần tiểu.
Tại Hoàng Sa lúc này gồm có 4 chiến hạm của HQ/VN, 4 chiến hạm của HQ/TQ và một số tàu đánh cá ngụy trang của Trung quốc đang loanh quanh trong mấy hòn đảo nhỏ.
Hạm trưởng cũng ra lệnh mang lương khô để ở các nhiệm sở tác chiến càng nhiều càng tốt và từ lúc này không ai được rời nhiệm sở tác chiến. Ông cũng ra lệnh kiểm soát lại 4 phao cấp cứu, được báo cáo là tất cả phao còn tốt.
Mặc dù trời rất nắng, nóng nực, nhưng tất cả đều phải mặc áo phao và nón sắt, đây là một nghiêm lệnh của Hạm trưởng.
Bây giờ lấy quần đảo Hoàng Sa làm tâm, Hoàng Sa có 3 lớp bao bọc chung quanh, lớp thứ nhất là các tàu đánh cá ngụy trang của Trung quốc, lớp thứ hai là 4 chiến hạm của Trung quốc, lớp thứ 3 là 4 chiến hạm của HQ/VN.
Rạng sáng ngày 19 tháng 1, trước khi nổ súng, chiến hạm của HQ/VN và chiến hạm của HQ/TQ cứ chạy 'quấn quít' với nhau, rất gần, có khi đụng cả vào nhau, nhưng cả hai phía, các súng lớn nhỏ đều còn bao bọc và chỉa lên trời, lính hai bên nhìn nhau, vẫy tay, cười...
Sau đó, nghe có tiếng súng nổ ở một hòn đảo nhỏ, qua liên lạc, Hạm trưởng cho biết một số thủy thủ trên HQ5 đổ bộ lên đảo nhỏ và lính Trung Quốc chiếm đảo, ở trong các hố cá nhân, đã nổ súng. Hạm trưởng ra lệnh tất cả sẳn sàng, xin phép thượng cấp mở bao súng và hạ súng xuống, nhưng lệnh chưa cho phép.
Bây giờ, sau khi súng đã nổ ở trên đảo; các chiến hạm của HQ/VN và HQ/TQ không còn quần thảo với nhau nữa, từ từ lảng xa nhau, nhưng vẫn không có lệnh mở bao súng.
Khoảng 9.00 sáng, các tàu của HQ/TQ dùng đèn tín hiệu cho nhau, từ từ các tàu đánh cá ngụy trang và 4 chiến hạm theo hàng dọc đi về phương Bắc, dần dần biến mất ở cuối chân trời. Mọi người ai cũng thở phào nhẹ nhỏm, hy vọng HQ/TQ đã rút lui.
Hai ngày qua, lúc nào thần kinh cũng căng thẳng, áo phao, nón sắt rất bực bội, bấy giờ được tạm cởi ra, xuống phòng ăn cơm rồi tắm gội cho sạch sẽ, ngủ một giấc cho lại sức. Ôi hạnh phúc biết bao.
Vừa đặt chân vào phòng tắm, còi nhiệm sở tác chiến đột ngột reo inh ỏi, chạy vội lên nhiệm sở, mặc áo phao, nón sắt, nhìn theo hướng chỉ ở trên đài chỉ huy, thấy có mấy vệt khói mỏng nơi cuối chân trời, rồi từ từ 4 chiến hạm của HQ/TQ rời vùng cách đây mấy tiếng, lại xuất hiện, đang chậm chậm vào vùng! Tôi thầm nghĩ chắc không ổn rồi.
Khi các chiến hạm của HQ/TQ đến gần các chiến hạm của HQ/VN, họ không đến gần như lúc sáng mà ở xa xa khoảng hơn 1 cây số, làm thành một vòng tròn bao HQ/VN ở trong.
Chạy loanh quanh với nhau chừng 2 vòng, các chiến hạm của Trung quốc từ từ lảng ra xa hơn. Như một dấu hiệu khác thường, Hạm trưởng liền xin lệnh trên cho mở bao súng, hạ nòng xuống, nạp đạn và đề phòng mọi bất trắc, nhưng lệnh trên không cho phép.
Chừng nửa giờ sau, 2 trong 4 chiến hạm của Trung quốc xích lại chạy song song với nhau. Như một kinh nghiệm chiến trường thúc đẩy Hạm trưởng ra lệnh hạ nòng súng, tháo bao, nạp đạn sẳn sàng và quay súng về phía tàu Trung quốc.
Ít phút sau, hai tàu Trung quốc này chạy gần sát vào nhau và thình lình cùng quay mũi song song tiến về phía HQ10, hướng 3.00 giờ.
Hạm trưởng ra lệnh tất cả súng hướng về mục tiêu 1 và mục tiêu 2.
Tôi ở ụ súng lớn phía trước mũi (khẩu 76.2 ly) được lệnh nhắm vào mục tiêu 1.
Hạm trưởng lại xin lệnh nổ súng một lần nữa nhưng được trả lời chờ Sài Gòn quyết định.
Thần kinh thật căng thẳng, 2 tàu Trung quốc cứ từ từ đến gần, khi còn cách khoảng 200 thước - 250 thước, Hạm trưởng hét lớn "Bắn". Tất cả hỏa lực trên tàu cùng nhả đạn. HQ10 khai hỏa đầu tiên do lệnh của chính Hạm trưởng
Khoảng 5 phút sau, mục tiêu 1 bốc khói mịt mù và lùi lại phía sau, tất cả hỏa lực lại nhắm vào mục tiêu 2. HQ10 đến lúc này vẫn an toàn, đạn từ tàu Trung quốc bắn tới đều bay qua đầu hoặc nổ trên mặt nước trước mặt.
Vài phút sau, mục tiêu 2 cũng bốc khói, mục tiêu 1 tuy còn chút khói bốc lên, chạy trở vào gần HQ10, bắn trả lại HQ10 và HQ10 bắt đầu trúng đạn của tàu Trung quốc.
HQ10 bị trúng trái đạn đầu tiên ngay trên đài chỉ huy, Hạm trưởng cùng các sĩ quan và thủy thủ có nhiệm sở tác chiến trên đài chỉ huy chết hết, trừ Hạm phó bị thương nặng, bò xuống được sàn tàu.
Đạn vẫn nổ liên miên như pháo bông bên hữu hạm của HQ10, tôi vừa đở Hạm phó để ngồi dựa lưng vào vách nơi chân đài chỉ huy thì một tiếng nổ chát chúa, lửa loé chói mắt, tôi ngã quỵ xuống và tay phải không nhấc lên được nữa, chân trái cũng không cử động được, tôi nghĩ là tay phải và chân trái của tôi đều đã bị gãy, thấy máu ra ướt áo, ướt quần nhưng không có cảm giác đau đớn gì cả.
Chừng 5 phút sau, tiếng súng từ từ ngưng bặt, tứ phía đều im lặng, chỉ còn nghe tiếng nổ từ hầm đạn phía sau của HQ10 và khói bắt đầu bốc lên mù mịt, tiếng đạn nổ gia tăng dưới hầm đạn, tất cả mọi phương tiện chửa cháy, máy móc đều bất khiển dụng.
Tàu của HQ/VN và HQ/TQ cùng rút lui. Tại trận chiến chỉ còn HQ10 đang bốc cháy, hầm đạn đang nổ, cách HQ10 khoảng 400 thước - 500 thước là HQ16 cũng bị bất khiển dụng, tàu bị nghiêng.
Hạm phó ra lệnh rời tàu, những người còn khỏe mạnh lo việc thả 4 phao cấp cứu cùng giúp thả những người bị thương xuống phao, tôi rồi tới Hạm phó là người được thả xuống phao cuối cùng, ông cũng bị thương nặng.
Xuống phao xong, được khoảng hơn 20 người, chia ra 4 phao, phao nào cũng bị trúng đạn, riêng phao của tôi cũng bị trúng đạn bể một mãng lớn nên chỉ có thể ngồi được 8 người và nước ngập tới ngực.
Hạm phó rất tỉnh táo, ông bảo thủy thủ cố đem 4 phao lại gần nhau rồi dùng những dây có sẳn tua tủa chung quanh phao để cột 4 phao lại với nhau cho tàu tìm kiếm dể thấy, nhưng đừng sát nhau quá kẻo sóng xô dập rồi đè lên nhau.
Luồng nước chảy từ từ đưa chúng tôi rời xa HQ10, nhìn lại tàu, thấy tàu bị trúng đạn quá nhiều, lổ chổ như tổ ong.
Thôi giả biệt HQ10, giả biệt Hạm trưởng cùng các chiến hữu hy sinh trên tàu.
Gió hiu hiu, mặt biển rất êm, HQ10 cũng lửng lờ trôi sau chúng tôi khoảng 80 - 100 thước, không còn nghe đạn nổ, chỉ còn một ít khói bốc lên, xa xa khoảng 400 thước, hướng 4 giờ là HQ16 bị bât khiển dụng, vẫn còn nghiêng, không thấy ai lui tới trên boong tàu.
Khoảng nửa giờ ...sau, chúng tôi thấy một luồng khói đen bốc lên từ ống khói của HQ16 rồi thấy có người tới lui trên boong tàu, lúc này, nhóm chúng tôi cách HQ16 khoảng 500 - 600 thước, ai nấy đều có chút hy vọng, vui mừng vì sẽ được HQ16 ghé đón lên tàu. Chúng tôi ngâm người dưới nước biển cả tiếng rồi, lạnh cóng chân tay rồi! Nhưng mà ủa sao càng ngày HQ16 càng chạy xa, sao không quay đầu lại vớt tụi tôi? HQ16 phải trông thấy chúng tôi và HQ10 chứ ? Thất vọng quá, bây giờ chỉ còn ta với trời và sóng nước bao la.
Chừng một khoảng sau, chúng tôi thấy có khói xuất hiện ở cuối chân trời, đoán thế nào cũng có tàu ra cứu hoặc HQ16 quay lại vớt, nhưng dần dần thấy 2 chấm đen, đến gần thì ra 2 tàu của HQ/TQ, chúng chạy chầm chậm về hướng HQ10, lúc này có tiếng súng bắn ra từ HQ10, 2 chiếc tàu Trung Cộng vừa chạy vừa bắn xối xả vào HQ10, một hồi sau tiếng súng trên HQ10 im bặt, tuy nhiên một chiếc vẫn tiếp tục bắn còn chiếc kia chạy lại chổ 4 phao của chúng tôi. Hạm phó dặn nếu bị bắt, bị đánh cũng đừng khóc, đừng van xin, nhưng chiếc tàu này chỉ chạy quanh chúng tôi 2 vòng, thủy thủ trên tàu vẫy tay cười rồi bỏ đi theo chiếc kia. Lúc tàu này chạy vòng thứ 2, chợt tôi có ý nghĩ tất cả chúng tôi có thể là mục tiêu sống cho họ nhắm bắn...
Khi mặt trời gần lặn, dòng nước đưa chúng tôi tới gần một hòn đảo nhỏ, cách khoảng gần 1 cây số, Hạm phó bảo có thể hơn một giờ nửa sẽ gặp được đảo và ông ân cần dặn nếu lên được đảo thì phải đào hố để che gió cho ấm và kiếm nước uống, tuyệt đối không được uống nước biển, sẽ chóng chết
Mặt trời lặn chừng 15 phút sau là trời tối rất lẹ, hòn đảo nhỏ hướng chúng tôi trôi tới đang mờ dần khi đêm xuống, HQ10 thân yêu đang âm thầm theo sau cũng mờ dần, mờ dần, tàu bị hơi nghiêng, chỉ ít phút sau là trời tối mịt, không còn trông thấy gì cách xa chừng 5 thước, gió bắt đầu nổi lên, phao cứ lên xuống theo ngọn sóng, không còn ai nói với ai tiếng nào, ai cũng lạnh, khát và mệt.
Trời mờ mờ sáng, gió dịu dần. Khi trời sáng tỏ, tôi nhìn quanh quẩn không thấy có phao nào chung quanh, tôi nghĩ khi gió lớn, sóng to, các phao giằng co rồi đứt dây, bây giờ trôi nổi mỗi phao một hướng, không còn thấy gì chung quanh cả, chỉ có ta và biển cả bao la, quần đảo Hoàng Sa ở hướng nào? mình đang trôi về đâu? Còn HQ10 đâu rồ? sao không thấy bóng dáng đâu cả? Không lẽ trong đêm khuya u tịch, HQ10 thân yêu của chúng tôi đã âm thầm về với lòng đại dương trong đêm thâu chăng?
Khi mặt trời đã lên cao, kiểm điểm trong phao có 3 người hy sinh, trong đó có Hạm phó, phao còn lại 5 người và tất cả đồng ý thả những người chết ra, chỉ việc cởi áo phao là xác từ từ chìm. Tôi thầm cầu mong xin các anh phù hộ giúp chúng tôi vào được đất liền. Sau khi thả 3 xác người xuống biển, bây giờ nước ngập tới bụng.
Hôm nay ngày đầu tiên sau trận hải chiến Hoàng Sa, quanh đây chỉ có 5 người, không cất nổi tiếng nói, tay chân khó cử động, tôi băn khoăn không biết mấy phao kia có trôi loanh quanh ở đây không? Dòng nước sẽ đưa chúng tôi về đâu? Sao không thấy bóng dáng tàu của HQ/VN, HQ/TQ hay các thương thuyền qua lại?
Hình ảnh HQ16 lại lảng vảng trong đầu, sao lúc ấy HQ16 không trở lại đón bạn đồng đôi? Ít phút sau, tôi lại nghĩ nếu HQ16 quay lại vớt bọn tôi, có thể tàu Trung quốc quay lại gặp HQ16, lại bắn nhau, 1 sao cự lại 2, tình trạng còn thê thảm hơn chúng tôi nữa, nghĩ vậy nên tôi không còn hờn giận HQ16 nữa - Chúc HQ16 may mắn vào đến bờ!!!
Gần tối, trên phao lại có 2 người về cùng biển cả, bây giờ nước ngập dưới bụng, gió nổi lên, sóng to nhiều khi phủ cả đầu, tôi ở vào trạng thái ban ngày, phần cơ thể trên mặt nước thì nóng, phần cơ thể dưới mặt nước thì lạnh, ban đêm, phần trên mặt nước thì lạnh vì gió, phần dưới mặt nước thì lạnh vì nước - làm sao chống lại được cái lạnh đây?
Tôi nghĩ từ ngày thứ 3 là tôi bắt đầu hôn mê vì lạnh, tay chân không còn nhúc nhích được và cũng không còn cảm giác, mặc cho sóng nước đẩy đưa.
Có lẽ bây giờ là nửa đêm ngày thứ 4, tôi nhìn thấy một vùng sáng lớn ở cuối chân trời, tôi nghĩ có thể đó là dàn khoan dầu, một thành phố ở ven bờ biển hoặc một tàu đang đang đi tìm kiếm chúng tôi, cũng may là dòng nước lại trôi về phía ánh sáng, trong đầu tôi cũng loé lên một chút hy vọng nhỏ nhoi.
Không biết bao lâu, phao của tôi trôi tới gần vùng ánh sáng, tôi nhận ra đó là một chiếc tàu lớn đang đậu và trên tàu có rất nhiều đèn sáng chói, đang chớp tắt, chớp tắt như mời gọi chúng tôi, tôi biết họ đang làm hiệu cho chúng tôi nhưng chân tay tôi không còn cử động được, miệng môi sưng to, đau rát và cũng không đụng đậy được, làm sao làm hiệu cho họ biết mình ở đây ? Trên phao còn thêm 2 người nữa, tình trạng cũng như tôi, cả 3 chỉ ngôi im chờ phép lạ, có lẽ đạo ai thì âm thầm cầu theo ý mình, 3 chúng tôi thậm chí cũng không làm một dấu hiệu gì cho nhau được.
Bất chợt tôi nghe tiếng 'Bo-Bo' rất gần rồi từ từ im bặt, chỉ còn gió và sóng rì rào, tôi nghĩ vì có thể vì quá ước mong nên có cảm giác như vậy. Một lúc lâu sau lại nghe thấy như vậy, rất gần rồi lại mất hút - tôi nghĩ chắc chắn có 'bo-bo' đi kiếm chúng tôi, phía xa xa, tàu lớn vẫn đợi, đèn vẫn chớp.
Thật bất ngờ, tôi nghe tiếng máy "bo-bo" sát bên cạnh rồi ánh đèn pin rọi ngay vào phao của tôi, rồi mũi bo-bo kề ngay vào phao, có 2 người nhảy xuống biển, họ cởi áo phao và giúp đưa 3 chúng tôi nên bo-bo, tôi biết cả 3 chúng tôi đã được cứu sống...Tạ ơn Chúa, tạ ơn Trời, tạ ơn Phật, tạ ơn những người thủy thủ giàu lòng nhân ái, đầy can đảm và kiên nhẫn tìm kiếm chúng tôi trong đêm đen mịt mù, tạ ơn thuyền trưởng đã hy sinh thời gian và tổ chức công cuộc tìm kiếm.
Tôi bị thương nặng nên không thể dìu lên tàu được, họ để tôi nằm trên sàn bo-bo, cho y tá mang theo cáng cứu thương xuống, anh y tá xem xét vết thương rồi cắt bỏ hết áo quần của tôi, anh ra hiệu cho tôi biết chân trái tôi bị gãy, tay phải gãy và vai phải bị bể, miễng đạn còn ghim ở xương vai, anh lấy bông gòn đậy vết thương rồi cùng một thủy thủ khác lấy mền bó chặt người và chân tay tôi vào máng cứu thương và trục lên boong tàu lớn...
Khi lên nằm trên boong tàu, một thủy thủ trước khi khiêng tôi vào phòng, nhìn tôi mĩn cười và giơ ra 3 ngón tay, tôi đoán là đã cứu được 3 người nhưng sau này tôi được biết phao của tôi được vớt là phao thứ ba, có 3 người trên phao ... Khoảng 2 tiếng đồng hồ sau, họ vớt được phao thứ 4 là phao cuối cùng.
Trên tàu không có bác sĩ, chỉ có một y tá nên họ cứ để tôi nằm im. Trong thời gian ở trên tàu này, Thủy thủ đoàn và vợ của ông Thuyền trưởng săn sóc chúng tôi rất tận tình, suốt đêm, cứ khoảng 15-20 phút, họ lại hé miệng chúng tôi ra và đổ vào miệng mỗi chúng tôi một chút sửa vì môi miệng ai cũng bị sưng to vì nóng, khát.
Đêm ở trên tàu, chúng tôi lại bị chết thêm một người nữa, có lẽ quá kiệt sức - cả thảy HQ10 còn sống sót 20 người.
Đến chiều ngày hôm sau, chúng tôi được chuyển qua tàu của HQ/VN rồi được đưa về Căn cứ Hải quân Đà Nẵng.
Nằm trên băng-ca được khiêng từ tàu xuống xe cứu thương để ra bệnh viện Duy Tân, tôi nghe nhiều tiếng ồn ào và được biết có một phái đoàn học sinh sinh viên vào cầu tàu chào đón chúng tôi về từ Hoàng Sa.
Nằm trên băng ca, tôi cũng nghe nhiều câu "Hoan hô anh hùng Hoàng Sa", lòng cũng thấy nao nao.
Ôi tình dân và lính nồng nàn quá.
Tại bệnh viện Duy Tân - Đà Nẵng, các bác sĩ sau khi khám, chụp hình đều quyết định phải tháo khớp xương tay phải từ xương vai vì thịt chổ vết thương đã thối rữa hết. Tôi hết hồn và xin các bác sĩ cố chửa hoặc là tôi chết, nhất định không làm một phế nhân, tuổi tôi còn quá trẻ để làm anh cụt tay.
Với thời gian chửa trị cùng các động tác thể dục trị liệu, gần một năm sau, tôi lại tiếp tục phục vụ đất nước như ước mơ của bao người trẻ tuổi.
 
CHUYỆN BÊN LỀ HOÀNG SA
1- Trên chiếc phi cơ C130 chở những người bị thương ở Hoàng Sa, từ Đà Nẵng về SàiGòn, một thủy thủ cho tôi biết tên chiếc tàu vớt chúng tôi là Scopionella, tàu chở dầu của Hòa Lan. Khi chuyển chúng tôi qua tàu của HQVN, họ có tặng cho những người được vớt 2 thùng mền, 2 thùng khăn.
2- Ngày đầu tiên về đến Bệnh viện Bạch Đằng - SàiGòn, phái đoàn CTCT/HQ đến thăm đầu tiên, an ủi, khích lệ, đồng thời cũng vì để tuyên truyền, anh em đừng nói những gì ngược lại với những điều đã được báo chí truyền thanh và truyền hình đã loan tải.
3- Có một sĩ quan trong phái đoàn CTCT/HQ hỏi tôi:
- Trung Úy có thấy mấy chiếc tàu của Trung Quốc bị chìm hay bị cháy không?
- Tôi chỉ biết và thấy 2 tàu Trung Quốc bắn nhau với HQ10 thôi, tôi thấy cả hai cùng có khói bốc lên khá nhiều nhưng chính mắt thì không thấy có chiếc nào bị chìm cả.
- Lúc đánh nhau ở Hoàng Sa, có máy bay của Trung Quốc yểm trợ HQ/TQ không?
- Chỉ có ngày đầu, có 2 chiếc phản lực bay rất cao, vòng 2 vòng rồi về, từ đó không thấy có máy bay nào nữa cả.
- Có thấy HQ10 bị chìm hay bị tàu của Trung Quốc kéo đi không?
- Trước khi trời sụp tối hôm xảy ra trận chiến, HQ10 cũng lững lờ trôi phía sau chúng tôi, tàu bị nghiêng và có khói bốc lên. Qua đêm, đến sáng hôm sau thì không thấy HQ10 đâu nữa.
- Tàu Trung Quốc có dùng hỏa tiển bắn nhau với HQ10 không?
- Không, tôi nghĩ tàu HQ/TQ không có khả năng trang bị hỏa tiển.
- Ai ra lệnh bắn và bên nào bắn trước?
- Khi hai chiến hạm Trung Quốc tiến quá gần HQ10, Hạm trưởng đã ra lệnh nổ súng và HQ10 bắn trước.
4- Chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh tặng cho mỗi quân nhân dự trận Hoàng Sa một Hải Dũng Bội Tinh và được đặc cách lên một cấp, tôi nghe TV, báo chí có nói nhiều lần, bạn bè tôi đến thăm ở bệnh viện cũng chúc mừng, nhưng thực tế, bản thân tôi không được gì cả, cho đến nay tôi vẫn không hiểu tại sao? Những anh em khác có không ?...
HQ/TrU Hà Đăng Ngân
_____________________________________________
Lời Phụ giải
Tôi được biết Trung úy Ngân vào khoảng đầu năm 1975 khi anh từ Trung Tâm Thặng Số thuyên chuyển về BTL/HQ/P3 (Phòng Hành Quân-HQ Trung Tá Vũ Nhân là Trưởng phòng).
Trong vài lần nói chuyện, Trung Úy Ngân có kể là anh đã ở trên HQ10 lúc xảy ra trận chiến Hoàng Sa, đã bị thương và đã ở trên cùng bè với Hạm phó Nguyễn Thành Trí. Vào thời điểm lúc bấy giờ, tôi đã không hỏi thêm anh nhiều vì có bao giờ tôi nghĩ đến ngày phải bỏ quê hương, phải giả từ hải nghiệp!!!
Khoảng tháng 2-2005, tôi đọc email của cháu Nguyễn Thị Thanh Thảo (trưởng nữ của cố HQ Thiếu tá Nguyễn Thành Trí) có kèm theo bức thư của một chiến sĩ nặc danh thuộc HQ10 (theo suy luận của tôi thì có lẽ người này là Hạ sĩ Trọng pháo Trần Ngọc Sơn), bức thư này có tên những người xuống chiếc bè cuối cùng với Hạm phó Trí, trong đó có 2 SQ là HQ Trung úy Phạm Văn Thi, khóa 20/SQHQ/NT (viết lầm là Phạm Văn Ngữ) và HQ Trung úy Hà Đăng Ngân, khóa 8 OCS (viết lầm là Phạm Đăng Ngân).
Xem xong email, tôi có ý nghĩ liên lạc với anh để hỏi thêm vài chi tiết về HQ10, đồng thời khuyến khích anh viết ra những gì anh còn nhớ về HQ10 và trận hải chiến Hoàng Sa.
Sau nhiều lần liên lạc để kiểm chứng lại với anh về một số chi tiết, tôi đã được sự đồng ý của anh để phổ biến tài liệu này.
Xin trân trọng gởi lời cám ơn chân thành đến HQ Trung úy Hà Đăng Ngân đã cung cấp một tài liệu rất có giá trị về lịch sử.
Thềm Sơn Hà (Đệ nhị Hải sư)