Sunday, April 21, 2013

Những Giờ Phút Chót-cuối tháng 4-75: Từ Bộ Tư Lệnh Hải Quân VNCH


1- Tư Lệnh HQ, Đáp Ứng Tình Hình Di Tản

Lễ nhậm chức và bàn giao của tân Tư Lệnh Hải Quân diễn ra vào trưa ngày 24 tháng 3-75 có khoảng 7 Tư Lệnh các vùng đứng một hàng ngang trước bàn có cờ 3 sao Tư Lệnh. Sĩ quan báo chí hiện diện góc cử bên cạnh Trung Tá Khanh để quan sát và tường thuật, trong văn phòng Tư Lệnh nhỏ nhắn trên lầu hai nằm bên tay mặt của trụ sở Bộ Tư Lệnh trông ra bến Chương Dương.
Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang lúc đó đang là Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, một trong vài “chỗ” sáng giá, quan trọng nhất chung quanh Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Ông được đổi về gấp nhậm chức Tư Lệnh Hải Quân lần thứ nhì sau khi đã rời Hải Quân trên 10 năm về trước. Điều này cho thấy kế hoạch “di tản và lui binh” là mối quan tâm nhất của Tổng Thống Thiệu trong việc bổ nhậm chức vụ này. Ông Cang thổ lộ rằng “nếu tôi còn ở vị trí Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu, thì sẽ ở lại Sài Gòn tử thủ“.
Hồi đảo chính tháng 11 năm 1963, lần đầu ông Cang được giao nắm chức vụ Tư Lệnh Hải Quân cũng là vì được lòng tin cậy của nhóm tướng lãnh đối với ông. Và lần đầu ông làm Tư Lệnh Hải Quân kéo dài khoảng 16 tháng.. Còn lần thứ nhì này với cấp bậc cao hơn và giao tiếp khẩn cấp rộng lớn hơn hẳn trước. Rồi vận nước ông cũng chỉ được ở lại chức vụ khoảng trên một tháng, với một kế hoạch “di tản Quân Lực VNCH và các công nhân viên chức chánh phủ khi có nguy biến, để cùng tập trung Hạm Đội tại Côn Sơn, để “về Miền Tây” hoặc ý định, trừ khi kế hoạch không thành- mới dẫn đoàn tầu đi Phi Luật Tân tị nạn…
Lễ Bàn Giao trầm lắng, căng thẳng đó gồm cả những người đã có bất hoà trước đây với cá nhân tân Tư Lệnh cũng hiện diện còn có mặt khoảng 10 vị sĩ quan chỉ huy cao cấp trong đó có: Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú (từ Đồng Tâm-Mỹ Tho), Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng (từ Cần Thơ)…, một vài vị khác như Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại rối bời tại BTL-HQ vùng I không về được…
Chỉ vài ngày sau ngày nhậm chức ông đã thành lập đơn vị Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 bao gồm những Giang Đoàn Ngăn Chặn và nhiều Căn Cứ Hải Quân do Đại Tá Lê Hữu Dõng là tư lệnh, với sự đóng góp đáng kể của Phó Đề Đốc “Phú Già“, là minh chứng cho sự xóa bỏ những dị biệt bất hòa thời “âm mưu đảo chánh trong Quân Chủng năm xưa“.
Tân Tư Lệnh Chung Tấn Cang lúc đó có cấp bậc cao nhất Quân Chủng, và ngang cấp với các tư lệnh quân-binh chủng khác, dễ dàng nói chuyện với Dinh Độc Lập và Bộ Tổng Tham Mưu. Trong những ngày giờ dầu sôi lửa bỏng đó, quả ông đã quan tâm thực sự đến kế hoạch “Di Tản” một cách chặt chẽ, với tiêu chuẩn phải mang đi được nhiều tướng lãnh, quân nhân của các quân binh chủng khác, cùng dân chúng và Hải Quân, dĩ nhiên.
Và ông thường xuyên có mặt trong Trung Tâm Hành Quân thuộc Bộ Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển, trong tầng Ba một cao ốc tân kỳ mới xây vài năm. Ông có phong thái bề thế chỉ huy oai nghiêm như một Tổng Tham Mưu Trưởng chiến trường Lục Quân. Phó Đô Đốc Cang liên lạc hàng ngang với Tổng Thống và giới chức cao cấp nhất của Tổng Tham Mưu, cũng như bên Biệt Khu Thủ Đô.

2- BTL/HQ Và Cuộc Di Tản QK1 & Tướng Trưởng

Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dõi giải quyết cuộc di tản và tình hình trận liệt ngoài Quân Khu 1 và Đà Nẵng từ Trung Tâm Hành Quân-BTL-HQ. Ông biết từng bước đi của Tướng Bộ Binh, Tướng Không Quân và các đơn vị tác chiến với những khi tạm trú trong căn cứ HQ Đà Nẵng hoặc TTHQ-SĐ/TQLC, hoặc với Phủ Tổng Thống mỗi ngày hoặc qua Trung Tá Khanh-Chánh Văn Phòng Tư Lệnh.
Tướng Trưởng, Tướng Lân, Tướng Khánh, Phó Đề Đốc Thoại… thường xuyên họp tham mưu tại TTHQ/ Sư Đoàn TQLC hiện đóng tại Non Nước (Đà Nẵng). Trong khoảng thời gian này hai sĩ quan của BTL Sư Đoàn TQLC vừa trúng pháo của VC khi đang trên mặt nước để lên chiến hạm, đó là Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc và Trung Tá Đỗ Hữu Tùng, theo như lời thổ lộ của Trung Tâm Trưởng TTHQ/SĐ/TQLC Trần Vệ và sĩ quan TQLC, Tô Văn Cấp. Vào phút chót Trung Tướng Trưởng đành bó tay, đã rời bỏ Quân Khu I… Nếp đạo đức, khôn ngoan và thói quen chịu đựng đau đớn cho thấy ông tướng danh tiếng này, vượt thắng hơn sự tính toán của TT Thiệu… Theo lời một sĩ quan Thủy Quân Lục Chiến kể lại sau này viết lại trên trang Báo Đa Hiệu của Hội Cựu SVSQ Võ Bị Đà Lạt, “. Những chi tiết này cũng phù hợp với lời Tướng Thoại kể lại hình ảnh Đà Nẵng rối loạn chiều 28 tháng 3.Tướng Trưởng ngồi lẻ loi trên ghế bố cùng với Đại Tá TLP/TQLC Nguyễn Thành Trí và độc nhất một anh lính truyền tin Bộ Binh, (từ chiều tối 28) chờ ôm poncho lội nước để lên Hải Vận Hạm 402 vào lúc 10 giờ sáng ngày 29-3, thay vì tin theo lời hứa hẹn của Sài Gòn là: “Cứ ở yên trong đó không lội ra khơi chờ đến khi có HQ 404 vô đón”. Và ông đã mặc bộ quân phục vải xám của Hải Quân trong suốt thời gian tạm trú trên tầu“.
Dù theo dõi chặt chẽ, nhưng thực ra Trung Tâm Hành Quân HQ ở Sài Gòn không nắm vững được phương vị di chuyển của Tư Lệnh Quân Đoàn 1, Tướng Ngô Quang Trưởng: Khi ông ra tới Chiến Hạm HQ 402 chuyển sang HQ 404. Trong lúc đó Tư Lệnh Hồ Văn Kỳ Thoại vẫn còn đang chỉ huy tóan thám sát với hai cận vệ, lên Núi Tiên Sa tìm bãi biển an toàn (vì lúc ấy các bãi biển Đà Nẵng quân dân chạy giặc đã trở thành vô cùng nguy hiểm, hỗn loạn). Dự trù bãi cát chân núi Tiên Sa an toàn, kín đáo để tàu Hải Quân có thể vô đón thân nhân HQ, Thủy Quân Lục Chiến và anh em SĐ3 BB. Toán “thám sát-tiền phương” bị kẹt lại mãi cho đến khi người bạn là Trung Tá Thiệp (cựu Chỉ Huy Trưởng Giang Đoàn 22 Xung Phong- Nhà Bè sau này chỉ huy Cảng Đà Nẵng) dùng Hải Thuyền vô đón, được chuyển lên PCF rồi lên HQ 802 cùng với Tư Lệnh SĐ3 BB-Nguyễn Duy Hinh về Quy Nhơn cùng tử thủ…
Em trai của Phó Đề Đốc Thoại là Thiếu Tá Hồ Văn Kỳ Tường, Hạm Phó HQ-5, đã cầm tận tay công điện Mật của chính Tổng Thống giao cho Tướng Trưởng và nói: “Tổng Thống muốn Trung Tướng theo tiểu đỉnh trở lại đất liền để tiếp tục chỉ huy”. Sau khi đọc công điện một lúc khá lâu, Tướng Trưởng đã xin với Sài Gòn để được cùng với TQLC “tiếp tục chỉ huy,) chuyển từ HQ 402 qua HQ 404 được gọi là: “Bộ Tư Lệnh Nổi: Hải Vận Hạm HQ 404″”… (Thực ra không ai rõ ngày giờ ấy: Tướng Trưởng đang ở chiến hạm nào?. Những chi tiết này cũng được chính Tướng Thoại xác nhận.)
Những quyết định từ Trung Ương sau một khoảng thời gian chờ đợi, đồng ý cho Trung Tướng Trưởng được theo Hải Vận Hạm Hương Giang HQ 404 xuôi về Nha Trang, Phan Rang về đến Sài Gòn. Vào buổi chiều ngày 18 tháng 4, khoảng 4-5 giờ chiều gần đến giờ về nhà, Trung Tá Khanh cho gọi Sĩ Quan Báo Chí lên Trung Tâm Hành Quân. Tôi trình diện và ngồi cách Đô Đốc Tư lệnh một khoảng cách chỉ để ghi nhận và nghe ông căn dặn một vài việc. Nhưng tai tôi nghe qua tiếng máy loa khuếch âm: tin từ Đà Nẵng gọi về Trung Tâm Hành Quân (thuộc Khối Hành Quân-Hải Quân) cho Tư Lệnh Chung Tấn Cang theo dõi tin tức “một oanh tạc cơ không rõ của Không Quân VN hay Hoa Kỳ đã bắn lầm một Chiến Hạm (có tướng lãnh hiện diện trên HQ3, HQ 404 hay HQ 802-có hàng tướng lãnh như Tướng Trưởng, Tướng Minh hoặc Tướng Thoại?). Trên đường trên đường xuôi Nam về BTL ở SàiGòn..” Tôi thấy hình như ông không chen vào các tin tức nội bộ này. Tin này làm cho tôi liên tưởng tới một vụ (có lẽ A-37) oanh tạc nhầm Hộ Tống Hạm Vạn Kiếp trong giai đoạn biến động này, gây cho vài sĩ quan và thủy thủ tử vong… mà không ai nói tới sự kiện máy bay mình oanh tạc lầm… mà lại cho VC “công trạng” bắn trúng Tầu. Tôi thường kiểm chứng lại sự thực xảy ra nơi chiến trường, và cũng từ Tư Lệnh Hồ Văn Kỳ Thoại cũng kể lại sau này…
Cũng khoảng thời gian này nghe tin vào khoảng sau 5 giờ chiều có tin chiến hạm trên đường xuôi Nam HQ 503 bị trúng đạn, gây cho khoảng 4 sĩ quan cùng với nhân viên, thủy thủ trúng thương và tử nạn.
… “Một sĩ quan-tử nạn”, chính tôi được nghe qua loa khuếch âm truyền tin báo cáo trúng đạn là “HQ Trung Úy CB Nguyễn Độ”, dân Sài Gòn cũng là bạn cùng thụ huấn quân trường. Tin chiến sự này cứ ám ảnh trong lòng như chưa quên…
Một sĩ quan trẻ và Tướng Thoại cũng xác nhận họ có nghe về các nguồn tin ấy, và nghĩ rằng “hai sự kiện máy bay oanh kích, và pháo kích trúng đài chỉ huy chiến hạm có thể cách nhau phút chốc thời gian, nhưng lại cách nhau trong không gian- nhiều hải lý?...”
Không đầy một tuần sau, cái ngày Hải Quân và TQLC rời bỏ Đà Nẵng hỗn loạn. Khi chiến hạm có Tướng Trưởng về đến cầu tầu Tư Lệnh HQ, Báo Chí HQ cũng theo ra đón Tướng Trưởng, chứng kiến cảnh tượng Tướng Chức thay mặt Tổng Thống Thiệu tỏ rõ thái độ. Có tin “đồn” là Tướng Trưởng sau đó bị quản thúc cùng với một số tướng khác qua lệnh của Tướng Trần Văn Đôn. Sau này gặp lại Tướng chức, ông không muốn xác nhận lại chuyện cũ. Tướng Thoại thì kể rằng “ông Trưởng là sĩ quan cao cấp hơn, làm sao tối “dám”!!”

3- “Tuyến Thép Phan Rang” và Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh

Chỉ vài ngày sau khi Đà Nẵng thất thủ, Bộ Tư Lệnh Hải Quân đã muốn Phòng Báo Chí chuẩn bị các bài diễn văn soạn sẵn của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tướng Viên và Tư Lệnh Hải Quân nhằm nêu cao vai trò “Tư Lệnh Tuyến Thép” và một Sĩ Quan Báo Chí theo ra Nha Trang giao trực tiếp để trao tận tay các diễn văn và đề cao chiến dịch mới: “Tuyến phòng Thủ cuối cùng dự định tại Nha Trang, mang tên Tuyến Thép, do PĐĐ Hoàng Cơ Minh là Tư Lệnh Chiến Trường- là vinh dự cho HQVN”, nhưng lễ nghi quân cách và lệnh chưa kịp chính thức loan tải và phát thanh thì lãnh thổ kiểm soát của VNCH đã phải cắt thêm về tới Tuyến Thép Phan Rang. Rồi cũng từ Phan Rang, chưa kịp thực hiện những nghi lễ mang tính tuyên truyền, tử thủ và bảo vệ Tuyến Thép thì Tư Lệnh Hoàng Cơ Minh, lẫn sĩ quan báo chí BTL-HQ đã phải xuống theo Chiến Hạm HQ-3 xuôi Nam dọc theo bờ duyên hải để đón quân-dân di tản từ Phan Rang và các thành phố khác nữa về BTL-HQ. Thỉnh thoảng, có các ghe chở người được cho phép cặp sát chiến hạm.. Có chiếc ghe nói là “người nhà của TT Thiệu” để “hy vọng” được lên chiến hạm.
Tại Cam Ranh, Hải Quân Đại Tá Bùi Cửu Viên, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Cam Ranh đã đưa được cả Trung Tâm Huấn Luyện về được Sài Gòn trên những tàu LST. Cùng lúc Thiếu Tướng Tư Lệnh Nguyễn Duy Hinh, các sĩ quan tham mưu và hơn trăm binh sĩ Sư Đoàn 3 Bộ Binh cũng được Đại Tá Viên đưa về Sài Gòn bằng tầu LST.
Tôi được nghe Trung Úy Y Sĩ -Phạm Anh Dũng kể lại, “SĐ3 chúng tôi có lệnh ra Bà Rịa trình diện. Nhưng khi tôi ra đến nơi, không gặp sĩ quan nào cả trong Tiểu Đoàn 3 Quân Y, nên phải về lại Sài Gòn.” Kế hoạch Tuyến Thép Cuối Cùng Phan Rang cũng thất bại).
Tuyến Thép thành tan hoang!.
Tôi, sĩ quan được Trung Tá Linh cử đi công tác Báo Chí, chưa tới nơi gặp được Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh ở Phan Rang, thì có tin Nha Trang thất thủ. Trên chiến hạm về Sài Gòn tôi gặp Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, có cơ hội gặp gỡ trong phòng ăn Sĩ Quan của Chiến Hạm, cùng những lúc chen chân giữa quân nhân tác chiến, và heo gà trên chiến hạm kêu oang oác, ồn ào. Tướng Minh và tôi là một trong số những người về trên chiến hạm HQ-3 khẩn cấp về Sài Gòn nhanh chóng hơn, thay vì ngừng lại ở một số nơi, như HQ 503 bị về bến chậm lại một vài ngày. Tôi có nghe tin một số chiến hạm đã đụng độ; HQ 11 và HQ 503 đã bị trúng đạn nặng nề, thê thảm (vào ngày 19-4).
Đây là dịp tôi có giờ trò chuyện riêng tư với Tướng Minh. Chúng tôi kể lại thời ăn cơm chung giữa chúng tôi với nhà văn HQ Trung Úy Chu Sĩ Lương từng là Sĩ Quan Báo Chí BTL HQ khoảng thời gian với Trung Úy Trần Trọng Thức (sau này rời Quân Đội sớm). Chu Sĩ Lương về phụ trách Báo Chí cho Tướng Minh, chúng tôi nhắc nhắc đến HQ Trung Úy Lê Rĩnh; HQ Trung Tá Lê Công Bình (người có mối liên hệ chặt chẽ với ông Chơn, sau này cả hai đều đi tù cải tạo nhiều năm); Thiếu Tá Phi Đoàn Trưởng Thần Trùy 211-Nguyễn Kim Hườn (vài năm đến Cali, đã sát cánh với Tướng Hoàng Cơ Minh), với Thiếu Úy KQ-ca sĩ Trần Thuỵ Chi (em vợ Trung Tá Trịnh Tiến Hùng) thường chở Tướng Minh trên trực thăng quan sát, những ngày tôi được quan sát cuộc hành quân Thủy Bộ. Ông tiếc cho buổi triển lãm tranh ở Hội Việt-Mỹ khai mạc đầu tháng Tư sẽ không có nhân vật chính là tôi về kịp tham dự… Tôi quý mến ông lắm, và nhìn thấy rõ nét thảm thương đau đớn. Chúng tôi ngậm ngùi chung về những mất mát…
Và chúng tôi lênh đênh như thế trên biển hơn 3 ngày, chen lẫn trong số hàng ngàn chiến binh: tướng tá di tản, trên cả 3 soái hạm, HQ 2, HQ 3, HQ 5 và bao gồm cả Dương Vận Hạm HQ 500

4- Hải Quân Họp Tiết Lộ Chi Tiết: Di Tản

Bộ Tư Lệnh Hải Quân và Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội đã họp với khoảng 100 hạm trưởng các loại chiến hạm lớn nhỏ vào chiều ngày 26 tháng 4, ông Sơn tuyên bố rằng “lấy quyền: Tư Lệnh Hạm Đội thông báo đến quý vị hạm trưởng rõ ba chuyện: “1-Vũng Tầu, Phan Rang và Bộ Tổng Tham Mưu đã tan rã, 2- địa điểm Sư Đoàn 3 Không Quân đang bị dội bom, trong khi Hạm Đội HQ còn an toàn và nguyên vẹn, 3- chúng ta chuẩn bị tinh thần có thể di chuyển về Phú Quốc.”
Chỉ vài ngày sau hôm 28-4 Đại Tá Sơn bị “cách chức”, người thay thế là Đại Tá Khuê. Ông Khuê tuyên bố trong buổi họp đầu tiên để trấn an và đánh lạc hướng: “Di tản không còn là vấn đề phải đặt ra nữa vì Hoa Kỳ đã giúp ta thả bom CBU ở Xuân Lộc, … ta sẽ thắng...”
Vào sáng sớm ngày 29-4 lại có một cuộc họp tham mưu cao cấp cho biết: “nếu không có một phản lệnh nào khác, thì toàn bộ Hạm Đội sẽ rời Bộ Tư Lệnh Sài Gòn vào lúc “Không Giờ”- Khuya 29 rạng 30, các hạm trưởng cứ thế mà tuân hành.”
Trong khi đó thì Phó Đề Đốc Nguyễn Thanh Châu cũng có mặt gần Sài Gòn, ông thường xuyên có mặt tại “nút chặn” Căn Cứ Hải Quân Cát Lái, cùng với toán Quân Cảnh và toán nhân viên làm một nút chặn ngay tại ngoài tuyến đường lộ gần căn cứ, nơi được đặt là trại tị nạn cho quân nhân và đồng bào về từ Phú Quốc. Trong lúc đó có tin không chính thức sau buổi họp “HQ Đại Tá Trần Văn Triết điều khiển kiểm soát vòng đai Hải Quân Sài Gòn?“. Ông Triết có sẵn một tầu riêng đậu gần HQCX, đề nghị cho cả gia đình 3 người (mẹ già và vợ chồng ông Liễm) cùng đi với Trung Úy Vy cùng vợ con.
Vài sĩ quan cho biết: cũng như rất nhiều sĩ quan khác, đã bị ngăn cản không vào được “Nút Chặn-Trại Sĩ Quan Cửu Long” theo lệnh của Đại Tá Triết. Chỉ huy trưởng và vài nhân viên cuối cùng rời đơn vị được giao bảo vệ vào “giờ thứ 25” lúc 9 giờ tối 29-4. Trong giờ phút đen tối ấy, lại may mắn gặp Đại Tá Đỗ Kiểm đang liên lạc gia đình (thất lạc) vẫn chưa lên tàu, đi lòng vòng trong Hải Quân Công Xưởng- Đại Tá Kiểm lại hỏi “tại sao anh chưa đi?” và cho biết “Bộ Tư Lệnh HQ đã được lệnh giải tán từ 2 giờ chiều (ngày 29-4)“. Thiếu Tá Liễm, chỉ huy trưởng Biệt Đội Chiến Tranh Chính Trị-Hải Quân, trước đó cũng không được biết bất cứ một tin tức, không được ai, kể cả nhà thơ Phan Minh Hồng tại BTL-HQ hứa liên lạc khi có biến chuyển và lệnh “tan hàng”.
Ông Liễm vẫn còn bám trụ chỉ huy 4 đơn vị bao gồm Nút Chặn Trại Cửu Long và NewPort. Cả giờ sau khi gặp Đại Tá Đỗ Kiểm, giống như ông Hùng kể lại, người quân nhân mang lon thiếu tá Hải Quân, dù quen mặt cố gắng muốn được qua cầu (thì bị người sĩ quan gác cầu, không xa lạ, lại chĩa súng đòi bắn). May cho ông vừa đúng lúc, được Trung Úy Vy (phụ tá của Đại Tá Triết) trọ ở nhà ông Liễm, lái xe chở vợ con qua cầu vào HQCX, có chìa khóa riêng mở dây xích khóa hai bên cầu Ava-lăng vào HQCX. Một nhân chứng gặp được Thiếu Tá Bá Hạm Trưởng, quen biết nên được cho lên tầu HQ-801, tại vị trí 4, HQCX, và hạm trưởng cho LCVP về đón vợ con, đón Thiếu Tá Vũ Trạch người về từ Đà Nẵng, Cha Dụ, anh em Cha Vũ Thành. và mấy chục người bà con của LM Dụ từ Nhà Thờ Hiển Linh. Những nhân chứng này kể lại, họ lên Tầu đầy đủ, thì HQ 801… rời bến. Trước đó nhóm người xuống Tầu không đi kèm hạm trưởng, vẫn bị lính canh “đuổi lên”.
Mỗi khi Hạm Trưởng Bá đích thân dắt tay ai đến tận cầu thang thì mới được lên
. Có người hỏi Hạm Trưởng Bá “chừng nào tầu rời bến?, Hạm Trưởng Bá tránh né trả lời: “không biết bao giờ đi?”… Nhưng chỉ khoảng mươi phút sau, khi hạm trưởng đã lên HQ 801.. rồi, thì tầu rời bến.
Theo lời kể của HQ Đại Tá Bùi Cửu Viên, hạm trưởng kinh nghiệm về Dương Vận Hạm (loại LST có tên: Mỹ Tho, Cần Thơ…) thì “HQ 801 khi rời HQCX khoảng 8 giờ 30 tối, với một máy chánh bất khiển dụng… HQ 801 gặp Soái Hạm Trần Hưng Đạo mắc cạn ở Quatre bras – quá nửa đường Sài Gòn-Vũng Tàu)“.
Sự kiện HQ-1 bị mắc cạn được HQ 801 trợ giúp theo lời Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: ” Có tin nói rằng Hạm Trưởng Soái Hạm Trần Hưng Đạo HQ1, Nguyễn Địch Hùng (khóa 4 Brest) về nhà đường Trần Hoàng Quân đón vợ đến hơi chậm sau 8 giờ tối mà chưa tới nên, bị “bỏ” ở lại; vì trên tầu được một trong hai ông Phó Đề Đốc hiện diện “lấy quyền” chỉ huy bắt HQ 1, rời bến sớm hơn- dù hạm trưởng chưa về kịp..”.
Riêng Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng của HQ 2- mang tên Trần Quang Khải- còn nhớ lại: “Vào lúc 5 giờ 30 chiều 29-4-75, cơn mưa chiều vừa tạnh, khi chuẩn bị xuống chiến hạm, chuẩn bị công tác chiến dịch “Di Tản-Lui Binh”, có nhìn thấy vài Sĩ Quan từng quen thuộc trước đây ở tại Bộ Tư Lệnh.” Hơn ba thập niên sau, theo lời kể lại của Hạm Trưởng Hùng thì: “Ông Ưng Văn Đức cùng một Thiếu Tá nói với Hạm Trưởng Hùng “thi hành lệnh của Đại Tá Triết không cho hạm trưởng và nhân viên, hoặc bất cứ ai được xuống tầu di chuyển nếu không do chính Đại Tá Triết cho phép“..
Hạm Trưởng Đinh Mạnh Hùng (nay ở Seattle) cũng thuật lại tương tự”chính tôi đã bị cản lại không được xuống tầu, tôi đã phải dùng máy liên lạc cho một tiểu đỉnh đến đón ở bờ sông trước nhà hàng Majestic, và lên tầu phía tả hạm, bằng thang dây..“.

5- Tổng Thống Dương Văn Minh Đồng Ý Cho Di Tản “Về Miền Tây”

Cũng khoảng 4 giờ chiều hôm ấy, trong cơn mưa nhỏ và mây xám âm u vùng BTL-HQ, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển đã cùng với gia đình Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh xuống HQ 3. Trong khi trước đó vào lúc 2 giờ Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh đứng trên một chiếc PCF, đậu ngay cầu tầu Tư Lệnh để dàn xếp mọi diễn biến. Ông nói như ban lệnh rất lớn chỉ về hướng tôi còn đang ngơ ngác hướng mắt nhìn ông: “anh sĩ quan, nhờ gặp sĩ quan trực liên lạc gấp với tư thất Tư Lệnh Chơn ngay bây giờ...”
Khi tôi bước vào chỗ ngồi làm việc cũ khoảng sau 2 giờ chiều, chuông điện thoại reo liên hồi, tôi kịp bốc điện thoại để nghe, đầu dây bên kia là Trung Tá Khanh-Chánh Văn Phòng Tư lệnh, đang đích thân “ra lệnh” cho tôi: “Phải Sĩ Quan Ban Thông Tin Báo Chí đó không?- chiều nay có họp ở Bộ TTM, anh cho mang, máy chụp hình và máy thu băng, lên chánh văn phòng Tư Lệnh“. Tôi thi hành ngay vì chánh văn phòng chỉ cần bước lên cầu thang bên phía tay mặt dãy nhà của tôi ngồi là tới.
Từ giờ phút ấy Tướng Minh trở lại chiến hạm. Từ đó có lệnh từ chiến hạm “Nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Và cho đến chiều tối mới chuyển qua HQ 5, chiến hạm này “được chọn làm soái hạm chỉ huy”.
Đô Đốc Cang muốn bảo toàn đoàn Chiến Hạm đến giờ chót hoặc lên đường ra Côn Sơn, Phú Quốc hoặc Miền Tây. Những điều này khi trình bày với TT Dương Văn Minh đều được Tổng Thống gật đầu và không phản đối điều gì. Chủ trương của ông Cang cùng với các vị tướng tham mưu là không chấp nhận liên hiệp. Xung quanh ông là những tướng lãnh chủ trương chống Cộng, chống Liên Hiệp với CS… như Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng, Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí.. Và Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú, là một sĩ quan chỉ huy mà trước đây từng có những bất hòa riêng với Tư Lệnh, nhưng chính cuộc chiến đấu và di tản cuối cùng gay go này đã đưa những người có những bất đồng ngồi lại gần nhau.. cùng hữu hiệu làm việc.
Họ thường xuyên liên lạc với Đại Tướng Minh, nhưng ngày cuối, Đại Tướng Minh đã bày tỏ rõ ý muốn ở lại của riêng ông, và buông xuôi đồng ý cho các đơn vị quân đội và HQ được quyền tự giải quyết hoặc đưa quân nhân các cấp “di tản… lui binh”, sau khi ông cảm thấy đã tuyệt vọng và bị lừa ?.
Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, tức nhà thơ Hữu Phương lại là vị tướng độc nhất trong BTL HQ (?)”muốn phá hủy cơ sở Trung Tâm Hành Quân và Phòng Hai để bảo mật, theo như lời ông kể lại. Trong lúc rời nhiệm sở, ông nói ra ý định muốn dùng lựu đạn lân tinh để tiêu hủy hồ sơ theo mục đích bảo vệ những người còn kẹt lại và ngăn chặn khi VC tới“. Phó Đề Đốc Chí sau đó ra chiến hạm bằng tiểu đỉnh và lên bằng thang dây vì cầu tầu đã bị kiểm soát nghiêm nhặt, như lời ông kể lại khi đến Hoa Kỳ.
Các phòng sở khác êm ắng như nhà hoang cửa trống, ai cũng túa ra về vì tất cả họ tâm trạng đều rối bời, không ai tiếc nuối gì hoặc có một hành động gì khác, ngoài nhóm người thân cận với tân Tổng Thống Dương Văn Minh thì còn hy vọng vớt vát tìm giải pháp… chiến đấu (?)… Có lẽ vì vậy vài sĩ quan Hải Quân giờ chót chưa đi, khi “chọn” ở lại hay “không muốn đi”, như trường hợp Đại Tá Tấn không sau buổi họp sáng sớm ở TTM về, ông chủ trương “ở lại BTL-HQ chiến đấu. Vì không đi theo đoàn tầu, ở lại, ra trình diện bị trên 16 năm tù “cải tạo” thế mà còn bị mang tiếng là đặc công nằm vùng!. Ông Tấn đã kể lại và xác nhận “ được khẩu lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh hành xử quyền Tư Lệnh Hải Quân“. Trưởng phòng Tâm Lý Chiến là HQ Trung Tá Lê Như Linh (người dành cho tôi những ưu ái- mà tôi không quên), ông cho tôi trái ngọt lẫn trái đắng: đi Hong Kong với Tư Lệnh Phó HQ Lâm Ngươn Tánh, (hai người đại diện HQ và chính phủ) đón tù binh VNCH tử thủ Hoàng Sa do Trung Cộng trao trả. Lên thăm Đài kiểm Báo TàKú trên đỉnh núi do HQ Trung Úy Phạm Ngọc Đông là Trưởng Đài. Ra Cửa Việt ghi nhận trận giao tranh với tầu địch. Ra Trại Tù Phú Quốc hai lần gặp Đại Tá Nguyễn Văn Thiện quan sát trại tị nạn, đón nhận hàng ngàn quân nhân di tản về. Hai lần ra BTL HQ vùng 1 tại đây ra gặp Tướng Thoại tại Đà Nẵng những ngày cuối tháng 3 suýt soát bị kẹt lại- khi hàng ngàn người dành chỗ lên C-130 về SàiGòn, rồi còn ra Quy Nhơn Ra Nha Trang và bên ngoài bãi biển Cam Ranh Nha Trang giữa tháng Tư gặp Tướng Hoàng Cơ Minh…Gần chót là trại tị nạn tại Căn Cứ Cát Lái do Người Nhái giữa an ninh. Tôi thấy bao nhiêu cam go phải hứng chịu!. Hai tháng cuối cùng đi liên miên như một “phóng viên chiến trường” mà thôi!
Trung Tá Linh “không rời bỏ đơn vị trước như một số sĩ quan khác ngay trong BTL-HQ”. Chính vào lúc 10 giờ sáng 30 tháng Tư, Trung Tá Linh còn vì nể tình tôi nhờ cậy, đã đón gia đình Giáo Sư ĐH Luật Khoa, Lê Đình Chi vô phòng làm việc của ông ngồi chờ, hứa sẽ giúp nếu có phương tiện. và tin loan truyền sau này của ông “kêu gọi các hạm trưởng không rời bến…”, cho mãi đến khi ông đã định cư ở HK, tôi vẫn “ngại ngần” không dám hỏi: Vì sao… và vì sao? Nhưng.. Tôi vẫn quý trọng ông!
Tôi “tin chắc” trong suốt bao nhiêu năm trong Hải Quân (mãi đến 4 năm sau mất Sài Gòn) tôi chỉ thấy có một người đó là Trung Sĩ Tâm Lý Chiến, Huỳnh Thanh Vân, cũng là tài tử điện ảnh, là cán bộ nằm vùng sau 1975 đã trở thành thủ trưởng phòng Tài Chánh và Ngân Hàng Quận Tân Bình, “cấp bậc ngang hàng tướng lãnh” là dân nằm vùng mà thôi, như lời xác nhận của Trung Úy Tài Chánh Nguyễn Văn Hưng (ở gần nhà Bakerfield-CA, là hàng xóm với Đô Đốc Cang và suối gia của ông là Chuẩn Tướng Lưỡng- Nhẩy Dù). Còn những tiếng đồn khác về như nhà văn Chu Sinh (Trung Úy Chu Sĩ Lương đơn vị chót BTL-LLThủy Bộ) theo lời Huỳnh Thanh Vân kể, và những người khác ở lại, hoặc không đi được. Gọi họ là “nằm vùng” thì tôi cũng khó tin được và thật là “gieo tiếng ác” không ai hiểu nổi những uẩn khúc chưa được giải thích!.
Đô Đốc Cang, theo sát an ninh vào những giờ cuối cùng. Ông liên lạc với Bộ Tổng Tham Mưu, cũng như Đại Tá TQLC Cổ Tấn Tinh Châu, chỉ huy trưởng Đặc Khu Rừng Sát và Thủy Trình sông Lòng Tảo, Vàm Cỏ – Soài Rạp… để giữ an ninh cho đoàn chiến hạm có khả năng di chuyển trên sông Sài Gòn trong vòng vài giờ ra khơi, cùng hướng về điểm hẹn đặt dưới quyền chỉ huy toàn diện của chính ông, không trở thành mục tiêu của VC sẽ trải dài hai bên bờ sông. Ông Cang là vị tướng đã thu gom quân nhân dưới quyền tập hợp cùng di tản nhẹ nhàng, có tính toán, mà chắc rằng không ai có khả năng điều động rộng lớn trong tình huống khó khăn và tuyệt vọng như thế !.
Nếu không có lệnh đầu hàng, và nếu không có “lệnh nào khác” thì một khối lượng lớn tướng lãnh, sĩ quan, quân nhân các quân binh chủng và Hải Quân đã cùng có mặt tại Miền Tây” (?), như chính lời Đô Đốc Cang cho biết như vậy, qua các bài phỏng vấn và tin tức chính thức sau này.
Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 cũng là “con đẻ” của ông, một tổ chức cần thiết để giữ an ninh giờ chót cho Sài Gòn. Có lẽ chính vì thế mà nhiều người còn rời Sài Gòn được trong ngày 30-4, như trường hợp nhà thơ Nhất Tuấn, và nhiều người khác còn cơ hội lên được Quân Vận Đỉnh 9604 ra khỏi sông Sài Gòn từ Nhà Bè hoặc Tướng Trung và Tướng Vĩnh Lộc rời Sài Gòn trong khoảng 4 giờ trên sông mà không bị VC bắn từ hai bên bờ sông.
Tới trưa 30-4, những vụ hôi của dọc kho Trịnh Minh Thế và Khánh Hội gây ra những vụ nổ súng và khói lửa trong khi VC vẫn chưa xuất hiện dọc đường như nhiều người lo âu.

6- Hải Quân Ra Khơi

Tư Lệnh HQ Chung Tấn Cang dĩ nhiên đã không ra đi trước bằng phương tiện hàng không như ông kể lại. Cũng giống như Phó Đề Đốc Chí, Đề Đốc Chơn, Đại Tá Tấn–Khối An Ninh HQ đều là những nhân vật quan trọng họ cũng không phải kiếm chỗ để lên máy bay đi trước“.

Cựu Đề Đốc Trần Văn Chơn tiếp xúc Hoài Hương nghiên cứu luận án về QLVNCH, (ảnh Phạm Quốc Bảo-năm 2000)
Trước đó một ngày, Đề Đốc hồi hưu Trần Văn Chơn “ra Vũng Tầu đón cha mẹ về cùng đi, chờ lên máy bay của Quân Đội HK, nhưng cuối cùng tôi đã quyết định ở lại. Con trai, là hạm trưởng HQ 601, HQ Đại Úy Trần Minh Chánh, cũng từ chối di tản trong chiều tối 29/4, để rồi phải chịu đi tù nhiều năm. Đề Đốc Trần Văn Chơn đã kể lại trong buổi thăm viếng tại San José sau năm 2000, cùng hồi tưởng về năm tháng trước 1975, và những ngày cuối cùng tại BTL-HQ)
Trong cơn mưa chiều 29, “vài tướng lãnh tập trung trong khu vực Hải Quân để xuống tầu nên có tin đánh hỏa mù là cvài ông tướng được lệnh “tập trung tại đây”. Theo một nhân chứng kể lại thì các vị này tạm lưu trú tại một khu nhà một ông tướng trong khu vực gần BTL Hải Quân gồm có: Trung Tướng Lâm Quang Thi, Lâm Quang Thơ, Nguyễn Bảo Trị, Nguyễn Đức Thắng, Phạm Quốc Thuần, Chuẩn Tướng KQ Nguyễn Đức Khánh… được phó Đề Đốc Chí và sĩ quan Hải Quân nhanh chóng mời đón lên chiến hạm HQ. 2 cùng di tản chiến đấu”<. Như sự chứng kiến và giúp cho xuống chiến hạm theo lời kể lại bằng trí nhớ còn đầy cảm xúc của Hạm Trưởng HQ 2- Đinh Mạnh Hùng.
Phó Đề Đốc Lâm Ngươn Tánh vừa rời chức vụ Tư Lệnh Hải Quân tháng trước, ngày đó cũng mới từ xa về, được hướng dẫn xuống Soái Hạm HQ 1, đậu ở vị trí 1 gần sát đường lộ mặt tiền BTL-HQ. Đạ Tá Bùi Kim Nguyệt cùng vợ con của ông và vợ con của Đại Tá Dũ cũng được hướng dẫn lên chiếc HQ1 trong lúc nhiều người chen lấn cũng muốn tìm cách lên tầu. Đại Tá Nguyệt và gia đình định cư tại Bremerton, rồi Seattle mà tôi có dịp gặp gỡ, cùng với Đại Tá Dũ sau khi đi tù 13 năm tôi cũng được gặp nghiều lần khi ông sống ở Seattle.
Ở vị trí số 2 cặp chính giữa là HQ 3 -Phạm Ngũ Lão, Ngoài cùng vị trí số 3 là HQ 2 -Trần Quang Khải do HQ Trung Tá Đinh Mạnh Hùng là Hạm Trưởng kể lại: "đã tuân theo kế hoạch rời bến của Ông Số 1” “giờ Zéro”. Có các chiến hạm khác kể cả các chiến hạm PCF trong nhóm tầu của Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh chỉ huy đã rời bến sớm vào khoảng 6 giờ chiều. Mỗi khi có một chiến hạm tách bến lại có vài người trên bờ nổ súng… Và nhiều trực thăng bay lượn xa gần vòng quanh Bộ Tư Lệnh càng lúc càng nhiều như muốn được nhảy xuống nước để được HQ vớt.
Hải Quân ra đi không chỉ mang theo Hải Quân và gia đình của họ mà còn các quân nhân các cấp, mọi Quân, Binh Chủng và cả thường dân nữa“. Trung Úy Y Sĩ SĐ 3 Bộ Binh, Phạm Anh Dũng cũng là một nhạc sĩ bày tỏ chân tình như “một lời tri ân” không thể quên đối với một Quân Chủng đã hoàn tất một sứ mệnh vì dân. “Tôi và Minh Hà, vợ mới cưới hai tuần thôi… như có Đức Mẹ hay Phật Quan Âm dẫn đường dắt tay chúng tôi cùng ra Bến Bạch Đằng, chạy loạn có nhau, vào lúc nửa đêm- lúc ấy một khoảng rào kẽm gai ở lối vào bỗng nhiên mở ra đủ để 3 người lọt vào.
Trong khi có hàng ngàn người nối đuôi nhau để qua khỏi rào kẽm gai tiến đến lên tầu mà không được. Một may mắn khó hiểu rõ ràng người phụ nữ nắm tay kéo tay chúng tôi vượt qua rào ra phía sau HQ 1 (nơi không có cầu thang lên tàu mà chỉ có dây kéo)… Rồi ngay tức khắc vợ tôi được kéo dây lên tầu, rồi đến lượt tôi. Nhưng người phụ nữ dắt tay chúng tôi lên tầu đã đi khuất. Chỉ đúng 2 phút ngay sau đó, tầu HQ-1 chặt dây, tiến máy xa bờ không còn ai lên được nữa… Nhờ tầu Hải Quân tôi được… ra đi
“.
Sau này một bạn thân cũ của Hạm Trưởng Bá (khoá 11 HQ) kể lại: “HQ 801 rời bến khi gia đình tôi đã chọn một góc phòng.. tráng sự đông đúc… Chẳng bao lâu thì hạm trưởng xuống tầu, cho lệnh khởi hành. Tôi nhớ lại đêm ra đi từ HQCX đi qua trước BTL, rồi tôi nhìn lại nơi tầng thượng của Majestic, hồi Tết Mậu Thân, tôi và nhiều chiến sĩ HQ phải canh gác phòng thủ kéo dài trên 6 tháng… Tại mặt lộ, sát mặt đường nhìn ra bờ sông là quán ăn vỉa hè CaRic, nơi mà anh em Hải quân từ BTL rất quen và thích các món thịt nguội và lade..“..
Éo le trong chuyến hải hành cuối cùng Soái Hạm-(HQ 1) lại bị mắc cạn… ở góc chữ L theo lời con trai của Đại Tá Dũ kể lại .
Cũng phải mất đến 4 giờ đồng hồ để HQ-1 được tầu HQ-801 kéo khỏi mắc cạn, và Đại Tá Phan Phi Phụng được cử làm Hạm Trưởng và để chuyển một số người sang HQ-801. Sĩ quan hiện diện trên tầu HQ-801, đứng ra phụ trách việc khó khăn kéo tầu HQ-1 ra khỏi chỗ cạn là Đại Tá Hải Quân Bùi Cửu Viên, Chỉ Huy Trưởng TTHL/HQ Cam Ranh, vì ông là người có nhiều kinh nghiệm về loại tầu 800…
Sau vài ngày đoàn Tầu ra đến điểm tập trung ở Côn Sơn đúng như kế hoạch của Tư Lệnh Cang, trong lúc Tư Lệnh tái phối trí Đoàn Hạm Đội, về Miền Tây như kế hoạch để tái hoạt động. Không rõ sẽ chọn là Côn Sơn hay Đảo TaMátSu (nơi Vua Gia Long từng ẩn trú trước khi về chiếm cứ lại Đất Liền). Đó là kế hoạch mật không được Tư Lệnh công bố. Tuy nhiên chiếc tầu nào không khiển dụng thì được đánh chìm, để thành lập một đội ngũ Hạm Đội. Lúc này xảy ra những trục trặc làm vỡ một phần kế hoạch vì đón người từ Năm Căn từ Phú Quốc của Trung Tá Nhượng không thi hành đúng lệnh!
Vì Thủy Thủ Đoàn HQ 801 có nhóm người muốn về, trong đó có Hạm Trưởng Nguyễn Phú Bá (vì nội bộ gia đình) cũng xin được rời bỏ Hạm Đội Di Tản trở về đất liền trên Tầu Dầu HQ 472, hướng về tới Vũng Tầu. Ở Côn Sơn trong những ngày đầu tháng 5-75, “Bộ Tư Lệnh HQ- Ngoài Khơi” do Tư Lệnh Cang đã chỉ định Đại Tá Bùi Cửu Viên làm hạm trưởng HQ 801 từ đó.. Lúc ấy tầu phải lo ngày 2 bữa cơm cho khoảng 2,000 đầu người, trong số này có cha Cao Văn Luận Cha Chu Quang Minh (nghe nói có thể có 2 vị tướng nhưng không xuất hiện). Vì lo ngại Hạm Trưởng Bá-sẽ mang HQ 801 bỏ Đoàn Hạm Đội quay về, khiến nhiều người vội nhẩy sang HQ 9, trong số này có cả Trung Úy ca sĩ Vũ Trọng Thanh (BĐ-CTCT-HQ), sau này đến Hoa Kỳ, có con gái nối nghiệp là ca sĩ Thùy Hương-Trung Tâm Asia. HQ 801 tiếp tục hải trình “thuận buồm suôi gió” từ khi có Hạm Trưởng Bùi Cửu Viên chỉ huy…
Khi Chiến hạm rời bến, người ta nhìn thấy ngọn lửa đang bốc cao từ Kho Đạn Thành Tuy Hạ và Kho Xăng Nhà Bè. Mặc dù trước đó cũng có nhiều người rời Sài Gòn từ khu vực Quân Cảng vùng Cát Lái hướng về Phú Quốc. Trong lúc này Phi Trường Tân Sơn Nhất và Bộ Tư Lệnh Không Quân đã là trọng điểm của những đợt pháo kích, nhiều cấp tướng và cấp tá đã cho biết họ không còn tìm được máy bay để rời Sài Gòn. Hình ảnh Bộ Tư Lệnh Hải Quân và sông Sài Gòn bị pháo kích cũng trong tầm tiên liệu và lo âu như ở phi trường, nhưng làn sóng người vẫn kéo về thật đông.
Sáng sớm ngày 30 tháng 4, tuân lệnh từ nội các chính phủ, HQ Trung Tá Lê Như Linh cho phát ra lời kêu gọi “các chiến hạm đừng rời bến” mà một số hạm trưởng, sĩ quan nghe được trên hệ thống truyền tin nội bộ. Riêng HQ Đại Tá Nguyễn Văn Tấn, quyền Tư Lệnh BTL/HQ kể lại với tôi sau này”sau khi đi họp với Tướng Vĩnh Lộc từ 7 giờ 30 sáng, có cả ông Vanuxem cựu tướng lãnh Pháp trong buổi họp này. Tướng Vĩnh Lộc đã ra lệnh Hải Quân phải cung cấp chiến hạm cho ông“. Trở về BTL/HQ ngay sau đó, Đại Tá Tấn đã ra lệnh cho Sĩ Quan Báo Chí, và phóng viên Võ Hà Anh (người xướng ngôn viên của chương trình Phát Thanh Hải Quân) viết các lời kêu gọi của Tư Lệnh HQ “ban hành lệnh cho anh em chiến sĩ tiếp tục giữ vững tay súng” mà không đi đâu cả“. Sĩ Quan Báo Chí cũng như phóng viên HQ lúc ấy cả hai người không ai viết hoặc đọc lời kêu gọi này.
Cựu Trưởng khối CTCT BTL-Hải Quân là Đại Tá Trần Văn Triết “đã rời nhiệm sở, trước đó đã nắm quyền kiểm soát, cho phép từng người xuống chiến hạm“. Cũng vẫn theo lời Tướng Chí và Hạm Trưởng Hùng cho biết: “ông Triết đã rời bến nhanh chóng và có mặt ở Phi đầu tiên, mà không đi theo 3 phân đội di tản của HQVN…”.
Cho đến lúc bấy giờ, tôi vẫn còn vào nơi phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh HQ không còn ai còn ngồi tại chỗ, phòng nào cũng trống-vắng người, tôi còn trông thấy HQ Thiếu Tá Trần Bá Hạnh, còn ra vào văn phòng làm việc, chuyện trò với anh em đoàn viên, nét mặt trầm tĩnh. Lúc ấy bước vào Tiểu Ban Điện Ảnh, tôi nghe bản tin đặc biệt qua radio lập đi, lập lại cách 5-10 phút, loan tin: “tân nội các Vũ Văn Mẫu đòi trục xuất cơ quan DAO và lực lượng Hoa Kỳ..”
Anh em làm ở BTL-HQ đều biết “Thực sự Tướng Cang, là người lâu nay có uy thế liên lạc chặt chẽ với Bộ Tổng Tham Mưu, với Dinh Độc Lập, với cả ông Thiệu… Ông nổi danh từ khi tham gia đảo chánh 1-11-63 thành công, ông rất ít nói… vài người thân cận như Đại Tá Bùi Kim Nguyệt, Đại Tá Trần Phước Dũ, Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy… Gần cuối tháng Tư, ông Cang để cho Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy có HQ Thiếu Tá Phước (Tacoma-WA) đi cùng, thay mặt ông là “con thoi” với ông Dương Văn Minh khi cần..”. Thiếu Tá Phước đã kể lại sau này.
Các chức vụ quan trọng kề cận Tư Lệnh Chung Tấn Cang như: Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển; HQ Đại Tá Nguyễn Xuân Sơn, Tư Lệnh Hạm Đội; HQ Đại Tá Đỗ Kiểm, Tham Mưu Phó Hành Quân BTL-HQ; Đại Tá Luân, Chỉ Huy Trưởng Khối Tiếp Vận; Đại Tá Phạm Mạnh Khuê-tân Tham Mưu Trưởng Hành Quân Biển, thế chỗ Đại Tá Sơn vào ngày chót; Phó Đề Đốc Diệp Quang Thủy, Tham Mưu Trưởng Hải Quân; Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng, Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Sông; Đại Tá Dõng, Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Nhiệm 99. Những cách biệt cá nhân không còn nữa, cuộc di tản mang họ lại gần nhau.
Riêng trường hợp cá nhân tôi, chỉ là một sĩ quan rất trẻ, lúc ấy mang cấp bậc Trung Úy, và phục vụ trong lãnh vực Thông Tin-Báo Chí. Trong ban Thông Tin Báo Chí, tôi là trưởng Tiểu Ban Báo Chí, trong ban còn có ba Thượng Sĩ-Phóng Viên Báo Chí Hải Quân và một Thượng Sĩ-Báo chí (được tu nghiệp từ Hoa Kỳ) nhưng không phải là phóng viên hoặc không có nhiệm vụ viết tin. Tiểu Ban Báo Chí còn có hai đoàn viên và hai nữ nhân viên dân chính. Chúng tôi thuộc Ban Thông Tin BTL/HQ do HQ Trung Úy Nguyễn Tất Ứng là Trường Ban Thông Tin, còn có hai tiểu ban khác nữa, một người bạn cấp bậc Trung Úy là trưởng Tiểu Ban Ấn Loát Hội Họa, có “Thượng Sĩ Tư Cầu” là phụ tá và Vũ Thái Hòa cũng là nhạc sĩ kiêm họa sĩ trong Ban Ấn-Họa, trong ban này có một đoàn viên tên Hào (cùng định cư tại WA) có người anh là nhà văn Đào Vũ Anh Hùng bên KQ. Trung Úy Chương An Hòa là trưởng Tiểu Ban Điện Ảnh, với phụ tá là Thượng Sĩ Sủng chuyên lo về hình chụp, quay phim (rất gần gũi trực tiếp với các vị tư lệnh), tiểu ban này còn có vài đoàn viên phụ tá.
Tôi muốn nhắc đến một chút về sự quan tâm chọn sĩ quan về làm ngành thông tin báo chí, mà Nguyễn Tất Ứng là một thí dụ. Trước 1968, Ứng quen biết và hoạt động với Cha Hoàng Quỳnh, chỉ qua một buổi gặp gỡ sơ giao giữa linh mục Quỳnh và Tư Lệnh Trần Văn Chơn, khi Cha Quỳnh chỉ thộ lộ vô tình: tôi có một giáo dân cũng là sĩ quan HQ có tinh thần cao tên là Nguyễn Tất Ứng… Không ngờ chẳng bao lâu sau, Tư Lệnh Chơn đã đích thân cho tìm ra Ứng, ban hành lệnh thuyên chuyển Trung Úy Ứng về làm thông tin-báo chí.
Đó cũng là trường hợp Trần Trọng Thức. Vì tôi là bạn cùng học với Ứng, nên chúng tôi làm việc chung rất hết lòng. Ứng không lên tầu kịp, phải cùng ở “trại Cải Tạo” chung trại với tôi, Hà Thúc Sinh, Nguyễn Văn Khoa, nhạc sĩ Nguyễn Văn Hóa… khi được thả về: người đi theo đường H.O., người chọn vượt biển… Ứng ở trong số những người theo đường vượt biển, đã cùng với vợ mới cưới cùng chìm sâu… trong lòng biển Đông.
Tôi còn nhớ trong những giây phút hoang mang ấy chúng tôi những người bạn thân quen ngoài Ứng, còn có HQ Trung Úy Phạm Vĩnh Xuân (nhà thơ Hà Thúc Sinh), và HQ Đại Úy Đặng Phú Thiệt (ban Nghiên Cứu Kế Hoạch-và ban Tuyên Vận cùng phòng Tâm Lý Chiến) tốt nghiệp từ Đại Học Chiến Tranh Chính Trị được chính Tư Lệnh Chơn “kéo” về phục vụ trong cùng Khối CTCT Hải Quân.
Gần cuối tháng 4-75, Đặng Phú Thiệt cũng từng bàn với tôi, “mình chiếm đoạt một tầu loại nhỏ càng sớm càng tốt rời Sài Gòn ra đi khi bị bỏ rơi..”,. Thân hơn nữa, tôi còn có HQ Trung Tá Trịnh Tiến Hùng, ông cũng là “cánh tay mặt” của Đại Tá Sơn, sau khi lo cho người thân và nhân viên thuộc cấp, chính ông cũng muốn giúp tôi mang gia đình lên tầu HQ với ông (nếu không có phương tiện di tản nào khác). Sau này tôi được biết ông Hùng thay vì lên Chiến Hạm, đã có phương tiện máy bay đi vào ngày cận chót.
Như phóng viên báo chí Hải Quân-Thượng Sĩ Nguyễn Viết Kim tức nhà văn Người Khăn Trắng, trong ngày 29 tháng 4, nhân việc đi săn tin tức, chở tôi trên chiếc xe Honda đàn ông đỏ của anh, tâm sự với nhau những lời từ giã, vì vợ con anh đã ra Vũng Tầu và chờ ra khơi rồi. Anh đang tìm đường gấp rút ra đi. Chúng tôi nói những lời chia tay từ đó. Trong cơn hỗn loạn ngày 29-4, thế mà tôi còn gặp Nick Út, Lara (ban Báo Chí Gia Long, ở gần Dinh Độc Lập), gặp Đệ, ông Ba Lê, Huỳnh (của các hãng thông tấn Hoa Kỳ)… tất cả đều bối rối… chẳng khác gì tôi.
Như nhà văn Võ Hà Anh, vừa là Thượng Sĩ phóng viên Báo Chí và cũng nổi tiếng thời ấy in nhiều tiểu thuyết tên Dung-Võ Hà Anh, Anh rất chu đáo và tìm xin “giấy” cho anh em “trong phòng” Báo Chí. Chúng tôi, còn có Thượng Sĩ phóng viên Triều Dương, Thượng Sĩ Báo Chí Hà Minh Trung, và cô dân chính Cẩm Vân (học xong năm thứ Tư Công Pháp) để giúp có những giấy tờ lên máy bay đặc biệt do cơ quan DAO cấp “giấy” cho thân nhân người Hoa Kỳ… Vợ chồng nhà văn Dung – Võ Hà Anh, sau vài năm ở lại, lặn lội ngược xuôi rồi cũng định cư tại Pháp.
Như HQ Thiếu Tá Nguyễn Đình Sài, tác giả của vài bài thơ hay, thường cho tôi đọc thời ấy vẫn rất giữ “quân phong quân kỷ” cùng với nhóm sĩ quan BTL-HQ phải vào doanh trại kiểm soát các toán sĩ quan và đoàn viên trực gác canh phòng mỗi đêm cho đến hết những đêm cuối… cho tới giờ lên tầu khuya 29 tháng Tư…
Và chúng tôi vẫn gặp bạn cũ, HQ Đại Úy Lê Rĩnh, sĩ quan tùy viên của Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng (là người chí thiết với Tướng Hoàng Cơ Minh tại vùng Bắc-Mỹ Châu); Nhà thơ Hà Thúc Sinh say mê làm thơ và dịch sách từ đó, là Trung Úy đơn vị Hải Tiếp Vụ trong Hải Quân Công Xưởng. Tuy nhiên Hà Thúc Sinh giống như Võ Hà Anh, Nguyễn Tất Ứng và trường hợp của nhiều người khác, họ cũng không liên lạc được với máy bay của DAO, (dù có chủ đích) nhưng với con số người quân đội cần bốc khỏi Sài Gòn ngày càng tăng, nhiều quân nhân và giới chức Hoa Kỳ vẫn chưa kịp lên máy bay rời Sài Gòn được…
Và dù biết danh sách các địa điểm trực thăng đón và có danh sách được đón đi, tôi cũng chẳng màng “đi qua điểm hẹn, hoặc chờ nghe bài hát White Christmas sẽ phát trên làn sóng phát thanh quân đội Hoa Kỳ”, được cho biết mật từ một tuần trước.. như phóng viên báo chí Thượng Sĩ Võ Hà Anh đã căn dặn, như lời dặn của một cô dân chính (thông dịch viên tại Phòng 2 thuộc Khối Hành Quân) có uy tín và tiếng nói với Phó Đề Đốc Nguyễn Hữu Chí. HQ Đại Úy T. trước từng ở Phòng Hai trước năm 1970, vào khoảng 9 tới 10 giờ sáng 30 tháng 4 trở lại nhìn lại Phòng Hai “vô BTL coi thế nào” theo yêu cầu của Phó Đề Đốc Nghiêm Văn Phú đang đợi ngoài sông Vàm Cỏ. Đại Úy T lái Giang Tốc Đỉnh PBR, về đậu ngay bờ vách trước BTL, về chỉ để từ giã chốn làm việc năm xưa.. Gặp Đại Úy Tạo đang đứng kiểm soát cổng BTL-HQ, vì là bạn thân thiết cho Đại Úy T. biết “theo lệnh nghiêm ngặt của Đại Tá Tấn “nắm quyền” Tư Lệnh HQ, ra lệnh không cho ai vô Cao Ốc Mới” nơi có Phòng Hai, nhưng Đại Úy T (**) đã mãn nguyện trở về, nhìn lại Phòng Hai trong những giờ phút cuối cùng của quân chủng.
Tôi không còn gặp một bạn hữu hoặc nhân viên nào của Phòng Thông-Tin Báo Chí nữa, mỗi người tán loạn mỗi nơi, như phóng viên Hải Quân-Triều Dương, Nguyễn Tất Ứng, Thượng sĩ Hà Minh Trung, Dân Chính Cẩm Vân (nhân viên Dân Chính bị cho nghỉ việc vài ngày trước vì lý do ngân sách Quốc Phòng không còn để trả lương dân chính)…
Đêm 29–4, vào lúc tôi còn bận tìm người thân trong gia đình, tại Bộ Tư Lệnh, sĩ quan và đoàn viên họ gọi nhau ơi ới, mở lối đi về hướng cầu tầu cho quân nhân “Xuống tầu đi kìa, gấp lên tầu rời bến đêm nay...” Chiếc TV được mang ra đặt giữa cổng ra vào từ đêm 21-4, ông Thiệu đọc diễn văn từ chức vẫn chớp hình mà không ai muốn nhìn. Không gian đến rợn người, tôi lại rời BTL, lái xe về nhà với ý định mang gia đình vội vàng xuống chiến hạm ra đi theo bạn bè, đồng đội. Có tin nói rằng dù Bộ Tư Lệnh HQ đã “giải tán” từ 2 giờ chiều, “nhưng quá nửa khuya vị Tư Lệnh Hải Quân mới thực sự cùng trên sông nước hòa mình trong Nhiệm Sở Hải Hành”… theo lời kể lại sau này

7- Chi Tiết Di Tản Của Hải Quân Và Ông Armitage

Lúc này có một sĩ quan liên lạc cấp tốc từ Hoa Thịnh Đốn cử tới là cựu Thiếu Tá Richard Armitage, , cấp tốc đến VN cùng với Thứ Trưởng Quốc Phòng đặc trách về Không Quân, Armitage về Hải Quân trong kế hoạch thu gom chiến cụ và nhân viên HK. Sau này về Mỹ ( thời TT Bush và Bộ Trưởng Powell ông là thứ trưởng Bộ Ngọai Giao), vẫn giao tiếp với người Việt. Đề Đốc Trần Văn Chơn lại có cái nhìn khác, ông nói: “Ai đó đánh bóng tên tuổi ông ta- kệ họ, Armitage chỉ là một sĩ quan liên lạc với Đoàn Chiến Hạm HQVN… không hơn không kém!” Trong khi bản tin tức từ Chiến Hạm USS Kirk viết rằng “Armitage góp công lớn trong việc cho quân nhân và người tị nạn tạm cư tại Phi” trái ngược với lời phát biểu của Đề Đốc Chơn rằng, khi chính quyền Phi ngăn cản, ông đã can thiệp và thuyết phục để Phi Luật Tân dành cho người tị nạn thiện cảm và đón nhận“.
Ai cũng có thể hiểu Armitage đã đóng vai trò theo dõi, đôn đốc cuộc “Di Tản- Lui Binh” êm thắm và “bí ẩn” từ ý muốn của chánh phủ Hoa Kỳ chứ không hẳn là như “phê phán” của Đề Đốc Chơn và Tư Lệnh Chung Tấn Cang.
Chính vậy Phó Đô Đốc Cang từng cho biết: “ông Armitage cũng không làm điều gì to tát và không “tỏ lộ” là “người” có quyền chỉ huy trong cuộc di tản như chúng ta lo ngại”… khi nhắc tới vai trò sĩ quan Hoa Kỳ này.
Đối với chính phủ Hoa Kỳ, có thể ông Armitage lãnh trách vụ trong chiến dịch mang về quân nhân, viên chức Hoa Kỳ và “chiến cụ chiến lược”, liên quan đến Hải Quân Mỹ, hoặc gì tàng trữ bí mật còn sót lại. Toàn thể quân nhân HK tại Sài Gòn lúc ấy chỉ còn khoảng 900 người và chánh phủ HK quan tâm nhất, cần mang ra khỏi VN an toàn càng sớm càng tốt. Và chính ông Armitage được xem là kề cận nhất với Tư Lệnh HQ cho đến quá nửa đêm 29-4 cho đến khi nhập đoàn Hạm Đội…
Riêng Phó Đề Đốc Đinh Mạnh Hùng kể lại: “đã hướng dẫn sĩ quan liên lạc Armitage thăm quan sát vùng cầu Bình Lợi, quan sát khu Quân Cảng và HQCX sau đó đi xuống Chiến Hạm HQ 3 rồi chuyển qua HQ 5, và sau đó đón Tướng Cang và Tướng Diệp Quang Thủy từ một Tiểu Đỉnh lên Soái Hạm, thay vì xuống chiến hạm từ Bộ Tư Lệnh như bao nhiêu người khác để bảo mật vì đã có sự chen lấn ở Bến Tầu.

8- Ai Là Quyền Tư Lệnh Cuối Cùng Trên Đất Liền?

Chiều hôm 29-4-75, Nhóm Báo Chí Hải Quân nhận lệnh theo dõi các diễn biến đi họp tại Tổng Tham Mưu, như lời kêu gọi. Khuya 29 và rạng sáng ngày 30 tháng 4 lại được lệnh từ Đại Tá Tấn, vai trò của nhân vật số 1 của HQ; Đại Tá Tấn cũng mời Phó Đề Đốc Đặng Cao Thăng từ Miền Tây về cùng ông chỉ huy, Tướng Thăng nói “ Chờ tôi lấy trực thăng và sẽ có mặt tại BTL.” Và đến gần trưa 30 tháng 4 vài giờ trước khi Tổng Thống Minh chính thức đọc lời đầu hàng lại có sự “xuất hiện” của Đại Tá Trịnh Xuân Phong, Đại Tá Trần Bình Phú, Trưởng Khối Nhân Viên Bộ Tư Lệnh được Tư Lệnh Cang (hay ông Tấn) chuyển lại quyền chính thức ra mặt, ở lại kiểm soát, chỉ huy Hải Quân?.
Nhiều người gọi ông Đại Tá Tấn là Tư Lệnh cuối tháng Tư, và ông cũng ra lệnh cho vài hạm trưởng trong ngày 29-4- “nhân danh Tư Lệnh” (dù không nói rõ Tư Lệnh tên gì), nhưng không xác định Tư Lệnh là chính ông hay không? Người ta thấy trong ngày 29 tháng Tư, ông Tấn trong quân phục đại lễ HQ, có hai xe Jeep Quân Cảnh hộ tống vào Bộ Tư Lệnh HQ.
Người ta tin rằng Đại Tá Tấn đã được Tổng Thống Dương Văn Minh bổ nhậm bằng khẩu lệnh ngay sau khi biết ý định của Tư Lệnh Hải Quân Chung Tấn Cang xin có kế hoạch di tản. Tổng Thống Minh nói, “Các anh cứ việc đi và cho mang theo hai người thân cũng là sĩ quan cao cấp VNCH”, đồng thời từ chối lên một chiến hạm chuẩn bị chu đáo “dành riêng để nghinh đón Nội Các và di tản các giới lãnh đạo quốc gia”.
Sau 16 năm tù “cải tạo” cay đắng nhục nhằn, xin đi Hoa Kỳ tị nạn, Đại Tá Tấn cho biết có ý định định cư tại thành phố Seattle cùng với Đại Tá Dũ (Cơ Khí), sau đó ông Tấn chuyển về Cali. Khi liên lạc lại được nhau tại Hoa Kỳ, khi tôi hỏi ông “có phải là quyền Tư Lệnh ngày 30-4 không?” Đại Tá Tấn “giữ thái độ yên lặng với quá khứ- trải qua 16 năm tù khổ nhục mà…!” và ông đã xác nhận vai trò của ông vào “chỉ huy giờ phút chót trong nỗ lực tuyệt vọng này là đúng“. Sau vài lần trò chuyện qua điện thoại, ông Tấn cho biết ông không có dịp giao tiếp trong cộng đồng nhiều…
Bấy giờ nhiều cánh quân VC đã vào tới Sài Gòn, xe tăng T-54 đã nghiến lòng đường phố Sài Gòn tới góc đường Đinh Tiên Hoàng, Hiền Vương, Hai Bà Trưng và nhiều nơi khác. Mặt khác đoàn quân CS Bắc Việt cũng trên đường tiến tới ủi xập cổng sắt Dinh Độc Lập (đến chính xác vào khoảng thời gian đã thoả thuận với giới chức Tòa Đại Sứ HK) và họ đòi chánh phủ VNCH phải đầu hàng.
Vài giờ trước đó, HQ Đại Tá Trần Bình Phú, Trưởng Khối Nhân Viên BTL-HQ cũng được các sĩ quan tham mưu và nhân viên có mặt lúc ấy xác nhận ông là người “ra mặt” chỉ huy tại Bộ Tư Lệnh HQ. HQ Trung uý Đỗ Anh Tuấn em vợ của Đại Tá Trần Bình Phú cùng với HQ Trung Tá Phan Ngọc Xuân chỉ huy trưởng Tổng Hành Dinh BTL/HQ tiếp tục cầm súng chỉ huy những vị này và vài sĩ quan, hạ sĩ quan thuộc Khối An Ninh đi theo Đại Tá Tấn là những người cuối cùng tôi gặp và từ giã ở vòng vây rào kẽm gai chằng chịt cản lối ra vào.

9- BTL/HQ Bỏ Ngỏ Từ Lúc Tổng Thống qua Đài Phát Thanh, ban hành lệnh Buông Súng- 
Chờ Bàn Giao

Giờ phút ấy tôi không nghĩ được: phải làm gì, bỏ chạy ra xe về đón gia đình xuống tàu hay loanh quanh vài điểm nào có Trực Thăng “đón”? Không hiểu tại sao giờ phút đó chúng tôi còn đủ bình tĩnh, không sợ pháo kích và T-54 càn nát người và tiến vào vòng rào Hải Quân không chừng. Một trong những người may mắn cuối do ân huệ của Trung Tá Xuân (Tổng Hành Dinh) có cơ hội lên tàu ngày cuối cùng tại Bến Bạch Đằng đó là nhà thơ Du Tử Lê (là đại úy phòng Báo Chí-Tâm Lý Chiến).
Trong giờ phút căng thẳng tôi nghe theo lời yêu cầu của người bạn, chỉ biết Trung Úy Đỗ Anh Tuấn là người bạn tình nguyện trong “Công Tác Y Tế Xã Hội” (COMITA) ở trường Taberd có cả Thiếu Tá Y Sĩ Trần Đức Tường -SĐ Nhẩy Dù. Tuấn nói tôi giúp anh, đứng cùng trong đội ngũ bảo vệ cuối cùng ở Bộ Tư Lệnh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Phú. Tôi làm theo yêu cầu, cho đến khi biết rằng: Thật sự tuyệt vọng rồi, như lời anh Đệ thông tấn viên truyền hình ABC, anh Nick Út của hãng thông tấn AP, hai anh hôm trước đến chia tay tôi tại BTL/HQ và muốn rủ cô em Bình Minh cùng theo anh lên máy bay Hoa Kỳ. Họ đưa tôi bản tin từ tờ New York Times từ ngày 24-4-75 viết về sự thất thủ đã là sự thực không chối cãi được khi viện trợ Hoa Kỳ cho VNCH đã bị ngưng. Chấm dứt bao nhiêu năm sát cánh: với 58,000 người lính Hoa Kỳ tử vong có lúc quân số lính Mỹ ở VN lên tới trên nửa triệu người, cũng như tổng cộng gần 200 tỷ đô la đã tiêu pha cho cuộc chiến tranh VN, với khoảng 500 triệu cho tài khoá năm cuối. Thế mà bản tin những ngày cuối cùng tôi nghe được qua radio cho biết “viện trợ của HK sẽ không bằng hiện kim mà viện trợ bằng thuốc lá-(bán ra tính thành tiền?) dự trù cho tài khoá sau 1975 cũng bị cắt đứt. Hải Quân lúc ấy có quân số trên 40 ngàn chiến sĩ… nhưng viện trợ nay thực sự bị cắt ngang rồi!
“Hãy rời Sài Gòn ngay hôm nay đi – không thể là ngày mai!”. Phóng viên AP, Nick Út, và Đệ của Hệ thống Truyền hình Hoa Kỳ ABC và ông phóng viên Ba Lê của Truyền Hình Nhật NHK cùng nói như vậy. “Đừng để quá muộn!”
Cũng vào gần buổi trưa, Trung Tướng Vĩnh Lộc rời Bộ TTM và Trung Tướng Trần Văn Trung cũng đi vào Bến Bạch Đằng tìm gặp Đại Tá Tấn tìm tầu ra đi như họ đã hẹn nhau trước?. Lúc này thì công trường Bạch Đằng cũng vẫn còn nhiều người chen lấn. Trước đó một giờ, Tiến Sĩ Lê Đình Chi, cùng với gia đình ông có Lê Đình Cẩm, Nguyễn Hữu Phúc (Puyallup-WA), Huyên (Pháp)… là những người thân cũ trên một chiếc xe van đến cổng BTL kiếm chúng tôi tìm đường ra đi, họ gặp được tôi, may mắn nhưng cũng đang vô cùng bối rối, may mắn gặp được Trung Tá Linh chờ cùng đi với họ trên bất cứ chiếc tầu nào đó, nếu giờ phút “thua trận” tan hàng xảy đến.
Về sự kiện rời Bến Bạch Đằng trưa ngày 30-4, HQ Thiếu Tá Tuần Giang Trần Thiện Hiệp sau này khi gặp nhau, thường kể lại: “trong một may mắn bất ngờ sau khi chờ đợi được đi theo cựu Tư Lệnh Trần Văn Chơn, biết ý định của ông Chơn, Hiệp đã nhẩy xuống chiếc LCM Giang Cảnh đậu gần HQCX, nhờ vậy mà có cơ hội mang theo được hai vị tướng Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa vào giờ chót.”. Tướng Trần Văn Trung và Tướng Vĩnh Lộc lúc ấy là Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực đã đến gặp Đại Tá Tấn, báo tin đã có văn thư “tan hàng” của Tổng Thống Minh mà ông có mang theo đây. Trong sự việc này Đại Tá Tấn kể lại với tôi: “chính tôi đã giúp Tướng Vĩnh Lộc Tổng Tham Mưu Trưởng rời Sài Gòn, đúng vào lúc tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay“.
Tướng Vĩnh Lộc trước đó cũng đã từng kêu gọi “giữ vững tay súng”; trước đó Tướng Lộc cũng miệt thị Đại Tướng Viên về hành động đào tẩu. “Nhưng vào sáng ngày 30 tháng Tư, Tướng Vĩnh Lộc đã nhờ Trung Uý Hùng (Quân Cảnh) trên xe Jeep Quân Cảnh hộ tống đưa ông tới Đài Phát Thanh Sài Gòn để (ông) gửi đi thêm một thông điệp mới”. Thay vì tới đài phát thanh, Tướng Lộc đã đổi hướng về phía Bến Chương Dương và chia tay.. ở Bộ Tư Lệnh Hải Quân” theo lời Trung úy Hùng chua chát, kể lại với các bạn tù thời đi tù “cải tạo” Suối Máu. Trong khi đó Đại Tá Tấn thì kể rằng “(hai người đã gặp nhau từ sáng sớm khi họp chung ở TTM); rồi đến trưa có biến cố mới- Tướng Vĩnh Lộc đã đến BTL-HQ tìm đường ra đi, cho biết: “đã có giấy tờ chính thức sẽ bàn giao (đầu hàng) của Đại Tướng Dương Văn Minh“.
Vào sáng ngày này, hệ thống vô tuyến liên lạc nội bộ hành quân có rất nhiều lời gọi tha thiết từ máy của các tướng tá, sĩ quan Bộ Binh thiết tha kêu gọi: “Các anh Hải Quân ơi, chờ chúng tôi đi với, hãy cứu lấy chúng tôi vì phi trường Tân Sơn Nhất cũng đã tan nát rồi. Đâu còn ngã nào để tránh CS đâu? – VC đã vào tới. Hải Quân đừng đi vội, kiên nhẫn chờ cứu chúng tôi.” Hạm Trưởng Hùng (HQ-2) kể lại với lòng ngậm ngùi như dao cắt, sau bao năm đã trôi qua…
* * *
Nhưng bấy giờ là trưa 30 tháng Tư – “quá muộn thật rồi”… Các nẻo đường đã rền tiếng xe tăng T-54, qua Lăng Cha Cả, qua cầu Trương Minh Giảng (có chiếc bị bắn lử bốc cháy cao ngút), T-54 qua Bà Quẹo, có nơi bị Biệt Động Quân và Nhảy Dù chống trả và tiếng đạn pháo kích thi nhau rền vang rất gần, và súng đã cùng với quân phục mũ nón vung vãi chất đống khắp nẻo đường từ BTL/HQ về tới Phú Nhuận nơi tôi đang cư trú tạm để gần với BTL-HQ hơn.
Khác với Đại Tá Tấn có mặt ngày 30-4, rồi ở lại, rồi… đi tù trên 16 năm, Đại Tá Phú cũng xuất hiện như chớp nhoáng từ sáng đến trưa- ngày 30-4; nhưng Đại Tá Phú cùng Trung Úy Tuấn “đã còn kịp rời Bến Bạch Đằng ra biển lớn ngay vào giờ phút ông Minh đọc lời đầu hàng trên radio”. Tuấn đã kể lại cho tôi nghe sau này, khi biết tin anh đã định cư ở miền Đông Hoa Kỳ với gia đình.
Và giờ phút cuối cùng ấy đã đến, đã xảy ra thật. Nhanh chóng như một chợp mắt. Từ đó radio đã nhiều lần đọc lời kêu gọi buông súng và “bàn giao”.
Thôi thế là hết tất cả, không theo tầu di tản về Miền Tây, không ra Phú Quốc, và cũng không được theo tầu ra khơi đi tị nạn. – Thôi… đành thôi.!
Tôi rời Công Trường Bạch Đằng có tượng đài Đức Thánh Trần uy linh, tay chỉ về hướng biển.
Nơi cổng vào Bộ Tư Lệnh, tôi tìm Tuấn, tìm Trung Tá Linh, tìm gia đình các bạn, tìm Tiến Sĩ Lê Đình Chi, sau đó tôi lái xe lách xe qua những tốp người đang hôi của tại khách sạn và căn cứ Mỹ tại các cao ốc xung quanh Bộ Tư Lệnh Hải Quân, để về nhà đón người thân yêu ra đi.
Tôi về thẳng nhà đón gia đình, trở lại Bến Bạch Đằng và chạy tiếp tới Đặc Khu Rừng Sát để tìm tàu rời Sài Gòn, thì bến bờ đã trở thành hoang vắng… Vô phương trong lúc tiếng pháo kích nổ vang đây đó.
Lòng cảm thấy như ông Dương Văn Minh đã mở “Lỗ Lù” (*) của chiến hạm đời tôi…. Lúc ấy tôi cảm thấy như đã quá muộn, tôi như lặng lờ chết chìm, chìm dần… khoan thai xuống lòng biển.
Như từ đáy biển sâu, tôi cầu mong cho vài chục chiến hạm và vài chục ngàn quân nhân và dân chúng miền Nam đi thoát được, khai mở ra những đợt thuyền nhân kế tiếp, Nếu họ không tập trung chiến đấu ở Miền Tây được, thì cũng tiếp tục “Khai phá mở mang bờ cõi sơn hà theo bước chân tiền nhân” bằng hình thức “mang Việt Nam ra khơi tới khắp Năm Châu, tận cuối chân trời và trên toàn cõi địa cầu.”
Phạm Kim
(Bài cập nhật 15-4-2011)

Chú thích:
(*) “Lỗ Lù” : Van đắm tàu , dùng để mở cho nước vào để tự đánh chìm tàu
(**) Một số tên họ nhân vật, loại chiến hạm có thể sai chút ít vì ngày tháng qua đã lâu, dựa trên phỏng vấn một số lời kể khác nhau của các nhân chứng, và một số tên xin ẩn danh, hoặc chỉ dùng tên viết tắt.
(Hình trên đầu bài) Đô Đốc Chung Tấn Cang, cùng với phu nhân và 2 cháu trong ngày sinh nhật của ông, chụp từ tư gia Reachword-Bakerfield CA gần kề HQ Trung Úy Nguyễn Văn Hưng, góp ý cho bài viết và gửi tặng tấm hình do chính ông chọn để đăng trên báo. Đô Đốc Chung Tấn Cang chỉ huy một cuộc di tản: Hy Vọng về Miền Tây- “Tái Phối Trí Hạm Đội-để còn tiếp tục chiến đấu”. Điểm tập họp dự trù là Côn Sơn-tuy thực hiện được- Nhưng tất cả dự tính kế tiếp về Miền Tây (không rõ kế hoạch Tư Lệnh Cang-sẽ chọn đảo nào?- Để từ đó tái phối trí trở về… Mọi dự tính đều không êm xuôi- khi Đoàn Chiến Hạm phải bàn giao, “xóa tên” từng chiến hạm trước khi vào lãnh thổ Phi… Rồi đến “Lễ Hạ Kỳ chung và riêng trên các chiến hạm ” vào trưa ngày 7 tháng 5-75.
“Hy vọng” … không thành!

No comments:

Post a Comment