Tháng
3 năm 1980 bất ngờ tôi gặp lại Hiệp, đúng là quả đất tròn. “Tha hương
ngộ cố tri”. Chuyện tôi gặp lại Hiệp như một sắp xếp của bàn tay vô
hình. Nhưng cuộc hội ngộ
cũng cho tôi nỗi xót xa đến không ngờ. Đúng là mỗi người một mảnh đời
không ai biết trước được.
Sáng
hôm đó như thường lệ 4 giờ sáng tôi đạp xe từ Phú Nhuận đi Chợ Sặt Biên
Hòa mua đậu nành. Qua khỏi ngã tư Thủ Đức thì chiếc dép đứt quai, trời
tối đèn điện lờ mờ,
nhét chiếc dép vào sau ba ga tôi đạp chân không. Đến chợ Sặt tìm đoạn
kẽm cột tạm nhưng dép của tôi quá cũ mỏng như tờ giấy, mới đi vài bước
lại đứt tiếp, thấy tôi loay hoay cột tới cột lui bà “chủ vựa” vừa nói
vừa cười: “mòn cỡ đó mà còn tiếc gì nữa em ơi!
Bỏ mẹ nó mua đôi khác cho rồi”.
Bà
đâu biết tôi chỉ đủ tiền mua 50 kilo đậu nành, còn mấy đồng dằn túi đề
phòng xe dọc đường nên phải đắn đo. Sau cùng tôi nghĩ về tới chợ Lớn 45
cây đạp chân không,
chết chắc! đành phải mua đôi dép nhựa loại rẻ nhất. Vậy là trả tiền cho
bà chủ xong tôi sạch túi.
Tôi
đạp xe chở 50 ký đậu trên đường về đến ngã ba “xa lộ Đại Hàn” thì bánh
xe sau bị xì, với tôi lúc đó là một tai họa. Nhìn xuống thấy bánh xe xẹp
lép tôi chết điếng
người, trong túi không còn dù chỉ một đồng, tiền đâu vá xe? Tôi thầm
nghĩ sao hôm nay gặp toàn chuyện xui vậy trời? “Họa vô đơn chí” khi sáng
đứt dép bây giờ lại xì bánh xe.
Tôi hạ bao đậu xuống lề đường, bối rối không biết giải quyết thế nào? Tiền đâu vá xe bây giờ? bí lối chỉ biết kêu trời!
Nhìn
về hướng Sài Gòn, cách chừng hơn trăm mét bên lề đường một người sửa xe
đạp đang ngồi trong lều nhỏ che nắng bằng tấm nylon. Không còn cách nào
khác cứ dắt xe đến
rồi tính sau, chưa biết phải mở lời nói sao để người ta cho thiếu nợ
ngày mai tôi sẽ trả.
Dựng
xe tôi đến trước lều, người sửa xe mặc áo lính quay mặt vào trong đang
lục tìm trong thùng đồ nghề. Tôi lấy nón vải lau mồ hôi lên tiếng gọi:
“Anh ơi!”. Người thợ
nghoảnh mặt ra: “Có tôi đây”. Tôi ngỡ ngàng kêu lên: “Trời ơi! Hiệp có
phải không?”. Anh cũng mở to mắt ngạc nhiên: “Ủa, mầy hả Tiến?”. Hiệp
xoay người ra trên cái đòn ghế, tôi rụng rời xót xa, Hiệp cụt cả hai
chân đến nửa dùi. Hai đứa mừng quá bắt tay nhau,
tôi xúc động chưa biết nói gì. Hiệp chỉ chiếc ghế thấp:
- Ngồi đi mày... tao lấy nước uống rồi chuyện gì nói sau.
Hiệp xoay người trên chiếc đòn ghế lấy ca nhỏ rót nước từ bi đông quân đội, vừa hỏi:
- Mày vào đây khi nào, bây giờ ở đâu?
Hai đứa tóm tắt hoàn cảnh hiện tại của nhau. Hiệp nói:
-
Chuyện còn dài. Bây giờ trước hết mày đem bao đậu đến đây để mấy thằng
quản lý thị trường nó “đớp” là hết vốn... vác nổi không? chân cẳng tao
làm sao giúp mầy được?”.
Tôi chui ra khỏi lều: “Ông cứ để mình”.
Bây
giờ lại thấy trong cái rủi có cái may, nếu xe không xẹp bánh thì tôi
đâu gặp lại người bạn trong cảnh tha hương giữa đất miền nam mênh mông
trong hoàn cảnh nầy.
Tôi
và Hiệp cùng học lớp Đệ Thất 4 ở trường Trần Quốc Tuấn Quảng Ngãi.
Nhưng Hiệp lớn hơn tôi đến ba tuổi, năm vào Đệ Thất tôi mới mười hai còn
nhỏ xíu, mà Hiệp thì đã
mười lăm cao lớn nhất lớp, đang thời kỳ trổ mã đẹp trai, mặt đã có mụn
trứng cá và giọng nói khàn khàn như vịt đực. Tính tình nghịch ngợm, hay
chọc phá bọn con gái (lúc đó QN chưa có trường Nữ Trung Học). Nghịch
nhất lớp mà học thì cũng loại siêu hạng. Hiệp
thông minh học giỏi đều các môn, mỗi lần Cô Hy (vợ thầy hiệu trưởng Hà
Như Hy) kêu nó đứng lên đọc Pháp văn là cả lớp im lặng như tờ lắng nghe,
nó đọc hay như Tây. Xếp vị thứ hàng tháng, thi lục cá nguyệt, đến tổng
kết cuối năm, không đứa nào dành ngôi số
một của nó. Mới Đệ Thất mà “cu cậu” đã biết khiêu vũ, chơi dàn Guitar,
mandolin. Tới giờ dạy nhạc thầy Trần Quang Ngọc thường bảo nó đàn cho cả
lớp nghe. Nói chung là cùng lớp Đệ Thất nhưng Hiệp trưởng thành hơn bọn
tôi.
Hiệp
học giỏi có tiếng, kết quả học tập là một kỳ tích. Nó chỉ chung lớp với
bọn tôi đến năm Đệ Ngũ, bỏ Đệ Tứ làm đơn thi trung học Đệ Nhất Cấp, thi
đậu qua trường Chấn
Hưng học Đệ Tam học luôn chương trình Đệ Nhị, thi Bán Phần đậu bình
thứ, lại trở vào Trần Quốc Tuấn học Đệ Nhất và kỳ thi Toàn phần đậu Bình
nữa mới ghê. Hiệp học nhảy hai lớp nên khi bọn tôi mới hết Đệ Tam, nó
đã đậu xong Tú Tài toàn phần.
Hiệp
nộp đơn vào Quốc Gia Hành Chánh. Còn đúng một tuần nữa đến ngày thi,
chuẩn bị hành lý vào Sài Gòn thì tai họa ập xuống. Trong một chuyến công
tác ở Mộ Đức trở về
đi qua Mỏ Cày cha nó bị Việt Cọng ám sát, ông chết vì một viên đạn AK
xuyên qua tim.
Hiệp
bỏ thi, còn tinh thần đâu mà học? Bọn tôi đến nhà thăm nhưng nó cứ nằm
khóc vùi, mặt mày bơ phờ. Trần Quang Hiệp thông minh giỏi giang miệng
mồm tía lia biến mất,
nó xác xơ tiều tụy.
Bạn
bè đứa nào cũng tiếc cho Hiệp, con đường học vấn đang thênh thang rộng
mở. Phải nói Hiệp là một tài năng hiếm có, năm Đệ Tam bọn tôi hay đến
nhà hỏi bài, Hiệp giảng
hay và dễ hiểu hơn giáo sư ở lớp. Nó mang hoài bão lớn, có lý tưởng rõ
ràng, đã vạch cho mình hướng đi nên chọn Quốc Gia Hành Chánh.
Nhưng
cái chết của cha làm Hiệp chuyển hướng, cuối năm 1967 nó nộp đơn vào
khóa 24 Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Bốn năm học ở Đà Lạt Hiệp ít về
Quảng Ngãi, ra trường
lại về Biệt Động Quân ở Quân Khu Hai trên cao nguyên. Thỉnh thoảng chỉ
biết tin tức qua bạn bè.
Hiệp
vô Đà Lạt, bọn tôi hai năm sau mới xong Tú Tài toàn phần. Sau đó cũng
tứ tán bốn phương, đứa vào đại học, thằng nào hết hạn hoãn dịch thì vào
quân đội, đứa vào sư
phạm Qui Nhơn, Đứa Cán Sự Y Tế Huế. Mỗi người một mảnh đời nổi trôi
theo vận nước.
Tôi
nhập ngũ khóa 5/70 Thủ Đức, rồi học căn bản pháo binh ở Dục Mỹ, ra
trường về tiểu đoàn 20 pháo binh. Suốt hai năm đi đề lô cho các tiểu
đoàn Biệt Động Quân, Trinh
Sát, Chiến Xa, Thiết Giáp, vào sinh ra tử đánh đấm tưng bừng. Trong
vòng ba năm bạn bè tôi tử trận gần hết. Đến trung tuần tháng 3 năm 1973
tôi rời Tiểu Đoàn 20 pháo binh thuyên chuyển về làm Trung đội trưởng
trung đội 109 pháo binh lãnh thổ Quảng Ngãi.
Tháng
10 năm 1974 từ Bình Sơn về họp với ban chỉ huy pháo binh tiểu khu Quảng
Ngãi. Trưa hôm đó tôi mời Đại úy Tùng Chỉ Huy Phó và Trung úy Ba Trung
đội trưởng 111 ăn
cơm ở Bắc Hải. Tiệm đông khách nên không để ý đến ai. Ăn xong tôi vào
quày thanh toán tiền. Lúc trở ra mới được mấy bước có tiếng hỏi: “Phải
mầy không Tiến?”. Một ông Đại úy Biệt Động Quân đang ngoảnh lên nhìn tôi
mỉn cười, ngồi cạnh là một cô gái đẹp. Phản
xạ tự nhiên tôi đưa tay chào kính, cũng trong khoảnh khắc tôi nhận ra
Trần Quang Hiệp. Bất ngờ vì trước mặt tôi không phải là Hiệp mảnh khảnh
trắng trẻo thư sinh của bảy năm trước ngày bọn tôi tiễn thằng Hiệp 20
tuổi vào trường Võ Bị. Mà là một ông Đại úy
Biệt Động Quân đồ trận hoa rừng, ba bông mai đen trên ve áo với bộ ria
mép đen rậm, đẹp trai vóc dáng phong trần.
Hiệp bắt tay tôi giới thiệu với cô gái. Nó quay qua: “Ngọc, người yêu của tao”. Tôi “Chào chị”. Hiệp cười.
Mới
đó mà đã bảy năm, gặp lại hai đứa đều mặc áo lính. Hoàn cảnh chiến
tranh mỗi đứa một chiến trường nên không gặp nhau. Bọn tôi hỏi thông tin
về bạn bè, đứa còn đứa
mất. Hiệp đang là sĩ quan phòng Ba của bộ chỉ huy Biệt Động Quân quân
khu Hai. Nghỉ mấy ngày phép về thăm mẹ. Đó là lần đầu tiên cũng là lần
duy nhất bọn tôi gặp lại từ khi Hiệp vào Võ Bị.
Hiệp
lên lại cao nguyên, tôi về đơn vị ở Bình Sơn. Tình hình đất nước biến
chuyển xấu do sự cắt giảm quân viện của Hoa Kỳ theo tinh thần hiệp định
Paris. Tình trạng tiếp
liệu của toàn quân đội bế tắc thê thảm, đạn dược thiếu hụt. Đến cuối
năm 1974 đạn tồn kho cạn kiệt, Pin PRC 25 trực tác xạ không còn. Tôi
được lệnh chỉ bắn một đến hai quả cho mỗi lần quân bạn chạm địch. Bao
nhiêu công điện xin tiếp tế tôi gởi đi đều được
trả lời là: “Đợi”. Bộ binh chiến đấu đơn độc ngoài chiến trường vì
không còn hỏa lực yểm trợ. Trong khi ngược lại, việt cọng được Nga Sô,
Trung Cọng gia tăng viện trợ tối đa toàn vũ khí tối tân hạng nặng áp
đảo. Ưu thế quân sự dần nghiêng về phía cọng sản
bắc việt.
Thế
rồi Việt Nam Cọng Hòa sụp đổ, tôi lăn lóc qua nhiều nhà tù trong nhiều
năm. Ra tù thêm bản án quản chế, tôi tất bật mưu sinh trong đói rách tả
tơi.
Đầu
năm 1980 tôi bỏ Quảng Ngãi vào Sài Gòn tá túc nhà người quen ở Phú
Nhuận tìm cách mưu sinh. Thấy tôi nghèo không nghề nghiệp, bà chị sát
vách cho mượn tủ thuốc lá
nhỏ, tôi bê ra ngã tư Phú Nhuận ngồi từ sáng đến khuya, cả tuần lễ bán
lẻ được năm điếu Samit, hai gói rưỡi thuốc Hoa Mai. Thất bại tôi chuyển
qua đi bỏ sữa cho quán cà phê, bỏ 6 lon chỉ lấy tiền được bốn, còn hai
lon chủ quán không trả tiền, khi tôi đến hỏi
lần thứ ba lại lên tiếng lớn, còn cho tôi một tát tai nổ đôm đốm, rồi
đuổi ra vì chê sữa cũ đặc quá làm họ mất khách. Vậy là tôi mất vốn. Đang
tính chuyện đạp xích lô thì có người mách đi chợ Sặt mua đậu nành về bỏ
ở chợ lớn.
Thế
là cứ 4 giờ sáng tôi thức dậy đạp xe ra chợ Sặt Biên Hòa hơn 40 cây số,
chở bao đậu 50 ký về chợ Lớn, đoạn về phải 45 cây, như vậy trong ngày
vừa đi về tôi đạp xe
gần 100 cây số. Nhưng tiền lời chỉ tương đương 2 ký gạo cho mỗi chuyến.
Mà tôi đạp xe trong tình trạng nhịn đói từ 4 giờ sáng đến 5 giờ chiều
trở về nhà mới ăn bữa cơm duy nhất. Tôi cũng tiết kiệm không dám uống
nước dọc đường, cứ đến “vựa” uống đầy bụng,
về chợ Lớn thì xin nước nơi bán hàng, cho nên đi mấy ngày là tôi ốm
nhom. Sợ nhất là đoạn trở về đèo 50 ký mà còn lên cái dốc Thủ Đức, nên
người rã rời nhưng không còn cách nào khác.
---------------------
Hôm đó tôi và Trần Quang Hiệp ngồi tâm sự, đến 8 giờ tối mới đèo bao đậu đến chợ Lớn, bán xong về tới nhà là 10 giờ đêm.
Từ
lúc tạm biệt Hiệp lòng tôi ngổn ngang nỗi buồn tê tái. Một thời binh lửa
đã đi qua, nhưng vết thương vẫn hằn sâu nhức buốt trong tâm hồn những
người lính như bọn tôi.
Dù
tôi và Hiệp còn rất trẻ đang tuổi thanh niên. Đã từng xông pha nơi chiến
trường máu lửa, đã bao lần bước vào cửa chết để tìm ra đường sống.
Nhưng hai đứa đã nghẹn
lời khi kể nhau nghe những bi kịch về đoạn đời của mình sau ngày phần
đất tự do đã mất.
Hiệp
nói: “Tao tin vào định mệnh. Mỗi người một số phận không ai biết trước
cuộc đời mình sẽ ra sao? Nếu việt cọng không giết “ông già” thì tao đâu
vào Võ Bị? Rồi nếu
không ở quân đội tao đâu gặp Ngọc? Cuộc sống vốn nhiều những sự tình
cờ, tình cờ bọn mình gặp nhau, tình cờ tao vào quân đội, và gặp Ngọc
cũng là một tình cờ”.
Ngọc
quê Quảng Ngãi, tốt nghiệp đại học sư phạm Huế lên dạy ở Pleiku. Ngọc
dạy cùng trường với vợ Trung úy Kha ban Ba tiểu đoàn. Họ gặp nhau trong
một bữa cơm gia đình
ở nhà Kha. Không hiểu sao anh Trung úy đại đội trưởng trinh sát Trần
Quang Hiệp gan lì nơi trận mạc. Về thành phố có tiếng hào hoa, đẹp trai,
miệng mồm như tép nhảy, thế mà tự nhiên ít nói, lừng khừng như thằng
“ngố” bị lãng tai. Ngọc đẹp, hiền lành lại đồng
hương gặp nhau nơi cao nguyên nắng bụi mưa bùn, thế là họ yêu nhau.
Từ
ngày yêu Hiệp, Ngọc sống trong lo âu đợi chờ, mà Hiệp thì miệt mài say
mê chiến trận. Những địa danh Chưpa, Dakto, Tân Cảnh, Kiến Đức,
Pleime... Trận nào cũng ác liệc
một còn một mất với quân thù. Sau hai tuần vắng mặt Hiệp trở về với một
cánh tay quấn băng trắng loang lỗ máu tươi treo trước ngực, thấy Ngọc
rưng rưng Hiệp mỉn cười: “Nhằm nhò gì ba cái lẻ tẻ”, vết thương chưa
lành lại đòi ra đơn vị với anh em. Rồi Ngọc khóc
ngất khi thân thể Hiệp bê bết máu, mê man trong phòng hồi sinh ở Quân Y
Viện Pleiku, sau ba tháng điều trị không cần tái khám lại nhất định lên
đường. Và bao nhiêu lần trở về trên băng ca chân tay mình mẩy lại băng
bông máu me thấm đỏ. Ngọc phải nhờ bạn bè
dạy thế để săn sóc chăm nom. Và Hiệp luôn dấu gia đình nhất định không
cho mẹ biết tin.
Chuyện
tình của anh quân nhân Biệt Động và cô giáo ngọt ngào như một bài thơ
hay. Sau những cuộc hành quân trở về họ sánh vai trên đường phố Pleiku,
cả hai đều đẹp. Rồi
những buổi hẹn hò, những chiều tiễn đưa. Phố núi Pleiku là cõi “thiên
đàng” của những người đang yêu nhau. Nhưng chuyện đời không phải lúc nào
cũng xuôi chèo mát mái như mơ tưởng.
Ngày tôi gặp hai người ở Bắc Hải chính là ngày định mệnh, chuyện tình của Hiệp qua một ngã rẽ khác.
Trước
đó một tháng Hiệp thưa với mẹ chuyện hôn nhân, và cho biết thông tin về
Ngọc: “Nhà ở Đức Phổ, Cha chết đã lâu chỉ còn mẹ già sống với người con
gái lớn...”. Nỗi
vui mừng dâng tràn, niềm ước mong bao năm là thấy mặt con dâu bây giờ
mới đạt được. Mẹ đôn đáo lo toan, báo cho chú Hiếu biết, cùng mấy người
bà con, tìm thông tin về gia đình Ngọc và chuẩn bị đến lễ cau trầu.
Một
tối mẹ đang ngồi tính chuyện sắm lễ vật, những ai sẽ là họ hàng đến nhà
gái, thì chú Hiếu của Hiệp làm cảnh sát “đặc biệt” ở Quảng Ngãi, người
sẽ đại diện nhà trai
trong lễ đính hôn xuất hiện với vẻ ưu tư. Ngồi lặng yên hồi lâu, thoáng
buồn ông nói: “Chị Hai, cha con Ngọc không phải chết mà là tập kết, đã
hồi kết từ năm 1968 từng hoạt động ở Quảng Nam, mới đổi vùng từ 1973,
địa bàn hoạt động hiện tại ở nam Quảng Ngãi,
là cán bộ cấp tỉnh, và y đã có móc nối với gia đình... Em đã xem và
nghiên cứu kỹ hồ sơ. Phải cho thằng Hiệp biết ngay không chậm trễ
được...”.
Hiệp
hốt hoảng khi cầm bức điện tín: “Mẹ đau nặng con về gấp”. Không biết
bệnh mẹ nặng nhẹ thế nào? Thôi cứ đem Ngọc cùng về để mẹ biết mặt con
dâu. Hiệp gọi thầm: “Mẹ
ơi đợi con về”.
Phải đợi hai ngày mới có chuyến bay về Chu Lai, Hiệp đưa Ngọc về nhà. Mặt mẹ đầm đìa nước mắt khi Hiệp ôm bờ vai gầy của mẹ.
Ngọc
e dè ngồi vào ghế sát tường. Hiệp theo xuống nhà sau vào phòng của mẹ.
Ngồi xuống giường mẹ hỏi nhỏ: “Hiệp... con có biết cha con Ngọc làm gì
không?”. “Cha nó chết
lâu rồi mà mẹ”. “Không... nó dấu con, cha nó là việt cọng, đang hoạt
động ở Đức Phổ...” mẹ cho biết thêm những thông tin điều tra của chú
Hiếu, cùng sự xác nhận của những người quen.
Như
nhát búa tạ vừa đập vào ngực Hiệp bật ngửa ra giường hai tay dang rộng
nhìn lên trần nhà. Hiệp không nghi ngờ gì kết luận của chú Hiếu. Hiệp ăn
năn sự hời hợt chết
người của mình, tại sao không cho gia đình biết từ đầu? Một sai lầm
không đáng có.
Trong
đầu Hiệp hiện lên: Vậy là lâu nay mình đã bị kẻ thù giăng bẫy? Không
ngờ cô ta lại đóng kịch hay đến thế? Cảm giác sợ hãi. Hiệp cố nhớ lại có
bao giờ cô ta hỏi
điều gì về lãnh vực quân sự chưa? Hay có khi nào mình sơ suất tiết lộ
chuyện gì không? Thời gian hai năm làm sao nhớ hết? Người yêu khoảnh
khắc thành kẻ thù hai bờ chiến tuyến. Rõ ràng mình với cô ta là hai
đường thẳng song song. Không bao giờ!
Căn
phòng yên lặng. Hiệp ngồi dậy gục mặt vào vai mẹ: “Mẹ ơi! Con có lỗi
với cha mẹ... con sẽ tự giải quyết... Mẹ chuyển lời xin lỗi của con đến
chú Hiếu. Con hứa không
làm gì sai trái với gia đình... Con sẽ liên lạc xin tàu ngày mai trở
lại đơn vị. Nếu mấy hôm nữa Ngọc đến tìm, mẹ cứ nói con đã đi và tuyệt
đối không tiết lộ gì thêm”.
Vào
Bắc Hải ăn cơm xong, Hiệp nói với Ngọc là chiều nay nhà có khách, các
cô chú tập trung bàn chuyện đám cưới, để tránh khó xử Ngọc về Đức Phổ
thăm mẹ, ngày mai Hiệp
sẽ vào đón...
Sáng
hôm sau Hiệp bay lên Pleiku, và hai mgày sau Phòng Ba đưa Hiệp ra thay
cho một Tiểu Đoàn Phó vừa bị thương, đơn vị đang hành quân ở Kontum. Đến
ngày thứ năm khi
dẫn hai đại đội ra khỏi khu rừng đến một đồi tranh, cho dàn quân bố trí
xong, lúc tiến lên quan sát mục tiêu Hiệp dẫm phải quả mìn cá nhân lớn,
một tia lửa sáng lòa tiếp theo tiếng nổ rền rung chuyển. Hiệp không còn
biết gì nữa.
Ra
khỏi phòng hậu phẫu ba ngày sau tỉnh lại Hiệp lờ mờ cảm giác khác lạ,
người nặng nề râm rang đau nhức, đầu óc bồng bềnh, tay chân không co
duỗi được. Hồi lâu Hiệp
mới biết hai tay bị cột chặt vào cạnh giường, dây chuyền máu, chuyền
nước biển chằng chịt tê cứng người. Dần dần Hiệp biết mình bị mất đôi
chân, phải giải phẩu lấy mảnh ở tay, đầu và bụng qua lời của một bác sĩ
mà Hiệp nghe trong trạng thái mơ màng nửa tỉnh
nửa mê.
Bảy
ngày sau Hiệp mới hoàn toàn nhận biết đang ở Quân Y Viện Pleiku. Vừa mở
mắt thấy Ngọc ngồi cạnh giường mặt bơ phờ, đáp lại thái độ vồ vập nghẹn
ngào gọi tên mình,
Hiệp nhắm mắt im lặng, cố nhớ những gì đã xảy ra.
Chiều
hôm đó Đại úy Kha cùng vợ vào thăm, sau khi yêu cầu tất cả ra ngoài.
Hiệp cố gắng tóm tắt những thông tin về Ngọc, nhờ Kha vận động để mình
được chuyển về Tổng
Y Viện Cọng Hòa trong thời hạn sớm nhất. Đại úy Kha đồng ý và ủng hộ
hướng giải quyết của Hiệp. Hôm sau có chuyến bay Hiệp được chuyển về
Tổng Y Viện Cọng Hòa.
Tiếng
khóc của mẹ làm Hiệp cảm giác xót buốt như nhát dao cắt vào từng đoạn
ruột. Bên mẹ Hiệp thấy bớt cô đơn, suốt ngày loay hoay chăm sóc rửa lau,
an ủi nói chuyện
để Hiệp khuây khỏa nỗi buồn.
Ngọc
đến Tổng Y Viện Cọng Hòa ba lần với dáng vẻ tiều tụy. Hiệp nói với Ngọc
mình tàn phế nên không muốn cô bị ràng buộc vào đời một phế nhân, và
xin lỗi là lâu nay mình
đã lừa dối chứ không yêu thương gì. Bao nhiêu nước mắt của Ngọc cũng
không làm Hiệp lay chuyển.
Từ
đó tuần nào cũng có một lá thư của Ngọc từ Pleiku, lá thư đầu tiên đến
lá cuối cùng Hiệp chưa bao giờ mở ra, cũng không cần biết nàng viết
những gì cứ bảo mẹ đốt bỏ.
Tình
hình chiến sự diễn biến mau lẹ sau khi mất Phước Long, rồi Quân Đoàn
Hai rút bỏ Pleiku, Quân Khu Một di tản, những tin tức xấu từ các chiến
trường cứ dồn dập bay
về.
Thế rồi khi hai chân còn rỉ máu, những vết mổ chưa liền da, chưa tự ngồi dậy được, thì biến cố 30 tháng 4.
Có
mặt ở Tổng Y Viện nên Hiệp tận mắt chứng kiến số phận bi thảm của anh em
thương binh Việt Nam Cọng Hòa trước sự tàn nhẫn vô độ của quân việt
cọng.
Một
bọn người nón cối dép râu ăn bận lượm thượm, mặt mày hung dữ đằng đằng
sát khí xông vào, súng AK đạn lên nòng gắn lưỡi lê chỉa vào những người
thương binh đang nằm
trên giường, đập đánh chửi rủa xua đuổi bằng lời thô tục đầy hận thù.
Những người thương binh què cụt bông băng đỏ ối máu tươi, xương tay chân
còn bó nệp không tự mình ngồi dậy được đã bị đạp rơi xuống sàn nhà mà
không dám kêu la. Bao nhiêu người không thể
tự mình rời khỏi giường, bị báng súng nện vào lưng, có người phản ứng
lại bị đánh tới tấp bằng gậy, bằng bất cứ vật gì chúng vớ được chung
quanh.
Máu
căm hờn dâng lên đỉnh đầu. Hiệp cắn răng nghe nhịp tim dồn dập, đầu óc
quây mòng mòng mồ hôi toát ra và hai tay run rẩy không còn tự chủ. Khó
khăn lắm mẹ mới xốc
Hiệp lên chiếc xe lăn hối hả đẩy ra sân. Trước mắt Hiệp kẻ lết người
bò, kẻ xe lăn người chống nạng, có người một tay đỡ đùm ruột trong bao
nilon, một tay cầm bịch máu thất thểu mặt còn nhăn nhó đớn đau. Một dòng
người què quặt, máu me lang thang trên đường
vật vờ như những bóng ma.
Cuộc
chiến ghê gớm nhất hai mươi năm chấm dứt một cách dễ dàng, kẻ chiến
thắng cũng ngỡ ngàng, người chiến bại thì vẫn không tin là sự thật. Sau
những hối hả ngược xuôi
tìm đường trốn chạy, ngày 30 tháng tư đi qua. Sài Gòn là một thành phố
chết, phố xá đóng cửa, nhìn đâu cũng toàn màu đỏ của cờ xí, biểu ngữ.
Mọi sinh hoạt đều ngưng đọng đợi chờ chính sách của người chủ mới. Không
khí khủng bố chết chóc bao trùm xuống miền
nam. Mọi sinh hoạt của Sài Gòn bị tê liệt.
Phe
chiến thắng chia nhau chiến lợi phẩm, họ chiếm đoạt những kho tàng, nhà
máy. Những người lạ từ đâu dọn vào các biệt thự, nhà phố. Từng đoàn xe
nối đuôi hướng về phương
bắc chất đầy máy móc hàng hóa.
Hai
mẹ con về tá túc nhà cậu Ba ở Tân Bình. Hiệp nằm vùi trên giường như
người đã chết, không cần biết những gì đang xảy ra chung quanh. Thiếu
thuốc, mẹ rửa bằng nước
muối hai vết cắt ở chân làm độc đau nhức, nhưng cái đau của thân xác
không sánh bằng cảm giác tả tơi xót buốt như dao cắt bởi tuyệt vọng.
Hiệp như rơi xuống một hố thẳm không đáy chẳng biết bám vào đâu?
Những
khi thức giấc thực tế hiển hiện như một cơn ác mộng hãi hùng, Hiệp kinh
hoàng nhận ra rằng đang đối diện với sự thật. Quốc Gia không còn, việt
cọng đã thắng, lịch
sử đã sang trang. Mình là kẻ chiến bại, một niềm đau đớn dâng lên ngập
lòng, mắt cay cay như ai thổi muối ớt vào mặt. Hình ảnh bao anh em đồng
đội ngã gục chết tức tưởi hôm nào lại trở về trong tâm tưởng, những
người lính đã hiến thân để xây nên một huyền
sử não nùng! Bây giờ có giọt nước mắt nào rơi xuống tiếc thương cho
người lính hay không? Hiệp nhớ những đồng đội đã nằm lại chiến trường,
những anh em Đại đội Trinh Sát của mình đã chết trong những trận đánh
dành từng ngọn đồi. Nhớ bao người lính đã gục xuống
để chiếm lại từng tấc đất nơi những địa danh đã đi vào quân sử: Dacto,
Tân Cảnh, Đức Lập, Kiến Đức, Pleime... Xương máu nào đã đổ xuống đem sự
yên vui cho mọi người, cho một đất nước đầy tai ương? Bạn bè bao nhiêu
người còn sống? Bao nhiêu người đã chết, hy
sinh trong cuộc chiến giờ nầy linh hồn họ có tủi hờn gì không?
Những
ý nghĩ cứ liên tục hiện ra trong tâm tưởng, như ngọn đèn dầu bùng lên
chút ánh sáng cuối cùng trước khi phụt tắt. Một luồng máu nóng lan ra
khắp đỉnh đầu, tim thắt
lại, mắt hoa lên trong giây phút nghiệt ngã tận cùng. Hiệp thở dài:
Ngày đã đi qua, bóng đêm đang tới. Lịch sử đã sang trang.
Nước
mất nhà tan, chú Hiếu bị bắt và đưa đi mất tích như số phận của hàng
trăm người ở quê nhà. Năm 1979 mẹ qua đời sau cơn bạo bệnh mà không có
thuốc men. Hiệp bơ vơ.
Chính
quyền “cách mạng” lùa dân Sài Gòn đi kinh tế mới. Ngày nào cũng có
người đến gõ cửa. Từng lớp người bị đưa lên rừng phá rẫy tìm đất canh
tác.
Cậu
Ba có miếng đất gần làng đại học cũ ở Thủ Đức, thằng Tâm con lớn của
cậu rủ anh Hiệp ra đó làm nghề chăn nuôi. Hiệp theo nó tìm đường sống.
Làm thời gian thấy chân
cẳng di chuyển khó khăn không giúp được gì cho em. Sau nhiều đêm suy
nghĩ thế là Hiệp thành anh thợ sửa xe.
Từ
hôm gặp lại Hiệp, tôi ghé lại đến 10 giờ đêm mới về tới nhà. Hai đứa có
nhiều chuyện để nói: chuyện xưa, chuyện nay, chuyện bạn bè, chuyện học
hành, chuyện lính tráng
trận mạc, chuyện đứa chết, chuyện thằng sống.
Hiệp
nói một người bà con ở Quảng Ngãi vào ghé thăm cho biết thông tin về cô
giáo Ngọc: “Sau tháng tư 1975 cha cô Ngọc xuất hiện làm cán bộ lớn, và
với lệnh của ông hàng
trăm viên chức địa phương chế độ cũ, một số đã bị hành quyết, một số
bắt đi đến nay không thấy trở về. Ngọc được cha đưa lên làm cán bộ giáo
dục ở tỉnh nhưng cô từ chối. Và nghe nói cô giáo Ngọc tuy có được móc
nối nhưng không nhận công tác nào như suy đoán
trước đây.
Sau
30 tháng tư 1975 Ngọc ra Quảng Ngãi thấy nhà mẹ Hiệp đóng cửa, người
láng giềng cho hay bà đã vào Sài Gòn trước ngày “giải phóng” nuôi con
trai bị thương chưa về.
Cô hỏi địa chỉ của Hiệp ở Sài Gòn nhưng không ai biết. Sau đó Ngọc vào
Sài Gòn nhờ người quen dò tìm tin tức Hiệp cả tháng trời nhưng không kết
quả. Thất vọng về lại Quảng Ngãi cô bệnh nặng, hình hài tiều tụy thần
sắc bơ phờ như người mất trí. Chuyện cô giáo
Ngọc con gia đình “cách mạng” thất tình anh Đại úy Biệt Động Quân được
người ta xầm xì bàn tán. Cha cô nổi trận lôi đình chống đối quyết liệc,
lên án con gái ăn phải bơ thừa sữa cặn của đế quốc, bị tay sai “mỹ ngụy”
đầu độc quyến rũ, chống phá “cách mạng”
và đòi đưa cô đi tù.
Ngọc
không còn đi dạy, năm 1976 cô bỏ nhà đi tu trong một ngôi chùa ở Đà
Lạt. Chuyện cô vào chùa cũng làm ông giận dữ trong một thời gian dài.
Sau đó nghe nói chuyện
gia đình cũng không vui vẻ gì vì ông đã có vợ con ngoài bắc trước khi
hồi kết.
Tôi hỏi: “Vậy ông có hối hận gì không?”. Hiệp nhìn tôi cười chua chát: “Không lẽ tao kêu một tên việt cọng bằng cha?
Nhìn
Hiệp xoay trở trên cái đòn ghế cặm cụi cào vá, đục gõ, hai bàn tay đen
thui dầu nhớt, mồ hôi ròng ròng lòng tôi dâng lên nỗi buồn, dù bản thân
tôi cũng đang làm
một thằng cu ly hạng bét, tôi nói cảm nghĩ đó ra, nó cười: “Mầy nhớ câu
thơ của Lý Bạch không?... “Xứ thế nhược đại mộng!... cuộc đời là một
giấc mộng lớn mà”.
Từ
khi gặp lại cùng chung tâm trạng nên hai đứa tôi càng thương quí nhau,
những suy nghĩ vui buồn đều san sẻ. Mỗi khi ghé lại tôi bôm hơi thử
ruột, cào vá cho khách,
làm những việc gì có thể, trong khi nó loay hoay siết vặn đục gõ. Vài
ba hôm Hiệp lôi xe tôi vào tu sửa, vặn ốc, bỏ mỡ nhỏ dầu rồi nói: “Mầy
đi xa chở nặng xe mau hư, tiền lời không đủ sửa đâu!”, Hiệp góp ý nên
tìm việc khác.
Công
việc chở đậu của tôi cũng thưa dần vì đuối sức. Thật ra tôi đã nản ngay
từ đầu vì đường xa mà lời thì ít quá, lại thêm chân cẳng rã rời. Rồi
chuyện xui xảy đến làm
tôi chán và bỏ cuộc:
“Một
hôm sau khi bán đậu xong tôi nghĩ lâu nay mình trung thành một chỗ biết
đâu họ ém giá? Tìm thêm nơi khác xem sao? Quả đúng vậy cách ba căn
người ta chịu mua hơn
mỗi ký hai hào (lâu quá nhớ không chính xác) nghe vậy tôi rất mừng và
tự trách mình “ngu” nên lâu nay bị thiệt, vì với tôi lúc đó một hào bạc
cũng rất quí. Hôm sau ghé lại tôi khoe, Hiệp mừng còn trách: “mầy là
thằng khờ” lại còn biểu tôi hôm nay phải đi tìm
thêm biết đâu có nơi giá cao hơn nữa.
Tôi
về đến cầu balicao 8 giờ tối đi thẳng đến địa điểm mới, năm thằng choai
choai ùa vào, nó kéo tôi tận sau nhà miệng tía lia: “nhanh lên, nhanh
lên quản lý thị trường
kìa”. Đèn điện lờ mờ, năm thằng mỗi đứa một bao giấy tranh nhau xúc,
linh tính tôi thấy không bình thường, quả đúng vậy cân lên 5 bịch chỉ
còn 45 ký, đương nhiên là tôi không đồng ý, và khẳng định bao đậu 50 ký
chưa bao giờ thiếu. Lập tức tôi bị một thằng
giật cổ áo, thằng dí tay vào mặt chửi lời tục tĩu: “Đ m mầy nói tụi tao
lấy hả? Đ m tao dzớt thấy con đĩ mẹ mày......” Cả bọn ào tới đòi đánh,
biết gặp bọn bất lương tôi điếng người sợ toát mồ hôi, khi đổ lại vào
bao, lưng xuống một đoạn xa không đầy như ban
đầu, nhưng tôi không dám nói, lo đẩy đi càng nhanh càng tốt. Tôi quay
lại chỗ cũ, ông chủ vựa hỏi sao chỉ 45 kg? Tôi nói do vựa hết đậu.
Mất
5kg đậu coi như tôi đi cả tháng không có đồng nào! Buồn quá nghỉ vài
hôm, tôi đạp xe ra kể chuyện với Hiệp. Nó tiếc nhưng không nhịn được
cười còn chê tôi “khờ”.
Hôm đó ở lại phụ Hiệp và cho biết ý định ngày mai tôi đi Long Thành tìm
người quen, nếu ở được sẽ thay đổi.
Thế
rồi hoàn cảnh đẩy đưa tôi quyết định ra Long Thành làm rẫy. Nơi tôi đến
là trong rừng sâu cách xa đường lộ 15 cây số. Trước hôm rời Sài Gòn tôi
đạp xe ra chơi với
Hiệp một ngày. Nó buồn lắm, gần trưa Hiệp lên xe lăn đi một lúc trở về
với một bịch nhỏ thịt gà và một xị rượu đế. Mọi hôm cơm trưa chỉ mắm làm
chuẩn hôm nay bày đặc, tôi phàn nàn: “Ông làm gì vậy?”. Nó buồn buồn
“Mầy đi ra Long Thành tới chỗ xa xôi heo hút
như vậy biết bao giờ gặp lại, xem như bữa cơm chia tay”. Có cái gì chận
nghẹn nơi cổ, tôi quay mặt ra đường nước mắt trào ra.
Hai
đứa tôi uống chung bằng cái ca nhựa, tôi uống ít nhưng cũng đủ lâng
lâng bồng bềnh. Có hơi men cảm xúc tự do tuông trào đứa nào cũng ràn rụa
nước mắt. Tôi và Hiệp
vừa bạn học, tình chiến hữu còn gặp nhau ở lý tưởng, và có cùng hoài
bảo giống nhau, nhưng chúng tôi đã không phùng thời. Rồi thời thế đẩy
đến đường cùng, đứa nào cũng te tua bị nhận chìm xuống tận đáy vực của
lớp người cùng khổ nên hiểu và thương quí nhau.
Giọng
Hiệp lè nhè: “Thà đừng gặp lại mầy, cứ để tao cô độc như lâu nay. Tao
sống như đã chết từ lâu rồi... Từ ngày có mầy tao vui, mầy đi rồi biết
nói chuyện với ai?”
rồi hiệp khóc tôi cũng nghẹn ngào.
Lúc chia tay Hiệp nhắc lại: “Chân cẳng tao vầy không đi thăm mầy được đâu, cố gắng lên thăm tao”. Hai đứa nắm tay nhau bịn rịn.
Tôi
đạp xe một đoạn, ngoảnh lại thấy Hiệp ngồi trên xe lăn đang leo lên lề
đường nhìn theo. Tôi nhấn mạnh bàn đạp mà nước mắt đoanh tròng, nghe
thương Hiệp nhiều quá!
Sáng hôm sau trên chiếc xe than đi Long Thành khi chạy ngang qua chỗ Hiệp, tôi đưa cánh tay ra vẫy nhưng Hiệp đang cặm cụi làm.
Tôi
loay hoay cuộc sống mới trong xó rừng ở Long Thành, phương tiện liên
lạc khó khăn. Nhà của Tâm trong làng Đại Học nơi mỗi đêm Hiệp về tá túc
thì hẻo lánh không có
địa chỉ nên cũng không thư từ.
Hơn
một năm sau có việc đi Sài Gòn tôi ghé lại thăm, Hiệp mừng quá. Vẫn qua
ngày bằng nghề sửa xe, vẫn nỗi khắc khoải ngày nào! Hiệp cho biết một
số bạn bè ra tù đã tìm
đến thăm, gặp lại bạn cũ cũng bớt buồn. Thằng nào cũng xác xơ đói rách,
người đạp xích lô, kẻ chạy ba gác. Hiệp báo một tin quan trọng: “Thằng
bạn thân cùng khóa Võ Bị vừa ra tù tổ chức vượt biên giúp tao, dự trù sẽ
đi vào cuối năm... thôi thì một liều ba
bảy cũng liều... còn gì để mất? Nếu may còn sống tao sẽ tiếp tục đi
học, không may bỏ mình trên biển thì cứ xem như một lần ra trận... mà
mình cũng đã chết từ lâu rồi!”. Hiệp tiếp: “Mầy yên trí tao sẽ không
chọn ở Mỹ đâu!”. (hai đứa tôi cùng lập trường không
ưa Mỹ). Tôi mừng và cầu mong chuyến đi thành công để Hiệp thoát thảm
cảnh hiện tại.
Tôi
tiếp tục cuộc sống trong rẫy Long Thành một thời gian, rồi chuyển đi
Phước Tuy, lại thay đổi chỗ ở liên miên. Tháng 6 năm 1983 tôi lên thăm
Hiệp thấy không còn căn
lều, nền đất cỏ mọc um tùm. Tôi vào nhà Tâm nơi Hiệp tá túc hỏi thăm.
Tâm buồn bã báo tin: “Anh Hiệp vượt biên nhưng đã chết trên biển rồi
anh”. Tôi rụng rời kêu lên: “Trời!”
Tâm
nói: “Ghe xuất bến ở Lam Sơn hôm 10 tháng giêng, chính em đưa ảnh đến
nơi. Ghe đi được năm ngày thì chết máy, trôi trên biển nửa tháng, bị hải
tặc cướp mấy lần, sau
cùng ghe bị đâm chìm tất cả đàn ông đều chết, đàn bà con gái bị bắt đi,
hãm hiếp rồi nhốt trên đảo hoang, sau được Cao Ủy Tỵ Nạn cứu. Em có bốn
người bà con đi cùng chuyến nhưng chỉ còn sống một người nữ”. Ngưng một
lát Tâm tiếp: “Anh Đại úy bạn giúp cho anh
Hiệp cũng chết, chị vợ bị hải tặc bắt, hai anh chị mới lấy nhau có một
tháng, vào trại tỵ nạn chị ấy bị điên... Tội quá anh à! Tự do chưa thấy
mà tan nát cả.
Nhìn
thùng đồ nghề quen thuộc của Hiệp trong góc nhà tim tôi se thắt, đồ đạc
còn đây mà người thì không còn nữa. Hiệp hiện lên, tôi úp mặt vào lòng
bàn tay gục xuống
bàn, không kèm được tiếng khóc: “Hiệp ơi!”
Tôi
thất thểu ra về như kẻ mất hồn, cảnh vật chung quanh nhạt nhòa. Đứng
trước nơi hai đứa đã ngồi sửa xe, bây giờ chỉ còn mình tôi mà Hiệp thì
đang vất vưởng nơi nào?
Linh hồn anh đã về với quê mẹ hay còn vật vờ ngoài đại dương nơi trùng
trùng sóng gió? Hay anh đã bay về gặp lại bạn bè đồng đội nơi chiến
trường xưa?: Tân Cảnh, Dakto, Benhet, Kiến Đức, Pleime.... những địa
danh mà đồng đội anh đã chọn làm nơi an nghỉ cuối
cùng. Họ nằm xuống để mong ngày quê hương thanh bình và hồi sinh.
Tôi
ngồi viết những giòng nầy đã 32 năm từ ngày Hiệp ra đi và 40 năm ngày
Việt Nam Cọng Hòa không còn nữa. Cho dù cuộc chiến đã đi qua, và cũng
đang dần chìm vào quên
lãng theo dòng chảy của thời gian. Nhưng đối với những người lính như
chúng tôi đã từng chiến đấu để bảo vệ phần đất tự do. Đã vào sinh ra tử
trên các chiến trường, thì đó là một vết thương khó chữa lành, sẽ mãi
mãi âm ỉ một niềm đau không nguôi. Biết bao
đồng đội bạn bè đã ra đi vĩnh viễn, nằm lại chiến trường! Biết bao
người tàn phế đang sống cuộc đời còn lại trong tận cùng đau thương, khốn
cùng và tủi nhục!
Cái
quy luật chiến tranh đã vạch nên biên giới kẻ thắng và người bại, nên
những đứa con bất hạnh của mẹ Việt Nam đã nhận chịu tất cả những đắng
cay phủ phàng, nhận chịu
cái vô tình và tàn nhẫn, bạc bẽo như dòng nước lũ cuốn phăng ra biển
những huyền thoại về người lính mang tên Việt Nam Cọng Hòa. Trong đó có
người bạn đáng thương của tôi: Trần Quang Hiệp.
Hiệp
ơi! Bài viết nầy là một nén nhang lòng gởi đến anh, người bạn của tôi,
một tài năng hiếm có, mà một thời biết bao anh em từng cuối đầu ngưỡng
mộ. Anh đã gắn đời
mình vào nghiêp lính và chấp nhận những thiệt thòi đau thương khi tuổi
đời còn rất trẻ như tất cả bạn bè thế hệ chúng ta. Tôi chúc anh được yên
nghỉ dù rằng yên nghỉ trong cay đắng nuộn phiền. Cầu xin linh hồn anh
được trở về trên đất mẹ nơi đó có bạn bè chiến
hữu, có mồ mả anh em những người đã cùng anh một thời đem xương máu
mình tô thắm cho tự do của quê hương.
Gần
nửa thế kỷ đi qua, mỗi lần ngang qua chốn cũ, nhìn lại nơi bọn mình
ngồi sửa xe, dù dấu tích không còn, nhưng lòng tôi vẫn quặn thắt một nỗi
đau khi nghĩ đến anh,
nước mắt tôi đoanh tròng, buồn... và nhớ nhiều lắm Hiệp ơi...!!!
(trích hồi ký: Ngày Không Có Mặt Trời)
Lưu Hoàng Kỳ