"Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau." President Ronald Reagan
Friday, June 28, 2013
Saturday, June 22, 2013
Người Lính Gìà Không Bao Giờ Chết
“Tôi đang khép cánh cửa cuộc đời binh nghiệp 52 năm. Khi tôi gia nhập quân đội trước khúc quanh thế kỷ, mọi hy vọng và ước mơ thơ ấu đã thành tựu. Thế giới đã đổi thay bao phen kể từ khi tôi tuyên thệ trên vũ đình trường West Point, và những giấc mộng và uớc mơ đã tan biến từ lâu. Nhưng tôi vẫn còn nhớ điệp khúc một bài ca quen thuộc nhất trong doanh trại của thời đó được hát một cách kiêu hùng
“Nguời lính già không bao giờ chết, họ chỉ tàn phai với năm tháng”. Và giống như nguời lính già của câu hát đó, tôi đang khép cửa cuộc đời binh nghiệp và tàn phai, và nguời lính già đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ mà Thuợng Ðế đã soi sáng để thấy nhiệm vụ đó. Xin chào tạm biệt mọi nguời” (I am closing my fifty two years of military service. When I joined the army before the turn of the century, it was the fulfillement of my boyish hopes and dreams. The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished. But I still remember the refrain of one of the most popular barrack ballads of that day which proclaimed most proudly that - Old soldiers never die, they just fade aways. And like the old soldier of that ballad I now close my military career and just fade away, and old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Goodbye!)
Cả luỡng viện Quốc Hội đều đứng dậy vổ tay hoan nghênh, và một số mắt hoen lệ.
Tất
cả người lính già đều chết, nhưng sẽ chết trong bóng tối như mọi nguời,
chỉ có những nguời lính già vinh với lính, nhục với lính, không bỏ rơi
lính, không chạy trước lính, và giữ trọn phuơng châm “Nhiệm Vụ, Danh Dự,
Tổ Quốc” như tướng MacArthur mới đuợc gọi là nguời Lính Già Không Bao
Giờ Chết. Ðó là lý do tại sao tác giả cuốn sách này đã dùng câu hát
Nguời Lính Gìa Không Bao Giờ Chết để gọi tướng Douglas MacArthur.
hay chuyện của Tuớng Douglas MacArthur
Nguời
Lính Gìa Không Bao Giờ Chết là câu hát của nguời lính Mỹ trong doanh
trại thời truớc, nhưng khi câu hát này đuợc thốt ra từ Tuớng Douglas
MacArthur khi ông đọc bài điều trần trước luỡng viện Quốc Hội Hoa Kỳ sau
khi bị cất chức Tư lịnh tối cao quân đội Hoa kỳ ở Ðông Nam Á và các lực
luợng Liên Hiệp Quốc trong cuộc chiến tranh Nam - Bắc Hàn năm 1950, thì
trở thành bất hủ. Ông là một trong những vị tuớng 5 sao của Hoa Kỳ đuợc
nhiều huy chuơng chiến trường nhất, và ông là một thiên tài quân sự
đuợc xem là một Caesar. Nhưng trong một phương diện khác, ông gây ra
nhiều ý kiến chống đối, đó là lý do tại sao ông không đuợc bầu làm tổng
thống Hoa Kỳ, mà chỉ làm một nguời Lính Già Không Bao Giờ Chết.
Ông
sinh truởng trong một gia đình võ nghiệp. Cha ông là tướng chỉ huy lực
lượng Hoa Kỳ chiếm đóng Phi luật Tân sau cuộc chiến tranh Hoa Kỳ -Tây
Ban Nha 1898. Lúc nhỏ sống trong doanh trại, ông được dự những buổi chào
cờ và diễn hành quân cách, nên nuôi giấc mộng làm lính. Ông đuợc gởi
học truờng thiếu sinh quân, và lớn lên đuợc thâu nhân vào truờng West Point.
Sau khi ra truờng vào năm 1904, ông đuợc gắn cấp thiếu úy ngành công
binh, và phục vụ ở Phi Luật Tân để xây cất đường sá và bến tàu, rồi làm
sĩ quan tùy viên cho cha. Nhờ đó ông đuợc tháp tùng theo cha trong các
cuộc thăm viếng Nhật Bản, Trung Hoa và Singapore, và có nhận định sớm là
tương lai quyền lợi Hoa Kỳ không phải ở Au Châu mà là ở các nuớc Á Châu
đang giành lại quyền độc lập.
Trở
về Hoa Kỳ ông tham gia công trình kênh Panama, phụ trách xây cất San
Francisco sau vụ động đất 1906, tham gia trận chiến tranh với Mexico năm
1913. Khi Thế chiến 1 bùng nổ, ông là Ðại tá trong đoàn quân Viễn chinh
Hoa Kỳ sang chiến đấu ở Pháp năm 1917. Mặc dù là sĩ quan tham mưu sư
đoàn, ông thích cầm quân ra trận. Ông là một sĩ quan gan dạ trong các
trận đẩm máu nhất của mặt trận miền Tây (Pháp, Bỉ va Hoa Lan) ông được
gắn 7 anh dũng bội tinh Silver Star, một DSC (Distinguished Service
Cross), một DSM (Distinguished Service Medal) và một Legion d
honneur(Bắc đẩu bội tinh) của quân đội Pháp, và đuợc thăng cấp Tuớng một
sao.
Cũng
như các danh tuớng Mỹ khác, ông có một lối ăn mặc đặc biệt, không gài
cúc cổ áo, không mang cà vạt, và thích đội chiếc nón két bàu nhàu thêu
kim tuyến trông rất tài tử.
Ông
được cử làm Chỉ Huy Trưởng trường West Point năm 1919 lúc 39 tuổi, là
một trong nhũng vị chỉ huy truởng trẻ nhất. Ông thực hiện nhiều cải cách
sâu rộng như nâng cao tinh thần thể thao, mang môn khiêu vũ vào chuơng
trình, khuyến khích SVSQ đọc báo hàng ngày để tiếp xúc với thế giới bên
ngoài. Về văn hóa, ông thấy người lính tương lai không còn là hạng
chuyên nghiệp nữa mà xuất thân từ các tầng lớp xã hội, nên người sĩ quan
không thể dùng kỷ luật khắc khe và hình phạt nặng nề để chỉ huy mà phải
có tầm hiểu biết rộng rãi về tâm lý, lịch sử, xã hội và những mối tuơng
quan trên thế giới, nên khoa Nhân văn (Sử, Văn chuơng) và Khoa học xã
hội (Xã hội, Luật, Kinh Tế) được mang vào, và các giảng viên được gởi
đến các đại học bên ngoài hàng năm một tháng để trau dồi kiến thức. Nhờ
vậy văn bằng tốt nghiệp West Point đuợc Quốc hội HK biểu quyết chấp nhận có giá trị ngang hàng với văn bằng cử nhân ở các đại học dân sự.
Năm
1922 ông được cử trở lại Phi Luật Tân chỉ huy lực luợng quân sự HK ở
Manila trong 3 năm, khi trở về HK ông được thăng cấp Tuớng 2 sao chỉ huy
cấp quân đoàn, rồi làm việc tại Bộ Quốc phòng.
Năm
1930 ông được cử làm Tổng Tham mưu trưởng quân lực HK, và được mang cấp
tuớng 4 sao giả định theo chức vụ. Ông thực hiện nhiều công tác quan
trọng, như ra Quốc Hội tranh đấu đòi tăng ngân sách quốc phòng, gia tăng
quân đội, lập ra trường tham mưu trung cấp Leavenworth giúp sĩ quan trẻ
có cơ hội tiến xa trên đường võ nghiệp, lập ra Ðại học quân sự để giúp
cấp tá lãnh đạo sau này. Nhờ vậy khi Ðại chiến 2 bùng nổ, quân đôi HK có
đủ cấp sĩ quan lãnh đạo.
Khi
TT Roosevelt đắc cử năm 1930, chính sách New Deal đuợc mang ra để giải
quyết nền kinh tế khủng hoảng. Một tổ chức gọi là Civilian Conservation
Corps thu hút hơn 300 ngàn người trẻ không có việc để thực hiện những
chương trình như xây trường học, tu bổ công ốc, xẻ đường, khơi sông và
trồng rừng. Chương trình này gặp khó khăn buớc đầu vì tất cả đoàn viên
đều là dân thất nghiệp luời biếng và thiếu kỷ luật, nên ông được giao
phó nhiệm vụ này. Nhờ áp dụng tổ chức quân đội và dùng sĩ quan điều
hành, ông đã thực hiện kế chưong trình này tốt đẹp.
Năm
1934 nhiệm kỳ Tham mưu truởng đáo hạn, ông vận động ở lại để có thể
thực hiện nhiều chương trình khác, nhưng không được. Trong lúc đang khó
xử, vì ông sẽ trở lại cấp cũ, thì phái đoàn chính phủ Phi Luật Tân sang
Washington nhờ chính phủ HK giới thiệu một vị cố vấn quân sự để thành
lập một đội quân chuẩn bị cho một nuớc PLT sắp được HK trao lại độc lập
vào năm 1946. Nếu nhận chức vụ này ông phải rời quân đội. Ðó là một khổ
tâm của ông, mặc dù ông hưởng đuợc nhiều quyền lợi lớn. Cuối cùng buộc
lòng, ông chấp nhận, và chính phủ đặc phái Ðại tá Eisenhower đi theo làm
phụ tá cho ông.
Vào
năm 1940, Ðế quốc Nhật Bản đang bành truớng thế lực trong vùng Ðông Nam
Á. Vì thời gian cấp bách và ngân sách eo hẹp nên ông phỏng theo Thụy sĩ
lập một đạo quân trừ bị, nghĩa là chỉ duy trì một đạo quân hiện dịch 40
ngàn, còn ngoài ra sẽ đào tạo một đạo quân trừ bị khoảng 200 ngàn nguời
trong thời gian 6 năm, khi bình thuờng ở nhà, khi có chiến tranh sẽ trở
lại nhập ngũ. Ðó là một kế hoạch sai lầm, vì đạo quân này ô hợp tan rả
nhanh chóng khi quân Nhật đổ lộ lên Luzon vào năm 1941.
Sau
khi chiếm Triều Tiên, Mãn Châu, miền Bắc Trung Hoa, các tỉnh Thuợng
Hải, Bắc Kinh và Ðài Loan, Nhật Bản thấy không đủ sức để chiếm nốt Trung
Hoa, nên ngừng lại và quay ra bành trướng trong vùng Thái Bình Duơng để
chiếm các tài nguyên quan trọng cần cho bộ máy chiến tranh như dầu hỏa ở
Nam Duơng, cao su ở Mã Lai và hầm mỏ ở Úc. Khởi sự Nhật đưa quân vào
Ðông Duơng năm 1940 với sự đồng ý của Pháp để đánh chiếm Mã Lai,
Singapore, và tiếp tục đổ quân chiếm các quần đảo Marinas, Solomons và
Papua New Guinea để xâm chiếm Úc. Truớc tình hình nghiêm trong, Bộ Tổng
Tham mưu HK gọi ông trở lại quân đội và thăng ông cấp Tuớng 3 sao vào
tháng 7/41 làm tư lệnh quân đội HK và PLT.
Khi quân Nhật thình lình oanh tạc Pearl Harbour ngày 8/12/41, ông đuợc thăng lên tuớng 4 sao chỉ huy tất cả lực luợng HK ở Thái Bình Duơng.
Lực
luợng HK ở PLT chỉ gồm có 3 sư đoàn với quân số không đầy đủ duới quyền
chỉ huy của tuớng Wainwright, ông yêu cầu Bộ Tổng Tham Mưu (TTM) gởi
thêm quân và vũ khí, nhưng không đuợc đáp ứng, vì ưu tiên dành cho mặt
trận Âu Châu. Nên khi quân Nhật từ Ðài Loan đổ bộ 200,000 quân cùng với
hàng trăm phi cơ lên bán đảo Luzon phía Bắc PLT thì HK không chống đỡ
nỗi, quân đội HK rút về cố thủ ở bán đảo Battan cách Manila vài chục dặm
về phía Bắc, nhưng Battan thất thủ, ông và và bộ tham mưu rời Manila
rút ra đảo Corregidor ngoài vịnh Manila. Ông cuơng quyết cố thủ để chờ
tiếp viện. Bộ TTM duới quyền tướng Marshall
yêu cầu ông rời hòn đảo này để qua Úc lập lực lượng phản công, ông từ
chối dù phải bỏ mạng. Tuớng Marshall lo ngại nếu tuớng MacArthur bị bắt
sống thì đó là một sự nhục nhã đối với cường quốc HK và làm mất tinh
thần quân đôi HK trên khắp thế giới, nên ra lệnh ông phải rời. Hải quân
đuợc lệnh phái tàu đến đưa ông và ban tham mưu xuống đảo Midanao phía
Nam PLT, và từ đó không quân đưa ông sang Darwin,
thành phố bắc Úc. Ông cảm thấy hổ thẹn như kẻ đào ngũ bỏ rơi quân đội,
nhưng ông hứa, “I shall return.” Ðó là câu nói bất hủ đã dày vò tâm hồn
ông ngày đêm cho đến khi giải phóng đuợc PLT mới thôi. Khi ông vừa đến Darwin thì không quân Nhật dội bom xuống thành phố này. Khi xuống Melbourne
ông được thủ tuớng Úc John Curtin và dân chúng thành phố này đón mừng
như một vị anh hùng. Trong khi đó ở HK bộ máy tuyên truyền ca ngợi ông
để nâng cao tinh thần quân đội, các hội hè, các đoàn thể và các truờng
học đều treo cờ và hình ảnh của ông.
Ông
đuợc cử làm chỉ huy lực luợng HK và các nuớc Ðồng Minh ở Viễn Ðông,
nhưng ông khổ tâm vì quân lực HK chưa có mặt trên đất Úc. Trong khi đó
nuớc Úc đang bao trùm trong một bầu không khí bại trận đến nơi, vì Úc
đang bị bỏ ngõ, quân lực Úc gồm 4 sư đoàn thiện chiến đang ở mặt trận
Bắc Phi, Hải quân Úc đang ở Ðia Trung Hải và không lực Úc đang ở Trung
Ðông, nên dân chúng lo sợ quân Nhật có thể xuất hiện bất cứ ở đâu và bất
cứ lúc nào.
Sự có mặt của ông mang lại một niềm hy vọng lớn cho dân Úc. Ông đặt bản doanh tại thành phố Brisbane,
ngụ tại khách sạn Lennon và làm việc tại tòa nhà AMP. Khi mặt trận Âu
Châu bắt đầu nghiêng về phe Ðồng Minh, Tổng Tham Mưu Truởng Hoa Kỳ mới
bắt đầu nghĩ đến chiến truờng Viễn Ðông, quân đoàn 8 do tuớng
Eichelberger và nhiều phi đoàn vận tải và chiến đấu đuợc gởi sang Úc.
Chiến
luợc của Nhật là một mặt chiếm các quần đảo Solomons, Papua Guinea, và
một mặt khác diệt tan hạm đội HK, cắt đứt đuờng hải vận từ HK, tức là
làm bá chủ được vùng Thai Bình Duơng, và vấn đề xâm chiếm Úc không còn
khó khăn nữa, nên Nhật đã oanh tại Trân Châu Cảng ngày 8/12/41 hòng tiêu
diệt hạm đội 7 của HK, nhưng không thành công, nên qua năm sau, Đô đốc
Yomamoto dẫn hạm đội hùng hậu với 4 hàng không mẫu hạm chứa trên hàng
trăm phi cơ quyết tâm tiêu diệt hạm đội HK. Nhờ bắt được tín hiệu mật
của Nhật, Hải quân HK phát hiện sớm và đánh tan đoàn chiến hạm Nhật gần
đảo Midway. Trận hải chiến này đã xoay chiều mặt trận Thái Bình Dương.
Trong khi đó, tướng MacArthur bắt đầu phản công những quần đảo. Những
trận đánh chiếm những căn cứ Nhât trên các quần đảo này là những trận
đẫm máu đắt giá với 1 đổi 2, bởi vì quân Nhật cố thủ trong những hầm hố
kiên cố.
Sau khi chiếm đuợc đảo Solomons, HK va Úc bắt đầu phản công New Guinea.
Khi các căn cứ lớn như Rabaul, Lae, Gona và Buna lọt vào tay HK, và
quân Úc đánh tan đuợc quân Nhật ở con đuờng mòn Kokoda phía Bắc thị trấn
Moresby của Papua New Guinea thì Đồng Minh coi như làm chủ tình hình
quần đảo này, và tuớng MacAthur tuyên bố với dân Úc mối đe doa Nhật
không còn nữa.
Bây
giờ tướng MacArthur mới nghĩ đến kế hoạch giải phóng PLT như lời hứa,
nhưng các tư lệnh Hải quân và Không quân muốn bỏ PLT mà đánh thẳng vào
Nhật. TT Roosevelt bay sang Hawai họp với các tuớng vùng Viễn Ðông để
vạch một kế hoạch phản công. Ông thuyết phục TT Roosevelt phải giải phóng PLT.
Ông được thăng cấp tuớng 5 sao ngày 18/12/44
chỉ huy các lực luợng Viễn Ðông. Vào năm 1944, quân Ðức bị đẩy lui khắp
các mặt trận Âu Châu, nên mặt trận Viễn Ðông đươc tăng cuờng. Cuộc đổ
bộ lên đảo Leyte phía Ðông PLT gồm một hạm đội trên 1000 chiếc và hàng trăm máy bay hùng hậu chẳng kém trận Normandy.
Tuớng MacArthur lội nuớc từ chiếc tàu đổ bộ buớc lên bãi biển, đầu đội
chiếc nón két tài tử và ngậm ông vố là hình ảnh lịch sử khó quên, và từ
đó quân Mỹ tiến chiếm Luzon và giải phóng Manila vào tháng 2, 1945.
Hải
quân tiến chiếm các đảo chiến lược như Saipan, Iwo Jima và cuối cùng là
Okinawa gần Nhật. Ðây là một trận đẩm máu nhất, cả 2 bên đều thiệt hại
nặng, HK phải trả gía 50 ngàn quân mới chiếm được hòn đảo này.
Kế
hoạch đánh thẳng vào nội địa Nhật bắt đầu, hàng trăm pháo đài bay B.29
từ các căn cứ trên Thái Bình Dương hàng ngày dội hàng ngàn tấn bom xuống
các thành phô kỷ nghệ Nhật, nhưng Nhật chưa chịu đầu hàng. Căn cứ vào
mức thiệt hại nặng ở trận Okinawa, TT Truman không muốn HK phí tổn và
kéo dài cuộc chiến tranh, nên hạ lệnh thả 2 qủa bom mguyên tử xuống
Hiroshima ngày 6/8 và Nagazaki ngày 9/8 khiến Nhật đầu hàng vô điều kiện
vào ngày 15/8/45.
Tướng
MacArthur được cử làm Chỉ Huy Tôi Cao các lực luợng Ðồng Minh chiếm
đóng Nhật. Lễ đầu hàng đuợc diễn ra trên chiến hạm Missouri, tướng
MacArthur oai phong với chiếc nón két phong suơng, cổ không thắt cà vạt
như thuờng lệ chủ tọa buổi lễ.
Khi
quân đội chiếm đóng HK đặt bộ chỉ huy trên đất Nhật, ai cũng tưởng
tướng MacArthur sẽ thi hành một chính sách trả thù không nuơng tay đối
với sự tàn ác của quân đội Nhật, nhưng nguợc lại ông là một nhà chính
trị khôn ngoan.
Lúc
đầu ông định thiết lập chế độ quân quản và lập tòa án quân sự, nhưng
thủ tuớng Yokoda cam kết sẽ thi hành nghiêm chỉnh văn kiện ký kết, nên
ông bỏ ý định này, và quả nhiên 3 tháng sau tất cả vũ khí, máy bay, tàu
chiến đều được giao trọn cho lực luợng chiếm đóng. Một vài nuớc đồng
minh yêu cầu tháo gỡ may móc kỷ nghệ của Nhật để đến bù thiệt hại chiến
tranh, và bắt xử Nhật Hoàng về tội ác chiến tranh, ông từ chối, bởi vì
bây giờ ông không cầm quân nữa, mà đang đối phó với nền kỷ nghệ sụp đổ,
nạn thất nghiệp và các đảng chính trị thiên tả của Nhật. Cho nên vấn đề
cấp bách là phục hồi nền kinh tế Nhật để gỉai quyết nạn thất nghiệp trầm
trọng do hàng triệu quân Nhật giải ngũ, và dân chủ hoá một nước quân
phiệt độc tài.
Ông
có công lớn đưa ra một bản dự thảo Hiến Phap Nhật và được Quốc Hội Nhật
chấp nhận với những nguyen tắc dân chủ như: biến nước Nhật quân chủ
chuyên chế quân phiệt thành một nước quân chủ lập hiến, biến nền kinh tế
chỉ huy thành kinh tế thị trường, bỏ chế độ trợ cấp Thần đạo tôn sùng
Nhật Hoàng, thành lập các nghiệp đoàn lao động, cải cách ruộng đất, phá
bỏ những tổ hợp công ty gia đình phục vụ cho bộ máy chiến tranh...
Mặc
dù HK có viện trợ cho Nhật để tái thiêt nền kinh tế, nhưng Nhật không
hưởng đuợc chương trình viện trợ Marshall như ở Âu Châu, nền kinh tế
Nhật vẫn thấp kém, nên sau 3 năm kinh tế với các quốc gia khác. Lúc này
ông nghĩ đến hoà bình hơn là chiến tranh, nên ông bị công kích là đã bỏ
quên vấn đề quân sự.
Ngày
25/6/50 quân Bắc Hàn đột nhiên xua quân sang vĩ tuyến 38 chia đôi Nam
Bắc Hàn, quan Nam Hàn tháo chạy xuống Pusan, thị trấn cực Nam của Nam
Hàn, HK với quân số ít cũng không ngăn chận đuợc. Ông được cử làm tư
lệnh tối cao quân đội các nước Liên Hiệp Quốc. Lực
luợng HK chiếm đóng ở Nhật và Viễn Ðông được gởi sang Nam Hàn. Nhưng
muốn đẩy lui quân Băc Hàn trở lại vĩ tuyên 38, tướng MacArtur tính HK
phải tổn thất ít nhất trên một trăm ngàn quân, nên ông nghĩ ra một chiến
thuật táo bạo, là bỏ mặt trận phía Nam mà đánh tập hậu ở hải cảng
Inchon gần vỹ tuyến 38, cách Hán Thành 20 dặm về huớng Tây Nam và cách
Pusan 130 dặm để cắt đứt nguồn tiếp vận lương thực, vũ khí và binh lính
Bắc Hàn. Ông gởi kế họach về TTM và yêu cầu tăng viện một sư đoàn Thủy
quân lục chiến. TTM không tin tuởng kế hoạch này, nên cử một phái đoàn
gồm 3 tuớng tư lệnh lục, hải, không quân và tướng chỉ huy quân đoàn TQLC
sang Tokyo để trình bày những điểm bất lợi về địa thế, thời tiết và tiếp
vận mà nguyên tắc chiến thuật không cho phép. Ông bình tĩnh trả lời
từng điểm va đánh tan mọi sự hồ nghi của ban tham mưu trung uơng, và kết
luận: “Ðây là một ván cờ khó khăn, 1 đối với 5000, nhưng tôi chấp nhận.
Nếu như thất bại tôi lãnh chịu trách nhiệm, và tôi sẽ cùng binh sĩ
chiến đấu rút lui, còn qúy vị không mất gì cả, danh tiếng của tôi sẽ bị
chôn vùi. Tôi chỉ xin qúy vị cấp cho tôi một sư đoàn TQLC để đánh tan
quân địch”. Ban Tham Mưu không còn lý do ngăn trở và đồng ý.
Ðến ngày 15/9/50, tướng MacArthur đứng trên chiến hạm với tướng chỉ huy TTQC tiến về hải cảng Inchon. Bờ biển Inchon
bình thuờng rất cạn, nuớc triều mỗi ngày lên xuống 2 lần là những lúc
tàu có thể vào bờ. Khi cơn triều thứ nhất dâng lên vào lúc 8 giờ sáng,
một đơn vị TQLC chiếm hòn đảo nhỏ trước mặt hải cảng Inchon
chẳng gặp khó khăn, và khi cơn triều thứ nhì lên cách 8 giờ sau, thì cả
sư đoàn trên các tàu đổ bộ tiến vào bờ mà chẳng gặp sự kháng cự đáng
kể. Bị yếu tố bất ngờ Bắc Hàn không chống cự được, trong khi đó lực
luợng HK từ Pusan đánh lên ở thế trên búa duới đe, Bắc Hàn tan rả và
chạy trở lại vỹ tuyến 38.
Vói
chiến thuật lừng lẫy này MacArtur trở thành một thiên tài quân sự, và
tên tuổi đi vào lịch sử. Các danh tuớng từ cổ chí kim và từ Ðông sang
Tây thuờng hay ỷ công và bất phục tùng. Tuớng MacArthur cũng không thóat
khỏi thông lệ đó. Ðiều này có một ảnh huởng tai hại cho tham vọng chính
trị của ông về sau.
Lần
thứ nhất khi làm tổng Tham Mưu Truởng quân lực HK dưới thời TT Hoover.
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế xẩy ra, hàng trăm ngàn cựu chiến binh mất
việc yêu sách chính phủ trả trợ cấp hưu trí liền thay vì phải chờ đến 60
tuổi, nhưng chính phủ không chấp nhận, nên họ tập họp thành một đoàn
biểu tình gọi là Bonus Marchers kéo về thủ đô Washington chiếm một số
công ốc và gây bạo động, cảnh sát đuợc lệnh dẹp đoàn biểu tình, nhưng
bất lực. Chính phủ giao cho quân đội, tướng MacArthur cởi ngựa điều động
toán quân với súng gắn luỡi lê và lựu đan cay thẳng tay dẹp đoàn biểu
tình, và theo chỉ thị ông phải ngừng lại bên này sông Potomac,
thì ông ra lệnh cho quân đội vượt qua cầu cào sạch lều trại của đoàn
biểu tình. Vụ đàn áp này làm dân chúng công phẩn, và bị báo chí lên án
là một hành động phát xít chà đạp quyền tự do biểu tình của dân chúng
của một nước tự do dân chủ ngay giữa thủ đô HK. Cuộc đàn áp này TT
Hoover đã trả giá bằng cuộc thất bại tranh cử lần 2, còn MacArthur mang
một vết dơ không tẩy xóa đuợc.
Và
lần thứ hai, sau khi dồn quân Bắc Hàn trở lại vỹ tuyến 38, ông được
lệnh của TTM và Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vượt qua vĩ tuyến này để
giúp Bắc và Nam Hàn thống nhất theo hoà uớc ký kết giữa các nuớc Ðồng
Minh sau Ðại chiến 2, nhưng không đuợc tiến gần sát ranh giới Trung
cộng. Ðồng thời TT Truman bay sang đảo Wake để gặp MacArthur tỏ sự lo âu
một cuộc tham chiến của Trung cộng.
Giữa
TT truman và tuớng MacArthur vẫn có một sự hiềm khích nhau. Sau khi
Nhật đầu hàng, TT Truman hai lần mời tuớng MacArthur về HK, nhưng
MacArthur thoái thác viện cớ bận rộn công việc, TT Truman tức bực, nhưng
không dám ra lệnh triệu về, vì tuớng MacArthur là một vị anh hùng. Và
sau trận Inchon
thì uy danh của ông lấn át tất cả chính khách HK, trong khi uy tín của
TT Truman đang tụt giảm. Khi TT Truman bay sang đảo Wake để gặp tuớng
MacArthur, thì theo nghi lễ tướng MacAthur phải phải bay đến truớc để
đón tiếp một vị Tổng Thống vừa là tổng tư lệnh quân lực HK, thì trái lại
MacAthur ra lệnh cho máy bay hạ cánh cùng lúc với máy bay của TT
Truman, tướng MacArthur vẫn ăn mặc thuờng lệ với chiếc nón phong suơng
va không mang ca vạt khiến TT Truman tức giận trong lòng và chờ một cơ
hội khác để cất chức. Trong buổi nói chuyện MacArthur bỏ ngoài tai mối
lo sợ của vị Tổng Thống, và cả khi TT Truman mời MacArthur ăn cơm chiều
thì MacArthur cũng từ chối.
Sau
trận Inchon, các tuớng trong bộ TTM tự thấy mình nhỏ bé, và không dám
tỏ bày ý kiến khi tướng MacArthur cho quân đội HK tiến sát biên giới
Trung Hoa và cho không quân đánh sập các cây cầu trên sông Yulu giữa
Trung Cọng - Bắc Hàn, và quả nhiên đưa đến sự can thiệp của Trung Cọng.
HK bị đánh tan, và Trung cọng vượt qua vĩ tuyến 38 lại và tiến về Pusan.
Hoa Kỳ phải khó khăn và thiệt hại nặng mới đẩy Trung cọng về lại vĩ
tuyến 38.
Cuộc
chiến tranh dây dưa và tổn thất nặng khiến dân chúng HK đòi chấm dứt
chiến tranh sớm. TT Truman trước sự chống đối của dân chúng đang tìm
cách dàn xếp ngưng chiến với Trung cọng, thì tuớng MacArthur tuyên bố
trên báo chí sẽ dùng không lực dội bom các vùng kỷ nghệ Trung cọng nếu
không chịu rút quân. Lời tuyên bố này đi nguợc đuờng lối của chính phủ,
và chứng tỏ một sự bất phục tùng, nên TT Truman quyết định lấy tư cách
tổng tư lệnh quân lực HK cất chức tuớng MacArthur Tư lệnh các nước LHQ,
tư lệnh các lực luợng Ðồng minh chiếm đóng Nhật và tư lệnh HK ở Viễn
đông và triệu hồi ông về HK
ngay.
Khi
dân chúng Nhật nghe tin này, một số đông coi như môt cái tang trong gia
đình. Khi ông rời phi truờng Tokyo, hơn 250 ngàn dân Nhật đứng 2 bên
đuờng tiễn đưa thương tiếc, và khi máy bay đáp xuống sân bay San
Francisco, mặc dù không được loan báo chính thức hơn 500 ngàn nguời tụ
tập đón tiếp, và khi ông xuất hiện chính thức ở thành phố New York, hơn 7
triệu dân chúng đổ ra đường đón tiếp ông.
Trong
bài điều trần truớc luỡng viện Quốc Hội HK, ông đuợc vổ tay hoan nghênh
khiến ông phải ngưng lại nhiều lần mà vị chủ tịch Quốc Hội là Joe
Martin nói ông chưa hề thấy một chính khách nào đuợc hoan nghênh như vậy
suốt 50 năm ở chính truờng.
Ông
có nghệ thuật viết và nói truớc đám đông. Trong phòng làm việc của ông
khi nào cũng có gắn một tấm guơng lớn. Mỗi lần viết xong một bài nói
chuyện, ông thuờng đứng truớc tâm guơng học cách diễn tả trong lời nói
và dáng điệu.
Sau
khi Nhật đầu hàng, danh vọng của ông không ai bằng. Vào cuộc bầu cử
tổng thống năm 1948, một số tổ chức ở HK phát động phong trào “MacAthur
For President”, nhưng ông từ chối. Trong cuộc bầu cử tổng thống 1952
giữa lúc chiến tranh Triều Tiên đang gay go, dân chúng HK đòi hỏi một vị
tổng thống uy tín có thể mang lại hoà bình, là lúc ông đã từ giã quân
đội. Trong kỳ đại hội đảng Cộng Hòa năm 1952 chọn ứng viên ra tranh cử
tổng thống, ông bị đàn em là tướng Eisenhower đánh bại như thông lệ, học
trò hơn thầy, con hơn cha. Tuớng Eisenhower thua tuớng MacArthur 10
tuổi và là khóa đàn em ở West Point.
Khi tuớng MacArthur làm Tổng Tham Mưu truởng, Eisenhower, thường đuợc
gọi thân mật là Ike mới là Trung Tá phục vụ ở bộ TTM. Eisenhower lên
tuớng 5 sao chỉ 2 ngày sau tuớng MacArthur. Ike luôn luôn kính nể vị
niên truởng thiên tài quân sự, nhưng nguợc lại, MacArthur tuy khâm phục
tài tham mưu của đàn em, nhưng không khỏi khinh khi Ike là một vị tuớng
chưa hề có một huy chuơng chiến truờng. Trong đời binh nghiệp, Ike chỉ
cầm quân có 6 tháng, rồi nhảy qua ngành tham mưu, nhưng là một sĩ quan
tham mưu xuất chúng, nên MacArthur có lần đã ghi trong phiếu cá nhân của
Ike: “một sĩ quan tham mưu xuất chúng mà thời chiến tranh sẽ là một vị
tuớng giỏi.”
Trong
binh nghiệp, một vị tướng có thể thất bại đôi lần, nhưng chỉ cần một
trận lừng lẫy thì có thể trở thành bất tử. Tướng MacArthur thất trận ở
PLT, nhưng chỉ một trận Inchon (Triều Tiên) như sấm vang đã đưa ông lên hàng Caesar.
Trong bài điều trần truớc luỡng viện Quốc Hội HK, ông kết thúc như sau:
“Tôi đang khép cánh cửa cuộc đời binh nghiệp 52 năm. Khi tôi gia nhập quân đội trước khúc quanh thế kỷ, mọi hy vọng và ước mơ thơ ấu đã thành tựu. Thế giới đã đổi thay bao phen kể từ khi tôi tuyên thệ trên vũ đình trường West Point, và những giấc mộng và uớc mơ đã tan biến từ lâu. Nhưng tôi vẫn còn nhớ điệp khúc một bài ca quen thuộc nhất trong doanh trại của thời đó được hát một cách kiêu hùng: “Nguời lính già không bao giờ chết, họ chỉ tàn phai với năm tháng”. Và giống như nguời lính già của câu hát đó, tôi đang khép cửa cuộc đời binh nghiệp và tàn phai, và nguời lính già đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ mà Thuợng Ðế đã soi sáng để thấy nhiệm vụ đó. Xin chào tạm biệt mọi nguời” (I am closing my fifty two years of military service. When I joined the army before the turn of the century, it was the fulfillement of my boyish hopes and dreams. The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished. But I still remember the refrain of one of the most popular barrack ballads of that day which proclaimed most proudly that - Old soldiers never die, they just fade aways. And like the old soldier of that ballad I now close my military career and just fade away, and old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Goodbye!)
“Tôi đang khép cánh cửa cuộc đời binh nghiệp 52 năm. Khi tôi gia nhập quân đội trước khúc quanh thế kỷ, mọi hy vọng và ước mơ thơ ấu đã thành tựu. Thế giới đã đổi thay bao phen kể từ khi tôi tuyên thệ trên vũ đình trường West Point, và những giấc mộng và uớc mơ đã tan biến từ lâu. Nhưng tôi vẫn còn nhớ điệp khúc một bài ca quen thuộc nhất trong doanh trại của thời đó được hát một cách kiêu hùng: “Nguời lính già không bao giờ chết, họ chỉ tàn phai với năm tháng”. Và giống như nguời lính già của câu hát đó, tôi đang khép cửa cuộc đời binh nghiệp và tàn phai, và nguời lính già đã cố gắng làm tròn nhiệm vụ mà Thuợng Ðế đã soi sáng để thấy nhiệm vụ đó. Xin chào tạm biệt mọi nguời” (I am closing my fifty two years of military service. When I joined the army before the turn of the century, it was the fulfillement of my boyish hopes and dreams. The world has turned over many times since I took the oath on the plain at West Point, and the hopes and dreams have long since vanished. But I still remember the refrain of one of the most popular barrack ballads of that day which proclaimed most proudly that - Old soldiers never die, they just fade aways. And like the old soldier of that ballad I now close my military career and just fade away, and old soldier who tried to do his duty as God gave him the light to see that duty. Goodbye!)
Cả luỡng viện Quốc Hội đều đứng dậy vổ tay hoan nghênh, và một số mắt hoen lệ.
Tất
cả người lính già đều chết, nhưng sẽ chết trong bóng tối như mọi nguời,
chỉ có những nguời lính già vinh với lính, nhục với lính, không bỏ rơi
lính, không chạy trước lính, và giữ trọn phuơng châm “Nhiệm Vụ, Danh Dự,
Tổ Quốc” như tướng MacArthur mới đuợc gọi là nguời Lính Già Không Bao
Giờ Chết. Ðó là lý do tại sao tác giả cuốn sách này đã dùng câu hát
Nguời Lính Gìa Không Bao Giờ Chết để gọi tướng Douglas MacArthur.
Trần xuân Hiền
Old Soldiers Never Die
Vợ Lính Thời Chinh Chiến…
Thôn Nữ Bàu Trai
Lời Giới Thiệu:
Tác giả bài viết này là một phụ nữ sinh trưởng ở Bàu Trai, miền
Đông Nam Phần. Đây là một địa danh mà các quân nhân từng hành quân ở
vùng 3 chiến thuật đều quen biết.
Từ câu chuyện tình đơn sơ, một thiếu nữ hiền lành trở thành
người vợ lính thời chiến. Đời sống gia binh, người chồng chuẩn bị đi
hành quân, tiếng khóc của góa phụ nhà kế bên, tiếng xe Jeep của chàng
trở về chạy trên sân sỏi, tiếng súng đêm đêm vọng lại, những lần từ biệt
vội vàng, các chuyến về thăm nhà bất chợt giữa các trận đánh. Người vợ
lính với 20 năm khắc khoải, hạnh phúc đếm từng ngày để đến lúc tan hàng
lại tiếp tục lo cho chồng đi cải tạo. Chúng ta đã từng đọc các trang sử
chiến tranh của nam nhi thời binh lửa. Bây giờ xin một lần đọc để thông
cảm cho những giọt lệ của phụ nữ VN trong vai trò vợ lính thời chinh
chiến.*
Trong các chị em gái của gia đình, tôi là đứa con gái nhút
nhát nhất. Tôi không thích xem phim chiến tranh, sợ nghe tiếng súng nổ,
nên tôi không mong muốn lấy chồng nhà binh như phần đông các cô gái khác
thích những chàng trai trong bộ quân phục oai hùng. Có lẽ tôi chịu ảnh
hưởng của Ba tôi. Ba tôi là viên chức hành chánh, ông thường than phiền
một số sĩ quan trẻ ngang tàng và lái xe ẩu.
Một đêm khuya sau Tết Mậu Thân năm 1968, chúng tôi nghe tiếng
gõ cửa, Ba tôi cẩn thận đuổi chị em tôi vào phòng, đóng cửa kỹ lại. Ông
bỏ cây súng nhỏ vào túi quần và ra mở cửa. Một sĩ quan trẻ tuổi mặc rằn
ri vào xin cho binh sĩ đóng quân trong khu vườn nhà tôi và cho cấp chỉ
huy của họ ở tạm trong phòng khách. Lúc đó Ba tôi mới yên tâm biết là
đơn vị đi hành quân về đến đây tìm chỗ nghỉ quân.
Lính ở đầy trong khu vườn nhà tôi nhưng không phá phách gì
như một số người đồn đại. Riêng vị sĩ quan ở trong phòng khách nhà tôi
với cái ghế bố nhà binh nhỏ bé, nằm khiêm nhượng ở một góc phòng. Cuộc
sống gia đình tôi không có gì thay đổi khi có mặt vị sĩ quan này. Chúng
tôi lịch sự không đi tới lui trong phòng khách. Ban đêm thỉnh thoảng
chúng tôi nghe những câu hát vu vơ hoặc vài câu vọng cổ của các người
lính trẻ than thở nhớ gia đình và người yêu. Chúng tôi thông cảm và
thương mến họ hơn.
Dần dần ba mẹ tôi có cảm tình với vị sĩ quan chỉ huy. Những
lúc rảnh rỗi, ông đến nói chuyện hoặc được ba tôi mời ăn cơm gia đình.
Ông sĩ quan này mượn phòng khách để làm nơi hội họp của bộ chỉ huy, nhờ
thế gia đình tôi quen biết thêm vài sĩ quan nữa. Câu “quân dân như cá
nước” là đúng, chúng tôi thân tình rất mau, có những bữa ăn hoặc những
buổi tối ngồi chung để xem ti vi thật vui vẻ. Quan niệm không tốt về nhà
binh, cảm giác sợ sệt những người lính chiến trong bộ quân phục rằn ri
không còn nữa.

Cũng nhờ dịp đơn vị dừng quân, tôi đã gặp nhà tôi sau này.
Anh là một trong các sĩ quan trẻ của đơn vị. Chúng tôi biết nhau qua sự
giới thiệu của vị sĩ quan quen thân với gia đình như đã kể trên. Một
thời gian sau chúng tôi thương nhau và anh xin làm đám hỏi sớm để còn
lên đường đi hành quân. Có lần anh nói, gia đình hối thúc cưới vợ, nhưng
“Đời lính tác chiến xa nhà, ra đi không chắc có ngày trở lại, cưới vợ
chỉ làm khổ cho người đàn bà.” Và anh không muốn vướng bận thê nhi trong
thời ly loạn. Sau đó anh đi hành quân liên tục, thỉnh thoảng tôi chỉ
nhận được thư. Hơn một năm sau đơn vị anh về đóng quân tại Biên Hòa gần
Sài Gòn, đây là dịp tiện lợi để chúng tôi tổ chức đám cưới.
Tôi theo chồng về ở căn nhà trong trại quân đội. Bây giờ tôi
cảm thấy hạnh phúc nhất, ngoài gia đình cha mẹ thương yêu, tôi còn có
người chồng tính tình trầm tĩnh, hòa nhã với mọi người. Sau những ngày
nghỉ phép cưới vợ, anh trở lại cuộc sống nay đây mai đó, anh đi ba bốn
tháng mới về một lần hoặc lâu hơn tùy tình hình chiến sự.
Khi anh chuẩn bị đi hành quân tôi không hề biết trước nhưng
dễ nhận ra ngay. Tôi thấy những binh sĩ làm việc với anh lăng xăng dọn
dẹp chuẩn bị quân trang. Nhưng tôi vẫn mong mình nghĩ lầm. Anh trở về
nhà gương mặt đượm nét quan trọng, ít nói với tôi hơn. Bận rộn với giấy
tờ, điện thoại và dặn dò người này người kia liên tục. Tôi hiểu anh
không có thì giờ để nghĩ đến gia đình. Tôi không quấy rầy anh, tôi luôn
luôn nhớ lời dạy bảo của ba tôi trước khi tôi đi theo chồng: “Con đừng
bao giờ xen vào công việc của chồng con.” Ăn cơm tối xong anh tiếp tục
chuẩn bị tài liệu. Tôi buồn vì sắp phải xa chồng, không biết làm gì hơn
là ngồi sau lưng anh, áp má vào sau lưng anh im lặng. Anh làm việc đến
gần nửa
đêm, xong anh kêu tôi lại ghế salon ngồi, anh dặn dò mọi việc ở trong
nhà, có buồn trở về nhà cha mẹ chơi, nhất là phải cất kỹ tờ giấy hôn
thú. Tôi hiểu anh muốn ám chỉ điều gì, tôi nghe lòng tê tái. Tôi có bao
giờ nghĩ đến mười hai tháng lương tử tuất để thành góa phụ! Không, tôi
chỉ cần chồng tôi.
Sau đó chúng tôi chỉ ngủ được vài giờ. Ba giờ sáng trong sân
trại rầm rộ tiếng xe, tiếng nói ồn ào của lính. Trong cảnh lờ mờ tối,
tôi nhìn ra sân thấy những người lính, lưng đeo ba lô nặng nề, đầu đội
nón sắt. Trong số đó sẽ có người không trở lại. Quang cảnh này trái hẳn
với những ngày đại lễ, những người lính trong bộ quân phục thẳng nếp,
tay cầm súng đi diễn hành rất đẹp.
Khi chồng tôi bắt đầu mặc áo giáp, đeo súng ngang hông, lòng
tôi tê tái, có một cái gì đó làm cho tôi bất động, chỉ biết nhìn anh và
im lặng. Sau cùng anh đội nón sắt và đưa tay vỗ vào má tôi nói: “Thôi
anh đi”. Anh không có những cử chỉ âu yếm hơn, những lời từ giã nhiều
hơn như những lần anh đi làm việc bình thường hay đi ăn cơm với bạn bè.
Anh sợ làm tôi khóc. Tôi muốn nói anh cố sớm trở về với em,
nhưng càng dặn dò càng đau lòng trong buổi chia tay. Tôi cố gắng không
cho nước mắt trào ra. Tôi nhìn anh thật kỹ, để hình ảnh anh in sâu mãi
trong lòng tôi. Tôi thầm nghĩ, không biết lần này anh có còn trở về
không? Không thể chờ xe anh khuất bóng, tôi chạy vội vào giường khóc nức
nở. Cảnh này cứ diễn đi diễn lại trong cuộc đời làm vợ lính của tôi. Có
lần tôi nói với anh, khi đi hành quân cho em biết trước để em chuẩn bị
tư tưởng cho đỡ sợ. Nhưng có lẽ vì bí mật quân sự hoặc cuộc hành quân
gấp rút, anh chẳng bao giờ chiều tôi chuyện đó.
Mỗi lần nghe có tin đơn vị anh đụng độ lớn tôi chỉ biết vào
phòng âm thầm cầu nguyện, lo sợ gặp những sĩ quan đến báo tin buồn. Có
lúc anh về thăm tôi thình lình. Mừng rỡ không được kéo dài bao lâu lại
nghẹn ngào vì anh ra đi sớm hơn lời hứa. Một buổi chiều anh về và nói
chiều mai mới đi. Tôi vui mừng vì trưa mai vợ chồng tôi sẽ có chung bữa
cơm với nhau. Nhưng đến tối có tiếng điện thoại, anh nghe xong nói với
tôi sáng sớm mai anh phải đi. Thế là mất một đêm hạnh phúc, chỉ có tiếng
than thở và tiếng nức nở của tôi.
Khi tôi có thai được sáu tháng, lúc đó anh đóng quân tại
Bến Tre, anh biết gia đình tôi có quen thân với ông bà bác sĩ tại Mỹ
Tho. Anh hẹn gặp tôi tại đó để anh đến thăm vì từ Bến Tre chỉ qua một
cái phà là đến Mỹ Tho. Anh cho biết sẽ ở chơi từ trưa đến chiều mới đi.
Sáng ngày ấy ba tôi chở tôi xuống Mỹ Tho, sẵn ba tôi thăm lại người bạn
cũ. Tôi gặp anh ngượng ngùng mắc cỡ với cái áo bầu khoác ngoài. Tuy là
vợ chồng nhưng ít khi sống gần gũi nhau nên đối với anh đôi khi tôi vẫn
còn e thẹn. Sau khi chúng tôi hàn huyên được nửa giờ, chúng tôi dùng cơm
trưa, tuy có mặt ba tôi và hai ông bà bác sĩ nhưng tôi cũng cảm thấy
hạnh phúc lắm. Bữa cơm chưa xong, chồng tôi có máy truyền tin gọi trở về
đơn vị,
vậy là anh lại đi ngay. Tôi tiếp tục dùng cơm, nhưng món ăn trở nên lạt
lẽo, dầu bà bác sĩ nấu rất ngon. Thương con, ba tôi cáo biệt về Sài Gòn
sau buổi cơm. Trên xe ông nhìn tôi và vuốt tóc thông cảm.
Một đêm tôi đang ngủ bỗng giật mình thức giấc bởi tiếng
khóc thảm thiết của bà hàng xóm, tôi vội đến cửa sổ nhìn ra ngoài để xem
chuyện gì xẩy ra. Bên ngoài đêm tối yên tĩnh bị đánh tan bởi tiếng khóc
của người vợ trẻ vừa được tin chồng tử trận ngoài chiến trường, cùng đi
hành quân chung đơn vị với chồng tôi. Chị khóc lóc, kêu gào, gọi tên
chồng nhưng chồng chị sẽ mãi mãi không trở về nữa. Tôi trở lại giường
nằm nhưng không ngủ được, tôi thương cho người đàn bà góa phụ kia và lo
sợ cho bản thân mình.
Sáng hôm sau người vợ trẻ đầu phủ khăn tang, gương mặt xanh
xao cùng với bà mẹ già đi lãnh xác chồng theo sau hai đứa con khoảng
ba, bốn tuổi, đầu chít khăn trắng. Chúng nó vô tư không biết gì, thật ra
ba chúng đi hành quân luôn, ít khi ở nhà. Bây giờ không có lời an ủi
nào làm chị vơi được nỗi buồn, chỉ mong thời gian sẽ hàn gắn vết thương
lòng của chị mà thôi. Sau này chị kể, chị nghe tiếng chim cú kêu chiều
hôm đó, chị nghĩ có điều xui rồi. Tôi không bao giờ tin dị đoan, tôi
không xem bói vì thầy bói nói vui tôi không tin, nói buồn tôi phải bận
tâm lo lắng, nhưng bây giờ tôi lại sợ tiếng cú kêu.
Một chị bạn quen, chồng cũng là bạn thân với chồng tôi, nhà
ở trong cư xá đối diện, với ba đứa con nhỏ. Chồng đi hành quân không
chắc có ngày về, tinh thần của chị ngày càng suy nhược, cộng thêm những
lần thay mặt gia đình đi dự đám tang qúa nhiều bạn bè thân thiết bị tử
trận. Tinh thần đã sẵn yếu, ngày càng trở nên suy sụp. Lúc ở Việt Nam,
bác sĩ phải cho uống thuốc an thần. Sau này may mắn được di tản qua sống
ở Mỹ nhưng rồi cũng không tránh khỏi bệnh nan y Alzheimer, chị hoàn
toàn mất trí, thể xác trông cậy vào người chồng thủy chung, ngày xưa là
người chỉ huy chiến trận tài ba, bay giờ biến thành người y tá tận tụy
và hy sinh nhẫn nại cho người vợ tao khang, quen biết từ thuở còn niên
thiếu.
Ngày tôi sanh cháu bé, chồng tôi được nghỉ phép, anh ở hẳn
trong nhà thương với tôi, mặc cho những lời dị nghị của các cô bác theo
xưa cho như vậy là không tốt là bị “mắc phong long”. Mấy ngày sau tôi
rời nhà thương, anh được lệnh đi hành quân tại Campuchia. Nhìn anh đi
tôi khóc mãi vì nghe tin đồn ở Campuchia thường bị “Cáp duồn”. Mẹ tôi
khuyên “Con mới sanh khóc như thế không tốt đâu”. Nhưng tôi đâu nào nghĩ
đến sức khoẻ của tôi, tôi lo cho anh và không muốn con tôi mất cha.
Hàng ngày bận bịu nuôi con, nghĩ đến anh tôi chỉ biết cầu nguyện.
Đến năm 1973 chồng tôi chuyển sang làm việc hành chánh,
mặc dù ở đâu cũng là phục vụ cho nước nhà, nhưng anh không thích lắm.
Riêng tôi vui vẻ hơn vì đây là dịp mẹ con tôi được sống với anh hàng
ngày. Tại đây anh vẫn phải đi xuống thăm các quận thường xuyên. Đã có
các sĩ quan thỉnh thoảng bị chết vì địch phục kích dọc đường, cho nên
tôi vẫn tiếp tục lo lắng cho anh. Ngày này qua ngày khác, mỗi buổi chiều
tôi nghe chiếc xe lăn bánh trên con đường đá sỏi vào cổng là tôi biết
anh đã bình yên trở về. Có những chiều anh về rất muộn, tôi không yên
tâm được, vào phòng ngồi bất động âm thầm cầu nguyện. Tình thương đã
khiến tôi rất thính tai, tiếng cổng mở cửa từ xa tôi đã nghe
được, lúc đó tôi mới thở phào nhẹ nhõm, đi ra ôm lấy con và cùng nhau
ra đón ba nó.
Có những đêm pháo kích tôi sợ quá, một tay ôm choàng
lấy con, một tay nắm chặt tay anh, nhưng sau khi đợt pháo kích đầu tiên
đã chấm dứt, anh phải vội vã từ giã mẹ con tôi để băng qua cửa hông nhà
đi xuống hầm trung tâm hành quân, hầu tiện việc chỉ huy yểm trợ các đơn
vị đồn trú địa phương. Muốn cho chồng luôn được bình yên và tôi bớt đi
nỗi lo âu để yên tâm làm việc nội trợ, một hôm tôi đưa cho anh xâu chuỗi
mà vị linh mục đỡ đầu đã cho anh ngày rửa tội. Tôi nói “Anh nhớ luôn bỏ
xâu chuỗi này vào túi áo mỗi ngày anh đi làm việc, để có Chúa phù hộ
anh và em đỡ lo lắng cho anh.” Tôi biết đàn ông tánh không chu đáo lắm
nên tôi nói thêm “Anh thương em hãy nhớ lời em
dặn.”
Ngày tháng cứ thế trôi qua, chiến sự càng ngày càng sôi động,
cho đến một ngày mẹ con tôi từ giã anh, trở về ở với ngoại, để anh
không phải bận tâm gia đình. Chúng tôi từ giã đời sống gia binh. Lần này
tôi cũng nhìn anh rất kỹ và niềm hy vọng gặp lại anh ít hơn.
Khi cuộc sống của người vợ lính thời chiến chấm dứt thì những
ngày nghiệt ngã mới lại bắt đầu. 30/04/75 đã chấm dứt cuộc đời binh
nghiệp của chồng tôi và anh đi tù với mười ba năm cải tạo. Riêng tôi,
ngoài trách nhiệm nuôi chồng, nuôi con, nỗi lo âu vẫn còn và sự mong đợi
chồng về mỏi mòn hơn.
Sau cùng, nhờ ơn trên, nhà tôi đã trở về. Anh vẫn còn giữ xâu chuỗi
ngày xưa đã cùng anh sống trong ngục tù với những chỗ bị đứt đã nối lại
và rơi mất một hạt.
Hơn hai mươi năm làm vợ lính thời chiến, 13 năm vợ tù cải tạo của
thời bình, là người con gái ở miền quê Bàu Trai, tôi có làm gì đâu mà
suốt đời chỉ sống với nước mắt.
Chiến tranh đã cướp mất tuổi thanh xuân của bao nhiêu người vợ trẻ.
Chỉ còn lại Việt Nam, một quê hương điêu linh, một dân tộc bất hạnh
triền miên trong chiến tranh và nghèo khó.
Thôn Nữ Bàu Trai
nguồn: Email của TH
2. Chân Dung Người Vợ Lính Việt Nam Cộng Hòa
Trong cuộc sống, sự thành công hay thất bại nào cũng có cái giá của
nó. Trong chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến tích lừng danh
mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải trả, là những đồng đội đã hy
sinh, những đồng đội khác đã để lại một phần thân thể trên khắp miền
đất nước, và hệ lụy dài lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha, những
người vợ vĩnh viễn xa chồng! Người quân nhân hy sinh vì tổ quốc, là sự
hy sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi ghi công. Nhưng, hình ảnh người quả
phụ, với một nửa tâm hồn, một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo
chồng lên đài tổ quốc ghi công, và những nửa còn lại có trách nhiệm
trang bị cho các con một hành trang vào đời, phải được thừa nhận là sự
hy sinh không kém phần cao cả
như người chồng dũng cảm nơi chiến trường, rất xứng đáng được kính
trọng.
Cũng trong chiến tranh, chồng ở chiến trường, vợ ở nhà quán xuyến
công việc gia đình mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có những việc
chưa kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là việc. Chăm sóc các con, chăm sóc
tình thân gia đình quyến thuộc, chăm sóc tình bạn bè bằng hữu. Để rồi,
những giờ phút yên tỉnh về đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng
nghĩ đến chồng nơi chốn xa xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt,
với bao khắc khoải lo âu, sầu muộn!
Rồi chiến tranh chấm dứt trong nỗi nghẹn ngào uất hận, bởi đây là
cuộc chiến mà cuối cùng “bị chấm dứt để thua trận”! Sau lời tuyên bố của
vị Tổng Thống cuối cùng, hàng trăm ngàn đồng bào, quân nhân, viên chức,
cán bộ, bỏ của chạy lấy người, tỵ nạn trên đất Mỹ. Với những thành phần
tương tự như vậy gồm 222.809 người, lũ lượt bị lừa vào 200 trại tù trên
khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15 năm, thậm chí 17 năm ròng
rã, do lòng thù hận tột cùng của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam. Hằng
trăm ngàn gia đình di tản ra ngoại quốc, cũng như hằng chục triệu gia
đình còn lại trên quê hương, tất cả đều hụt hẫng. Hụt hẫng vì cuộc sống
trên đất người với biết bao xa lạ trong một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu
chưa
thể hội nhập. Hụt hẫng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào chế độ
độc tài trên toàn cõi nước Việt Nam!
Cảnh đời thứ nhất. Trong cuộc đời tỵ nạn, vợ chồng con cháu có cơ
hội bên nhau, cùng chia xẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận
chung nỗi nhục! Nỗi nhục phải rời khỏi quê hương trong thân phận lưu
vong! Với những bà vợ chúng ta, vốn sinh ra và trưởng thành trong xã hội
nông nghiệp, nay phải cùng chồng từng bước hội nhập vào xã hội kỹ nghệ
nơi định cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng về nhà trong
màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi hãng xưởng. Lạnh đến nỗi
không biết giọt nước lăn trên má là nước mắt, hay mảnh tuyết vừa tan!
Cảnh đời thứ hai. Trong xã hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận,
thì gia đình ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ đau, của
nước mắt bởi chính sách bịt mắt bịt tai bịt miệng! Cái chế độ mà những
người lãnh đạo luôn miệng huênh hoang là “dân chủ gấp trăm lần dân chủ
tư bản”, lại bắt mọi người phải sống trong nỗi sợ hãi triền miên với
những đôi mắt rình rập quanh năm suốt tháng!
Cảnh đời thứ ba. Riêng với những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù,
còn tệ hơn nhiều so với hai cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải đối phó
với bọn cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu óc toàn đất sét và rác
rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp đoạt. Đồng thời phải chăm lo cuộc sống các
con từng ngày, lo nuôi chồng từng tháng!
Và những bà vợ chúng ta, hải ngoại hay trong nước, thật sự là Những
Người Đàn Bà Việt Nam rất can đảm khi phải chịu đựng và vượt qua nỗi
đau nỗi nhục đó! Đau đến nỗi không còn nước mắt để khóc, nhục đến nỗi
chẳng còn lời để than! Nếu đem so sánh giữa hai cảnh đời trong nước với
ngoài nước, thử hỏi: “Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?” Với tôi, không
ai đau hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào cũng có cái đau
riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng của nó! Xin những ông
chồng diểm phúc, hãy nhìn lại đôi nét về hình ảnh Những Bà Vợ Chúng Ta
trong cuộc sống khổ đau thầm lặng đó, mà người viết được những bà vợ
trong cuộc kể lại:
Một cảnh đau thương. Một bà vợ cùng con cầm giấy phép “gánh gạo”
nuôi chồng trên đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gở!
Khi trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với dòng chữ “nhà vắng
chủ”. Đau đớn biết bao! Xót xa biết dường nào! Bỗng dưng nhà bị mất! Bà
gục đầu vào cửa! Bà cùng gia đình định cư tại Houston, Texas từ tháng 4
năm 1991.
Một cảnh đau thương khác. Một bà vợ đã bao nhiêu lần bị công an
Phường ra lệnh đi khu kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi. Chúng hành hạ
bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo ngồi đó từ đầu giờ đến cuối giờ,
ngày nào cũng vậy, và ròng rã 6 tháng như vậy. Một hôm, chúng bảo đưa
giấy tờ nhà để giải quyết. Khi chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra
lệnh trong vòng 24 tiếng đồng hồ bà phải ra khỏi nhà. “Ôi! Còn nỗi đau
nào cao hơn nỗi đau này trong cảnh đời thua trận!” Bà xiêu vẹo trên
đường về nhà cách đó mấy dãy nhà liên kế cũng trong cư xá Bắc Hải, và
gục ngã ngay trước nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng bắc California từ
năm 1993, nhưng chồng đã qua đời vào năm 2003.
Một cảnh đau thương khác nữa. Một bà vợ có chồng bị giam trên đất
Bắc hằng chục năm trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn lội khắp các cơ
quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém, mệt nhọc, nhưng hoàn toàn bặt tin.
Nỗi buồn đến với bà quá sức chịu đựng của người phụ nữ tuổi 50, mà có
lúc bà cảm thấy như mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần xuống…… Bà bị
tai biến mạch máu não, nằm bất động một chỗ.
Nhiều tháng sau đó, bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy cho
phép bà thăm chồng. Trại tù chỉ cách nhà vỏn vẹn 1 cây số (khám Chí
Hòa). Bạn bè khiêng bà đến nhà tù. Cả hai “chồng đứng đó vợ liệt toàn
thân”, chỉ biết nhìn nhau, òa khóc…! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời!
Phải chăng, mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao quanh hai con người
đau khổ đó? Không. Không chỉ có vậy. Mà là tất cả những bà vợ có chồng
bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh đời trên đây trong
hàng vạn cảnh đời trên đất nước Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó!
Tình trạng bại liệt đó theo Bà cùng chồng định cư tại Houston, nhưng
rồi Bà đã từ trần năm 2004!
Sài Gòn-Hà Nội 1.736 cây số, xe lửa tốc hành chạy 72 tiếng đồng hồ,
tức 3 ngày 3 đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí lô lên xe lửa,
mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho một loạt nhân viên từ cổng vào cho
đến nhân viên trên xe lửa. Hành lý ngổn ngang cả trên lối đi giữa toa
xe. Ban ngày cũng phải lách từng bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm,
thật khó mà tưởng tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai
băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên của hai
băng 6 người, máng được 3 cái võng cho 3 người, 1 người nằm co quắp trên
sàn xe đen đúa nhầy nhụa giữa 2 băng đối diện, và 2 người còn lại cũng
nằm co quắp trên 2 băng ngồi. Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ thấy,
băng ngồi đầy người nằm, những
chiếc võng bé xíu che kín trên đầu băng, cả lối đi vốn dĩ đã nhỏ hẹp
cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật hổn độn. Những bà vợ
thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô, biết bao là nhọc nhằn gian khổ!
Giả thử, nếu những ông chồng chứng kiến những hành khách nằm cong queo
trong cái gọi là chiếc võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy ấp
tình thương trên sàn xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ của mình, liệu có
cầm được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật lại, ông chồng nào
cũng
đớn đau thương cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh năm gánh gạo
nuôi chồng! Nhưng không có đớn đau thương cảm nào có thể đem cân bằng
nỗi đớn đau thương cảm của những bà vợ trọn tình vẹn nghĩa như vậy được
cả!
Tôi hình dung những bà vợ chúng ta qua hình ảnh trên đây mà chính
tôi trông thấy khi tôi ra trại tập trung cùng với 90 “bạn đồng tù”, từ
Nam Định về Sài Gòn bằng xe lửa đúng 72 tiếng đồng hồ hồi tháng 9 năm
1987.
Trên đây là một cố gắng dựng lại hình ảnh “Những Bà Vợ Chúng Ta”,
nếu không hoàn chỉnh thì ít ra cũng là những nét chính của hình ảnh ấy,
qua sự kết nối bốn hợp phần sau đây:
Hai hợp phần trong chiến tranh, là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những bà vợ mà chồng đang chiến đấu.
Hai hợp phần sau chiến tranh, là những bà vợ cùng chồng con di tản
ngoại quốc, và những bà vợ ở lại Việt Nam, vừa nuôi con trong một xã hội
đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong những trại tập trung nghiệt
ngã!
Những cảnh đời bi thương, những khổ đau sầu muộn, những nước mắt,
mồ hôi, được khơi lên từ những góc cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn
cảnh đời như vậy, mà Những Bà Vợ Chúng Ta đã chịu đựng trong những năm
dài thật dài!
Quyển Chân Trời Dâu Bể của Giao Chỉ, kể chuyện trên đất Mỹ, và
quyển Giữa Dòng Nghịch Lũ của Duy Năng, kể chuyện trên quê hương Việt
Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ nào đó, có thể xem là tiêu biểu
cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp
biết bao xót xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày
thua trận, dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái đất. Với
tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng Phụng Hà. Bà là một
trong số hằng trăm ngàn bà vợ thăm nuôi chồng trong tù. Ở phần kết, bà
nói:
“… Các anh trong tù, khổ về vật chất và đau về tinh thần đến vạn
lần, điều đó chúng tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ của các anh-
đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh nữa, các anh có biết không? Tôi
không đề cao một bà vợ nào, mà tôi đề cao tất cả những bà vợ thăm nuôi
chồng trong các trại tù cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng vững trong phẩm giá
Người Vợ Miền Nam. Họ, rất xứng đáng được các anh kính trọng. Và Họ,
chính là Vợ của các Anh”.
Vì vậy mà một số bạn đồng tù chúng tôi trong trại tập trung, đã
không quá lời khi nói với nhau rằng: “Ra tù, chúng ta phải cõng vợ chúng
ta đi vòng quanh trái đất, để đền bù đôi chút về sức chịu đựng biết bao
nhọc nhằn gian khổ đã nuôi các con và nuôi chúng mình.
Bây giờ nhìn lại, trong một ý nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính
trị chúng ta, đã cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Đến ngày Việt
Nam thật sự tự do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về quê hương là trọn
vòng trái đất như đã tự hứa, phải không quý vị?
Với nét chân dung đó, tôi quả quyết rằng, Những Bà Vợ Chúng Ta rất
xứng đáng được vinh danh. Và nếu quý đồng đội và quý vị đồng hương đồng ý
với tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng:
“Chúng ta cùng vinh danh Những Bà Vợ Chúng Ta là những người đàn bà
cao cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi, trong hoàn cảnh nghiệt ngã
của chế độ độc tài cộng sản, nhưng đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ
Miền Nam, cùng lúc, chu toàn thiên chức làm Mẹ, và tròn bổn phận làm
Con”.
Vinh danh bằng những tiếng nói
ân tình bên tai vợ, trao tặng vợ một bông hồng thật đẹp, hôn vợ những nụ
hôn thật dài. Điều đó luôn nhắc nhở người chồng trong cuộc sống thường
ngày, phải thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông vợ mình
nhiều hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt hơn, để cùng nhau đi suốt
chiều dài còn lại trong cuộc sống lứa đôi thật mặn nồng, như chưa bao
giờ mặn nồng đến như vậy. Trường hợp vì lý do gì đó mà bạn đang sống một
mình, xin bạn hãy gắn bông hồng màu đỏ lên nơi nào mà khi nằm nghỉ bạn
đều trông thấy, để trao tặng vợ khi đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy
đó, sẽ giúp bạn có được những giây phút sống lại những năm tháng mặn
nồng trong tình yêu vợ chồng thuở chung chăn
chung gối, thuở mà hai người dùng chung một tên./.
Phạm Bá Hoa
VIẾT CHO NGÀY QUÂN LỰC 19 THÁNG 6: NÀY BAO HÙNG BINH TIẾN LÊN! Người Lính Lê Văn Hải
Qua gần nửa thế kỷ, con số đúng nhất là đã 38 năm bền bỉ, vào mỗi tháng 6 Dương Lịch, đúng Ngày 19 Tháng 6, tại khắp các quốc gia trên thế giới, nơi nào có người Việt tỵ nạn, trong tinh thần tri ân,cảm mến những người đã hy sinh xương máu bảo vệ quê hương, nơi đó đều có tổ chức những buổi lễ trọng thể nhằm tưởng niệm vinh danh những Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.
Trong dịp này, ngoài những buổi lễ có hình thức kỷ niệm, văn nghệ, hay diễn hành trang trọng, nhắc nhở cho mọi người nhớ lại những hình ảnh của người lính thân yêu của miền nam Việt Nam trước năm 1975. Các cơ quan truyền thông Việt, Mỹ khắp nơi cũng trình bày nhiều tài liệu lịch sử, nhận định về một quân lực, đánh giá cao về sự can trường của những người lính và những khó khăn mà một quân đội phải đảm đương, phải vượt qua suốt trên hai mươi năm dài, qua hai nền Cộng Hoà trẻ trung, cuối cùng bị… đồng minh bội phản bức tử đau thương, hờn tủi!
Riêng những nhà nghiên cứu về lịch sử, quân sử qua thời gian dài lắng đọng, nhận định đúng sai về cuộc chiến Việt Nam đều đồng ý rằng: Trong lịch sử thế giới thế kỷ gần đây, chưa có một quân đội nào phải gánh chịu nhiều đau thương, nghiệt ngã, tủi nhục như quân đội VNCH. Một quân lực có lúc được coi như hùng mạnh nhất miền Đông Nam Á, quân số lên đến cả triệu. Quân đội đó đã từng chiến đấu anh dũng, hiên ngang đối mặt với kẻ thù Cộng Sản trên khắp các mặt trận, đã từng chiến thắng vinh quang, đã từng gây cho kẻ thù những tổn thất kinh hoàng, nặng nề trên khắp vùng lãnh thổ. Giữ từng tấc đất quê hương, chưa bao giờ “hèn với giặc, ác với dân,” không hề dâng cúng, sang nhượng một tấc đất nào của tổ tiên cho bất cứ thế lực ngoại bang nào, hiên ngang bảo vệ quê hương kéo dài trên hai thập niên. Vậy mà chỉ có một sớm một chiều, quân đội hùng dũng ấy lại bị tan hàng, buông súng, dẫn đến tháng Tư tang thương, để từ đó dân tộc Việt Nam phải chìm xuống vũng lầy đỏ đến bây giờ vẫn chưa tìm ra lối thoát! Tại sao? Tại ai?
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐÓNG ĐINH MỘT QUÂN LỰC OAI HÙNG VÀO THẬP GIÁ?
Đó là dùng kỹ thuật cổ xưa như trái đất, nhưng khi áp dụng, lúc nào cũng có kết quả. Tích xưa kể rằng: Có một người kia muốn làm thịt con chó nhà hàng xóm, hắn ta chờ con chó ra đường rồi rượt theo, la lớn: “Bớ làng nước ơi, con chó điên này nó định cắn tôi”! Thế là mọi người hưởng ứng tức thì, người cầm gậy, người đá, người đấm, con chó chết tươi! Nhìn con chó chết, kẻ lập mưu cám ơn mọi người rồi xoa tay nói lời ân nghĩa: ”Để nó chết bờ chết bụi tội nghiệp, tôi xung phong đem nó về chôn”! Ai cũng khen anh ta biết lo chuyện an nguy cho mọi người và là kẻ tốt bụng! Đúng là được cả tiếng lẫn miếng! Vì thế, cổ nhân đã tóm gọn trong câu: ”Muốn giết chó, hãy gọi nó là con chó điên”!
Mưu kế hèn hạ này cũng đã được dùng để giết chết một quân đội oai hùng. Một đồng minh bội ước, tham lợi hơn tình, cấu kết với quân thù tạo nên phong trào phản chiến, bôi bẩn hình ảnh những người lính anh hùng, đang ngày đêm xả thân chiến đấu bảo vệ lý tưởng tự do. Thật đúng với câu: ”Khi đồng tiền và quyền lợi xâm chiếm, lương tâm sẽ đội nón ra đi”! Ôi buồn thay số phận đen đủi cho một quân lực nghiệt ngã!
Với Chúa Cứu Thế, người chủ trương hoà bình, yêu thương với cả… kẻ thù! “Vả má này, đưa tiếp má kia” cho kẻ muốn đánh mình đánh tiếp. Hoàn hảo như thế làm sao có lý do để giết? Dễ thôi. (Lại dùng phương pháp chó điên, cổ như trái đất.) Đổ cho Ông là người có máu cách mạng, muốn lật đổ chính quyền để làm… Vua! Chỉ cần một lý do sơ đẳng này, đã quá đủ để “rửa tay” đem nạn nhân ra “đóng đinh” giết thoải mái.
Đau đớn thay một quân lực, chỉ vì quyền lợi của những cường quốc, những tham vọng thoả hiệp trên bàn cờ quốc tế, đồng minh tin cậy nhất đã phản bội họ, đâm sau lưng họ, bằng “một nụ hôn Du Đa bán Chúa” qua Hiệp Định Bàn Tròn Ba Lê năm 1972, từ đó ngưng tiếp tế vũ khí, trói tay bạn trên chiến trường, lũng loạn hậu trường chính trị để làm nản chí và mất niềm tin chiến đấu, tạo điều kiện thuận lợi và dọn đường cho bọn Cộng Sản Bắc Việt cưỡng chiếm Miền Nam.
Lạ lùng thay, quân lực VNCH khi bị bỏ rơi, vẫn kiên nhẫn, vẫn kiên cường chiến đấu đơn độc, vẫn chiến đấu dũng cảm chống kẻ thù đông hơn gấp bội, vũ khí tối tân và dồi dào hơn gấp nhiều lần, với sự yểm trợ tích cực không điều kiện từ tinh thần đến vật chất của Liên Xô, Trung Quốc và cả khối Cộng Sản Quốc Tế. Quân lực VNCH vẫn gan dạ, sừng sững như núi, hy sinh vững vàng chiến đấu. Nếu cấp chỉ huy của họ không ra lệnh buông súng, sáng suốt không áp dụng chiến thuật “triệt thoái cao nguyên,” quyết định sống mái tới giây phút cuối cùng, thì chưa chắc ngày hôm nay phần thắng đã thuộc về ai!
Niềm đau bị bức tử không chỉ nằm trong việc bị đồng minh phản bội, không cho người lính VNCH có cơ hội một mất, một còn đọ sức với quân thù. QLVNCH thất trận không phải vì thua kém, mà vì không có cơ hội chiến đấu. “Cọp trong cũi sắt phải giương mắt nhìn”, để đám khỉ “nhảy bàn độc” mặc tình bày trò nhố nhăng. Những niềm đau, nỗi nhục sau khi cuộc chiến kết thúc, đã kéo dài suốt gần nửa thế kỷ và còn mãi mãi, chết vẫn chưa quên! Như vết sẹo hằn sâu trên cơ thể nhắc nhở hoài đau thương, chỉ cho đến khi nào QLVNCH có cơ hội chiến thắng lại kẻ thù qua bất cứ hình thức nào, thì niềm đau kia mới phai mờ.
TRẢ LẠI SỰ THẬT CHO LỊCH SỬ
Trở lại chiến dịch hèn hạ bôi bẩn để bức tử một quân lực kiêu hùng, quân thù đã cấu kết với bọn ngụy hòa bôi nhọ hình ảnh người lính VNCH. Nào là quân đội ấy chỉ có những tướng tá (nhất là từ gốc Tây) tồi tệ tham nhũng, những quân nhân vô kỷ luật hèn nhát, bỏ chạy trước quân thù, giỏi hà hiếp dân, đi đến đâu thì ăn cắp gà, cắp heo.. thật là rừng rú! Hình ảnh tướng Loan xử bắn tên đặc công Việt Cộng Bảy Lốp tại Chợ Lớn là một bằng cớ để buộc tội tính chất dã man (?), ngậm máu phun người của kẻ thù và bọn tay sai . Đám bất lương này nâng cao kẻ thù lên tận mây xanh, báo chí phản chiến thì đăng hình ảnh chị tài tử Jane Fonda ngồi vắt vẻo, tươi cười bên họng súng phòng không, có các “anh bộ đội” vây chung quanh hít hà, bên cạnh tấm ảnh người lính VNCH đang chĩa súng vào đầu một người dân (thật ra chỉ là tên Cộng Sản trá hình.) Nhưng nào ai biết lòng lang dạ thú và mưu mô xảo quyệt của Việt Cộng đã dàn dựng. Dư luận thế giới vẫn cứ tin. Chiến dịch bẩn thỉu này đã dìm hình ảnh người lính VNCH xuống tận bùn đen mà không có cơ hội được giải thích, kéo dài mãi trong cuộc chiến.
Nhưng sau tháng Tư 1975, hình ảnh “hiền từ“(?) của kẻ chiến thắng đã hiện nguyên hình là những tên đồ tể khát máu đã làm thế giới sửng sốt. Trại tù “cải tạo” mọc lên khắp nước, hàng triệu người phải liều mình bỏ nước ra đi, một phần ba số người này đã vùi thân trong lòng biến cả hoặc nơi rừng sâu nước độc, khi tìm đường chạy trốn bọn người “giải phóng”. Các lương tâm thật sự lu mờ hay cố tình lu mờ, nhắm mắt nay bắt đầu nhìn thấy đâu là sự thật, đâu là chính nghĩa. Và hầu như ai cũng đều đau xót công nhận “kẻ ác đã thắng cuộc!”
Bây giờ thì đã quá trễ để người đồng minh hối hận chuộc lại những tội ác tày trời khi nhẫn tâm bỏ rơi (bên thua cuộc) miền Nam vào tay Cộng Sản. Đã bắt đầu có những bài báo thú nhận những lỗi lầm trong việc bôi bẩn một quân lực dũng cảm. Hàng chục lời xin lỗi từ những giới chức cao cấp nhất có liên hệ đến cuộc chiến. Tác giả chụp tấm hình tướng Loan đã ngỏ lời xin lỗi. Đài kỷ niệm các chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến Việt Nam mọc lên khắp nơi, hình ảnh người lính VNCH đã chiến đấu cho tự do cũng được vinh danh. Miền Nam Cali, một tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ vinh danh trang trọng. Rồi Úc châu, Canada… phải mất một thời gian, những sự thật đã trả lại cho lịch sử. Điển hình nhất là Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ lại được quý trọng tung bay trên bầu trời khắp các quốc gia tự do trên thế giới.
Thống Tướng Westmoreland xin lỗi các Cựu Quân Nhân QLVNCH:
“Chúng ta không thua tại Việt Nam, nhưng chúng ta đã không giữ đúng lời cam kết đối với Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đồng minh của chúng ta.”
“Thay mặt cho quân đội Hoa Kỳ, tôi xin lỗi các bạn Cựu Quân Nhân của Quân Lực Miền Nam Việt Nam vì chúng tôi đã bỏ rơi các bạn!”
(On behalf of the United States Armed Forces, I would like to apologize to the veterans of the South Vietnamese Armed Forces for abandoning you guys.)
Hàng loạt những tác giả đã biết nhận thức đúng hình ảnh của người lính mà họ từng gọi là “bé nhỏ“, nhưng có một tấm lòng dũng cảm bao la, một lý tưởng cao cả vì dân vì nước mà chiến đấu và hy sinh thân mình.
Điển hình, trên tiêu đề Heroic Allies, tạp chí Việt Nam tháng 8, 1994, tác giả Hary F. Noyes đã viết như sau: “Thật đau lòng khi có nhiều cựu chiến binh Mỹ tham chiến tại Việt Nam lại đi cấu kết với đám phản chiến, với những tên trốn quân dịch và bọn chính khách hoạt đầu, xúm nhau vào hèn hạ bôi lọ một quân lực không có một cơ hội để tự bào chữa. Nhục mạ một quân đội bị phản bội vì chính đồng minh của mình, hành động đó thật đê tiện, bất xứng.”
Trong bài này, tôi sẽ nêu ra một số bằng chứng xác đáng để phản bác lại các luận điệu đê hèn khốn nạn đó. Họ mạ lỵ người lính VNCH thiếu tư cách, lòng can đảm và tinh thần ái quốc?
Bằng chứng đâu họ nói như thế. Chỉ riêng trận đánh Tết Mậu Thân đã chứng minh dư thừa khả năng chiến đấu tuyệt vời của người lính VNCH. Cộng Sản với ý đồ đánh lén, bất ngờ tổng công kích vào thời gian thiêng liêng nhất trong năm, nhằm bẻ gãy ý chí phòng thủ của miền Nam. Nhưng chúng đã thất bại nặng nề, binh sĩ VNCH đã chống trả mãnh liệt, không một đơn vị nào tan rã, tháo chạy. Thậm chí cảnh sát, nhân dân tự vệ, với vũ khí thô sơ đã chống lại những lính chính quy Bắc Việt, trang bị vũ khí hạng nặng. Tất cả phần đất địch tạm chiếm, QLVNCH đã chiếm lại, từ Cổ Thành Quảng Trị cờ Vàng lại bay trên thành phố thân yêu! Sau thời điểm này, số người tình nguyện nhập ngũ bảo vệ đất nước lên qúa cao, đến nỗi chính phủ phải ngưng tuyển mộ lính trong một thời gian dài. Nếu thiếu lòng can đảm, tinh thần ái quốc, sao họ làm được công việc thần thánh đó?
Rồi trong trận chiến mùa hè đỏ lửa năm 1972, các chiến binh VNCH bị vây hãm tại An Lộc đã anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng hùng hậu của địch, kèm theo những trận mưa pháo triền miên bất tận, vậy mà cuối cùng họ cũng đã đè bẹp được những trận tấn công liên tục của các chiến xa địch quân. Một cố vấn Mỹ đã kể lại: “Chỉ có một tiểu đội Bộ Binh, lại được lịnh phải phá huỷ 3 cỗ xe tăng của địch. Ông tiếp tục kể, như lạc vào chuyện thần thoại, các binh sĩ này lại có ý định bắt sống những chiếc xe tăng kia, lạ lùng thay họ gần làm được điều đó, họ bắt sống được 2, chỉ còn một chiếc chạy thoát!
Những hành động đó đã nói lên tinh thần chiến đấu cao độ và sáng kiến tác chiến, quân đội nào có thể thực hiện được điều đó, than ôi, thế mà họ vẫn bị cáo buộc là hèn nhát, chưa đánh địch đã bỏ chạy.
Một thí dụ khác nói lên cái nhìn thiên lệch của bọn truyền thông hèn nhát thành kiến. Đó là trận vây hãm ở Khe Sanh, họ cho chiến thắng đó là do nhờ đơn vị Thuỷ Quân Lục Chiến của Hoa Kỳ, nhưng họ đã quên hơn một tiểu đoàn Biệt Động Quân đã cùng sánh vai chiến đấu, chia xẻ nỗi gian lao mới có chiến thắng kể trên! Nếu không có đơn vị thiện chiến này, trận đánh Khe Sanh không còn được nhắc nhở. Bất cứ tình cảnh nào, họ vẫn là những người lính dũng cảm”.
Đại tá Robert Monelli đã kể lại trên báo Armed Force Jounal số 19 tháng Tư năm 1972 như sau: “Thật là một phép lạ, một tiểu đoàn VNCH với khoảng 429 binh sĩ, bị bao vây liên tiếp trong 3 ngày bởi một trung đoàn Cộng Sản từ 2,500 đến 3,000 tên. Vì địa thế hiểm nghèo không thể tiếp tế cho họ được, nên họ đã phải chiến đấu cho đến hết đạn, rồi mở đường máu bằng chính khí giới tịch thu của địch. Kỳ diệu thay, họ đã mang theo tất cả binh sĩ bị thương, cả những xác chết đồng đội của họ. Cố Vấn Mỹ không tin, cho không ảnh thám sát, chụp hình đếm được đúng 673 xác địch nằm ngổn ngang chung quanh căn cứ. Đến bây giờ ông vẫn không hiểu tại sao họ đã làm được những điều lạ lùng như thế! Họ là những người lính chiến đấu lạ lùng cừ khôi, gan dạ.”
Rồi một luận điệu khác, nếu anh dũng như vậy, sao không chịu đánh đến viên đạn cuối cùng? Trách người sao không nghĩ đến ta. Nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị bỏ rơi như binh sĩ miền Nam Việt Nam, có lẽ họ ứng xử chẳng có gì khá hơn, ngược lại còn tệ hơn nhiều.
Hãy nhớ là Hoa Kỳ đã cắt viện trợ nặng nề từ năm 1973, hậu quả là không còn nguyên liệu, đạn dược đủ cung cấp cho chiến trường. Phi cơ, quân xa nằm ụ trong bãi, đại bác chỉ được bắn tối đa 3 trái mỗi ngày, họ bị trói tay toàn diện.
Chính điều này đã được tướng VC Văn Tiến Dũng công nhận trong tác phẩm Đại Thắng Mùa Xuân của y:
“Từ khi Mỹ cúp viện trợ, khả năng di động và hoả lực của quân đội VNCH sa sút hơn phân nửa, chính vì đó mà quân đội Miền Bắc mới có cơ hội chiến thắng”. Thiếu phương tiện chiến đấu như thế vậy mà Cộng Quân vẫn phải kinh khiếp, 30 tháng Tư “họ vẫn không ngờ là họ đã thắng”!
Thành thật mà nói, chính vì lịnh chỉ huy sai lầm của những tướng lãnh của họ, quân đội VNCH đã chiến đấu gần như tầm thường trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng tuyệt hảo cầm chân địch tại mặt trận Xuân Lộc.
Họ chỉ bất hạnh một điều là đã cộng tác với một đồng minh thiếu sự chân thành. Nếu được yểm trợ đầy đủ, họ có thể tạo ra những trận thư hùng nẩy lửa, không thua bất cứ một quân lực nào trên thế giới này! Chúng ta có lỗi lầm bỏ lỡ cơ hội cho họ có dịp cứu vãn đất nước. Ngoảnh mặt cho tội ác chiến thắng công lý, lịch sử Mỹ mang một vết nhơ suốt đời không thể gột rửa. Có xin lỗi thì đã muộn, cũng bằng thừa mà thôi.”
VƯƠN LÊN TỪ ĐAU THƯƠNG, BIẾN ĐAU THƯƠNG THÀNH HÀNH ĐỘNG, HOA TỰ DO PHẢI ĐƯỢC TƯỚI BẰNG MÁU!
Hơn hai trăm năm mươi ngàn (250,000) chiến sĩ Việt Nam Cộng Hoà đã bỏ mình trong cuộc chiến, họ đã vì dân vì nước mà hy sinh thân mình. Đây là những hạt giống để cánh đồng tổ quốc không chóng thì chầy, sẽ nở hoa Tự Do. Rất nhiều nhà tranh đấu cho tự do dân chủ trong nước hiện nay cảm hứng được chính nghĩa sáng ngời của VNCH, họ đang dùng nó như thuốc súng để chống lại chế độ CS độc tài tuyên truyền xảo trá.
Lịch sử dân tộc nào cũng đã chứng minh, nếu biết biến đau thương thành hành động sẽ là sức mạnh vô biên. Đau thương là kho tàng vô tận nếu ta biết khai thác. Nếu người Do Thái không bị đưa hàng triệu người vào phòng hơi ngạt, đã không có nước Do Thái như ngày nay. Nếu chồng Bà Trưng Trắc không bị giết, chưa chắc chúng ta đã có một trang sử lẫm liệt oai hùng như thế.
Nếu phải nung nấu đau thương như người dân nước Việt bên Tầu thưở xưa, chất gai nhọn làm giường, treo túi mật trước mặt. Khi nằm trông thấy cái mật, khi ăn thì nếm xem mật đắng ra sao. Thấm thía nỗi đau từ thể xác đến tâm hồn của đoạn trường thâu canh, nuốt nỗi đắng tê rụng rời của kẻ mất nước, từ vua cho đến dân, bền gan vững chí phục thù, cuối cùng cũng lấy lại được giang san. Nên nhắc lại những hình ảnh bạo tàn của Cộng Sản đối xử với người lính chế độ cũ, cũng là mục tiêu số 1 để trả thù, mang chịu nhiều thương tổn nhất, sau khi người Cộng Sản chiếm được cả đất nước, tưởng cũng là điều cần thiết cho sự quang phục quê hương.
* Làm sao quên được hình ảnh hàng ngàn người thương binh, què cụt đó, trên mình mang đầy thương tích, lê lết rời khỏi nơi họ đang nằm điều trị tại các Quân Y Viện ngay trong những ngày đầu tiên khi Cộng Sản vừa cưỡng chiếm miền Nam.
Chúng đã tàn ác đuổi những thương binh này ra đường để lấy chỗ cho những thương binh của chúng và nhất là để trả thù. Không ai biết được số phận của những người bị thương nặng không thể đi được, ra sao. Và ngay cả những người lê lết kia, nếu quê họ ở xa, thì làm sao họ có thể trở về với gia đình để được những người thân săn sóc.
* Làm sao quên được những cái chết hào hùng và bi thảm của những Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Trần Văn Hai, Hồ Ngọc Cẩn, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú và hàng trăm sĩ quan, hạ sĩ quan, binh sĩ đã tuẫn tiết trong ngày cuối cùng của cuộc chiến, làm cho chính kẻ thù cũng phải kinh ngạc và trang sử bi hùng này mãi mãi làm mọi người dân phải thán phục.
* Làm sao quên được hình ảnh của hàng trăm trại lao động khổ sai rải rác suốt từ Bắc chí Nam vào giữa thập niên 1970 và suốt thập niên 80 mang mỹ danh là “Trại Học Tập Cải Tạo”. Trại cấp trung ương, trại cấp tỉnh, trại cấp huyện, trong đó hàng trăm ngàn sĩ quan, hạ sĩ quan , binh sĩ Cộng Hoà kéo dài cuộc sống đầy đoạ, bị lăng nhục về tinh thần, bị hành hạ về thể xác và có người đã sống trong tình trạng đó trong gần hai chục năm trường.
* Làm sao quên được những người bạn cùng chiến đấu đã bỏ nắm xương tàn tại những nơi rừng sâu núi thẳm vì không chịu đựng được sự hành hạ của trại tù Cộng Sản, đói không có cơm, đau không có thuốc.
* Làm sao quên được cảnh tượng những người chết chẳng được yên mồ: Bao nhiêu nghĩa trang quân đội bị Cộng Sản đập phá, đào bới nhằm lăng nhục và trả thù cả những người đã nằm xuống. Hèn hạ đến thế, chết cũng không được yên!
Chỉ bấy nhiêu thôi đã quá đủ cho lời thề một mất một còn với quân thù Việt Cộng, những kẻ không còn tim óc mà loài thú hay quỷ hoả ngục cũng không có những hành động dã man, tàn tệ như thế đối với đồng loại của chúng.
* 38 năm qua họ làm được gì, quê hương vẫn bị xếp vào hành những quốc gia nghèo đói nhất trên thế giới. Phụ nữ trẻ em được bán làm nô lệ tình dục cho đàn ông khắp nơi. Không độc lập, không tự do! Cắt đất, nhượng biển cho quan thầy, nhằm giữ vững ghế cai trị cha truyền con nối. Bắn ngư dân mà không đám nêu đích tên, chỉ dám gọi là tầu lạ! Nhu nhược với giặc, hung ác với dân.
Than ôi! Chẳng có chữ nghĩa nào diễn tả, viết đến cạn máu tim cũng không thể nào tả hết nỗi oán hận thấu trời này. Như người thợ rèn, biết biến thanh sắt vô dụng thành gươm báu, biến đau thương thành lời thề, ý chí, niềm tin.
Anh linh tử sĩ của hơn 250,000 chiến sĩ VNCH cùng với hồn thiêng sông núi sẽ luôn luôn yểm trợ chúng ta trên con đường đấu tranh, một ngày nào đó sẽ giúp chúng ta lấy lại được quê hương trong tay những kẻ man rợ.
NÀY BAO HÙNG BINH TIẾN LÊN!
Năm 1976, Indonesia cưỡng chiếm Đông Timor là một nước Dân Chủ Cộng Hoà bé nhỏ, với diện tích 14,874 km2 và dân số vỏn vẹn dưới một triệu người, nói chính xác là 714,847 công dân .
Đông Timor chiến đấu liên tục bền bỉ gần 25 năm! Với hàng ngàn người chết, hàng vạn người mất tích, tù đầy vì lý tưởng tự do, độc lập thật sự cho quê hương họ.
Cuối cùng người dân Đông Timor đã giành lại được độc lập, trở thành quốc gia đầu tiên trong tân niên kỷ, làm cả thế giới ngả nón ngưỡng mộ và khâm phục !
Sự kiện kiên trì đấu tranh của một dân tộc nhỏ bé kia trong cuộc chiến không cân sức, đã cho chúng ta rút tỉa ra một bài học đấu tranh đáng giá. Phải chăng cuộc chiến thắng anh dũng thần thánh đó, cứ lớp người này ngã xuống thì lớp khác tiếp tục đứng lên, miễn là cùng một lòng bền gan, vững chí thì bạo quyền nào cũng khiếp sợ, thế lực nào cũng phải lùi bước, chắc chắn dẫn đến thành công.
Sức mạnh không nằm ở vũ khí, quân đội, mà nằm ở lòng người. Trang sử oai hùng dân tộc Việt đã chứng minh bao lần nguyên lý vững chắc này. Giặc phương Bắc đông như kiến cỏ, nhưng một hội nghị Diên Hồng, giặc kia cũng phải tiêu tan.
Chúng ta hôm nay còn có gì để tự lực đấu tranh? Nhiều người bi quan hỏi như vậy. Xin thưa, chúng ta còn, còn rất nhiều, còn tất cả các yếu tố tất thắng! Nhất là rất đắc lực trong công tác yểm trợ đấu tranh quốc nội.
* Chúng ta còn giòng máu quật cường, bất khuất hun đúc lưu truyền bao đời từ các đấng tiền nhân diệt giặc giữ nước.
* Chúng ta còn sĩ khí của những kẻ đã từng một đời phụng sự dưới ngọn cờ Vàng ba sọc đỏ. Còn tình đồng đội thiêng liêng Huynh Đệ Chi Binh luân lưu trong dòng máu.
* Chúng ta còn đầy đủ chính nghĩa, ý chí để biến những thất bại, đau thương thành hành động tích cực đấu tranh cho tự do.
* Chúng ta còn trách nhiệm chưa hoàn thành trước Tổ Quốc, dân tộc hiện vẫn đang bị điêu đứng, lầm than. Cuộc chiến của chúng ta vẫn chưa chấm dứt, chưa có lệnh giải ngũ! Phải bền gan chiến đấu cho đến ngày toàn thắng bọn quỷ đỏ mới thôi.
* Chúng ta còn bè bạn và thế giới hiểu biết sẽ hỗ trợ chúng ta, qua chiến dịch Cờ Vàng là bằng chứng hiển nhiên nhất, còn nhân dân trong nước và đồng bào hải ngoại sẽ đồng loạt đứng dậy cùng với chúng ta hành động. Những lớp trẻ ngày qua chấp nhận tù tội đang hăng hái tham gia, báo hiệu một buổi sáng bình minh, sắp qua những ngày tăm tối.
Giờ đã điểm, đã có nhiều dấu hiệu bọn bán nước cầu vinh sắp bị lật đổ, trả nợ những tội ác gần một thế kỷ mà chúng đã gây ra.
Hai trăm năm mươi ngàn đồng đội của chúng ta đã làm xong nhiệm vụ, mang thân đền nợ nước, còn chúng ta? Thân phận trôi nổi trên xứ người, vật chất thời gian đang làm phai mờ tình chiến hữu, không thể một sớm một chiều quên cả màu cờ sắc áo của một thời phục vụ hay chiến đấu, một thời vinh quang hay điếm nhục, đau xót tội tù. Thử hỏi chúng ta cứ “cúi đầu xuống cát,” chỉ cần kiếm sự an nhàn cho thân mình và gia đình, mai kia xuống mộ thì trả lời ra sao với những đồng đội đã hy sinh, với các đấng anh hùng đã khuất?
HĂNG HÁI THAM GIA CUỘC ĐẤU TRANH. CUỘC CHIẾN SAU CÙNG VẪN CÒN ĐÂY, ĐÀO NGŨ LÀ HÈN NHÁT!
Hiên ngang hào hùng bước theo tiếng Mẹ kêu! Không còn súng, nhưng máu “người lính” vẫn còn đây, xăn tay áo chiến đấu với quân thù dù…bằng tay không! Các bạn đồng đội ơi, chờ tôi với! Hãy dành cho tôi một mộ phần để được nằm bên các bạn, hãy dành cho tôi một vinh dự, nhớ chừa cho tôi một lá quốc kỳ để gói trọn thân xác này tan rữa thành phân bón cho đất Mẹ có ngày nở hoa. Cho tôi tham gia vào trận đánh cuối cùng này. Có như thế, tôi mới trả nợ xong một thời mang trên người bộ quân phục ”TỔ QUỐC, DANH DỰ VÀ TRÁCH NHIỆM”. Bằng không tôi trả lời thế nào, khi các đồng đội đã khuất tra hỏi “Mày đã làm gì… để tiêu hết nửa đời sau?”
“Xin cho tôi một mộ phần, bên người Chiến Hữu của tôi!”
QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ MUÔN NĂM!
Kỷ niệm Ngày Quân Lực 2013
Người Lính Lê Văn Hải
Subscribe to:
Posts (Atom)


