Sunday, December 2, 2012

Tìm hiểu sự thật về đường mòn Hồ Chí Minh trong cuộc chiến Ðông Dương II (1955-1975) (I)


Bộ Đội Cộng Sản Bắc Việt trên đường xâm nhập vào Nam 

Một năm sau ngày miền Nam bị cưởng chiếm , phái đoàn Bắc Việt do Trường Chinh đại diện và Ðảng Bộ Việt Cộng Miền Nam tức " Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam " ( dưới quyền Phạm Hùng ) , đã chính thức họp tại Sài Gòn - để khai tử cái Mặt Trận “ MA “ - được Hà Nội dàn dựng và khai sinh từ ngày 20/12/1960 , nhằm lường gạt dư luận thế giới và dân chúng trong nước , qua âm mưu thôn tính Việt Nam Cộng Hoà . Cũng từ đó (1976) - cái gọi là con đường huyền thoại Hồ Chí Minh - tức đường mòn Trường Sơn với bí danh 559A , là hành lang để Hà Nội dùng để chuyển tiếp liệu , quân dụng và người vào Nam , từ năm 1959 tới ngày 30/4/1975 , cũng bị Đảng Cộng Sản Việt Nam nhận chìm trong quên lãng .

Bắt đầu từ năm 1989 tới 1991 , đã có nhiều biến cố chính trị quan trọng xảy ra tại Ðông Âu . Ðó là việc các nước chư hầu , lần lượt từ bỏ xã hội chủ nghĩa , kéo theo sự sụp đổ và tan rã của Liên Bang Sô Viết . Ðể cứu đảng khi đã mất cái dù che của Nga , Việt Cộng lại ngả về Tàu , đồng thời mở khẩu đổi mới , trải thảm đỏ , mời Hoa Kỳ , Nhật và Tây Phương vào làm ăn buôn bán . Nhờ vậy lớp son phấn che kín bản mặt thật của đảng , dần hồi bị xói mòn , bởi các tệ trạng tham nhũng , cướp bóc nơi cửa quyền và nhất là sự kiện đảng công khai bán nước cho ngoại bang , hèn nhục để cho dân mình bị Tàu Cộng bắn giết trên biển mới xảy ra vào tháng 1/2005 , đã làm cho cả nước không còn hãi sợ và tin Việt Cộng , kể cả một số không ít trí thức khoa bảng Nam Việt Nam trước đây , từng tin đảng là chính nghĩa , làm cách mạng chỉ để giải phóng đất nước bị Mỹ-Ngụy kềm kẹp bóc lột .




Ðể bảo vệ đảng cũng như quyền lợi của chóp bu đang hồi tiến nhanh tiến mạnh , Hà Nội lai lùi một bước , quay về với chiến lược cũ rích năm nào . Ðó là dùng lịch sử để lường gạt đồng bào và việt kiều thêm lần nửa . Ðảng đem những huyền thoại trên trời dưới biển năm nao , ra hâm nóng lại tinh thần yêu nước là “ yêu nước xã hội chủ nghĩa “ của cán bộ đảng viên , đang bị phân hoá lung lay niềm tin tới tận gốc , vì dành ăn , tranh quyền và ganh tị lẫn nhau bởi “ trâu cột ghét trâu ăn “ . Ngoài ra , đảng cho trùng tu lại các di tích chiến tranh , như Ðịa đạo Vĩnh Mốc ( Vĩnh Linh-Quảng Trị ) , Củ Chi ( Hậu Nghĩa ) , cũng như tái tạo lại con đường mòn Hồ Chí Minh . Công tác trên vừa có tính cách xoa dịu tự ái của những đảng vỉên bộ đội già bị vắt chanh bỏ võ , sau khi tàn chinh chiến . Ðồng thời lần nữa lừa bịp cũng như móc túi bọn du khách ngoại quốc , trong đó có không ít Việt Kiều trí thức Miền Nam ngày xưa trốn quân dịch , nên có bao giờ biết cũng như nếm được mùi chiến tranh bom đạn , và đám da trắng giàu có đa sự . Bọn này rất muốn biết và nhìn tận mắt con đường mà Hoa Kỳ , nói là đã oanh tạc một số bom đạn , nhiều hơn số lượng đả sử dụng trong thời đệ nhi thế chiến nhưng vẫn không ngăn nổi người và quân dụng Bắc Việt vào Nam .

Việc đẻ ra kế hoạch “ mười năm du lịch 1995-2005 “ của Võ Văn Kiệt tại nghị định số 307 ngày 24/5/1995 , cũng là một trong những sự sao y bản chánh của Trung Cộng , vì thấy Ðặng tiểu Bình đã thành công , khi xây dựng các khu du lịch và công nghiệp tại Thẩm Quyến , Hải Nam , Thượng Hải.. Từ đó Hà Nội đã bất chấp thực tế , vẫn hồng hơn chuyên , bỏ hằng tỷ bạc ngân sách quốc gia , để xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất và thành phố Vạn Tưởng , tại Quảng Tín-Quảng Ngãi , trước sự mai mỉa cười chê của thế giới . Khắp nước nơi nào cũng tổ chức các tour du lịch , để hốt bạc và tuyên truyền bộ mặt son phấn mới của Việt Nam xã nghĩa . Ngay chốn khỉ ho cò gáy như miền giới tuyến năm nào trong tỉnh Quảng Trị , cũng có một tour du lịch , từ Cửa Việt lên tới Khe Sanh , Tà Cơn , Cầu Treo DakRong , ngã ba QL9 và đường mòn Hồ Chí Minh , gọi là The Demilitarized zone tour , thường viết tắt là DMZ . Mục đích để đảng quảng cáo các chiến lợi phẩm thời chiến tranh và cái gọi là nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn , mà theo thân nhân của người quá cố , trong hòm chỉ có cát-đất mà thôi .


Có đọc trường thiên ký sự “ Ðường đi không tới “ của nhà văn Việt Cộng hồi chánh là Xuân Vũ , hay đã làm lính Việt Nam Cộng Hoà , mới cảm nhận được cái ý vị khổ nhục cùng tận của cuộc chiến Ðông Dương lần II (1955-1975) , do Ðệ tam quốc tế Cộng Sản chủ xướng , qua vai trò tên lính tiền phương đánh mướn là Việt Cộng . Trong cuộc chiến vô nghĩa phi lý này , mặt trận tại Trường Sơn , đã là mồ chôn hằng vạn tử sĩ của cả hai phía . Những địa danh như Dốc pháo cụt , Ðồi không tên , Sông A-Vương , Lũng Giằng , Khe Sanh , Dakto , A-Shau , Ia-Drang , Pleime , Ðức Cơ..... ra tận miền Bắc , càng lúc càng trở nên khốc liệt , khi nó chính thức trở thành con đường chiến lược để Bắc Việt xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà . Suốt thời gian chiến tranh , Võ Nguyên Giáp qua tư cách Ðại Tướng tổng tư lệnh quân đội Việt Cộng , đã từng tuyên bố với báo chí quốc tế , là hắn sẽ đốt rụi Trường Sơn , dù phải đem giết hết thanh niên nam nữ miền bắc . Cho nên không lạ khi thấy Xuân Vũ nói “ mạng người lá rụng “ , để viết về thảm kịch Ðường Ði Không Tới, của một số cán binh bộ đội hồi kết năm nào .

Tháng 11-1997 , Võ Nguyên Giáp khoe thành tích Bát Quái Ðồ , tức là đường Trường Sơn 559 , do Ðinh Ðức Thiện và Ðồng Sĩ Nguyên lần lượt chỉ huy suốt cuộc chiến từ 1960-1975 . Ngày xưa thế giới đui mù vì bị bọn trí thức khoa bảng , cha-sư , miền nam tuyên truyền lật lọng , nên chẳng bao giờ thấy được hình ảnh bộ đội Cộng Sản “ sinh bắc tử nam “ , khi ồ ạt vượt vĩ tuyến 17 , vào đường mòn Hồ Chí Minh , để tấn công cưỡng chiếm Miền Nam thanh bình no ấm , như họ đã thấy tại bán đảo Triều Tiên , vào tháng 6/1950 , qua cuộc chiến Cao Ly . Nhưng biết sớm hay muộn cũng giống nhau , vì ngày nay trên khắp nẻo đường Trường Sơn năm củ , từ Bắc Việt vào tới Phước-Bình Long , hằng ngày đã có hằng vạn nguời Việt , đói rách bị chĩa súng có gắn mã tấu sau lưng , để bắt họ làm nghĩa vụ lao động . Cũng qua cái hình ảnh đau thương này , đã làm cho mọi người trong cuộc của cả hai phía , chợt nhớ tới những cô gái Trường Sơn năm nào , luôn mỏi ngóng các chàng lính trận có lần đã đi vào con tim của họ . Ðể rồi từ đó tới nay , tuổi xuân tháp cánh lưng trời , mà bóng ai vẫn biền biệt , như cái huyền thoại Trường Sơn , thật sự đã chết trong tâm tư đồng bào sơn cước , khi họ bị Việt Cộng cướp đất , lừa bịp..... sau khi đất nước đã có hòa bình .

“ mai về quê mẹ , lên biên giới ;
thăm lại Trường Sơn thuở kiếm cung ;
rừng núi vẫn xanh màu khát vọng ;
chỉ ta hờn tủi , kiếp tha hương ....
”
.



1 - BỐI CẢNH LỊCH SỬ CÓ LIÊN QUAN TỚI CHIẾN CUỘC ĐÔNG DƯƠNG LẦN THỨ II (1955-1975) :
Ngày 7/5/1954 Ðiện Biên Phủ thất thủ , nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành Hai Miền riêng biệt , với Hai thể chê khác nhau , do cái gọi là tứ cường Liên Xô , Anh , Pháp và Trung Cộng tự ý quyết định số phận của đất nước và dân tộc Việt Nam , tại bàn hội nghị Genève ( Thụy Sĩ ) . Hoa Kỳ lúc đó là đồng chủ tịch nhưng vì một lý do gì đó , nên không ký vào biên bản . Từ đó , Bắc Việt do Hồ Chí Minh lãnh đạo , công khai theo chế độ Cộng Sản và là chư hầu của Nga-Tàu . Miền Nam chọn chính thể Cộng Hòa . Hai Miền Việt Nam lấy vĩ tuyến 17 - cũng là con sông Bến Hải , tỉnh Quảng Trị - làm ranh giới tạm chia . Theo tinh thần hiệp ước đình chiến , quân viễn chinh Pháp phải rút hết về nước , còn Việt Cộng trong mặt trận Việt Minh tại miền Nam , cũng phải tập kết ra bắc .

Từ khi chính thức làm trùm nửa nước , Hồ Chí Minh và đảng Việt Cộng , theo chân Mao Trạch Ðông , phóng tay phát động phong trào cải cách ruộng đất năm 1956 , làm cho hằng vạn người dân vô tội tại miền bắc , bị đấu tố chết thảm thương , trong số này hầu hết đều có công với nước hay với đảng trong chín năm kháng chiến chống Pháp . Nội vụ được giấu kín hay được bọn trí thức khoa bảng da trắng thân cộng như G.Kolko - tác giả quyển “ Việt Nam Anatomy of wars 1940-1975 “ - tuyên truyền hoàn toàn trái ngược với sự thật . Trong khi đó , tình hình chính trị của miền Nam từ A đến Z , bị bọn trí thức thân cộng trong và ngoài nước , moi móc , bịa đặt đủ điều vơí mục đích làm mất chính nghĩ quốc gia của người miền Nam , trong lúc đang chiến đấu chống lại sự xâm lăng của đệ tam quốc tế .

Tại Việt Nam Cộng Hoà , những năm đầu tiên , Tổng Thống Ngô Ðình Diệm đã gặp rất nhiều khó khăn , trong việc đương đầu với với các Giáo phái và lực lượng Bình Xuyên . Lợi dụng giậu đổ bìm leo , Việt Cộng nằm vùng tại miền Nam đã phát động các cuộc nổi loạn võ trang , gọi là đồng khởi tại Trà Bồng (Quảng Ngãi) , Bắc Ruộng ( Bình Thuận ) và Mõ Cầy ( Bến Tre ) , song song với các vụ khủng bố , ám sát đồng bào và viên chức xã ấp khắp nơi nhưng cuối cùng mọi hành động phá rối của Việt Cộng đều thất bại . Theo hầu hết các nguồn sử liệu còn lưu trữ , cho biết tình hình chính trị tại Việt Nam Cộng Hoà , vào những năm 1956 , 1957 , 1958 rất khả quan từ Sài Gòn cũng như các tỉnh , nơi thị tứ cho tới chốn quê làng , đâu cũng vui sống cảnh thanh bình no cơm áo ấm . Nhờ vậy Tổng Thống Ngô Ðình Diệm cũng như Chính Phủ Miền Nam , lúc đó đã gây được uy tín rất lớn trên thế giới .

Trước tình hình nguy ngập đó , Hồ Chí Minh đã phải gọi Lê Duẩn , lúc đó đang làm xứ bộ trưởng , chỉ huy cán bộ nằm vùng tại miền Nam , trở ra Bắc , để duyệt xét lại kế hoạch cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hoà bằng vũ lực , thay vì kỳ vọng vào cuộc tổng tuyển cử thống nhất đất nước như Hiệp định Geneve 1954 đã qui định , mà Việt Nam Cộng Hoà không chịu thi hành , vì không hề ký vào biên bản hiệp ước trên . Trong phiên họp lần thứ 15 của Bộ Chính Trị Trung Ương Ðảng , khai diễn ở Hà Nội vào tháng 1/1959 , quyết định thành lập Lực Lượng Vũ Trang tại Miền Nam . Kế tiếp ngày 5/10/1960 , đảng lại họp Ðại Hội 3 cũng tại Hà Nội , để thành lập Ðảng Bộ cộng sản Miền Nam , qua danh xưng “ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam “ , làm cánh tay nối dài , vừa là bình phong , vừa tạo công cụ xâm lăng cho Bắc Việt . Ðúng như Lê Duẩn đã tuyên bố :

 “ Ðó là chiến lược bảo đảm thắng lợi hoàn toàn cho cuộc cưỡng chiếm miền Nam , dưới sự lãnh đạo của đảng Mác-Lê và giai cấp công nông “ .


Tóm lại theo chủ trương của Hà Nội , Ðảng Bộ Cộng Sản miền Nam ( tức Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam ) , phải hành động theo ba mục tiêu chiến lược :

1-  Ly gián đồng bào và chính quyền Việt Nam Cộng Hoà ;

2-  Ðánh lừa dư luận thế giới về cuộc xâm lăng của miền Bắc , trở thành cuộc nội chiến tại miền Nam .

3-  Tuyệt đối phải tuân theo các chỉ thị của đảng , do miền Bắc lãnh đạo , Mặt trận miền Nam chỉ thừa hành , theo đúng chính sách đề cương trong khối xã hội chủ nghĩa quốc tế .

Nên tới nay , dù được gọi bằng danh từ gì chăng nửa như : Cục R , Ðảng bộ Cộng Sản Miền Nam , Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam..... thì cũng chỉ là “ Mặt trận cái mốc xì....., đảng ta đó “ qua lời tuyên bố trơ trẽn của Lê Ðức Thọ tại Ba Lê , sau khi vừa ký xong với Kissinger trên tờ hiệp định ngưng bắn năm 1973 . Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam được hợp thức hóa vào cuối tháng 12/1960 tại một căn cứ của Việt Cộng , nằm cách biên giới Việt-Miên chừng 7km . Ðây là khu rừng già nằm kế cầu Cần Ðăng , trên con đường đá đỏ Trà Băng , Trại Bí , Xóm Mới , Sóc Ông Trang..... thuộc tỉnh Tây Ninh . Buổi lễ được đặt dưới quyền chủ tọa của Sáu Vi , bí danh của đại tướng Nguyễn Chí Thanh , ủy viên bộ chính trị , bí thư trung ương đảng , nguyên phụ trách vấn đề nông dân và thanh niên miền bắc . Mặt trận có mười nhân vật khoa bảng miền Nam , đang đối lập chính trị với Việt Nam Cộng Hoà , gồm Nguyễn Hữu Thọ ( đang bị giam tại Cũng Sơn-Phú Yên , vì tội hiếp dâm , dược Việt Cộng giải thoát ) , Trương Như Tảng , Dương Quỳnh Hoa , Phùng văn Cung , Ưng văn Kỳ..... Bọn này hầu hết thuộc thành phần địa chủ , phú gia thời Pháp thuộc , được Việt Cộng nằm vùng là Huỳnh tấn Phát móc nối dụ dỗ . Tất cả được Hà Nội đem ra làm bung xung che mắt thiên hạ nhưng đầu não lãnh đạo , vẫn do Lê Duẫn , Lê Ðức Thọ , Phạm Hùng , Trần văn Trà , Nguyễn Chí Thanh.. quyết định theo đúng chính sách của Hà Nội đã nghị quyết . Cũng từ đó , Nguyễn Hữu Thọ được phong hàm chủ tịch Mặt Trận , mở đầu cuộc chiến xâm lăng Miền Nam bằng vũ lực . Tại Miền bắc , Hồ Chí Minh ban lệnh hồi kết , hàng chục ngàn cán binh bộ đội trở về Nam , để thành lập “ Quân Giải Phóng “ do Trần Văn Trà làm tư lệnh . Một số lớn Hoa kiều sống tại Hải Ninh , Hải Phòng , Hà Nội , Thanh Hóa.. cũng được vào Nam , cùng một số Hoa Kiều thân cộng , đang do Tư Méo ( tức Trương Gia Triều , bí danh Trần Bạch Ðằng ) chỉ huy , để trà trộn , tuyên truyền gây rối trong cộng đồng người Hoa miền Nam . Ðồng thời con đường mòn giao liên cũ , từ miền bắc vào Liên Khu 5 , do đại tá Nguyễn Thông ( bí danh của trung tá Nhật Ishitako ) mở năm 1947 , cũng được đảng giao cho Hai xe ngựa ( tức đại tá Võ Bẳm ) nối lại , để trùng tu vào năm 1959 . Ðây là con đường chiến lược Liên Việt ( tức là đường mòn Trường Sơn hay Hồ Chí Minh ) , mang bí danh 559A . Sau khi Phạm văn Ðồng nhân danh thủ tướng nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà , theo chỉ thị của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh , ký xác nhận quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa thuộc Trung Cộng vào năm 1958 , thì Hà Nội được Tàu Cộng , giúp phương tiện mở thêm một đường dây trên biển Ðông với bí danh 559B hay 759 , chuyển quân dụng và bộ đội từ bắc vào nam bằng đường thủy . Theo Ðồng văn Cống ( từng phụ trách đường dây 559B từ 1959-1968 ) , thì việc tổ chức hai con đường bí mật trên, chỉ có Hồ Chí Minh , Phạm văn Ðồng , Lê Duẩn , Phạm Hùng , Lê Ðức Thọ , Võ Nguyên Giáp , Văn Tiến Dũng và Trần văn Trà , biết mà thôi . Còn những người khác chỉ thừa hành theo lệnh , kể cả Nguyễn Chí Thanh , Trần Ðộ , Trường Chinh.....


2 - ÐƯỜNG MÒN HỒ CHÍ MINH :
Sự thật, những chuyện đã xảy ra hằng ngày , trên đường mòn Hồ Chí Minh , tức là hành lang xâm nhập người và quân dụng , từ Bắc vào Nam của Cộng sản Hà Nội , đối với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà , không phải là huyền thoại hay bí mật ghê gớm , vì những gì xảy ra ở đó , qua phi cơ thám thính và các toán Biệt Kích hoạt động , họ gần như biết đủ . Có chăng là sự lạ lùng , vì ai cũng biết Việt Cộng là kẻ chủ mưu gây nên cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II , chứ không phải là nội chiến . Ngoài ra cuộc xâm lược qui mô đều phát xuất từ đường mòn Trường Sơn , tiếp diễn liên tục đêm ngày không bao giờ gián đọan . Thế nhưng quân lực Hoa Kỳ, Ðồng Minh và ngay cả Việt Nam Cộng Hoà , cũng bị chính phủ Mỹ tại Hoa Thịnh Ðốn , ra lệnh giới hạn trong lúc chiến đấu với Việt Cộng , theo qui định tại nhiều điểm, được gọi là “ Luật Chiến Ðấu - Rules of Engagement “ . Ngoài ra cũng không được tấn cộng hậu phương miền bắc , để tránh sự đụng độ quân sự với Trung Cộng , như đã xảy ra năm 1950 tại chiến cuộc Cao Ly .

Năm 1985 , sau mười năm chấm dứt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II , Bộ Quốc Phòng Mỹ mới cho phép giảm độ mật , khi cho Congressssional Record phổ biến hạn chế , cái gọi là “ Luật Chiến Ðấu tại Việt Nam “ qua 26 trang tóm tắt , trong đó có liên quan tới đường mòn Hồ Chí Minh . Cũng nhờ vậy , ta mới biết được nhiều điều thật vô lý , chỉ có siêu cường Mỹ mới có . Chẳng hạn nhu trong luật chiến đấu , có điều 3 cấm không quân Mỹ giội bom các quân xa Việt Cộng , nếu chúng ở cách đường mòn Hồ Chí Minh 200m . Ðiều này giúp cho quân xa Bắc Việt an toàn khi chúng lái xe trên đường mòn Trường Sơn , lúc nghe máy bay Mỹ oanh tạc , chỉ cần lái xe ra khỏi vị trí 200m , là hết chuyện . Còn điều 6 thì cấm quân Mỹ truy kích Việt Cộng , nếu chúng rút qua biên giời Lào hay Kampuchia . Biết vậy , nên hầu hết các căn cứ của Bắc Việt , kể cả cục R đều đươc lập sát hay bên kia biên giới , nên rất an toàn . Do trên các cuộc hành quân vượt biên mang tên Toàn Thắng , vào năm 1970 tại Miên hay hành quân Lam Sơn 719 ở Hạ Lào , vào thời Tổng Thống Nixon đã bị đảng Dân Chủ Mỹ thân cộng - căn cứ vào luật chiến đấu - la ó phản đối dữ dội . Cuối cùng tại Quốc Hội , cũng cái đám nghị sĩ-dân biểu đảng Dân Chủ Hoa Kỳ , ra luật cấm quân lực Hoa Kỳ hành quân vượt biên khỏi Nam Việt Nam . Những bí mật nhỏ nhoi trên , chỉ là một trong muôn ngàn điều bật mí sau này , cũng là lý do , khiến cho Mỹ cũng như Việt Nam Cộng Hoà , dù đã nỗ lực và hao tốn không biết bao nhiêu tiền bạc , xương máu nhưng cuối cùng vẫn không ngăn nổi cuộc tiến quân của Bắc Việt , trên đường mòn Hồ Chí Minh . Theo Ðồng Sĩ Nguyên - phụ trách Binh Ðoàn 559A từ tháng 12/1966 tới tháng 4/1975 - thì đơn vị này có gần 2000 xe vận tải và 4 binh trạm , với nhiệm vụ tải người và quân dụng từ miền Bắc vào Nam . Quân số của Binh đoàn 559A trên 120.000 người , gồm 10.000 thanh niên xung phong , một sư đoàn cao xạ phòng không của Bộ TTM/VC tăng phái và tám sư đoàn vận tải , chiến đấu trực thuộc . Sau ngày ký hiệp định ngưng bắn 1973 , Cộng Sản Bắc Việt bãi bỏ giai đoạn gùi thồ đường đất và binh trạm , mà công khai chuyển quân từ Bắc vào Nam , mỗi lần cả sư đoàn tới binh đoàn , kể cả tăng-pháo , trước sự bất lực của Việt Nam Cộng Hoà khi Hoa Kỳ đã phủi tay về nước . Do trên cuộc hành trình chỉ mất 12 ngày , thay vì 4 tháng như trước , nên Việt Cộng lúc nào cũng đủ quân số và quân dụng , vì có cả một núi người sẵn sàng “ sinh bắc tử nam “ , cũng như các nước xã hội anh em , nhất là Trung Cộng , hết lòng chi viện . Trong lúc đó , Việt Nam Cộng Hoà chiến đấu với cả khối Cộng Sản đệ tam quốc tế trong cô đơn nơi chiến trường , đã vậy còn bị bọn cốt người mà óc khỉ tại hậu phương , công khai đâm hùa trí mạng . Chiến đấu trong hoàn cảnh thê thiết như vậy , không mất nước mới là chuyện lạ ?




A - ÐƯỜNG MÒN TRƯỜNG SƠN

Hầu hết con đường chiến lược Hồ Chí Minh đều nằm trên rặng Trường Sơn , kể cả tuyến xuất phát tại Vinh (Nghệ An) , cho tới đoạn cuối cùng rẽ vào Phước Long . Rặng Trường Sơn là xương sống của Trung phần , khởi đầu từ sông Cả tới sông Bông (Quảng Nam) , chạy dọc theo biên giới Việt Lào . Từ Bắc vào Nam , có nhiều rặng núi cao trên 2500m , như Pu-Sai-Lai-Leng ở Nghệ An cao 2711m , Vụ Quang tại Hà Tĩnh cao 2286m , A Tuất ở Thừa Thiên cao 2550m..... . Nhưng nhờ có nhiều đèo như Kéo Nưa trên núi Bà Mụ , đèo Mụ Giạ ở Hà Tỉnh , đèo Lao Bảo trên quốc lộ 9 , nên sự thông thương giữa Lào-Việt rất thuận tiện . Từ năm 1960 về sau , Bắc Việt lợi dụng những đường đèo trên , để nối liền nhánh Trường Sơn Ðông ở Việt Nam sang Trường Sơn Tây , hoàn toàn nằm trên đất Lào .

Rặng Trường Sơn từ phía nam sông Bông tới Miền Ðông Nam Phần ( được gọi là Cao Nguyên Nam Trung Phần ) , vì độ cao chỉ còn trung bình 1.000m , trừ phía bắc tỉnh Kon Tum ( cửa ngỏ của Bắc Việt xâm nhập vào Vùng II chiến thuật ) , lại có nhiều rặng núi cao , rất đồ sộ và hiểm trở như Ngọc Lĩnh (2598m) , Movia (2338m) , Ngok Krin (2215m) . Tại tỉnh Pleiku , cao nguyên Nam Trung Phần , hơi cao ở mạn đông tại ranh giới các tỉnh Phú Bổn , Bình Ðịnh nhưng lại thấp dần ở Miền Ba Biên Giới . Lợi dụng địa thế thiên nhiên vùng này , Hà Nội đã làm một nhánh rẽ , từ Ðức Cơ-Pleime xuống miền duyên hải Trung phần .

Khởi đầu từ năm 1959 , đường mòn Hồ Chí Minh do Hai xe ngựa (Võ Bẳm) sáng tạo , thật sự chỉ là một tuyến đường gùi vô cùng bí mật , với “ đi không để dấu , nấu không để khói và nói không thành tiếng “ . Sau đó theo thời gian và nhu cầu chiến cuộc , tuyến gùi phát triển dần thành tuyến đường thồ xe đap , rồi đường xe ô tô với đường dây điện thoại cùng hệ thống ống dẫn dầu , chạy song song kế đường mòn . Có thể gọi đây là một Bát Trận Ðồ cũng không ngoa chút nào vì con đường có tới hằng trăm , hằng ngàn nhánh nhỏ , chạy chằng chịt dọc ngang , từ đông sang tây , khắp nam tới bắc , chẳng biết đâu mà mò , kể cả Việt Cộng , nếu không có giao liên hướng dẫn , vẫn bị lạc và chết đói ( như Dương Thu Hương đã kể trong tiểu thuyết “ Vô Ðề “ ) . Sau năm 1973 khi hiệp định ngưng bắn ra đời , Kissinger cho phép quân Bắc Việt ở lại Việt Nam Cộng Hoà hợp pháp như là một thực thể chính trị , giúp Hà Nội ngang nhiên xây dựng con đường chiến lược trên , thành một xa lộ đất xe cộ xuôi ngược rộn rịp đêm ngày . Năm 1974 , chủ tịch Cộng sản Cuba là Fidel Castro đã tặng cho Hà Nội một dàn thiết bị máy móc , làm cầu đường do Nhật chế và còn giúp một đơn vị công binh , tới tận Quảng Trị hướng dẫn công binh Bắc Việt , làm chiếc cầu dây treo Dakrong , nằm trên ngã tư Khe Sanh-Tchépone và đường mòn . Sau đó chính Fidel Castro tới tận chỗ để làm lễ khánh thành cầu , còn được hướng dẫn đi thăm Ðông Hà , mà Bắc Việt khoe là vùng giải phóng , từ sau trận Mùa Hè Ðỏ Lửa năm 1972 .

Theo các tài liệu hiện hành của cả mọi phía , có trong thư viện và báo chí Việt Cộng sau này , thì hệ thống đường mòn Hồ Chí Minh , chạy dài từ Trung Lào tới Cam Bốt , sự thật là hoàn toàn nằm trên lãnh thổ Lào-Miên . Con đường này được xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà bằng năm nhánh rẽ với 21 trục giao liên , có chiều dài tính theo đường đất tổng cộng hơn 12.000 dặm Anh . Con đường được mang nhiều tên và chỉ có đọan trên lãnh thổ Bắc Việt , mới được gọi là đường Hồ Chí Minh . Riêng khúc đường chạy trong lãnh thổ Lào và Nam Việt Nam lại có nhiều tên như đường Thống Nhất , Dân Tộc Giải Phóng và Cách Mạng . Còn đoạn cuối trên đất Miên là đường mòn Sihanouk . Ðể bảo toàn bí mật , tất cả hàng hóa , quân dụng , vũ khí và bộ đội xuất phát từ ga Hàng Cỏ (Hà Nội) hay Vinh (Nghệ An) , đều được đưa tới cửa ngõ Tân Kỳ (Nghệ An) hay Quán Trại (Ðức Tho-Hà Tĩnh) , để vào Quảng Bình và Quảng Trị , rồi từ đó mới xuất tuyến xâm nhập vào Nam . Nhưng đường đi , dù ở trong lãnh thổ Bắc Việt , vẫn vô cùng nguy hiểm , vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc hằng ngày , nhất là tại thung lũng tử thần Ðồng Lộc . Ở đây , đường chạy giữa hai rặng núi cao , bên này là Rú Mòi , còn phía kia mang tên Sọ Voi . Ðây chính là cửa ngỏ đầu tiên của đường mòn Hồ Chí Minh , nối liền bắc Việt Nam tới lãnh thổ Lào . Từ đó đường mòn mang tên Trường Sơn Tây , tiếp tục tới Khâm Muôn (Lào) thì gặp Ðường 20 Quyết Thắng từ Phong Nhạ (Quảng Bình) sang . Khúc đường này dài hơn 127 km, chạy len lỏi giữa khu rừng già Kẽ Bàng và miền hoang địa Bulapha của Lào .

Theo báo Aux Ecoutes du Monte , thì hải cảng Vinh ( Nghệ An ) , là yết hầu của đường mòn Hồ Chí Minh , vì gần như mọi thứ đều xuất phát ở đây , để xâm nhập vào Nam . Cũng từ đây, đường được phân làm ba nhánh qua Lào, để tránh thiệt hại vì sự oanh tạc của máy bay Mỹ . Riêng tổng hành dinh của Ðoàn 559A , thì đóng rải rác trong khu tam giác các thị trấn Napé , Kamkeut ,Kanmon..... nằm dọc theo con sông Nam Pao của Lào. Ðây là một quân chủng đặc biệt của Cộng sản Bắc Việt , gồm công binh , vận tải , trách nhiệm bảo trì , sửa chữa con đường , đồng thời phân phối quản trị đoàn dân công , xe tải chuyển vận bộ đội , vũ khí , tiếp liệu từ bắc vào chiến trường miền Nam .

Tại ngã ba Khâm Muôn , giao điểm của hai nhánh Quyết Thắng 20 và Tân Kỳ , đường mòn Hồ Chí Minh , đi vào khu rừng già Hạ Lào , cặp kè với con sông Nam Cà Dinh , chạy tới đỉnh dốc đứng 1001 trên núi Răng Cọp . Từ đây đường mòn đổi tên thành Trường Sơn , sau khi vượt qua vĩ tuyến 17 , để tới thị trấn Tchepone ( Muang Xepon ) nằm trên quốc lộ 9 . Ðây cũng là phân nhánh đầu tiên của đường mòn Trường Sơn , xâm nhập lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà , để tấn công các căn cứ quân sự Lao Bảo , Khe Sanh , Làng Vei , Cà Lu..... trong tỉnh Quảng Trị . Sau đó , đường mòn vẫn tiếp tục chạy trên đất Lào tới núi Ấp Bia (937m) , một địa danh nổi tiếng trong cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II ( 1960-1975 ) , được một ký giả ngoại quốc chứng kiến tận mắt cảnh hàng ngàn xác bộ đội Bắc Việt , bị banh thây bỏ lại tại chiến trường , vì bom dạn phi pháo , nên đã đặt là Hambuger Hill . Tại đây , đường lại được phân nhánh tới các thung lũng A Lưới , Tà Bạt và A Shau . Ðậy là bàn đạp mà Hà Nội tập trung bộ đội , để tấn công Thừa Thiên và Ðà Nẳng . Sau khi vượt qua cao nguyên Boloven gần ngã ba biên giới Việt-Lào-Miên , đường mòn lại phân thành hai nhánh khác chạy vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà , một nhánh phát xuất từ Savarane tới Dakto , Tân Cảnh , Kontum..... trước khi ngang qua các trại Lực Lượng Ðặc Biệt Benhet , Dakto..... Nhánh khác từ Attopeu vào Pleiku , ngang qua Trại Lực Lượng Đặc Biệt Ðức Cơ , Pleime . Nằm giữa hai nhánh rẽ này vẫn trên đất Lào , là mật khu 609 của Bắc Việt . Kể từ đây , đường mòn Trường Sơn đổi thành đường mòn Sihanouk , với nhiều mật khu như 702 , 701 , 740 , 203 , 351 , 350 và 400 . Trên đất Miên , đường mòn có một nhánh rẽ vào Phước Long và phần cuối cùng chạy xuống tận hải cảng Kampong Som ( Sihanouk Ville ) của Miên . Chính tại đây , Bắc Việt nhận trực tiếp hàng hóa viện trợ của Nga , Tàu và Ðông Âu , tới năm 1970 mới chấm dứt , khi Sihanouk bị Lonnol lật đổ . Nhờ đó Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà mới được phép hành quân sang đất Miên theo lời yêu câu của chính phủ mới , nên mối tiêu diệt gần như tất cả các mật khu của Bắc Việt tại đây , qua các cuộc hành quân Toàn Thắng và Cửu Long .

Tóm lại suốt cuộc chiến Ðông Dương lần thứ II , ngoài số nạn nhân chết bởi bom đạn , giao tranh , phần lớn bộ đội và cán binh Cộng Sản miền Bắc , được ghi nhận là ngã gục trên đường Trường Sơn , vì trăm ngàn nổi gian lao cực nhọc và bệnh tật , đó là chưa kể tới chết khi đụng trận , bị bom đạn oanh tạc , mìn bẩy . Hàng vạn nấm mồ hoang lạnh , được vùi lập vội vàng , trên con đường dài heo hút , chỉ một thời gian ngắn , đã biến thành phân mục , bón xanh thêm cây lá rừng hoang , như Trần Xuân Lợi , một bộ đội vượt tuyến đã viết :

“ Những hồi mưa ngớt ;
Tựa nghĩ gốc cây ;
Nhìn rừng không nói ;
Nhìn mây chẳng thấy ;
Chỉ có núi đèo ;
Kế nhau nối tiếp ;
Oại là khủng khiếp ;
Cho cảnh Trường Sơn ....
”


Hay :

“ Rải rác biên cương mồ viễn xứ , chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh , áo bào thay chiếu anh về đất , sông nuí gầm vang khúc độc hành ố Quang Dũng “ . Tất cả là sự thật , mà Ðại Tá Võ Ðại Tôn ( tức nhà thơ Hoàng Phong Linh ) , trong cuộc Ðông Tiến bất thành khi trở về Việt Nam để giải phóng quê hương sau năm 1975 , đã ghi lại :

“ Ðỉnh núi cao mây vờn ,
đá nghìn năm quên tuổi ;
ta lạc loài như dã thú không tên ;
qua Tchépone , Boloven ;
về Hạ Lào thăm thẳm ;
Atopeu đường xa muôn dặm ;
Rừng tây nguyên heo hút trong tim .....
”
.

Con đường có rất nhiều đoạn dài , xuyên giữa rừng già bất tận , phi cơ quan sát hay không ảnh cũng bó tay , ngoại trừ sự xâm nhập của các Toán Biệt Kích , thuộc Nha Kỹ Thuật /QLVNCH .

Ðể bảo vệ con đường chiến lược này , Bắc Việt thành lập Ðoàn 559A , gồm nhiều binh trạm , mỗi nơi có quân số tương đượng một trung đoàn tác chiến . Giữa hai khu vực , có các toán giao liên và các kho dã chiến . Vùng nào lo vùng nấy , không ai biết gì tới các khu vực lân cận . Tóm lại , Ðoàn 559A chỉ có trách nhiệm từ vĩ tuyến 17 đổ vào nam mà thôi . Riêng phía bên này vĩ tuyển ra tới Bắc Việt , bổn phận tái tạo và giữ tốt , các tuyến đường giao thông , tiếp vận cho chiến trường , được giao cho hàng vạn thanh niên nam nữ , trong ba tổng đội Thanh Niên Xung Phong . Do trên đã có không biết bao nhiêu người tuổi trẻ , phải gục chết giữa bom đạn , khi bị bắt buộc bám trụ tại chỗ , để mỗi lần phi cơ Mỹ oanh tạc vừa dứt , thì họ với sức người và cuốc xẻng , ào ra chiến trường , để lấp hố bom trên mặt đường vừa bị cầy nát . Bởi thế giao thông không bao giờ bị gián đoạn.




(Xem tiếp phần 2)

Tìm hiểu sự thật về đường mòn Hồ Chí Minh trong cuộc chiến Ðông Dương II (1955-1975) (II)

Lớp học Y Tá cấp tốc chuẩn bị cho Đường Mòn Hồ Chí Minh

B - CÁN BINH , BỘ ÐỘI BẮC VIỆT TRÊN ÐƯỜNG MÒN HCM

Với mục đích lường gạt dư luận thế giới , đánh lận con đen , chối bỏ việc trắng trợn xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà , nên Cộng Sản Bắc Việt lúc nào cũng tổ chức cuộc chuyển quân vào Nam , thật bí mật . Thêm vào đó là sự phụ họa rất ăn khớp nhịp nhàng của một số báo chí theo Việt Cộng tại miền Nam , nên Hà Nội gần như đâm mù cả nhân loại , khiến ai cũng tin là cuộc chiến tại miền Nam , là do chính người miền Nam vì bất mãn chính phủ độc tài tàn bạo , nên nỗi loạn chống phá , chứ miền Bắc không hề can dự . Thời gian đầu cuộc chiến , việc chuyển quân từ Bắc vào Nam , thật vô cùng khó khăn nguy hiểm . Vì thế chỉ có bộ binh vượt tuyến mà thôi . Còn vũ khí quân dụng , được chuyển vận bằng ghe thuyền tại tuyến đường 559B trên Ðông Hải , do Ðồng văn Cống phụ trách . Trước tết Mậu Thân 1968 , bộ đội Bắc Việt vào Nam , được bồi dưỡng và huấn luyện trong thởi gian 8 tháng , với tiêu chuẩn 2 đồng 40 xu tiền Hồ/1 ngày . Trước khi lên đường “ sanh bắc tử nam ” , các cán binh bộ đội được cấp 5 ngày phép về thăm gia đình . Vì chủ nghĩa xã hội miền bắc rất công bình , con trốn quân dịch , cha mẹ dù có già 100 tuổi vẫn phải đi thế , ngoài ra tất cả tem phiếu , sổ gia đình đều bị tịch thu . Nên trong một xứ mà tất cả nhu yếu phẩm đều phải bó buộc mua tại cửa hàng quốc doanh , chợ nhà nước , thì đâu có ai dám không đi lính , để vừa khổ thân lại làm liên lụy cho gia đình . Ở Bắc Việt , củng không có chùa , nhà thờ và trường đại học , nên cũng không có chế độ hoãn dịch vì tu xuất hay học hành . Còn du học hay xuất ngoại , thì chỉ dành ưu tiên cho con cái và gia đình cán bự cỡ tổng bộ trưởng và hàng trung ưởng đảng , nên sau khi hết phép , ai nấy đều trở lại để lên đường vào Nam theo lệnh Đảng.



Trên đường tiến quân còn trong lãnh thổ Bắc Việt , các đơn vị chính quy hành quân , vẫn sử dụng quân phục cố hữu bằng vải kaki Nam Ðịnh , với mũ bầu có bọc vải dầu , màu xanh lá cây . Quân xa sẽ chở bộ đội tới Lào , qua một trong ba tuyến đường chiến lược , nối liền hai nhánh Trường Sơn Ðông và Tây , tại Ðồng Lộc ( Hà Tĩnh ) , Phong Nhạ ( Quảng Bình ) và Vĩnh Linh ( Quãng Trị ) , để tới biên giới Việt Nam Cộng Hoà . Tại đây , bộ đội cộng sản Bắc Việt , sẽ lột xác hoàn toàn thành người “ Giải Phóng Quân “ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam của Anh Thọ , chi Bình , chị Ðịnh Bến Tre lập ra . Tóm lại tất cả những gì có liên hệ tới Cộng Sản miền Bắc , đều phải hoàn trả hết cho cán bộ chính trị đơn vị . Từ đây bộ đội chính quy miền Bắc là giải phóng quân miền Nam , dù cả hai đều là đảng ta đó , nên phải mặc đồ bà ba đen, khăn rằn quàng cổ , mang dép râu , đội mũ tai bèo , y chang như Việt Cộng tại Nam phần đã sắm tuồng từ năm 1960. Cả tới cờ hiệu, cũng phải dùng cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam , nửa xanh nửa đỏ giữa có sao vàng. Còn bài hát thì đã có bản “ Giải phóng miền Nam “ của Nguyễn Minh Siêng ( tức Lưu Hữu Phước ).


Trước khi hiệp định Ba Lê 1973 ký kết , nhằm hợp thức hóa cũng như cho phép bộ đội chính quy Bắc Việt được công khai đóng ngay trên lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà , thì sự di chuyển trên đường mòn Hồ Chí Minh rất khó khăn nguy hiểm, kể cả các tuyến giao thông chiến lược nối Bắc Việt với nhánh Trường Sơn Tây, nằm trong lãnh thổ Trung Lào, vì bị phi cơ Hoa Kỳ oanh tạc ngày đêm liên tục. Nên chỉ riêng đoạn đường, từ điểm xuất phát đầu tiên tại Tân Kỳ (Nghệ An) tới thi trấn Tchepone (Hạ Lào), cũng phải mất từ 2-3 tháng . Sau đó các đơn vị bộ đội chính quy miền Bắc , được các toán giao liên hướng dẫn vượt tuyến và xâm nhập các trục vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà để hoạt động , tuỳ theo nhiệm vụ được đảng giao phó . Sau tháng 2/1973 , không quân Hoa Kỳ chính thức rút khỏi cuộc chiến , còn Việt Nam Cộng Hoà thì không đủ phương tiện để ngăn chận , nên Bắc Việt gần như công khai hoạt động , không cần che đậy để lừa bịp dư luận như trước . Do trên , con đường mòn được tu bổ thành một xa lộ đất . Dọc đường , thiết lập nhiều khu dưỡng quân , bệnh xá , kho tiếp liệu . Song song là một hệ thống ống dẫn dầu , xăng cùng một đường dây điện thoại cao thế , do Liên Số và các nước Ðông Âu cung cấp viện trợ , bơm dầu từ các tàu nhiên liệu cập bến ở Nghệ An . Tại các mật khu cũng như địa điểm trọng yếu , Bắc Việt cho bố trí một mạng lưới phòng không dầy đặc , với đủ loại súng đại bác do Nga Sô , Ðông Ðức viện trợ như súng cao xạ , hỏa tiễn loại 35 và 57 ly . Từ năm 1965 tới 1967 , ước chừng 7.000 bộ đội chính quy xâm nhập miền Nam hằng tháng . Trong đợt tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 , quân số Cộng Sản Bắc Việt có mặt tại lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà hơn 100.000 người . Ðể chuyên chở người , quân dụng và vũ khí vào Nam trên đường mòn Trường Sơn , Hà Nội đã huy động một số quân xa , từ 1.250 - 1.700 chiếc . Những quân xa này đều do Trung Cộng , Liên Xô viện trợ , gồm các hiệu Zills , Molotova..... loại 130 bốn bánh và 157 sáu bánh, có trọng tải từ 4-6 tấn . Ngoài ra có một đoàn dân công khổng lồ , thi hành theo cái gọi là “ nghĩa vụ lao động “ từ 16-55 tuổi , không phân biệt nam nữ, để giữ hộ khẩu và được sống yên trong chế độ công an khu vực . Hàng hóa phần lớn được chuyển vận vào Nam bằng sức người, xe đạp và voi .

Sau tháng 5/1975 chiến tranh chấm dứt, có rất nhiều bí mật được bất mí, phần lớn nhằm làm sáng tỏ lý do thất bại của Quân Lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến Ðông Dương, mà nỗ lực chính là ngăn chận và phá vỡ hệ thống đường mòn Trường Sơn, hành lang chính để cán binh bộ đội Cộng Sản Bắc Việt , xâm lăng Miền Nam. Ðồng thời phơi bày ra ánh sáng , thảm trạng “ Mạng người lá rụng “ vì đường đi không tới , của hằng trăm ngàn người “ sinh bắc tử nam “ . Tất cả nạn nhân chiến tranh trên, chẳng có ai vì nhiệt tình cách mang hoặc ngu ngốc để mà phải chết thảm thê vì đụng độ , máy bay oanh tạc , hải pháo và bệnh tật không có thuốc men chửa trị . Và dù phía Việt Nam Cộng Hoà không đạt được chiến thắng cuối cùng nhưng rõ ràng Họ đã tiêu diệt và phá vỡ gần hết những mật khu quan trọng của Bắc Việt, trên đuờng mòn Trường Sơn , như 604 tại yết hầu Tchépone-Hạ Lào và 611 trong thung lũng Ashau, gồm nhiều binh trạm, hậu cần , ống dẫn dầu cùng các tổng kho tiếp tế. Tác giả Lane Rogers cũng là Ðại Tá Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ , từng tham dự nhiều trận chiến trên đường mòn, đã viết :

" Ðể bảo vệ và hoạt động được liên tục trên hành lang chuyển quân , Bắc Bộ Phủ đã thí quân một cách vô nhân đạo . Ðó là lý do nhiều lần con đường chính và năm nhánh rẽ vào Nam Việt Nam, tưởng như đã bị phá vỡ hoàn toàn. Nhưng rồi đoàn kiến người cũng tìm đủ mọi ngõ ngách khác để xâm lăng miền Nam "
. Riêng Thống Tướng Westmoreland , cựu Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ và Ðồng Minh, chiến đấu tại Việt Nam, thì giải thích lý do thất bại của Mỹ , trong nỗ lực hủy diệt con đường này, phần lớn do trở ngại thiên nhiên, là chốn ma thiêng nước độc, gây sự sợ hãi chết chóc nhiều nhất trên thế giới.


Hai mươi năm chiên cuộc Việt Nam , đã cướp mất đi hằng triệu thanh niên nam nữ hai miền đất nước , cũng như đồng bào vô tội. Sự tủi nhục và đau lòng nhất, riêng chỉ có kẽ trong cuộc và dân chúng xã nghĩa Bắc Việt mới hiểu thấu. Riêng người miền Nam sống tại các đô thị lớn như Sài Gòn, Huế, Cần Thơ..... gần hết chỉ hiểu một cách đại khái, mù mờ, qua tài liệu, báo chí và sự tuyên truyền của cả hai phía. Họ đâu có bao giờ biết rằng, trong suốt cuộc chiến , Bắc Việt , Hoa Kỳ và Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà , đã dành giựt từng thước đất trên đỉnh Trường Sơn , vì một bên thì quyết lòng dùng máu xương người để xây huyết lộ , còn phía bên kia cũng lấy mạng sống , bom để phá hủy cho tận tuyệt . Nói chung cả hai phía đều sử dụng tối đa mạng sống con người Việt, qua các khẩu hiệu hào nhoáng nhưng mặt thật, cũng chỉ để phục vụ cho quyền lợi riêng tư của họ mà thôi .

C - VỀ PHIÁ CỘNG SẢN BẮC VIỆT
Sau khi Thủ Tướng Liên Xô Nikita Khrowshchev , phát pháo mở màn cuộc chiến giải phóng toàn cầu vào ngày 6/1/1961 , cũng là thời gian khởi đầu cho tới ngày 30/4/1975 , Bắc Việt xâm lăng cưỡng chiếm Việt Nam Cộng Hoà . Ngoại trừ các chóp bu ngồi tại Bắc Bộ Phủ , không ai có thể biết rõ , đã có bao nhiêu cán binh , dân công và thanh niên xung phong đã bị thương vong vì cuộc chiến . Phần thì Cộng Sản quen bưng bít sự thật , hơn nửa trong chủ nghĩa thiên đàng , không có chế độ thươg binh ngoài mặt trận . Nên tất cả những điều Ðảng tuyên bố , gần như là tuyên truyền láo bịp , nên sự thật đâu biết sao mà mò ? . Nhưng chắc chắn có điều , gần hết các trận đánh khốc liệt , đều xảy ra trên hành lang chiến lược Trường Sơn , từ sự hủy diệt bằng bom mìn , hàng rào điện tử , chiến tranh khí tượng , thuốc khai quang , không quân cho tới những đụng độ trực tiếp giữa Bắc Việt với Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng Hoà , mà cao điểm là cuộc hành quân Lam Sơn 719 , tại Hạ Lào-1971 .



Trên lãnh thổ Bắc Việt , trực diện với bom đạn hằng ngày, là những nam nữ thanh niên, trong các Tổng Ðội Thanh Niên Xung Phong. Nhiều người đã bị chết một cách oan khiên tức tưởi, tại ngã ba Ðồng Lộc (Hà Tĩnh), Ðường 20 Quyết Thắng (Quảng Bình), Hưng Hóa (Quảng Trị)  khi bị bắt buộc thi hành các công tác hiểm nguy như giao liên đơn độc giữa rừng núi muôn trùng, làm mốc hướng dẫn đoàn xe đến các địa điểm tránh bom Mỹ .....  Trong muôn ngàn thảm kịch, được đưa lên phim quảng cáo, vẫn thảm nhất là cái chết của 10 cô gái Thanh Niên Xung Phong, thuộc Tiểu Ðội 4/Tổng Ðội 53 ố Hà Tĩnh, bị bom đánh sập , chôn sống tập thể tại Ngã Ba Ðồng Lộc, vào sáng ngày 24/7/1968. Hoặc chuyện bốn cặp Thanh Niên Xung Phong và công binh , cũng bị chết ngạt trong một cái hang núi tại Kẽ Bàng (Quảng Bình)..... Nhưng đây cũng chỉ là một trong hằng triệu cái chết vô danh của phận người xấu số trong chiến tranh, nếu đem so sánh với những cái chết khác tại các tuyến đường rẽ vào lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà .

Không kể đến sự đụng độ thường xuyên giữa các Toán Biệt Kích Quân cảm tử , thuộc Binh chủng Nha Ky Thuat / Việt Nam Cộng Hoà và cán binh Bắc Việt , trên mọi ngõ ngách của đường mòn Trường Sơn,ngay cả trong lãnh thô Bắc Việt. Kể từ năm 1965 tới khi có Hiệp định Ba Lê 1973, đã có không biết bao nhiêu trận đánh lớn giữa Cộng Sản miền Bắc và quân lực Ðồng Minh, Hoa Kỳ cũng như Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Ðiển hình như các trận PLEIME -1965 , giữa Toán A217 Biệt Lích Mỹ-Việt, TÐ91 BCD/LLĐB , TĐ1/TrĐ45/ SĐ23BB , TĐ21+22/Biệt Động quân, Chi Ðoàn 3 Thiết kỵ / Việt Nam Cộng Hoà với ba Trung Ðoàn 32, 33, 66 Cộng Sản Bắc Việt. Ngày 27-10-1965, Sư Đoàn 1 kỵ binh không vận Hoa Kỳ , hành quân tại thung lủng IA-DRANG, Pleiku, bẻ gãy âm mưu tập trung của ba Sư Đoàn Bắc Việt, nhằm chia cắt Việt Nam Cộng Hoà thành hai mãnh. Tháng 12/1965, Bắc Việt lại tấn công hai Trại Lực Lượng Đặc Biệt. Tà Bạt, A Lưới (Thừa Thiên), một trận đụng độ đẵm máu giữa Cộng Sản và Mỹ và Việt Nam Cộng Hoà tại căn cừ Ashau, một tiền đồn ngăn chận cán binh Hà Nội , tràn xuống miền duyên hải .




Mùa thu năm 1967, Bắc Việt tấn công đồng loạt nhiều tiền đồn Việt Nam Cộng Hoà trên đường rẽ vào Chiến khu C (Phước-Bình Long) cũng như Kontum, vì hai khu vực này là cửa ngõ chiến lược quan trọng nhất trên hành lang xâm lăng Việt Nam Cộng Hoà của cộng sản Bắc Việt. Ðể giải tỏa áp lực tại Tiền đồn Dakto, 16 tiểu đoàn thuộc Sư Đoàn 4 Bộ Binh cộng với Sư Đoàn Dù/Hoa Kỳ và Lực lượng Nhảy Dù Việt Nam, đã ác chiến với Sư Đoàn 1 Bắc Việt, thương vong hai phía rất nặng .

Trên Quốc Lộ 9 từ Hạ Lào vào Quảng Trị, có Tiền Ðồn Khe Sanh là căn cứ của Biệt kích quân Việt Nam Cộng Hoà, thành lập từ tháng 7/1962. Ðây cũng là điểm xuất phát các Phi Vụ Tiger Hound rải quân xâm nhập đường mòn Hồ Chí Minh. Như các căn cứ Cồn Tiên , Gio Linh , Caroll , Cam Lộ ..... Khe Sanh là các tiền đồn , đối diện với vùng biên giới phía bắc khu phi quân sự vỹ tuyến 17 lãnh thổ Bắc Việt . Bởi vậy Cộng Sản luôn tìm mọi cách tiêu diệt cái gai nhọn Khe Sanh , đâm vào yết hầu đường mòn Trường Sơn . Cuối năm 1967 , trưóc khi mở màn cuộc tấn công đẫm máu Tết Mậu Thân 1968 , Võ Nguyên Giáp đã mở một mặt trận Ðiện Biên Phủ thứ Hai tại thung lũng Khe Sanh , với ý muốn dụ quân Mỹ vào rọ để tiêu diệt như đã từng xảy ra vào năm 1954 trên đất Bắc . Nhưng Giáp đã tính toán sai , vì Hoa Kỳ mạnh hơn Pháp cả 100 lần , lại có một lực lượng hải pháo không quân hùng hậu , nên cuối cùng Bắc Việt phải chém vè về Hạ Lào , bỏ lại tại Khe Sanh hơn 20.000 xác bộ đội , tỷ lệ 90% quân số tham dự trận chiến . Cũng tại đây - ngoài quân Mỹ - còn có một đơn vị Việt Nam Cộng Hoà duy nhất được tăng phái , đó là Trung Đoàn 37 Biệt Ðộng Quân . Ðơn vị này dù quân số ít ỏi , lại bị nằm tiền đồn nhưng suốt thời gian chiến cuộc , đã giữ vững được phòng tuyến phía nam của căn cứ Khe Sanh , qua nhiều đợt tấn công biển người của Sư Đoàn 304 Bắc Việt .

Trong cuộc tổn công kích Tết Mậu Thân 1968 , Cộng Sản thất bại hoàn toàn trên chiến trường , nên hầu hết tàn binh đều rút về phía bên kia biên giới Việt-Miên-Lào , trên đường mòn Trường Sơn . Phía Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ đã mở nhiều cuộc hành quân truy quét . Tại Vùng I chiến thuật , ngày 16/4/1968 Sư Đoàn 1 ky binh Mỹ và TrĐ3/SĐ1BB/VN hành quân Lam Sơn 216-Dela Ware tảo thanh vùng A Lưới . Kế tiếp hành quân Somerset Plain Lam Sơn 246 của Sư Đoàn 101 Dù Mỹ + TrĐ1/SD1BB/VN tại vùng A Lưới , Tà Bạt và mật khu 609 . Ðầu năm 1969 , Sư Đoàn 101 Dù và TrÐ9/TQLC/HK cộng với TrĐ3/SD1BB/VN tảo thanh thung lũng A Shau . Vùng này có một ngọn núi cao trên 1.000m , nằm ngay biên giới Lào-Việt , như một bình phong án ngữ các căn cứ A Lưới , Tà Bạt , A Sha . Một trận đụng độ kinh khiếp đã xảy ra tại đây giữa hai phía . Cùng tham chiến , không quân , pháo binh và các pháo đài bay B52 , đã giội xuống chiến trường hơn một triệu cân Anh bom các loại , trong số này có 152.000 cân Anh bom lửa , khiến cho đồi núi , cỏ cây , rừng xanh và xác cán binh bộ đội Cộng Sản Bắc Việt bỏ lại khi chém vè , đều biến thành tro bụi . Cảm thương cho số phận con người vì tem phiếu , hộ khẩu , mà phải sinh Bắc tử Nam , nên một ký giả Mỹ có mặt tại trận địa , viết bài trên báo , đã ví von đặt tên núi Ấp Bia là Hamburger Hill . Sau này , báo chí Việt Cộng hãnh diện tuyên truyền với thế giới , vì Mỹ chết nhiều quá , nên mới có cái tên ngộ nghĩnh trên .


Nhưng một biến cố cực kỳ quan trọng trên , gần như làm đảo lộn chiến lược xâm lăng miền nam của Bắc Việt , cũng như chiến thắng gần kề của Việt Nam Cộng Hoà , nếu như Nixon-Kissinger không bán đứng Miền Nam cho Bắc Việt , qua cái gọi là Hiệp định Ba Lê 1973 . Ðó là cuộc chính biến trên đất Miên vào năm 1970 . Ai cũng biết Kampuchia từ năm 1960 , là hậu cứ an toàn của Cộng Sản Bắc Việt , để nhận trực tiếp hàng hóa quân dụng viện trợ của các nước Xã Hội Chủ Nghĩa , tại hải cảng Sihanouk Ville nằm trong vịnh Thái Lan . Ðây cũng là tổng hành dinh của Cục R , đầu não chỉ huy của đảng bộ Cộng Sản miền Nam , qua ngụy danh Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam . Ngày 18/3/1970 , Lonnol lật đổ Sihanouk và theo Mỹ . Quân Miên cũng được lệnh tấn công các mật khu của Bắc Việt trên đất Miên . Chiến tranh đã nổ toàn diện trên đất chùa Tháp . Liên quân Khmer Ðỏ của Polpot và Việt Cộng phản công và bao vây thủ đô Nam Vang , đồng thời người Miên qua sự xúi ngầm của tân chính phủ Lonnol , đã đồng loạt “ CÁP DUỒNG “ Việt Kiều khắp nơi , gây thảm trạng thương đau cho hằng vạn người dân vô tội , bị vạ lây do Bắc Việt gây ra từ mấy năm trước .

Ðể cưú đồng bào về nước , đồng thời mượn dịp thanh toán các căn cứ địa và cục R tại biên giới Việt-Miên , theo yêu cầu của Lonnol . Do trên , Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã tổ chức cac cuộc hành quân rất qui mô , mang tên Toàn Thắng 41 , 42 , 43 do Quân Đoàn 3 đảm trách . Song song Quân Đoàn 2 cũng hành quân Bình Tây và Quân Đoàn 4 có hành quân Cửu Long . Trừ cuộc hành quân Toàn Thắng 43 , do lưc lượng hỗn hợp Việt-Mỹ , gồm Sư Đoàn 1 Không vận Hoa Kỳ và Lữ Ðoàn 3 Nhảy Dù và Thiết Ðoàn 2 kỵ binh Việt Nam . Tất cả các cuộc hành quân khác , đều đo Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đảm trách , đã giúp Lonnol chiếm lại thủ đô Nam Vang , hải cảng Sihanouk Ville , đồng thời phá vỡ gần như toàn diện các mật khu của Việt Cộng , trong đó có Trung Ương Cục R. Trên biển Ðông , Hải quân Mỹ còn tổ chức cuộc Hành quân Market Timer , để truy đuổi các tàu thuyền của Bắc Việt , trong việc chuyển vận quân trang dụng vào Nam , bằng tuyến đường biển 559B .

Ðể cứu sống đoàn quân xâm lăng đông đảo , đang có mặt ở miền Nam , trong lúc các căn cứ tiếp vận tại Miên vừa bị phá hủy , nên Cộng Sản Bắc Việt đã gia tăng quân lực , bằng mọi giá giữ vững cho được Huyết lộ Hồ Chí Minh trên đất Lào , mà trọng điểm là Thị trấn hoang tàn Tchépone . Ðây cũng lý do mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã mở cuộc Hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào năm 1971 , một trận chiếm đẫm máu nhất trong Ðông Dương thế chiến lần Thứ II ( 1960-1975 ) . Phía Việt Nam Cộng Hoà có 17.000 quân tham dự , gồm các Sư Đoàn Nhảy Dù , Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến , Sư Đoàn 1 Bộ Binh , Liên Ðoàn 1 Biệt Động quân và Lữ Ðoàn 1 Thiết Giáp . Về phía Cộng Sản Bắc Việt có Quân Ðoàn 70B , các Sư Đoàn 2 , 304 , 308 , Sư Đoàn phòng không..... Quân Mỹ chỉ đóng bên kia biên giới , yểm trợ không vận , hải pháo , pháo binh..... Cuộc hành quân kết thúc ngày 25/4/1971 sau khi Trung Ðoàn 2/SĐ1BB/Việt Nam Cộng Hoà tiến vào thị trấn Tchépone . Dù bị thiệt hại rất nặng nhưng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã phần nào đạt được mục tiêu chiên lược , là phá hủy hoàn toàn nhiều căn cứ tiếp liệu của Bắc Việt , tại mật khu 609 và 611 trên đường mòn Hồ Chí Minh .



D - VỀ PHÍA VIỆT NAM CỘNG HOÀ
Trong suốt cuộc chiến, hầu như tất cả mọi binh chủng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đều có mặt tại đường mòn Trường Sơn , kể cả Cảnh Sát Dã Chiến , Xây Dựng Nông thôn , Địa Phương Quân và Nghỉa Quân ... Tuy nhiên đã có một Binh Chủng Ðặc Biệt , từ ngày thành lâp vào năm 1957, tới khi rã ngũ tan hàng , đã đơn độc hoạt động âm thầm trong lòng địch , trên suốt đường mòn Hồ Chí Minh từ đông sang tây , ngay cả trong lãnh thổ của Miên và Lào . Họ là những chiến sĩ “ BIỆT KI’CH-BIỆT CÁCH “ , không có sự yểm trợ nào của đơn vị bạn và hoàn toàn tụ lực cánh sinh để mà sống trong núi rừng , nhiều nơi chưa hề có dấu chân người .

Binh chủng Lực Lượng Đặc Biệt có cấp số sư đoàn , bao gồm các đơn vị như Sở liên lạc , Sở công tác , Sở khai thác địa hình , các liên đoàn tác chiến 31 , 77 , 81 Biệt cách nhảy dù và Trung tâm Huấn luyện Lực Lượng Đặc Biệt Ðông Ba Thìn tại Cam Lâm-Khánh Hòa .

Như Kinh Kha ngày xưa , các chiến sĩ Biệt Kích ra đi ít khi được trở về . Một số ít đã bị bắt tại Bắc Việt và chịu kiếp tội đồ , tới nay nhiều người vẫn còn chưa được thả . Vì họ chính là kẻ thù không đội trời chung và cũng là khắc tinh của Cộng Sản , trên suốt đường mòn . Tóm lại nơi nào có Việt Cộng thì nơi đó có Lực Lượng Đặc Biệt . Hai bên đã trường kỳ đấu trí trong suốt cuộc chiến , qua đủ mọi hình thức . Nhưng vì lý do bảo mật , nên cả hai phía , đều không muốn nhắc tới .




E - VỀ PHÍA HOA KỲ
Từ năm 1961, Lào trở thành một quốc gia trung lập, nên chính phủ Mỹ đã bị Quốc Hội, nhất là tên thượng nghị sĩ đảng dân chủ thân cộng William Fullbright và cái gọi là ủy ban ngoại giao , tìm đủ mọi cách ngăn chận cấm đoán quân Mỹ can thiệp vào đất Lào . Trong lúc đó, Cộng Sản Bắc Việt không hề đếm xỉa tới cái gọi là hiệp định Genève 1954, tự tác mở con đường Tây Trường Sơn ngay trên đất Lào, để làm hành lang chuyển quân và tiếp vận xâm lăng miền Nam. Cũng do Quốc Hội trói buộc, nên từ đời Tổng Thống Kennedy cho tới Johnson, cả hai đều dè dặt trong quyết định dùng vũ lực tiêu diệt, ngăn chận sự xâm nhập của cán binh bộ đội, trên đường mòn Hồ Chí Minh .

Vì không thể sử dụng bộ binh, để tránh né khỏi bị công luận thế giới và quốc hội chỉ trích, người Mỹ đã dùng các phương tiện chiến tranh khác như oanh tạc, khai quang và dùng hàng rào điện tử. Ngay cả việc sử dụng không quân để oanh tạc cũng vô cùng bí mật, lúc đầu đều do các phi công thuê của Thái Lan , Ðài Loan đảm trách. Về sau vì Bắc Việt đã được Liên Xô giúp thiết trí một mạng lưới phòng không dày đặc, với đủ các loại đại bác, hỏa tiễn tối tân 35,57 ly .. làm nhiều thám thính cơ bị bắn hạ. Vì vậy để thích ứng với hoàn cảnh, Hoa Kỳ quyết định xử dụng những phi cơ oanh tạc Thunder chiefs từ Thái Lan , cùng các phi cơ F105 , pháo đài bay B52 từ căn cứ Guam , cũng như các Hàng Không Mẫu Hạm bỏ neo trên Thái Bình Dương , để oanh tạc liên tục con đường mòn Hồ Chí Minh , trên đất Bắc , Lào-Miên và trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hoà . Riêng chủ trương của Tướng Westmoreland , tư lệnh các lực lượng Mỹ và Ðồng Minh tham chiến tại Việt Nam , thì luôn muốn dùng bộ binh , để cắt đứt đường mòn Hồ Chí Minh ngay trên đất Lào . Nhưng ông đã bị Quốc Hội Mỹ chống đối kịch liệt vì sợ vi phạm hiệp định Geneve 1961 . Ngoài ra Mỹ cũng luôn lo sợ va chạm quân sự với Trung Cộng , khi tung quân vào Lào để hủy diệt con đường chiến lược Hồ Chí Minh . Ðây cũng là những bí ẩn trong cuộc chiến Việt Nam mới được bật mí . Năm 1968 kế hoạch vượt biên đánh sang Lào để hủy diệt đường mòn Hồ Chí Minh , mang tên EL-PASO sắp được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn , thì xảy ra trận Tết Mậu Thân 1968 nên chiến dịch trên đã bị hủy diệt .

12 giờ trưa ngày 30/4/1975 , nhờ Tổng thống Dương văn Minh với quyền hạn của Vị Tổng Tư lệnh tối cao , ra lệnh cho Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà lúc đó đang còn chiến đấu khắp các mặt trận, buông súng đầu hàng giặc. Nhờ vậy mà đoàn xe tăng của Liên Xô, chở quân Cộng Sản Bắc Việt , mới bon bon chạy được trên đoạn chót của đường mòn Hồ Chí Minh, là đại lộ Thống Nhất-Sài Gòn, rồi ủi sập hai cổng sắt để vào dinh Ðộc Lập, trống trơn không có phòng thủ, lính gác.


Sài Gòn hai mươi năm dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà , gần như lúc nào cũng có biểu tình . Thế nhưng trong ngày “ vinh quang của đảng-bác “, một cơ hội vàng ròng để người miền nam tha hồ xuống đường hoan hô hòa bình, ăn mừng . Tuy nhiên mọi điều xảy ra lại hoàn toàn trái ngược, chứng tỏ người miền nam không phải ai cũng hồ hởi tin hay thân cộng, như một số báo chí thời đó đã xướng. Theo hằng trăm nhà báo ngoại quốc có mặt hôm đó, trong số này có nhiều người thân cộng, cho biết :

" Trưa 30/4/1975 , khi quân Bắc Việt vào Sài Gòn , đã không có cảnh người thủ đô hàng hàng lớp lớp , túa ra đường , miệng la cờ phất..... như họ từng làm qua nhiều biến cố trong quá khứ " .

Nói chung chỉ có cán bộ đảng và Sư Đoàn 304 khăn đỏ tân lập ra chào đón quân ta về , còn dân chúng Sài đô lớp thì chạy trối chết theo chân Mỹ đi ngoại quốc, số khác lo chôm đồ .....  nên có ai rãnh để mà biểu tình , xuống đường như đảng mong đợi .

Sau đó Hà Nội cho thu lượm hài cốt cán binh bộ đội đã chết trên đường mòn, tập trung làm nghĩa trang Trường Sơn, tại xã Gio An, quận Gio Linh, tỉnh Quảng Trị . Còn Tỉnh Uỷ Bình-Trị-Thiên thì tổ chức tour du lịch, để du khách trong và ngoài nước tới thăm mấy cái xác xe tăng Mỹ , cây cầu treo Dakrong do công binh Cu Ba làm tặng và đồi Hambuger Hill..  Riêng đường Trường Sơn tây thì bỏ hoang hoàn toàn và mới đây Lào cho phép Trung Cộng trùng tu, nối liền xa lộ Vân-Nam-Bắc Trung Lào mà tương lai con đường này sẽ thông tới hải cảng Kompong Som của Kampuchia , như năm xưa Bắc Việt đã làm .



Nay ngồi ngẫm nghĩ , mới thấy nhà văn Xuân Vũ viết “ Ðường đi tới mà không tới “ là đúng sự thật :

" Trăng chiến khu não nùng sầu vạn kỹ ;
núi nghìn năm quên tuổi đứng cô đơn ;
đoàn quân xưa hào khí ngút mây vờn ;
trời quái ác làm vỡ tan tận tuyệt ;
.. đây còn có nhiều bạn bè Phan Thiết ;
đã vùi thây trong rừng lạnh tây nguyên ;
họ bây giờ là những cánh chim đơn ;
hót ảo não nơi lũng đèo khe núi.....
"


Xóm Cồn Hạ Uy Di
Viết nhớ bạn hiền Cố Trung Uý Trần Văn Thân , Trưởng Toán Công Tác Nha Kỹ Thuật , mất xác trên nhánh rẽ đường mòn Hồ Chí Minh, Tháng chạp 1974

HỒ ÐINH-MƯỜNG GIANG
TĐ1/TrĐ43/SĐ18BB
Kbc 4424 3435 -

Saturday, December 1, 2012

William Cobby CIA va Duong Mon Ho Chi Minh


Ðây là giai đoạn cực kỳ đối-nghịch giữa ba xu-hướng chống đối nhau quyết liệt về chính sách Mỹ tại Việt Nam: Sự mâu thuẫn nầy trong cuộc chiến chi còn giải pháp cuối cùng là lấy máu để giãi quyết. Tại Washington giữa chính quyền Kennedy và đặc biệt siêu chính phủ (permanent government) P.G đã keo-sơn cùng với thành viên Kỹ-nghệ Quốc-phòng (War Industries Board) quyết triệt-tiêu chiếc ghế quyền lực Kennedy; Vì là một trỡ ngại chính cho “Chương trình Chống Nỗi Dậy (Counter Insurgency Plan) Và tại Saigon chính phũ Ngô Ðình Diệm cực kỳ cương-quyết không cho quân tác chiến Mỹ vào Việt-Nam với bất cứ hình thức nào.
S.C.P Mỹ vừa áp lực hành pháp Kennedy buộc chính quyền Diệm phải sơ tán dân chúng, bỏ Huyện Hương-Hóa (Khe Sanh) xuống đồng bằng Quãng Trị vì lý do được gọi là vùng kém an-ninh (nhưng với con mắt phi công gián điệp mới phát hiện được sự thật P.G buộc công-cụ gián-tiếp là Hà-Nội phãi đem Lính B.V bắt đầu khai phá Ðường-559 cho Hà-Nội cưởng chiếm miền nam, đễ hoàn thành axiom-1 cũa chương trình CIP) Cụ cố-vấn, biết được ý đồ đó cũa Mỹ, nhung vì cần viên trợ đễ chống đở, nên cụ Ngô Ðình Nhu âm thầm với mưu lược chốt chận ngay yết hầu của Ðường-559 bằng điều-động Ðại tá Ðỗ Cao Trí, Tư lệnh Ðệ tam Quân khu sẽ mỡ cuộc hành quân chốt chận ngay yết-hầu Attopeu, với Thiếu tá Dư Quốc Ðống Chiến đoàn trưởng CÐ Dù, Ðại úy Lý Tòng Bá Thiết đoàn trưởng, cùng một đơn vị bộ binh thuộc SÐ22 với Tiểu đoàn Công Binh khai phá đường qua nam Lào, từ Ben Het, Darto tiến qua Lào. Sự việc nầy bị ngay tay phãn-tặc, Bác Sĩ Trần Kim Tuyến, Tổng Cục Tình Báo tại phủ tổng thống tiết- lộ cho CIA cũa nhóm Russell Flynn Miller (nam) và Lucien Conein (bắc) biết ráo trọi. Ðại tá Lansdale là ân-nhân của TT Diệm đã đề nghị (theo lệnh thượng cấp), Ðại tá Carver là cố vấn TUTB phũ tổng thống, nhưng mà ‘Giòi’ trong ấy ngoi ra làm sao TT Diệm hiểu nổi như H.N.Nhạ, Ðinh Xáng, P.N Thảo, Pham Xuân Ẫn… Cái nhóm CIA nầy lại là tay chân của hai nhân vật chủ chốt cuộc chiến (Harriman và Prescott Bush) đang đặt ống kính phãi hũy-diệt hai hòn đá tảng (Kennedy và Diệm) cản đường CIP nầy bằng mọi giá.
Thời kỳ chánh-quyền John F. Kennedy muốn việc làm của CIA tại Việt-Nam phải cố-gắng nhiều hơn nữa, khám phá cho được đường thâm nhập của Bắc-Việt vào Miền-Nam, tăng cưòng nhịp độ đột phá và gởi Gián-điệp ra Bắc. Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia Hoa-Kỳ (NSC) đã có cuộc họp số 52 Memorandum bản ghi nhận: cho phép xử dụng Mũ Nồi Xanh và Hãi-Quân người Nhái huấn luyện Cố-Vấn cho quân-đội Miền-Nam để họ thi hành những cuộc hành quân xâm nhập ngoài Bắc: “Biệt-Hải và Biệt-Kích Gián-Điệp”.
Trên thực tế, Mũ Nồi Xanh hay Hải-Quân người Nhái gì cũng là trực thuộc của CIA chủ động điều hành. Tại Đà-Nẳng người Nhái Mỹ (SEAL) đã bắt đầu huấn luyện cho Hải-Quân Việt-Nam với chiếc thuyền gỗ thô-sơ, cách thâm-nhập miền Bắc…thời tiết, phương tiện, kiểu cách, tổ chức Toán nhỏ vài người, tuyển mộ Lính từ ngoài dân, Toán biệt-hải sẽ tấn công chớp-nhoáng rồi rút ra…những vũ-khí như xử dụng hỏa-tiển…đầu đạn, cách che dấu vũ-khí trong thùng xăng 200 lít…trên thực tế chiếc ghe nầy quá mỏng-manh dễ bị hủy diệt, Cố-vấn người Nhái đang đề nghị thay thế bằng loại ghe khác có nhiều sức máy và tốc lực nhanh hơn. Họ đang muốn huấn luyện người Việt thay người Norway vào duyên tốc đỉnh P.T Nasty để hoạt động tại Bắc bộ [Gulf Tonkin]
Thâm nhập đường hàng không, cần phải đòi hỏi nhiếu khả năng về kỹ-thuật chuyên-nghiệp – Trong phân nhiệm của bộ tam sên, vị đại sứ chỉ lo về hành chánh dù trên thực tế là chịu trách-nhiệm tổng quát, vị tướng Tư lệnh MACV là chỉ lo việc hành quân, nhưng nhiệm vụ CIA mới là quan trọng về chọn nhân lực. Có một điều đặc biệt là họ xài người với phương thức vắt chanh bỏ vỏ: Khi HCM ở trong tù thì khuyến-dụ được thả ra phải vào mật khu Pat-pó giúp Mỹ chống Nhựt. Khi Cụ không vâng lời trong việc phát động lại chiến tranh, thì bị hạ bệ đưa Lê Duẩn lên thế 1959, nhưng quyền hạn tuyệt đối ở trong tay hai anh em Ðức-Thọ và Chí-Thọ. Kể từ giờ phút nầy Hà Nội không phải là Cộng Sản chủ nghĩa (nhưng chiến lược gia hoàn vũ Harriman để cho thế giới có mục tiêu đã phá CSCN như là fashion thời đại phi thực dân) đối với sự dựng lên một chế độ Mafia toàn trị (totalitarianism) do Lê Ðức Thọ và bè lũ tiếp nối, Thọ là người đảng trưởng Mafia được KGB và CIA bảo-vệ có mục-đích, lãnh đạo duy nhứt cho kế hoặch 50 năm (1959-2009, decent interval chấm dứt bằng DVD “Sự Thật HCM”) Cụ Diệm cũng vậy, khi ở trong bàn tay HCM thì được CIA mốc nối xin thả ra đem về tu-viện Mỹ, rồi khi Cụ Diệm vì yêu nước không muốn huynh đệ tương tàn vì không thuận cho quân tác chiến Mỹ qua, thì lấy máu giãi quyết cho mục tiêu chiến lược toàn cầu… Tôi hoàn toàn tin tưởng các sữ-gia sẽ làm sáng tỏ hai cụ là nhà ái-quốc là người bạn thân thiết đặt hết niềm tin nơi người bạn đồng minh than-tín, nhưng có một điều chắc chắn hai cụ “không phãi là người của Mỹ” Sự được thán phục của hai cụ đối với thế giới là “không vì sự thắng lợi mà vì sự phản bội của đồng minh” Tôi mãnh liệt căn cứ vào câu nói cũa hiền triết W-Brayant: “Sự thật dù có vùi xuống dưới đất rồi cũng sẽ trồi dậy”

Đích thân Colby đi vào Không-Quân tìm kiếm, ông gặp được một người có bộ râu kẻm giống như tài-tử Clark-Gable, trình diễn trong bộ đồ bay đen, mặt lạnh-lùng như một Đại-Ca trong một băng-đảng, đi đâu cũng có bốn con khỉ đột đại úy chầu rìa. Cổ chít một chiếc khăn quàng Tím cho nhẹ bớt cây súng lục nằm tòng-teng bên hông. Giống như Cowboy vào thời kỳ lập-quốc; Cây súng tượng trưng cho quyền lực, nhưng phải bắn nhanh, bắn đúng và kịp thời. Ðây là mẫu người mà Colby được lệnh phải chọn, mặc dầu mới ngoài 30 tuổi nhưng ông đã mang cấp Trung-tá Chỉ-huy-trưởng Liên phi-đoàn Vận-tải C47 tại Tân-Sơn-Nhất. Tiêu chuẩn chọn (criteria) phải trẻ để còn dùng qua giai đoạn phần mềm hậu chiến, nhưng không qua được con người đầy quyền hạn như CIA, Russell Flynn Miller (nam VN) dưới sự điều khiển của Richard Helms, (Pentagon): Sữ dụng Kỳ để dẹp Phật Giáo Ấn Quang, xong là triệt ngay đễ xóa bõ bàn cờ rồi chơi lại, nhưng mạng của Kỳ còn lớn nên không bị trực thăng vỏ trang UH1G làm thịt. Cũng như tướng Khánh lên chỉ để bỏ tù tại Đà Lạt, 5 tướng lãnh Kim, Đính, Đôn, Vỹ, và Xuân … xong rồi hất chiếc ghế quyền hạn, cầm cục đất quê hương lưu vong, chỉ có TT Thiệu là may mắn được Bunker giữ vững chiếc ghế cho axiom-3, đễ Mỹ rút lui êm thắm (axiom-3: The U.S could not have won the war under any circumstances, honorable withdraw)
Sau nhiều câu chuyện xã-giao qua lại thường tình, Colby đi thẳng vào vấn đề:
“Tôi muốn tuyển lựa Đoàn-viên C47, phi-cơ không có bản số, không cờ và phải bay sâu vào Miền-Bắc, ông nghĩ sao”
Người đối diện mau-mắn cưòi trả lời:
“Khi nào chúng ta bắt đầu”
Colby cảm thấy nhẹ người, để lòng tìn vào người anh-hùng can-đảm và đầy nhiệt huyết nầy Nguyễn-Cao-Kỳ đã được lồng vào ống kính của CIA như là điều kiện cần và đủ (Criteria)
Hậu quả ông đã tiến lên Tư-Lệnh Không-Quân… rồi Thủ-Tướng nhưng không quên kiêm nhiệm Chỉ-Huy-Trưởng Biệt-Đoàn 83 để nắm tuyệt đối sức mạnh của quyền lực
Toán thả đầu tiên bằng C47 không số, không hiệu (KQVN gọi là Cò-trắng) Toán Atlas, không nghe tín hiệu báo cáo, dường như phi-cơ mất-tích! để giữ bí-mật, tránh tầm Radar, phi-cơ phải bay ở điều kiện sáng trăng 30% và 100 bộ trên ngọn cây vào những vùng rừng núi hiểm trở như ở ngoài Bắc.
Sau khi chiếc C47 đầu tiên bị mất tích, Kỳ đích thân bay phi-vụ thứ hai, thả Toán Castor sâu vào Miền-Bắc
Khoảng ba tháng sau, Đài Hà-Nội công bố đã bắt được ba biệt kích gián điệp của Sàigòn, (coi Cánh Thép mục “Phi vụ Cò Trắng và những nắm mồ còn lại” Nhóm CIA của Lucien Conein đã phá hủy chiếc C-47 nổ trên không phận Ninh Bình, và nhiệm vụ các toán phá hoại phải đỗi qua lấy tin tức mà thôi, ngưng ngay việc phá hủy cầu cống)
Còn Toán Atlas phi-cơ đâm vào núi! Rồi Toán Castor của Kỳ thả cũng không bắt được liên-lạc…vẫn tiếp-tục thả Toán Dido và Echo hai Toán nầy đang bị Bắc-Việt theo dỏi sát nút…tin mới nhất cho biết được, hai Toán nầy đang bị ép làm gián-điệp hàng đôi; Và Toán cuối cùng Tarzan vừa thả xuống là bị bắt ngay, đây cũng là trò chơi phản gián và chống phản gián của trục Ma-Quỷ [KGB và CIA] mà tam-trùng Phạm Xuân Ẩn là nhân vật chính trong vở bi-thãm-kịch nầy dưới cái dù tại tổng đài Pentagon dưới quyền điều động của Richard Helms.
Riêng phần Colby, thất bại keo nầy ta bày keo khác! Mặc dầu CIA đã cố gắng tạo môi trường cho phi-công C-47 Việt-Nam huấn luyện kỹ càng, qua huấn luyện viên phi-công Trung-Hoa-Quốc-Gia với chiếc C46 (hơi mập một tý) Họ đã có kinh nghiệm với hàng trăm phi-vụ gián-điệp vào sâu trong lãnh thổ Trung-Quốc, Đại-Tá Harry Aderholt chuyên viên nhà nghề về hành quân thâm nhập bí mật vào không phận Trung-Quốc; Ông mới vừa bay chiếc C130A không bảng số vào sâu trong không phận Tây-Tạng do Trung-Quốc chiếm đóng để thả dù tiếp-tế cho kháng chiến quân bảo vệ Đức Dalai Lama trong cái thế siêu chiến lược Eurasian sẽ gây xáo trộn tình hình trong nửa thế kỷ tới như để hù dọa TQ (đầu thế kỹ 21) về các sắc tộc ở quanh vùng nổi loạn tại Trung-Á vào đoạn chót kế hoặch Eurasian. CIA nhận xét phi-công C-47 Việt-Nam chưa đủ kinh-nghiệm về địa hình, thời tiết, cũng như kỹ-thuật lái; Hậu quả: một chiếc đâm đầu vào núi, khi bay thấp, dĩ nhiên là điều kiện ánh sáng trăng dưới 30%. Một chiếc bị phản gián CIA của Nhóm Richard Helms phá hoại nổ rơi tại Ninh-Bình làm cho William Colby trở nên lúng-túng, phiền-phức, mất mặt đối với quốc-tế đặt chính quyền Kennedy khó xử, đồng loạt với phi công đại-úy Power bay U-2 bị bắn rơi, sự khủng hoảng hoả tiển nguyên tử lén lút đưa vào Cuba, vụ thảm bại đổ quân vào Vịnh Con Heo của CIA (chuyên lấn quyền qua giòng họ Bushes) Vụ việc thất bại Vịnh Con Heo làm TT Kennedy phải chịu trách nhiệm vì đương kiêm tổng thống: Tường tôi cũng nên nói rỏ về vụ nầy vì rất nhiều bạn đã hiểu lầm về CIA do William Colby chịu trách nhiệm, hay nói cách khác do chính quyền Kennedy phải chịu. Như tôi đã nói Colby phò trợ chính quyền, còn Richard Helms phò trợ Bush-Cha (vị đại đế dấu mặt Skull and Bones-II) mà trong tài liệu cho rằng president of permanent government 1920 là thủ phạm (báo chí thời đó cho rằng: lúc 10:15AM ngày 14/4/1961 lệnh bắt đầu đến đúng ngọ, thì CIA của Bush-Cha cho lệnh hành quân qua Vịnh Con Heo, dĩ nhiên tài trợ của Bush Cha nhưng bị thất bại nhục nhã vì TT Kennedy cương quyết không cho quân đội can thiệp. Theo lệnh CIA người điều hành cuộc hành quân là Richard Drain, ám số Skull and Bones 43, cùng cố vấn TT Kennedy là Mc George Bundy, ám số 40, người em của Bundy là William P Bundy, ám số 39 ở Bộ ngoại giao, và người thuộc Russell Trust Association cùng một người vừa tách rời William Colby là 45W thân cận của Bush Cha với ám số 45W như trên. Việc thất bại nầy thúc dục Kennedy ra lệnh cho Tướng Maxwell Taylor điều tra, Taylor cho rằng CIA như con Voi Rừng bất kham, kết quã Kennedy nổi giận giao CIA lại cho quân đội đãm nhiệm và giải nhiệm một số viên chức cũng như tướng lảnh. Đây cũng thêm một yếu tố nhỏ khiến Harriman, Bushes mướn Mafia giết Kennedy để không gây sự xung-đột mâu thuẩn giữa CIA và FBI nhưng lại đổ lỗi oan cho William Colby vì ông có kinh nghiệm mướn Mafia giết những lảnh tụ thiên tả hay Cộng Sản tại các nước tây âu qua tiền tại trợ rút tại ngân hàng Thụy Sĩ sau thế chiến 2
Để tiếp tục thi hành theo chỉ thị của Hội-Đồng An-Ninh Quốc-Gia, bản văn kiện ghi nhận số 52 Memorandum, CIA chuyễn qua dùng Phi-Cơ C46 không số do phi-công Trung-Hoa Quốc-Gia lái, chương trình thả Toán dài hạn (3 năm) sâu vào lãnh thổ Bắc-Việt. Tại Trung tâm huấn luyện Long-Thành, cách Sàigòn 40 cây số đang đào-tạo thêm hàng chục Toán mới; Tháng 5, 6 và 7 năm 1964 các Toán được thả xuống như: Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion… kết quả tất cả bị tóm cổ. Tuy thất bại nhưng cũng vẫn tiếp-tục đào-luyện 21 tuần lễ các Toán mới, và chọn người có khả năng để tăng cường bổ sung cho Toán Remus và Tourbillon dành cho phía Hà Nội chơi trò “Cút-bắt”. Nhưng sự thật đây là trò chơi rẽ tiền: Dân và cán bộ cấp nhỏ người nào cũng óm nhách óm nheo vì không đủ ăn thiếu dinh dưỡng nên mặt bũn da chì, đem bắt cóc họ lùa vào chiếc PT Nasty đem vào Cù Lao Ré nuôi cho mập, rồi thả về chỗ cũ, mặt mày hồng hào khỏe mạnh đễ lộ ra coi như “Ông ơi tui ở bụi nầy” thì bị bắt rồi cho đi cải tạo tư tưởng. Rồi họ tuyên dương tình báo nhân dân của họ thật xuất quỷ nhập thần, dù rằng đây là trò chơi rẽ tiền, nhưng đối với tinh thần là kích thích sự háo thắng truyền thống của CS, có như vậy để cho họ tiếp tục phấn đấu vượt bao khó khăn để trục Ma/Quỹ hoàn thành kế sách chiến lược.
Sơn-Tinh thất bại, CIA dùng Thủy-Tinh gở lại; Ở Vịnh Bắc-Việt, duyên-tốc-đỉnh Nasty và Biệt-Hải bắt đầu tấn kích phá hoại rất thành công nhiều mục-tiêu rải-rác dọc Duyên-Hải; Hai cuộc tấn kích chớp-nhoáng rồi rút ra khỏi, đó là ngày 9 và 25 tháng 7
Đặc biệt ngày 30 July tấn kích dữ-dội căn-cứ Radar của Hà-Nội, xử dụng tốc đĩnh Nasty và Biệt-Hải tấn kích quyết liệt sâu vào đất liền, hủy diệt căn-cứ thường dòm ngó nầy, gây ra nhiều đám cháy và nhiều tiếng nổ phụ dài theo sau đó. Cuộc hành quân của Thủy-Tinh hoàn-toàn thắng lợi
Kết quả về Hành-Quân cũa Toán Dài Hạn: Nói tóm lại, sự hoạt động của Toán Dài-Hạn, từ ngày thành lập đến nay xem như thất bại hoàn-toàn, chỉ có bảy Toán và một Đơn Chiếc được xem như còn hoạt động trong nội-địa Bắc-Việt đến năm 1967 (xem bản đồ ở trang đầu) Ba Toán và một Đơn Chiếc do CIA đào tạo sau bốn năm hoạt động là: Eagle, Red-Dragon và Romeo đã tỏ ra có nhiều cố gắng.
Đem so-sánh với kế-hoạch kồng-kềnh của CIA, các Toán nầy hoạt động cũng không đáng kể, mặc dầu phương tiện đem họ đi thâm-nhập rất hoàn-hảo, nhưng kết quả lại không ra gì. CIA thả Toán Tourbillon ngày 16/5/1962, sau đó tăng cường thêm hai Toán-viên ở vùng hoạt động tây-bắc Hà-Nội, lúc đầu Toán phải mở những trận phục kích, phá hoại, gây rối hậu phương địch, sau đổi lại chỉ góp nhặt tin-tức báo-cáo về Trung-ương mà thôi. Kết quả không tin-tức nào cho là đáng kể; Nhận thấy cứ mỗi lần muốn bốc họ ra thì họ xin trì hoản thối thác và đến bãi bốc không đúng hẹn (Nếu chúng ta suy gẫm có sự thay đỗi nhiệm vụ như vậy có nghĩa là CIA của Colby bị CIA của Richard Helms đè bẹp, thế thì ai nắm chính sách Mỹ? Ðúng y chang Harriman kiến trúc sư cuộc chiến, và Prescott Bush, chủ tịch hội đồng kỹ nghệ quốc phòng WIB)
Tháng Tám năm 1963 CIA thả Toán Easy ở Sơn-La với mục địch, Toán phải tìm mọi cách liên-lạc với nhóm người lãnh đạo của sắc-tộc Mèo, Thái để được Bốc đem về cho CIA huấn luyện, sau tháng giêng năm 1964, có nghĩa là sau khi TT Kennedy và TT Diệm bị thảm sát, nhiệm vụ nầy được hủy bỏ vì chỉ-thị đột ngột của Hoa-Thịnh-Đốn (từ bộ Ngoại giao, Harriman) không được mở các cuộc đột kích cũng như tấn-kích. Toán Easy trở lại vị thế nhàn rỗi giống như tên đặt: là chỉ thu-lượm, khai-thác tin-tức và tìm hiểu để tuyển người tại địa phương.
Kết quả, không thấy báo-cáo… nín câm như hến! Colby không biết gì nhưng điệp viên 19 Lucien thì biết tất cả mọi việc qua Phạm Xuân Ẩn. Theo sự tường trình của CIA [Colby] thì Toán Easy nầy đã được tăng cường bốn lần với hai mươi ba Toán viên. Đến khi cho biết, tình-trạng khẩn-cấp, báo-động Đỏ, vị bị nghi-ngờ, vài Toán viên phải được Bốc về ngay… thì Toán nầy cắt đứt liên-lạc tức khắc (bị bắt buộc phải làm nhiệm vụ nhị-trùng)
Toán sáu người Remus nhảy dù xuống ngày 16 tháng 4 năm 1962 gần Điện-Biên-Phủ, ấn-định mục-tiêu: Thiết lập bí-mật tại đây một Căn-cứ chìm để đón nhận tin cũng như phát tin đi hàng ngày về diễn-tiến thay đổ tình-hình chính-trị, kinh-tế cũng như quân-sự, lựa chọn một nơi thật an-toàn để nhận tiếp-tế và cũng là nơi sẽ tiếp-nhận thêm Toán viên Mới, thu nhập tài-liệu, dữ kiện để tuyển người cho Mặt trận Gươm Thiêng Ái-Quốc, nhưng sau khi TT Kennedy bị thảm sát, Toán Remus trở lại nhiệm vụ thám sát để báo cáo tình hình, nói tóm lại từ khiêu khích trở về phòng thủ để lấy tin tức, ngay sau khi TT Kennedy bị Harriman và dòng họ Bushes quyết triệt tiêu. Các toán đã thã trở về mục tiêu do la tin tức, không được phá hoại và bị bỏ trong quên lảng
Năm 1964, Toán Remus báo-cáo đã phá sập nhiều cầu-cống trên những huyết lộ của Bắc-Việt, Bộ-Trưởng Quốc-Phòng Mc Namara làm bộ mừng rỡ khi William-Colby báo cáo, lúc nghe được tin nầy, Mc Namara nhún-nhảy tưng-tưng như đứa trẻ con vừa được Bố Mẹ mua đồ chơi; nhưng Colby cũng biết Namara không ưa gì mình khi cố mĩm cười và cứ tưởng như Mc Namara cho rằng, cuộc chiến sẽ thay đổi hẳn cục diện và đây quả là một chiến-công vĩ đại? CIA không có bằng chứng nhưng chỉ tin vào báo cáo, cho đây là kết quả tốt đẹp nhất nên Toán Remus được tăng cường năm lần, (chỉ có Nhóm phản gián của điệp-viên 19 và Phạm Xuân Ẩn là hiểu rỏ mọi diển tiến của trò chơi nầy và Mc Namara cũng thừa hiểu điều đó nhưng cũng cố đóng kịch như là người thuộc về viên chức chính quyền, trong khi điệp viên tài ba nhứt trong Ðệ-2 thế chiến, Colby đành thúc thủ)
Mãi đến năm 1966 Remus bị nhóm Colby phê bình khiển trách vì quá tự mãn nên báo cáo quá ít và mù-mờ không rõ-ràng, Trung-ương quyết định, vì nghi ngờ, phải thay đổi nhiệm vụ nên ra lệnh Bốc bớt về hai Toán-viên. Được Toán trả lời ngay: “Rất nguy-hiểm không nên bốc hai Toán-viên ra…” Đền giữa năm 1968, tất cả vô-tuyến liên-lạc đều cắt đứt, cũng vừa phỏng vấn lấy cung một tên lính Bắc-Việt mới bị bắt, hắn tiết lộ rằng: Đội-Trinh-Sát đã bao vây bắt được Toán Gián-Điệp của Chính-phủ Sàigòn ở vùng cao thuộc Tỉnh Hoàng-Liên-Sơn. Sau khi phối kiểm, đúng là Toán Remus vào giữa tháng 6 năm 1962, có nghĩa là sau khi thâm nhập được hai tháng là bị chụp ngay, Bắc-Việt dùng Toán nầy để làm Gián-diệp hàng đôi, trong khi Colby không biết gì cả.
Ngày 13/5/1968, Đài Hà-Nội công bố xác định có bắt được một Toán Gián-Điệp với những dữ kiện…rõ-ràng là Toán Remus.
Nói tóm lại, Colby chỉ còn Một-Đơn-Chiếc Ares là đáng tin cậy được, (tôi đoán rằng Nguyễn Chí Bình, thép đen?) đầu năm 1961 Ares được thả bằng đường biển, gần biên-giới Trung-Quốc, lúc đầu không liên-lạc được nhưng sau bắt được liên-lạc; Trước đây được một viên chức của Sở-Khai-Thác Địa-Hình đề ý và tìm ra Ông khi ông còn ở Trại Tỵ nạn Cộng-Sản vào ngày 29/8/1960 được đưa vào ống kính CIA vì ông có nhiều mối căm thù tích lủy với Cộng-Sản, với sự kích động hăng-say khiến ông ao-ước được có cơ-hội nầy để tiêu-diệt Cộng-Sản, dĩ nhiên không bao lâu, sau ông được cơ quan tuyển dụng ngay. Thoạt đầu ông được xem như tích cực, hữu-hiệu, cung-cấp những tin-tức cũng như tài-liệu về Miền-Bắc, nhà máy điện Uông-Bí, Xa-lộ, Cầu-cống, Bến cảng Hải-Phòng và những tin-tức liên-quan khác, chính ông đã cố-gắng hết mình tìm được những tin-tức vô cùng quý giá. Tuy nhiên đến năm 1966, CIA bắt đầu ngạc nhiên về sự yêu cầu tiếp-tế của ông, Ông đưa ra điều-kiện nơi tiếp-tế, rồi thình-lình lại xin hủy bỏ; Khi CIA quyết tình muốn bốc ông ra thì ông thối-thác không ra chỗ hẹn, nhưng vẫn liên-lạc mãi đến năm 1968; Hà-Nội biết như vậy nên càng rà theo dõi ông sát nút nhờ qua tin của tam-trùng Ẩn báo cáo khá chính xác những hoạt động gián điệp biệt kích của VNCH.
Nói tóm lại góp nhặt tin-tức, phá hoại đột kích… Các Toán dài-hạn ít có kết quả hơn Toán ngắn hạn, tại sao! Rất nhiều lý do phức tạp chỉ biết qua tin-tức bằng vô-tuyến, nếu có phá sập cầu, cho biết vị trí, chụp hình thế thôi. Thậm chí có những Toán bị Bắc-Việt bắt được và đang áp-đặt làm điệp-viên hàng đôi mà CIA [nhánh chính quyền Colby] cũng chẳng hay biết, cứ như thế mà tiếp-tục tiếp-tế, thả tăng thêm người: (Những khuyết điểm thực tập nầy của Colby vẫn được ghi chép vào Học viện Quân sự để rút kinh nghiệm sau nầy)
Toán Tourbillon, năm 1962 tiếp nhận Toán viên mới hai lần, rồi tiếp-tục nhận thêm năm 1964, năm 1965, năm 1966 và năm 1967, thật là buồn cười cho một Cơ-Quan CIA tự hào là nỗi tiếng khắp thế-giới mà bị mù lòa không thể tưởng. Nhưng sự thật đả bị CIA (toán phản gián của Richard Helms) qua Phạm Xuân Ẩn chỉ điểm tọa độ nên bị tóm cổ hết cả lủ, theo kế hoặch của Nhóm tham mưư Harriman là mọi ngành, binh chủng, đơn vị đều phải thực tập trách vụ nhưng không cần thu hoặch kết quả với châm ngôn (everthing worked but nothing worked enough)
- Toán Remus nhận tiếp-tế Bốn lần
- Toán Easy nhận tiếp-tế Năm lần
- Tất cả những Toán viên tăng cường đều bị bắt, bị giết bởi lính tuần tra theo kiểu Cày Răng Lược của lính Bắc-Việt.
Hồi Đệ II thế chiến, Tình-báo Quân-đội Hoa-kỳ OSS rất hữu hiệu, thao lược và kiệt xuất, họ võn-vẹn có vài người trong lòng địch kiểm soát, thay vì phải điều-động cả hàng Sư-đoàn để giao-tranh với Địch, dĩ nhiên với quân số nhiều như vậy thì phải chịu thiệt hại khi đụng độ. Cũng nên nhắc lại chuyện xưa, ngày đó OSS biết khi nào cần sự có mặt của quân bạn để tham chiến, đúng lúc, nơi nào, vào giờ nào, để làm gì…Trong khi Đồng-minh Liên-Xô không những hàng ngày mà hàng giờ chờ quân-đội Hoa-kỳ nhảy vào vòng chiến để nhẹ bớt áp-lực. Trong khi mũi dùi tiến về phía Tây-Bá-Linh, Liên-Xô chịu quá nhiều thiệt hại về nhân mạng, đến khi Liên-Xô tiến gần đến Bá-Linh, lúc nầy Sĩ-quan OSS, W.Colby mới chịu báo-cáo cho Sư-đoàn Dù nhảy vào vòng chiến để chụp giật phỏng tay trên giành được các nhà Bác-Học Đức trên tay hồng quân Liên Xô; Ngày xưa Cơ-quan Tình-báo Quân-đội OSS càng kiệt xuất bao nhiêu thì ngày hôm nay được đồi cái tên là CIA thì quá tệ trong dự mưu của SCP, vì bị thọc gậy bánh xe, mục tiêu có khác là do thế chiến lược phản tình báo của Skull and Bones. CIA [Colby] biết mình mà không biết người thì làm sao nắm vững được tình-hình; Trong khi nhóm phản gián của Richard Helms thì biết cả hai bên nhở cùng KGB phối hợp thao dượt để thí nghiệm các dụng cụ truyền tin loại update nhứt cho sự ích lợi của hai nước Mỹ/Xô. Nhưng đây là một điều trớ-trêu nhưng lại trong định kiến của Nhóm tham-mưu Dân-sự Harriman về thế chiến lược ‘bênh kẻ mạnh’ để giúp Hà Nội chiếm lỉnh Miền Nam theo định kiến-1 (axiom-1).
- Cho thi hành công tác mà không hiểu rõ, xác định mục tiêu như thế nào, đổi mục tiêu vô chừng, khi thì phá hoại rồi đổi mục tiêu qua thu lượm tin-tức, rồi đùng một cái tuyển người ở địa phương cho chương trình Mặt-Trận Gươm Thiêng Ái Quốc, thay đổi kế-hoạch như chong-chóng (Vì mọi hoạt động đều do sự chủ đạo của Nhóm tham mưu Richard Helms/Harriman)
- Quan niệm hành quân không thích hợp, không nắm vững, thiếu hiểu biết.
- Thiếu kinh-nghiệm điều hành.
- Thiếu, không đủ thủ tục, tiêu chuẩn để chọn người.
- Huấn luyện chưa vững, thiếu tin cậy, tin-tưởng.
- Không biết cách để kích động tinh-thần Toán viên.
- Trong khi Bắc Việt đã điêu luyện về xử dụng Gián-Điệp hàng đôi, khích lệ bởi KGB
- Quân đội điều-hành không chuyên môn về phương diện tình báo, đổ lổi Kennedy (Nhưng có một đều chũ yếu là thao duợt cho cã hai phía Bắc Nam để tiêu hũy cũng như thí nghiệm vũ khí mới lấy VN làm chiến trường thí nghiệm)
Mặc dù có những sáng kiến khi phát hiện Toán bị cưỡng bức làm Gián-điệp hàng đôi như dùng Phi-cơ Phantom RF-4 thả đồ tiếp-tế theo kế hoặch đã ấn định trong chương trình: Cái thùng nhôm mang dưới bụng Phi-cơ giống như bình xăng phụ, dùng thả những tiếp liệu như Vô-tuyến, Lựu đạn, Mìn bẩy…Nhưng Lựu đạn kỳ thả nầy, hễ rút chốt ra là nổ ngay, vô-tuyến và các thứ khác đều như vậy nhưng chỉ có hiệu quả một hai lần thôi, lần sau họ đâu có dại nữa mà chịu mắc-mưu. Còn như để đánh lạc hướng địch, thả dù bằng những cục nước đá có sức nặng bằng con người… đến khi nước đá tan thì chỉ còn chiếc dù mà thôi, treo lủng lẳng trên cành cây hay cạnh sườn núi, lính Bắc-Việt sẽ tập trung vào khu đó mà tìm trong khi Toán sẽ được thả ở nơi khác, cái mưu chước nầy cũng chỉ nhất thời mà thôi, chớ không thể ứng dụng lâu dài được! Thả máy phát thanh treo trên ngọn cây phát ra tiếng liên-lạc giữa các Toán với nhau để đánh lạc hướng…nhưng dù gì thì chĩ có hậu quả nhứt thời mà thôi - Đây cũng là hình thức tạo ra sáng kiến về phía Colby.