Sunday, February 14, 2021

Valentine Trong Di Sản Chiến Tranh

Quả thực Hiệp Chủng Quốc là đất nước phú quý sinh lễ nghĩa. Tháng Hai hàng năm là tháng của Tình yêu, bày tỏ tấm lòng của con người với con người. Tháng Hai, nhà văn gọi là tháng Tình yêu thăng hoa, tháng làm đẹp lại lòng thương yêu đã tàn lụi, làm mới lại mối tơ duyên đã phai màu.
Bây giờ nhập gia tùy tục, người Việt Nam tại Mỹ cũng Happy Valentine, và nhà viết bình luận cũng phải có đề tài về ngày tháng của tình yêu.Tại sao lại có Valentine vào tháng Hai mỗi năm. Nhiều câu chuyện lịch sử rất mơ hồ truyền tụng từ cả ngàn năm pha trộn giữa nguồn gốc tôn giáo và xã hội. Sau cùng hầu hết các nước Tây phương và Mỹ châu đều mừng lễ hội Valentine. Mời nhau bữa tiệc. Tặng hoa, trao thiệp viết lời yêu thương và giá trị nhất là những lá thư, những lời bày tỏ bằng chữ viết gởi cho nhau.
Trong nhiều chuyện Valentine từ thuở xa xưa, người ta có ghi lại một huyền thoại cảm động. Có chàng trai trẻ ở tù đã đem lòng yêu thương cô con gái của viên chúa ngục. Anh chàng tên là Valentine đã tự viết ra một tấm thiệp đầu tiên cho chính mình và ghi hàng chữ FROM YOUR VALENTINE. Thành ngữ này vẫn còn dùng trên các thiệp in bán ra hàng triệu tấm mỗi năm. Trong tấm thiệp còn có bức thư gởi người yêu thầm kín mà người tử tù để lại sau khi chết.Đó là năm 269 trước khi Thiên Chúa ra đời. Từ đó lá thư tình bất diệt của người tù Valentine mở đường cho lời bầy tỏ tình yêu vĩnh cửu tháng Hai, của mùa lễ hội Valentine.
Đối với quý vị, câu chuyện đã gợi ra được những kỷ niệm gì?Trong thế giới về cuộc sống của chúng ta, mỗi người một cảnh, mỗi người mang một mảnh đời khác biệt. Những cánh thiệp hồng, những lá thư tình thời học sinh, những bài ca tình thơ của lính. Bài Phượng Hồng tuyệt tác thi sĩ đã viết về cậu học trò có lá thư Valentine ngập ngừng đem tới lại đem về. Rồi những cậu bé lớn lên giữa thời binh lửa. Thư chiến trường đầy vơi nước mắt kéo dài 20 năm với những ngày hạnh phúc quấn khăn tang. Sau cùng, oan nghiệt nhất là thư từ trại tù cải tạo tràn đầy cay đắng trong những kỷ niệm vừa đau thương vừa huy hoàng của một thời đã qua.
Đó là câu chuyện Valentine trong di sản chiến tranh.Về câu chuyện những cánh thư Valentine của chiến trường Việt Nam thì Asia đã có cảm hứng làm ra một tác phẩm DVD phát hành năm trước.Tuy nhiên, những câu chuyện mà chúng tôi kể ra sau đây sẽ không bao giờ còn có dịp giới thiệu với bà con Việt Nam.

Cách đây 9 năm vào ngày 6 tháng Hai năm 2005, một cô gái Sài Gòn tên là Hoàng Hoa từ Việt Nam phổ biến cho người Việt hải ngoại qua diễn đàn Thủ Đức một tài liệu làm người đọc vô cùng xúc động. Đó là lá thư tình cảm 20 trang viết tay của chuẩn úy Trần Văn Quý.Lá thư của anh sĩ quan trẻ tuổi từ chiến trường Kontum chưa hề có nửa mối tình đầu viết cho cha mẹ và cho người chị gái tại Sài Gòn. Thư chưa bao giờ được gởi đi vì người ta chỉ tìm được trong túi quân phục của tử sĩ chết đúng vào ngày 6 tháng Hai năm 1974.Cô em gái nhỏ của gia đình đã cất giữ kỷ vật suốt 31 năm để phổ biến vào tháng Hai đầy tình cảm.
Tuy nhiên phải là người trong quân ngũ mới thực sự rung động vì những lời ghi lại trong lá thư hồi ký chiến trường của một chàng trai trẻ đi trả nợ binh đao.Chuẩn úy Quý ra trường Thủ Đức vào tháng 10 năm 1973, đã chọn về tiểu khu Kontum. Ngày 11 tháng 11 năm 1973, được giao chức vụ trung đội trưởng trung đội 3 đại đội 2 thuộc tiểu đoàn Địa Phương Quân Kontum, đóng bên bờ sông Đap La.
Chỉ vừa nhận đơn vị 3 giờ đồng hồ thì đơn vị giải tán, quân số chuyển qua đơn vị khác và anh chàng chuẩn úy Thủ Đức còn ngơ ngác với đầu tóc học trò đã trở thành sĩ quan thặng số đi theo tiểu đoàn hành quân, nhưng không có một người lính trong tay. Và cuộc đời binh nghiệp bắt đầu với những diễn tiến đau thương cười ra nước mắt. Tuy là sĩ quan nhưng vẫn còn lãnh lương trung sĩ theo quy chế sinh viên. Được chia gạo nhưng không có thực phẩm. Chuẩn úy Quý hết sức nhẫn nại, lóc chóc vác súng theo đơn vị như một tân binh thặng số. Từ quan đến lính, chẳng ai quan tâm. Chưa hề có kinh nghiệm nên cũng không chuẩn bị quân trang đi tác chiến trong rừng. Những lời anh viết trong thư rất chừng mực và bình thản. Anh kể chuyện xảy ra hàng ngày không hề có một lời than van. Anh không viết một chữ tuyên truyền ồn ào giữa ta và địch. Hết sức từ tốn và đơn giản, anh sĩ quan trẻ viết về những ngày tháng đầu đời quân ngũ để gởi cho chính mình, gởi cho cha mẹ và anh chị. Tác giả không bao giờ nghĩ rằng câu chuyện kể ra sẽ được chúng ta đọc lại hơn 40 năm sau. Tập bút ký dưới hình thức thư nhà tràn đầy yêu thương mà ngày nay chúng ta có thể gọi là Valentine của tình người.
Định mệnh đã đưa những người trai xa lạ đến sống bên nhau và cùng chết bên nhau trong một đơn vị rất tầm thường ở miền núi rừng xa thẳm gọi là Tân Cảnh, Kontum. Họ không phải là thiên thần Mũ Đỏ hay cọp biển Mũ Xanh. Tuyệt đối không có một chút gì là lãng mạn oai hùng.
Từ tháng 10 năm 1973, mặt trận Kontum đã được giải tỏa. Khói lửa trận mùa Hè đỏ lửa 72 đã tạm thời lắng dịu. Các đơn vị tổng trừ bị đã rút về. Chỉ còn lại địa phương quân cấp chi khu ngày đêm chống lại quân du kích và địa phương Cộng sản.Sau một thời gian đeo lon chuẩn úy mà sống như binh nhì, anh sỹ quan Thủ Đức nhận được lính để đóng vai trung đội trưởng. Trung đội của anh sau cùng có được 8 lính, trong đó có 2 lính thượng và 6 lính lao công đào binh vừa được thả từ quân lao Gò Vấp. Có một ông trung sĩ già làm trung đội phó. Đó là hoàn cảnh của anh thiếu úy Sài gòn 20 tuổi chưa hề ra trận, sẽ cầm trung đội 10 người để chiến đấu ở tuyến đầu Kontum, chặn đường Nam tiến của binh đoàn cộng sản.
Chuẩn úy Quý tả cảnh phải chiến đấu với núi rừng, đèo cao dốc thẳm và đói khát giá lạnh. Từ đỉnh đồi 945 thước cao, anh lính học trò chỉ huy lính đào binh ngó về thành phố Kontum mà nhớ Sài gòn. Nơi chân trời xa thẳm có cha mẹ, bạn bè và các cô gái hậu phương anh chưa hề tỏ tình.Xin đọc một đoạn trong lá thư của chuẩn úy Trần văn Quý:
“… trên đỉnh đồi 949m nhìn về thành phố Kontum con thấy nhớ nhà làm sao ấy. Ở đây mỗi ngày chỉ viết một trang vừa làm nhật ký vừa làm thư, và cũng là lúc đang suy tư về gia đình. Bây giờ chỉ có cách chờ ngày về dưỡng quân mới bỏ thư được. Chắc sau gần một tháng trời bặt tin ở nhà cũng trông thư con lắm. Nhưng vì chiến cuộc con cũng chẳng biết làm sao hơn, nếu thư liên lạc thường xuyên không được, thì sau ngày hành quân con sẽ gởi về nhà một lá thư dài thế này để bù lại những ngày gởi thư lẻ tẻ”…
Cho đến cuối năm 1973, trung đội 10 người của chuẩn úy Quý chạm súng lần đầu tiên lại là một trận đánh ngắn ngủi và đau thương hết sức. Đại đội cho lệnh chia trung đội làm hai, một nửa tung quân ra tiền thám và một nửa giữ vị trí. Giữa rừng già cây cối núi đồi chằng chịt, ông trung sĩ phó nằm cố thủ với 3 anh lính ba gai. Cậu chuẩn úy với 5 anh lính du côn và lính thượng đi mở đường. Bỗng nhiên có tiếng súng ầm ì phía trước, một anh lính của trung đội trúng đạn bị thương. Chuẩn úy Quý đứng sững như mơ ngủ. Anh lính thượng đeo máy lao vào bụi rậm. Tay lính xuất thân từ quân lao Gò Vấp la lên, thiếu úy nằm xuống. Rồi chợt nghe xa xa có tiếng của trung sĩ trung đội phó “ Chết rồi, bắn nhầm lính của ta rồi”
Chuẩn úy Quý dẫn lính đi một vòng rồi lại về chỗ cũ nên quân ta tưởng chạm địch rồi bắn nhầm. Bút ký kể lại chân thật không hề che dấu và cường điệu. Đây là những tài liệu chính xác nhất của chiến trường.Cho đến trận sau cùng, theo lời thuật của cô em gái ghi lại như sau:
“Name: Hoang Hoa. City: Saigon, Vietnam / Sent: Sun February 06/2005/21:02 Anh tôi là cựu sinh viên trường sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Anh đã hy sinh tại Kontum ngày 6 tháng 2 năm 1974. Kỷ vật còn lại tấm thẻ bài, vài tấm hình và một bức thư dài chưa kịp gởi, vì suốt thời gian hành quân không thể gửi thư về nhà được, kể cả kỳ tiếp tế vì máy bay có đáp xuống được đâu mà chuyển thư.Bức thư đó đã được tìm thấy trong túi áo của anh. Chiến hữu cùng đơn vị kể rằng quanh xác anh nằm vương vãi nhiều đôi dép râu. Tay anh còn nắm chốt lựu đạn. Một viên đạn xuyên đùi, nhưng viên xuyên sọ đã cướp đi mạng sống của anh khi tuổi đời chưa đầy 21. Suối Non Nước và đồi Tân Cảnh đã ghi lại dấu chân sau cùng của cố Thiếu Úy Trần Văn Quý.


Anh tôi đã hy sinh cho non sông, xứng đáng là trai nước Việt hào hùng, đem mồ hôi pha máu hồng viết thành sử xanh. Xin cho tôi gởi hình ảnh và bức thư lên trang web Thủ Đức hải ngoại để linh hồn anh được ấm áp bên bạn bè chiến hữu.”
Như vậy chuẩn úy Trần Văn Quý sau khi chết đã được truy thăng cố thiếu úy. Gia đình được lãnh lương chuẩn úy suốt 4 tháng từ khi ra trường đến khi tử trận. và thêm tiền tử tuất bằng 12 tháng lương cấp thiếu úy. Từ khi rời bỏ gia đình Saigon và quân trường Thủ Đức ra đi, anh Quý cứ mong ước và hứa hẹn nhưng chưa hề gởi được 1 đồng bạc tiền lương cho cha mẹ mua quà như đã viết trong thư.Và lá thư Valentine của tình thương gia đình chỉ được trao về cho thân nhân vào tháng 2 năm 1974 cùng với di hài tử sĩ khi anh đã chết sau hai lần nổ súng. Trận đầu tiên đánh nhầm quân ta. Trận thứ hai mới thực sự chạm địch tại chiến trường. Đó là trận cuối cùng gói trọn tình thương trong tấm thiệp Valentine thứ nhất. Lá thư Valentine bi thảm từ chiến trường.  Cũng như ngàn năm xưa, tác giả lá thư Valentine đã chết….                                                                                 

Bây giờ đến chuyện những lá thư Valentine có hậu Happy Ending.


Từ hơn 20 năm nay chúng ta vẫn nghe nói về chuyện tù cải tạo nhận thư nhà và gởi thư đi từ những miền thượng du Bắc việt. Những lá thư Valentine hết sức cay đắng đó bây giờ ở đâu. Ai là người nhận và ai là người gởi.
Thêm vào đó, khi tù được giải lao từ nơi này đến nơi khác, mỗi khi chuyển trại các anh ném những lá thư xuống bên đường, rơi vào đám dân và hy vọng có người nhặt được gởi về cho gia đình. Khi chuyển trại từ Bắc vào Nam đi ngang qua vùng Saigon, tù cải tạo đã ném xuống cho dân những lá thư hy vọng. Ai là người nhặt được. Ai người tìm đến nhà trao lại. Ngày nay ai còn lưu giữ được những lá thư như thế.Cuối năm 2008 tôi đã có may mắn gặp được một người con của cựu tù cải tạo đem đến món quà vô giá dành cho Viện bảo tàng. Những lá thư từ trại tù miền Bắc gởi về cho gia đình trong Nam, những lá thư từ Sài gòn gởi vào trại tù Yên Bái. Và một lá thư ném xuống đường để nhờ người dân miền Nam vô danh đã đem đến nhà và bây giờ còn lưu lại. Đó là những di vật Valentine huyền diệu nhất của cuộc đời và không thể có kỷ vật nào so sánh được.
Ông bạn chiến binh cựu tù cải tạo đã gấp và xếp những lá thư hết sức cẩn thận dành cho chúng tôi giữ làm di sản tình yêu trong chiến tranh. Những hàng chữ rất nhỏ trên tờ giấy xám như bầu trời của chế độ tù đày.Lời lẽ thương yêu của chồng của cha gởi về nhắn nhủ vợ con. Viết sao cho gia đình hiểu được những ẩn ý dưới hàng chữ thân yêu.Thư con trai 16 tuổi lớn lên trong chế độ cộng sản mang lý lịch ngụy quân đã hứa với người cha tù tội sẽ thay cha lo cho tương lai gia đình.Thư rơi bỏ trên đường được sản xuất rất nhiều với ghi chú rõ ràng dành cho tấm lòng vô danh nhặt được sẽ đem giao tại nhà. Một trong những thông điệp tình yêu huyền diệu đến tay người nhận.Tất cả những kỷ vật chúng tôi nhận được do trung tá tù cải tạo gửi đến gồm có chiếc áo tù rách vá nhiều chỗ gấp lại hết sức cẩn thận. Chiếc áo đã sống với người tù Vương Đình Viên Hồng trên 30 năm. Kèm theo là 7 lá thư trao đổi trong gia đình có cả lá thư do ân nhân nhặt được trao về địa chỉ tại Sài Gòn. Có lá thư đứa con trai của ông, 16 tuổi, Vương Bá Quốc Hùng viết cho cha từ Phú Nhuận ngày 6 tháng 3 năm 1981 với gói quà đầu tiên. Thư gửi cho K 9 HT:AH.118-NT.Cháu báo tin một vài thân nhân ở nhà ta đã di chuyển về Hà Nội, đến nơi bình yên, con cũng muốn đi nhưng chưa có điều kiện. Đọc thư biết ngay là báo cáo vượt biên thành công. Đặc biệt lại có 2 sợi dây dù Việt Cộng đã dùng để trói anh bạn tù Lê Đức Thịnh khi xử bắn tại Long Giao 1976. Hai sợi giây này đã được ông Viên Hồng đem theo suốt những năm cải tạo từ Nam ra Bắc và trở về. Tài liệu này sẽ được lưu giữ dưới tiêu đề Valentine từ Yên Bái đến Sài Gòn.
Những con người Việt Nam trong chiến tranh đã gởi thông điệp Valentine yêu thương cho nhau bằng cả mạng sống, bằng cả cuộc đời tù tội. Cách gởi đã nhiệm màu mà lời thương yêu chân thành còn mầu nhiệm hơn biết bao nhiêu. Đó là chuyện những lá thư tình Valentine của quá khứ.
Còn chúng ta ở đây, bây giờ, trong mùa Valentine ở xứ sở của thiên đường Mỹ quốc đang thời kỳ khó khăn. Xin hãy viết cho nhau những thông điệp đẹp đẽ một lần. Để khỏi phụ lòng con người sáng tạo mở đường viết thiệp tình thương như anh chàng tử tù tên Valentine hơn hai ngàn năm trước. Như thiếu úy Thủ Đức Trần Văn Quý 40 năm xưa trong rừng núi Kontum và như người tù lao cải Vương Đình Viên Hồng viết từ trại tù Yên Bái trong những năm đầu thập niên 80.
Hãy viết lời yêu thương ngay từ California cho những người ngồi bên cạnh ta. Một lần. Và xin đừng gửi thông báo cho tôi những lời mắng chửi qua lại giữa anh em làm hư hỏng cả chữ nghĩa tổ tiên ông bà để lại từ ngàn xưa.
Hôm nay, nhân ngày Valentine với ý nghĩa rộng hơn tình yêu đôi lứa, nhân danh tình thương của con người với con người, tác giả xin gửi hoa hồng cho cháu Trần Hoàng Hoa, em gái của cố thiếu úy Thủ Đức Trần Văn Quý, hiện còn ở Sài Gòn. Xin gửi hoa hồng cho người tù cải tạo Vương Đình Viên Hồng ở Virginia và xin gửi hoa hồng cho cháu Vương Bá Quốc Hùng ở San Jose. Cậu bé 16 tuổi ngày xưa ở Phú Nhuận, cũng muốn đi nhưng không có điều kiện. Phải chờ đến khi bố về mới có vé HO bơi thuyền đến bến tự do.
Happy Valentine cho mọi người.

Và Happy Valentine cho nhà tôi với 65 năm tình Bắc duyên Nam, một đóa hồng vàng

Giao Chỉ, San Jose

Friday, February 12, 2021

VALERIE ANDRE PHI CÔNG TRỰC THĂNG TẢN THƯƠNG Bay Vào Vùng Lửa Đạn Cứu Chiến Hữu Jon Welte

  

Trong tháng Tư năm 1944, quân đội Nhật Bản chiếm đóng Miến Điện (Burma) bắn rơi một phi cơ liên lạc Stinson đang chở ba binh sĩ người Anh bị thương ra khỏi khu vực nguy hiểm. Viên phi công và cả ba người lính Anh đều sống sót khi phi cơ rơi, nhưng vị trí rơi nằm sau phòng tuyến của địch (Nhật Bản), xa xôi, rừng rậm, hiểm trở, nguồn hy vọng được cứu thoát của họ rất mong manh, ngoại trừ một kỹ thuật mi đã được xử dụng nơi tiền tuyến.

Bay thử trực thăng Sikorsky YR-4B, phi công Carter Harmon, phi đội Cảm Tử số 1, Lục Quân Hoa Kỳ (sau này không quân mới tách ra thành một quân chủng) bay đến vị trí phi cơ lâm nạn để cứu viên phi công và ba người lính Anh. Lúc đó kỹ thuật trực thăng vẫn chưa được tân tiến, hoàn hảo như hiện nay, vị trí phi cơ rơi nằm trên một cao độ, nhiệt độ nóng (rừng nhiệt đới), nên Harmon chỉ đem ra được mỗi lần một người. Trong thời gian hai ngày, Harmon đưa họ đến một phi đạo gần nhất để phi cơ có cánh đưa đi bênh viện, Harmon sau đó được ân thưởng huy chương Cánh Bay Thập Tự Xuất Sắc.

Những phi công trực thăng đầu tiên, được xử dụng di tản thương binh. Trong thế kỷ 20, ngành hàng không đã tìm được giải pháp di tản thương binh, thường dân từ vùng hành quân, nơi xẩy ra tai nạn đến bệnh viện (nơi điều trị). Mặc dầu với sự tiến bộ ngành y khoa, nhưng vẫn cần phương tiện để đưa người thương binh, bệnh nhân đi đến bệnh viện.

Ít lâu sau trận thế chiến Thứ Hai, Đại Úy (nữ quân nhân) Valerie Andre, một vị bác sĩ trong quân đội Pháp phải đối diện với những khó khăn tương tự, trong nỗ lực cứu chữa thương bệnh binh ở Đông Dương (Việt, Miên Lào). Là một phi công đầy kinh nghiệm, Đại Úy Andre nhận thức rằng, trực thăng có thể trả lời việc di tản thương binh, bà ta quay trở về Pháp học lái trực thăng và mua hai chiếc trực thăng Hiller 360 của hãng máy bay Hiller Aircraft Corporation gửi sang Đông Dương. Trong vòng ba năm, Đại Úy Andre đã bay hơn 100 phi vụ chiến đấu, nhiều chuyến dưới hỏa lực của địch, bay vào chiến trường di tản thương binh. Với tinh thần hy sinh, dũng cảm cao độ, Valerie Andre được thăng lên cấp Tướng và nhận lãnh huy chươg Bảo Quốc Huân Chương (của Pháp) cho những công lao của bà đối với nước Pháp.

Tong khi đó Á châu, Hoa Kỳ tiếp tục phát triển kỹ thuật trực thăng cho các nhiệm vụ tải thương. Trong trận chiến Hàn Quốc, Lục Quân cũng như TQLC Hoa Kỳ đều công nhận, điạ thế hiểm trở, rừng núi, đường xá không tốt ở Hàn Quốc, phương tiện trực thăng như chiếc Hiller UH-12 (biến cải từ Hiller 360) và Bell 47 được trao nhiệm vụ di tản thương binh từ chiến trường về bệnh viện. Những trực thăng đó đã di tản khoảng 20000 thương binh trong suốt trận chiến Hàn Quốc (series show MASH trên TV). So với trận thế chiến thứ Hai, trực thăng đã cứu sống được gần một nửa số thương binh. 

Kỹ thuật trực thăng vẫn tiếp tục phát triển, khi Hoa Kỳ đem quân sang tham chiến trên chiến trường Việt Nam, khoảng mười năm sau, loại trực thăng Bell UH-1 Iroquois hay “Huey” đã thay thế các loại trực thăng cũ. Động cơ trực thăng Huey mạnh hơn để có thể chở một trọng tải lớn, nặng nề hơn các loại trực thăng Hiller, Bell, Sikorsky. Hơn nữa, bên trong trực thăng Huey đủ rộng để cho thương binh nằm bên trong thay về cột chặt bên ngoài, điều này rất quan trọng, bên trong trực thăng, y tá có thể làm thủ tục cấp cứu khẩn cấp cho thương binh trước khi đến quân y viện. Loại trực thăng Huey đã di tản hơn 100000 thương binh Hoa Kỳ trong suốt cuộc chiến Việt Nam, giảm con số tổn thất xuống một nửa so với trận chiến Hàn Quốc (1950-1953).

Đến năm 1969, số quân nhân (có lẽ họ chỉ nói người Hoa Kỳ) bị thương và con số tử trận trong vùng Đông Nam Á châu (Việt, Miên, Lào) ít hơn số người Hoa Kỳ tử nạn vì xe cộ trên các xa lộ ở Hoa Kỳ. Điều này cho thấy chương trình di tản bằng trực thăng đến các bệnh viện có thể cứu mạng nhiều thường dân trong thời bình (thực ra tất cả các thời đều có thể dùng phương tiện di tản người bị thương nặng bằng trực thăng). Ý kiến đó được áp dụng trong tiểu bang Mississippi năm đó (1969), mua ba trực thăng Hiller FH-1100 (của Pháp có lẽ rẻ hơn đồ made in USA) để chuyên chở bệnh nhân, những người bị nặng đến bệnh viện. Chương trình này rất thành công, cứu sống được nhiều người. Trong năm 1970, số bệnh viện xử dụng trực thăng tản thương tăng lên nhiều lần so với năm trước (1969), và trở thành chuyện bình thường.

Thursday, February 11, 2021

Valérie André French Medivac Pilot Flew Into Enemy Fire For Rescues

Helicopter Medical Evacuation
By Jon Welte

In April 1944, Japanese forces in occupied Burma shot down a Stinson liaison aircraft that had been carrying three wounded British soldiers to safety. The pilot and all three passengers survived the downing, but their location behind enemy lines in remote and rugged terrain would have permitted little opportunity for their rescue—except for the presence of a new technology at the front. Flying an experimental Sikorsky YR-4B helicopter, pilot Carter Harmon of the US Army’s First Air Commando Group flew to the crash site to rescue the downed pilot and soldiers. The early helicopter’s performance limitations, combined with hot-and-high conditions at the crash site, limited Harmon to carrying only a single passenger at a time. Over two days Harmon, who later received the Distinguished Flying Cross, ferried the men one by one to a nearby landing strip where a larger fixed-wing aircraft flew them out to safety.

These pioneering flights were the first use of a helicopter for medevac, or medical evacuation. Throughout the first half of the 20th century, aviation promised a solution to a vexing problem—transporting injured soldiers and civilians from combat zones and accident sites to medical facilities. Rapid advances in medicine meant that casualties provided with prompt attention were far more likely to survive, but all too often help was a long and difficulty journey away.

Shortly after World War II, Captain Valerie Andre, a doctor serving in the French Army, faced much the same situation in her efforts to treat soldiers in French Indochina (modern day Vietnam, Cambodia and Laos). An experienced airplane pilot, Capt. Andre realized that the helicopter provided a ready solution to the problem of medical evacuation. She returned to France to earn a helicopter rating and arrange for the purchase of two Hiller 360 helicopters, which she had shipped to the front lines. Over a period of 3 years Capt. Andre flew over 100 combat missions, some under enemy fire, to insert herself into areas with wounded soldiers in need of treatment and/or to evacuate casualties to proper medical facilities that might have been hours or even days away by surface transportation. Andre chose the Hiller 360, manufactured at the Menlo Park factory of the Hiller Aircraft Corporation, for its simplicity and reliability. The aircraft was easy to maintain in the field and, crucially, could carry stretchers mounted externally for the transport of seriously wounded patients. Valerie Andre was ultimately promoted to general and received the National Order of Merit among other decorations in recognition of her service to France.

Elsewhere in Asia, the United States further developed the role of helicopters for medevac operations. During the Korean War the US Army and Marine Corps were similarly bedeviled by rugged terrain and poor roads. Helicopters such as the Hiller UH-12 (derived from the Hiller 360) and Bell 47 were tasked with transporting wounded soldiers to medical facilities. These helicopters evacuated an estimated 20,000 wounded servicemen during the war. By the end of the Korean War the fatality rate for casualties wounded in battle had been cut nearly in half compared to World War II due largely to developments in medevac procedures and technology.

Helicopter technology continued to advance, and when the United States joined the Vietnam War some ten years later the mission had been largely taken over by the new Bell UH-1 Iroquois, universally known as the “Huey”. Powered by turbine engines and able to carry heavier loads than earlier piston-powered Hiller, Bell and Sikorsky aircraft, the UH-1 could carry patients internally rather than strapped to the helicopter’s exterior. This made it possible for medical personnel to begin basic treatment while the patient was in the air prior to reaching the medical center. Over one hundred thousand US soldiers were evacuated via medevac during the Vietnam War, and the ability to provide treatment in the air caused the fatality rate to fall in half again compared to the mid-1950s.

By 1969, soldiers wounded in action in Southeast Asia had lower mortality rates than drivers and passengers involved in serious automobile accidents on American highways, suggesting that a medevac program could provide lifesaving support to civilians in peacetime. A pilot effort to evaluate helicopter medical evacuation services was introduced that year in Mississippi. Three Fairchild Hiller FH-1100 helicopters were purchased and operated to transport patients to medical facilities in cases of extreme need. The program was deemed a success, and throughout the 1970s medevac helicopters and helipads at major hospitals grew increasingly common.

Today, modern medevac operators continue the tradition of using helicopters to quickly and safely transport individuals with serious injuries or critical illnesses directly from incident sites to medical centers able to provide life-saving treatment. Stanford Life Flight, a local operator, embodies the best practices in use for civilian medevac helicopter operations. An Airbus Helicopters EC-145 allows operations in all weather conditions. The aircraft’s raised tail boom and rear clamshell doors permit stretcher loading directly into the rear of the aircraft. Specially-trained flight nurses provide in-flight emergency care comparable to or better than what a ground-based emergency medical technician could provide, and medical centers around the San Francisco Bay area train to operate with Life Flight to receive patients requiring urgent and immediate attention. The Bay Area also hosts medevac resources of the uniformed services, with United States Coast Guard Air Station San Francisco operating its Eurocopter HH-65 helicopters from San Francisco International Airport, and the California Air National Guard’s 129th Rescue Wing at Moffett Field in Mountain View flying Sikorsky HH-60s along with fixed-wing Lockheed C-130 tanker aircraft.

The Hiller Aviation Museum’s collection preserves glimpses of the early development of medical evacuation flights, while San Carlos Airport supports medevac operations in the present day. A Hiller 360 similar to those first flown by General Andre is displayed in the main Gallery, and a Hiller H-12 configured as a US Army medevac aircraft is suspended from the Gallery’s ceiling. San Carlos Airport serves as an essential waypoint for modern medevac aircraft, with Stanford Life Flight and the US Coast Guard frequent visitors for both training and operational missions.

The exploits of General Andre feature prominently in the Museum’s new Women in Aviation exhibit, which documents the exploits of female aviators from the early 20th century through the modern day. On Saturday, January 14th the Hiller Aviation Museum will dedicate this new exhibit and open it to the public. Come join the festivities and celebrate an important dimension in the history of aviation.

Resources

Andre, Valerie. Madame le General, 1988.

Born21 April 1922 (age 98)
Strasbourg, France
AllegianceFrance France
Service/branchFrench Army
Years of service1948 - 1981
RankMédecin Général Inspecteur
AwardsLégion d'honneur
ordre national du Mérite
Croix de guerre 1939-1945
Croix de guerre T.O.E
Croix de la Valeur Militaire
Médaille commémorative d'Indochine
Médaille de l'Aéronautique
Croix du Combattant Volontaire
Médaille de Vermeil du service de santé

Valérie André (French pronunciation: [valeʁi ɑ̃dʁe] (About this soundlisten); born 21 April 1922, in Strasbourg) is a veteran of the French resistance, a neurosurgeon, an aviator and the first female member of the military to achieve the rank of General Officer, in 1976, as Physician General. In 1981, she was promoted to Inspector General of Medicine. A helicopter pilot, she is the first woman to have piloted a helicopter in a combat zone. She is also a founding member of the Académie de l'air et de l'espace.[1]

As a member of the military, she is not addressed as "Madame la Générale" (a term reserved for spouses of generals) but as "General".[2]

She started as a Medical Captain in Indochina in 1948, already a qualified parachutist and pilot, in addition to being an army surgeon.[3][4] While in Indochina, she realized that the most difficult part of her duties was retrieving the wounded, who were often trapped in the jungle. She returned to France to learn how to pilot a helicopter, then flew one to Indochina. From 1952-1953, she piloted 129 helicopter missions into the jungle, rescuing 165 soldiers, and on two occasions completed parachute jumps to treat wounded soldiers who needed immediate surgery.[5][6]

One typical mission occurred on 11 December 1951, when casualties were in urgent need of evacuation from Tu Vu on the Black River. The only available helicopter, stationed near Saigon, was dismantled, flown to Hanoi by a Bristol Freighter and reassembled. Captain André then flew into Tu Vu despite heavy mist and anti-aircraft fire. There, she triaged the casualties, operated on the most pressing cases and then flew the urgent wounded back to Hanoi, two at a time. Later, she was put in command of a casualty evacuation flight.

She continued in Algeria as a Medical Commander in 1960, where she completed 365 war missions. She rose to the rank of Medical Lieutenant Colonel in 1965 then to Medical Colonel in 1970. She had a total of 3200 flight hours, and received 7 citations of the croix de guerre.

She has written two collections of memoirs : Ici, Ventilateur! Extraits d'un carnet de vol. (Calmann-Lévy, 1954) and Madame le général (Perrin, 1988).

She is one of eight women to hold the Grand-croix (Great Cross) rank in the Legion of Honour, with Germaine Tillion, Geneviève de Gaulle-Anthonioz, Jacqueline de Romilly, Simone Rozès, Christiane Desroches Noblecourt, Yvette Farnoux et Gilberte Champion. She is the aunt of politician André Santini.

Decorations

French
Foreign decorations

Trận Khe Sanh 1968

Trận Khe Sanh 1968 - phần 1

Hành Quân Lam Sơn 207A (Pegasus ) từ 1/4 đến 12/4/1968

Căn cứ Khe Sanh một tiền đồn đèo heo hút gió ở vùng cực Bắc của Việt Nam Cộng Hòa, tọa lạc trên một trảng cao của ngọn núi cao nhất vùng Đông Trị trong dảy Trường Sơn, cạnh sông Rào Quan, một chi nhánh của Sông Quảng Trị, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp. Phía Bắc và Tây Bắc có 4 ngọn đồi án ngữ là 881 Bắc, 861, 558 và 881 Nam. Các ngọn đồi này được dùng như là các tiền đồn để bảo vệ căn cứ cũng như quan sát để xác định các vị trí pháo và phòng không của địch.

Khe Sanh chỉ cách biên giới Lào-Việt chừng 6 miles (10 km) trên con đường số 9 chạy theo hướng Đông-Tây nối liền Đông Hà thuộc tỉnh Quảng Trị, ngang qua Cam Lộ, Cà Lu, xuyên qua biên giới Lào-Việt tới tận Savannakhet bên Lào. Căn cứ Khe Sanh cách vùng Phi Quân Sự 14 miles (23 km) về phía Nam.


Bản đồ vùng Khe Sanh của Trần Đổ Cẩm

Trận Khe Sanh 1968 - phần 2

Khi xưa, vì thuộc địa Lào nằm trong đất liền nên người Pháp xây dựng đường số 9 để thông thương ra vùng bờ biển Việt Nam. Trong cuộc chiến Việt Nam, đường số 9 là trục lộ chiến lược quan trọng được Cộng quân xử dụng để xâm nhập người và vũ khí từ bên Lào vào các tỉnh cực bắc Việt Nam Cộng Hòa.

Về phương diện hành chánh, Khe Sanh thuộc quận Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với quận đường đặt gần làng Khe Sanh. Về mặt quân sự, Chi Khu Hướng Hóa do một Đại Úy chỉ huy, gồm chừng một đại đội Địa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) cùng một số cảnh sát. Thông thường có thêm một Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 2, Sư Đoàn 1 Bộ Binh tăng phái hoạt động trong vùng cùng một Pháo Đội 105 ly với 2 khẩu đặt tại sân bay Khe Sanh và 2 khẩu đặt tại Làng Vei.

Sau này, vì tình hình an ninh không đuợc khả quan nên Quận Hướng Hóa được di chuyển về vùng Cùa gần căn cứ Mai Lộc.

Về dân cư, vì là vùng đồi núi hoang dã, khí hậu khắc nghiệt nên chỉ có chừng trên ngàn người Việt cư ngụ, đa số là thân nhân và gia đình nhân viên, binh sĩ phục vụ tại chi khu Hướng Hóa. Sắc tộc thiểu số Bru đông hơn, tổng cộng chừng 50,000 người sống rải rác trên các đồi, núí dọc biên giới Lào, nhưng qui tụ khá đông đảo tại hai làng Khe Sanh và Làng Vei dọc đường số 9. Cũng như những sắc dân thiểu số khác như Rhadê, Hrê v.v... tại miền Trung và Bắc Việt Nam, giống Bru thuộc chủng loại Mã Lai- Polynesia nên đen đúa và khá lực lưỡng.

Tuy đường số 9 chỉ là một trục giao thông nhỏ, coi như bị bỏ hoang từ lâu, nhưng khu vực này lại là một chiến trường quan trọng, nơi xảy ra nhiều trận đánh lớn. Lý do vì con đường này dẫn sang Lào, giao tiếp với đường mòn HCM, lại nằm trong vùng đồi nuí hiểm trở nên rất thuận tiện cho quân Bắc Việt đưa người và vũ khí xâm nhập các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Để ngăn chận đối phương, người Mỹ đã lập hàng rào điện tử McNamara theo hình vòng cung dọc theo mặt Bắc đường số 9, hướng Đông kéo dài từ Cửa Việt tới Khe Sanh gần biên giới Lào.

Như vậy, Khe Sanh là điểm cực Tây của hàng rào Mc Namara nằm trong phần đất Việt Nam, giữ nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo kỹ thuật và chiến lược của quân lực Mỹ nhắm vào các hoạt động di chuyển, xâm nhập của các đại đoàn chính quy CSBV cơ động sát vùng Bắc Vĩ Tuyến 17 và phía Tây biên giới Việt Lào cũng như trên lãnh thổ Lào. Thủy quân lục chiến Mỹ có 3 Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 26 đóng quân trong căn cứ Khe Sanh . Đó là các Tiểu Đoàn 1, 2, 3 và Tiểu Đoàn 13 Cơ giới cùng một đơn vị Tình Báo chiến lược.


Trận Khe Sanh 1968 - phần 3

Năm 1968 Khe Sanh trở thành một địa danh nổi tiếng được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của Trận Chiến Tết Mậu Thân khi Việt Cộng khởi đầu chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòạ. Trong chiến dịch này, 20,000 bộ đội Bắc Việt đã được huy động để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến HK cùng Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH. Nhưng Khe Sanh đã chẳng thất thủ.

Trận chiến kéo dài 77 ngày và Cộng quân hứng chịu hơn 10,000 tổn thất. Ngày 19/1/1968 Một đơn vị TQLC Mỹ tảo thanh vùng đồi 881 Bắc đã đụng độ dữ dội với cộng quân. Chiều ngày hôm sau một Trung Úy CSBV tên Lã Thanh Tòng, Đại đội trưởng pháo đội 14 phòng không thuộc trung đoàn 95/SĐ325 về đầu thú, và tiết lộ kế hoạch tấn công căn cứ Khe Sanh. Trung Úy Tòng cho biết đêm nay Bắc quân sẽ mở cuộc tấn công lên các ngọn Đồi 861 và 881-Bắc. Ngoài ra, người tù binh cũng tiết lộ rằng hai sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đã vạch sẵn kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.

Ngày 20/1/1968 đúng như lời tiết lộ của Trung Úy Tòng, nửa đêm hôm đó sau nửa giờ pháo kích, lực lượng CSBV khoảng 300 cán binh xung phong lên đồị tấn công vào căn cứ. Nhưng lực lượng trú phòng Đại Đội K/3/26 đã chuẩn bị sẵn sàng tác chiến phản công. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, Cộng quân rút lui để lại 47 xác. Phía bên Đại Đội K/3/26 có một binh sỉ TQLC bị tử thương.

Sáng ngày 21/1/1968, căn cứ bị pháo dữ dội hằng ngàn quả đạn, kho bom dự trử bị nổ tung, nhiều phi cơ trực thăng bị hư hại, phi đạo ở Khe Sanh với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung, rút ngắn lại chỉ còn 2,000 feet (609 m) đài kiểm lưu bất khiển dụng, nhiều dụng cụ quan trắc khí tượng bị hư hỏng...Tình hình trở nên vô cùng nghiêm trọng.

Ngày 22 tháng 1/1968, trước tình hình nguy ngập. Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ được trực thăng vận đến tăng viện cho Khe Sanh. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 9 đã nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa qua

Ngày 25/1/1968 Thiếu Tướng J.J.Tolson, Tư lệnh Sư Đoàn 1 KBKV, bắt đầu soạn thảo kế hoạch chuẩn bị một cuộc hành quân để giải tỏa căn cứ Khe Sanh.

Ngày 27/1/1968 Tiểu Đoàn 37BĐQ-VNCH, được không vận đến để tăng viện thành 5 Tiểu đoàn họp thành lực lượng phòng thủ căn cứ. TĐT/TĐ37BĐQ là Đại Úy Hoàng Phổ. Như vậy, ngoài 6,000 TQLC Hoa Kỳ và một Tiểu Đoàn thiện chiến Biệt Động Quân Việt Nam, Khe Sanh lại được phòng thủ bởi hỏa lực pháo binh gồm một pháo đội súng cối 106 ly, 3 pháo đội đại bác 105 ly, và một pháo đội đại bác 155 lỵ. Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 và 2 chi đội chiến xa M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ hỏa yểm của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ Carroll.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 4

Trong khi đó tin tức tình báo ghi nhận lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém hiện diện chung quanh Khe Sanh. Có ít nhất 3 sư đoàn và thêm một số đơn vị biệt lập hỗ trợ khác. Các đơn vị Cộng Sản được ghi nhận như sau:

- SĐ325 CSBV đang hiện diện quanh quẩn tại phía Bắc đồi 881 Bắc.
- SĐ304 từ Lào cũng đã xâm nhập vào VN và hiện đang có mặt tại phía Tây-Nam của Khe Sanh.
- Một Trung Đoàn của SĐ324CSBV cũng được phát giác tại khu phi quân sự cách Khe Sanh chừng 24 km về hướng Tây Bắc.
- SĐ320CSBV đang ở phía Bắc căn cứ hỏa lực Rock Pile, cũng có thể tiếp ứng cho mặt trận Khe Sanh.
- Ngoài ra, Cộng Sản còn huy động thêm một đơn vị Thiết Giáp với chiến xa T-54 cùng hai Trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh.

Theo ước tính của các cơ quan tình báo liên quân Việt-Mỹ, quân số tham chiến của Cộng quân tại chiến trường Khe Sanh vào lúc đó đã lên đến khoảng 50 ngàn quân, trong đó 4/5 là lực lượng chính quy CSBV.


Bản đồ khu giới tuyến và QL 9 của Trần Đổ Cẩm

Ngày 30 tháng 1 Cộng Sản mở chiến dịch "Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa" trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Có tất cả 25 tỉnh lỵ và thị trấn trong số 44 Tỉnh của VNCH bị tấn công, trong đó có Huế và Saigon là hai thành phố xảy ra những vụ đụng độ lớn nhất.

Từ ngày 5/2/1968 ( mồng 7 Tết) Cộng quân bắt đầu liên tục pháo kích, tấn công bằng bộ binh và bao vây quanh vòng đai căn cứ chiến lược Khe Sanh. Địch quân đã phối trí rất nhiều vị trí phòng không xung quanh căn cứ và các dàn pháo 130 ly đặt sâu trong các sườn núi từ phía biên giới Lào, cách Khe Sanh khoảng 20 cây số, y hệt như chiến thuật sử dụng tại Điện Biên Phủ năm 1954. Nhưng lực lượng trú phòng đã phản công chống trả quyết liệt gây nhiều tổn thất cho địch quân.

Đêm 6 tháng 2/1968, Quân CS Bắc Việt sử dụng một biệt đội chiến xa thuộc Trung Đoàn 202 chiến xa gổm 12 chiếc PT 76 có bộ binh tùng thiết và Trung đoàn 101 D chủ lực tấn công vào trại Lực lượng Đặc biệt tại Làng Vei, cách Khe Sanh 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ. Trại này do Trung ta' Schungel chỉ huy gồm 1 phân đội Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ 24 người và khoảng 400 Dân sự Chiến đấu (Biệt kích quân biên phòng) phần lớn là dân thiểu số miền núi tỉnh Quảng Trị.

Ngày hôm sau, 7/1/1968, trại này bị tràn ngập bởi lực lượng Cộng quân, một số đông binh sĩ và cố vấn do Trung ta' Schungel chỉ huy phải rút về Khe Sanh.

Ngày 9/2/1968 một Tiểu đoàn CSBV thuộc Trung Đoàn 101D của Sư Đoàn 325 tấn công đồi 64 do Đại Đội A/1/9 TQLC trấn giữ. Các vị trí phòng thủ trên đồi bị Bắc quân tràn ngập. Không chút chậm trễ, các khẩu đại bác quanh vùng đều nhắm hướng đồi 64 và tác xạ. Một lực lượng TQLC khác được gởi đến tiếp viện. Trong 3 tiếng đồng hồ máu lửa này, có 200 bộ đội Bắc Việt chết và 26 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 5

Sau trận đánh ở Đồi 64 nầy, quân Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động để bổ sung quân số. Chiến trường lắng dịu trong hai tuần. Ngày 11 tháng 2, Cộng quân gia tăng pháo kích vào phi đạo, việc tiếp tế cho quân trú phòng đã gặp khó khăn. Các vận tải cơ C-130 đáp xuống phi đạo trở thành mục tiêu của các họng pháo Cộng quân nhắm vào, hai phi cơ vận tải C-130 đáp xuống Khe Sanh, một chiếc bị nổ tung vì trúng đạn pháo kích bốc cháy trên phi đạo 6 nhân viên phi hành đoàn bị tử thương. Chiếc thứ hai cũng bị hư hỏng và được gấp rút sửa chữa rồi bay "khập khễnh" về phi trường Đà Nẵng.

Ngày 21/2/1968 khoảng 1 Đại đội cộng quân tấn công vào phòng tuyến của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân tại khu vực hướng Đông căn cứ Khe Sanh. Nhưng các binh sĩ Mũ Nâu VNCH đã vững vàng cố thủ. Đợt tấn công của đối phương đã bị Biệt Động Quân bẻ gảỵ

Hai ngày sau 23/2/1968, quân CSBV tập trung pháo binh để phục hận. Một nghìn ba trăm (1,300) quả đạn đủ loại đã được bắn vào Khe Sanh. Trận địa pháo 8 tiếng đồng hồ này đã làm nổ tung một kho tồn trữ đạn trong căn cứ, gây thiệt mạng cho 10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.

Khoảng 9.30 giờ đêm 29/2/1968, một Tiểu đoàn Cộng quân (thuộc Sư Đoàn 304 CSBV) đánh thẳng vào mặt Đông của Khe Sanh. Đây là khu vực trách nhiệm của TĐ37 Biệt Động Quân VNCH. Sau một màn pháo kích dọn đường, và ba lần biển-người xung phong, CSBV cũng không phá được phòng tuyến thép. Đêm hôm đó, các binh sĩ Biệt Động Quân bình tĩnh chiến đấụ Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới khai hỏạ. Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân đã chống trã mãnh liệt. Kinh nghiệm chiến đấu và sự gan dạ của họ chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp đẩy lui cả 3 lần xung phong của Bắc quân.


Ngày hôm sau, kiểm điểm tình hình chiến trận họ đếm được 70 xác chết địch quân trên trận địạ Sau nhiều ngày thảo luận tình hình chiến sự, sau cùng Tướng Westmoreland chấp thuận kế hoạch hành quân giải vây Khe Sanh. Hành quân mang tên Pegasus ( có tài liệu viết là Pagasus) về phía Mỹ và về phía VNCH nằm trong kế hoạch Hành Quân Lam Sơn 207A. Cả hai cuộc hành quân đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng J.J. Tolson. Lực lượng tham dự hành quân gồm có :

1/ Lữ Đoàn 1 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá J.F. Stannard.
2/ Lử Đoàn 2 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá J.C. Mc Donough.
3/ Lữ Đoàn 3 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá H.S.Campbell.
4/ Trung Đoàn 26 TQLC với Trung Đoàn Trưởng là Đại Tá D.E. Lownds
5/ Trung đoàn 1 TQLC.
6/ Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù –VNCH trách nhiệm khu vực phía Bắc quốc lộ 9 và phía Tây căn cứ Khe Sanh gồm 3 Tiểu Đoàn dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Khoa Nam.
- Tiểu Đoàn 3 ND – TĐT là Thiếu Tá Trần Quốc Lịch.
- Tiểu Đoàn 6 ND – TĐT là Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước.
- Tiểu Đoàn 8 ND – TĐT là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ.

Bộ Tư Lệnh hành quân đóng tại căn cứ Stud gần Cà Lu. Quân số tham chiến lên đến khoảng 20,000 người với sự yểm trợ bởi 300 trực thăng, 148 khẩu pháo binh.

Ngày 25/3/1968 Thiết Đoàn 1/9 KBKV dưới quyền chỉ huy của Trung Tá R.W.Diller sử dụng trực thăng trinh sát dọc theo QL 9 hướng về Khe Sanh để thu thập tin tức về địch quân, xác định các vị trí bải đáp trực thăng đồng thời tiêu diệt các ổ phòng không của địch.

Sáng ngày30/3/1968, SĐ3TQLC Mỹ phối họp với SĐ1BB-VNCH hành quân nghi binh tại vùng Côn Thiện và Gio Linh. Lực lượng của Mỹ hơp thành lực lượng đặc nhiệm Kilo trong khi cánh quân SĐ1BB-VNCH nằm trong kế hoạch Lam Sơn 203. Cuộc hành quân chấm dứt lúc trưa ngày 1/5/1968. chỉ có những cuộc chạm súng lẻ tẻ không đáng kể.

Ngày 1/4/1968 cuộc hành quân chính thức khai diển. Hai Tiểu Đoàn 2/1 và 1/3 TQLC Mỹ từ Cà- Lu tiến dọc hai bên đường QL9 hướng về Khe Sanh để bảo vệ cho TĐ11Công Binh tu sửa lại con đường nầy. Trong khi đó 3 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 3KBKV được trực thăng vận đổ xuống các bải đáp phía trước cách Khe Sanh khoảng 5 dậm.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 6

Ngày 2/4/1968 liên tiếp 2 ngày, hai Lữ đoàn 2 và 1 KBKV được thả xuống phía Nam căn cứ Khe Sanh và đường số 9 tảo thanh quanh khu vực đồn điền của người Pháp khi xưa.

Sau khi được thả xuống bải đáp, TĐ1/5KBKV hướng về mục tiêu đồn Pháp cũ, đã đụng độ với một Tiểu Đoàn cộng quân đang cố thủ tại đây,TĐ1/5KBKV bị thiệt hại nặng, Trung Tá Runkle Tiểu Đoàn Trưởng bị tử thương. TĐ2/5KBKV được lịnh vào thay thế nhưng cộng quân đã rút lui.

Trong khi đó, các đơn vị phòng thủ bên trong căn cứ Khe Sanh, TĐ1/9TQLC cũng bắt đầu tấn công ra về phía Nam để chiếm lại ngọn đồi 471 theo chiến thuật gộng kềm, ép đơn vị Tiểu Đoàn 7 Trung Đoàn 66 địch quân vào giửa. Cộng quân cố thoát ra khỏi vòng vây nhưng với hoả lực hùng hậu của các đơn vị tham chiến, Công quân phải rút chạy và bỏ lại chiến trường 148 xác.

Ngày 4/4/1968 Các Tiểu Đoàn 3, 6 và 8 Nhảy Dù thuộc LĐ3ND-VNCH được thả xuống khu vực LZ Snake phía Tây và Tây Nam căn cứ Khe Sanh. (bên ngoài và phía sau vị trí của địch quân đang bao vây căn cứ.) để chận đường lui binh của địch.

Tiểu Đoàn 3 Dù của Thiếu Tá Trần Quốc Lịch được trực thăng vận phía Tây Nam của đồi 471,

Tiểu Đoàn 6 Dù của Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước được thả về phía Bắc của TĐ3ND. Tiểu Đoàn 8 Dù của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ cùng với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn và một pháo đội 105 ly được thả về khu vực phía Bắc Làng Khe Sanh .

Vừa được thả vào buổi chiều, thiết lập xong các công sự phòng thủ thì TĐ8ND cùng với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn bị địch quân tấn công phủ đầu vào buổi tối vì chúng nghĩ rằng đây là một đơn vị của Hoa Kỳ. Bị chống trả mãnh liệt, địch phải tháo lui. Trong trận này, Tham Mưu Trưởng Chiến Đoàn là Thiếu Tá Bùi Văn Thạch, cùng khóa 3 Thủ Đức với Trung Tá Nam, tử trận.

Ngày 6/4/1968 các đơn vi KBKV đã bắt tay được với TQLC bên trong căn cứ tại đồi 471.Sau đó TĐ 1/9 TQLC bắt đầu càn quét khu vực chung quanh căn cứ khởi đi từ ngọn đồi 552 rồi đến đồi 681. không gặp một kháng cự nào của địch.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 7

Cùng lúc đó về mặt Bắc, TĐ2/26TQLC cũng tiến ra ngọn đồi 558. Mủi tiến quân nầy gập sự chống trả mạnh mẽ của công quân; trận chiến phải mất hết 2 ngày mới bứng hết các ổ kháng cự.

Ngày 7/4/1968 trong khi tiến về Khe Sanh dọc theo QL9, TĐ2/7KBKV đã chạm địch mạnh tại địa điểm chỉ cách Khe Sanh chừng 2 dậm. Để 3 Đại Đội cầm chân địch quân ở mặt trận chính, Đại Đội thứ tư lòn ra sau bọc hậu, mới đánh bật được Cộng quân ra khỏi các công sự phòng thủ.

Cũng trong ngày nầy các Tiểu Đoàn Nhảy Dù Việt Nam đã chạm địch, Sau khi TĐ3ND và TĐ6ND đáp xuống vị trí ổn định, Trung Tá Nam Chiến Đoàn Trưởng cho lệnh các đơn vị mở rộng đội hình tác chiến dàn hàng ngang tiến vào phía căn cứ.

Khi biết có đơn vị Nhảy Dù VN tăng cường, binh sỉ TQLC bên trong căn cứ lên tinh thần nên khi lực lượng Nhảy Dù chạm địch, bên trong căn cứ cũng bắn ra dữ dội. Do đó địch quân bị kẹt giữa hai lằn đạn, vì quá gần trong khoảng cách không quá 200m, biết không thể tiến cũng không thể thoát được, địch quân gọi pháo tác xạ vào ngay lên đội hình của chúng nên bị chết rất nhiều, một số bị bắt sống, bên ta cũng bị tổn thương khá cao. Đại Đội 33 Nhảy Dù bị tổn thất nặng nhất: Đại Úy Nguyễn Đức Cần, ĐĐT cùng 2 Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng bị tử thương . Một Thiếu Úy Trung Đội Trưởng bị thương. chỉ còn một Trung Đội Trưởng là Thiếu Úy Trương Văn Dũng không bị thương tích.

Bị dồn ép và không chịu nổi bị tấn công từ nhiều phía, địch quân bắt buộc phải bỏ chạy. Sau đó Lực lượng Nhảy Dù trở lại hành quân giải tỏa Làng Vei lúc này vẫn do một tiểu đoàn CSBV chiếm đóng, còn dân chúng thì đã di tản ra khỏi vùng.

Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tương đối còn nguyên vẹn, được lệnh chuyển hướng về phía Nam để án ngữ sườn phía Bắc của Làng Vei trong khi đó một lực lượng của Sư Đoàn 101 Hoa Kỳ tiến từ hướng Đông.

Ngay hôm đó, Truyền Tin Tiểu Đoàn 3 Dù dò tần số địch biết được địch đang tăng viện thêm hai tiểu đoàn, một tiểu đoàn chận đánh Tiểu Đoàn 6 Dù còn tiểu đoàn kia hỗ trợ cho Làng Vei, liền báo cáo về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn.

Tiểu Đoàn 6 Dù được lệnh dừng quân chuyển qua đội hình phòng thủ. Chưa kịp đào công sự chiến đấu thì TĐ6ND đã bị địch xung phong. Tiểu đoàn 3 Dù bắn yểm trợ khoảng 100 đạn súng cối trên hướng tiến quân của địch. TĐ6ND nhờ chuẩn bị trước nên phản công quyết liệt, địch phải rút lui trước sự chống trả của các chiến sĩ Dù. Bác Sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn, Y Sĩ Trưởng của Tiểu Đoàn 6 Dù tử thương.

Các lực lượng Hoa Kỳ sau đó đã sử dụng tối đa ưu thế của không quân chiến thuật oanh kích các tiểu đoàn địch khiến họ phải rút về biên giới Lào.

Sau cuộc hành quân Pegasus nầy, các đơn vị của Cộng Sản Bắc Việt đang được điều động đến khu vực Khe Sanh phải bỏ dở ý định tấn công vì không muốn làm mồi cho hỏa lực Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ do đó áp lực địch vào căn cứ Khe Sanh giảm đi và thế là giấc mơ tạo dựng một chiến thắng quân sự như kiểu Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp để eo sèo đòi hỏi Mỹ và VNCH nhượng bộ kể như không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị mất từ 10 đến 13,000 bộ độị. Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không yểm.

Ngày 8/4/1968 Căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải toả sau 77 ngày bị cộng quân vây hảm , các đơn vị tham chiến tung quân càn quét các khu vực xung quanh, chỉ một vài cuộc đụng độ lẻ tẻ quanh ngọn đồi 881 Bắc.

Tổng kết về cuộc hành quân Pagasus thiệt hại về phía đồng minh 41 Bộ Binh Mỹ, 51 TQLC Mỹ và 33 quân nhân VNCH bị tử trận và 667 M ỹ 187 Việt bị thương, đổi lại 1304 quân CSBV bỏ xác tại trận và 23 tù binh (chưa kể số thiệt hại vì pháo đài B52 và Pháo binh tác xạ)

Trận Khe Sanh 1968 - phần 8

Cuộc hành quân Lam Sơn 207 A chính thức kết thúc vào ngày 15/4/1968 Lữ Đoàn 3ND được đưa về Huế để tham dự một cuộc hành quân mới ‘Lam Sơn 216’ chiếm lại thung lủng A Shau.


Thiếu Tướng Dư Quốc Đống Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đang gắn huy chương cho Trung Tá Nguyễn Khoa Nam, Chiến Đòan Trưởng LĐ3ND

Sau này, có người nhận xét cho rằng tướng Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có thể rãnh tay tấn công các vùng khác. Người khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lý do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ. Trong khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đã "tương kế tựu kế." Ông mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Nhưng lịch sử đã đổi chiều không phải của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện để phòng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần thiết. Phía bên kia, Cộng quân đã không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại còn bị thiệt mất từ 10 đến 13,000 bộ đội. Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh.

Tài liệu tham khảo:

- Trận chiến Tết Mậu Thân 1968 của Phạm Văn Sơn trên trang nhà History of the Viet Nam War.
- Chiến tranh Việt Nam toàn tập của Tiến Sĩ Nguyẽn Đức Phương, nxb Làng Văn 2001.
- Một Cánh Hoa Dù của Trương Dưởng. Tác giả xb 1998
- The War in The Northern Provinces 1966-1968 by Lieutenant General Willard Pearson Dept of The Army Washington, D.C., 1975
- Phỏng vấn trực tiếp các chiến hữu trong SĐND.
- Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968 của Phạm Cường Lể trên trang nhà History of the VN War.

Đại Úy Võ Trung Tín
Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202

Đại Úy Nguyễn Hữu Viên
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-897-1435

Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi?

“’Tân Què’ có thăm nuôi. Lên trình diện quản giáo gấp!”

Ðang loay hoay với bản tự kiểm về tội lén đưa đồ ăn vào cô-nết cho ‘Huy Ðiêu khắc gia’, Tân giật nẩy mình khi bị bố già Khối trưởng Thạch “Sùng” gọi đến tên tục của mình. Như một phản ứng tự nhiên, Tân, chưa cần nhìn về hướng viên khối trưởng đang đứng, trả lời ngay:

“Thôi đi bố già! Coi chừng lại lộn tên với thằng ‘Tân Heo’ như năm ngoái nữa!”

Năm ngoái, Tân đã bị gọi giật từ ngoài rẫy về vì có thăm nuôi “đột xuất,” sau đó mới vỡ lẽ ra là thằng “Tân Heo” có ông dượng, từ ngoài Bắc vào, tới thăm để “động viên” tinh thần học tập của nó. Ðược bạn bè gán cho cái mỹ danh là “Tân Heo” vì Tân này là chuyên viên nuôi heo trong trại. Các ngành nghề chuyên môn như chăn nuôi và trồng tỉa rất được anh em “cải tạo” ưa chuộng vì tương đối vừa đỡ tốn sức lao động lại vừa “có ăn” hơn các ngành làm rẫy hay “lên non đẵn gỗ trên rừng.” Còn “Tân Què” thì dĩ nhiên là chân phải đi cà xẹo hay cà thọt gì đó rồi. Một mảnh đạn pháo trong Trận An Lộc đã làm vỡ nát nhượng chân trái của Tân, suýt làm anh què luôn.

Nhưng lần này, cứ nghe cái giọng khẳng định của viên khối trưởng đầu bạc, có lẽ không có vụ lộn tên được nữa:

“Ðúng là ‘Tân Què’ chớ còn ai nữa! Chính thân nhân của cậu đòi phải gặp cho bằng được ‘Tân Què’ ở An Lộc mà! Bộ cậu sợ không dám nhận mình là dân ‘Bình Long Anh Dũng’ nữa sao?”

Thấy sự thể cũng hơi lạ, nhưng để cho chắc ăn, Tân gặng hỏi:

“Mà cụ biết người tới thăm tôi là ai không? Tôi là ‘con bà phước’ mà, làm gì có ai thăm?”

“Moa’ không rõ. Cậu cứ lên hỏi thẳng quản giáo thì biết ngay chớ gì!”

Viên khối trưởng chỉ nói vậy rồi bỏ đi. Tân lật đật thu gom giấy, bút trên cái bàn gỗ “dã chiến,” bỏ xuống phía dưới chiếc chiếu nằm. Cái tên Thạch “Sùng” của viên khối trưởng đứng tuổi này cũng có lý do hiện hữu của nó: Thạch có tánh hay tiếc của – nhứt là cơm rơi – và thường dễ nổi sùng với anh em, mặc dù “bố già” là người được coi như tốt bụng nhứt trong đám tù nhân khốn đốn tại Trại Xuân Lộc này, tất cả đều là những sĩ quan trong quân đội và cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa trước đây, mà sau “giải phóng” đã bị nhà cầm quyền cộng sản bắt đưa vào các trại “tập trung cải tạo.”

Tân xỏ chân vào quần, khoác lẹ chiếc áo sơ-mi máng trên cây đinh nơi cột tre, rồi bước ra ngoài. Thằng Chinh, tay vừa ở cô-nếch ba tháng ra vì nhận giấy tờ giả từ ngoài đưa vào để mưu toan trốn trại, đoán già, đoán non:

“Không chừng con bồ nhí nơi quán Thu Sương tới thăm đó mậy! Cho tao gởi lời thăm con Bích, em nó, nghe!”

Không đáp lời Chinh, Tân lặng lẽ rảo bước lên văn phòng viên quản giáo ở cuối dãy nhà thuộc khu cán bộ công an. Không khí chiều Ba Mươi Tết thiệt êm ả trên toàn trại, và có lẽ đây là lần đầu tiên Tân cảm nhận điều này nơi đây. Gần như cả năm, chẳng mấy khi cái trại cải tạo nơi vùng đất đỏ hoe này có được một buổi chiều im ắng như thế này, kể cả ngày Chủ Nhật là ngày toàn trại được nghỉ lao động. Suốt thời gian được chuyển về trại, Tân chỉ thấy sinh hoạt của trại cứ xoay quanh chuyện tập họp đi lao động, tranh nhau tắm rửa, tranh nhau lấy cơm, tập trung xét đồ, và ngồi đồng kiểm điểm…

Viên quản giáo, mới ngó thấy Tân thập thò trước cửa văn phòng, đã nhoài người ra chào đón:

“Anh Tân đấy à? Anh có thăm nuôi đột xuất đấy. Anh theo tôi ra ngoài đó ngay kẻo hết giờ. Sướng nhé, đồ ăn coi bộ nhiều lắm, kỳ này tha hồ ăn Tết to!”

Hơi ngạc nhiên trước thái độ thân thiện bất ngờ của viên quản giáo, Tân cố lấy vẻ lễ phép, đáp:

“Thiệt sự tôi đâu có biết ai đâu mà mong đồ ít, đồ nhiều, cán bộ! Nhưng mà ai vậy? Cán bộ cũng biết là từ hai năm nay tôi chẳng có ai là thân nhân đến thăm.”

“Cần gì biết. Cứ ra ngoài rồi sẽ rõ. Mà coi bộ cô ấy xinh lắm đó! Nhớ nếu có ‘con nạp xưởng’ thì để dành lại cho tôi và anh em một ít nhé. Ngày Xuân lai rai ấy mà!”

Tân suýt bật cười thành tiếng trước thái độ thân tình, săn đón bất ngờ đầy dụng ý của viên quản giáo. Chả bù với những lần kiểm soát chỉ tiêu sản xuất trong ngày, gương mặt anh ta tuy non choẹt nhưng vì khó đăm đăm nên nom già cỗi, coi dễ ghét lắm.

“Thôi kệ, tha cho mầy!” Tân nghĩ bụng. Cái gọi là “con nạp xưởng” thiệt ra chỉ là mấy cây lạp xưởng của Ba Tàu Chợ Lớn mà hễ lần nào Tân ăn vào thì cũng thấy bụng óc ách khó tiêu, nhưng không hiểu sao tại Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa lại không sản xuất nổi, để cho mấy anh cán bộ trại anh nào cũng mê, cũng ghiền cái món mới lạ này.

Viên quản giáo đẩy Tân vào nhà khách cải tạo, liếc xéo vào người khách đến thăm một cái trước khi bỏ đi, không quên dặn với:

“Hai mươi phút thôi nhé, anh Tân! Tôi đã bảo cán bộ vũ trang rồi. Tôi đặc biệt gia hạn cho anh thêm năm phút nữa đó. Nhớ vụ kia giùm tôi…”

Giây phút này, Tân không còn lo để ý tới cán bộ quản giáo hay cán bộ vũ trang gì nữa cả. Kể ra thì làm quản giáo, trực tiếp coi anh em cải tạo như Mẫn đây, vẫn được xem là oai hơn làm cán bộ vũ trang mà nhiệm vụ chỉ là xách súng đi bảo vệ an ninh trại và bắn bỏ bọn trốn trại để theo phe phản động bên ngoài.

Liếc nhanh về phía chiếc bàn gỗ dài nơi nhà khách, Tân chợt thấy khuôn mặt lạ hoắc của một thiếu nữ, với đôi mắt sáng long lanh đang chăm chú nhìn về phía anh. Cả chiếc áo bà ba màu hồng phấn điểm hoa và cái quần xá-xị đen của cô gái cũng không giúp ích gì thêm cho ký ức của Tân. Cố lục lọi trí nhớ hồi lâu, Tân đành chịu, không biết người con gái đó là ai.

“Anh Tân! Anh Tân! Thủy đây nè, Thủy ở An Lộc đó, bộ anh hổng nhớ em sao?” Người con gái đứng bật dậy, lớn tiếng gọi khi vừa thấy Tân bước đến gần cửa nhà khách.

Sau một thoáng bàng hoàng, Tân mới chợt nhớ ra…

Dĩ vãng như một cuốn phim quay nhanh qua tâm trí Tân. Thủy chính là cô bé mười lăm tuổi mà Tân đã cứu được từ trong đống gạch vụn, tôn cháy khi dãy nhà của Thủy và đồng bào tị nạn từ Lộc Ninh dồn về bị trúng đạn pháo 130 ly ngay giữa cuộc tiến công của quân cộng sản vào An Lộc. Lúc đó, đơn vị của Tân là Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân dưới quyền của Trung Tá Biết đang đánh vùi với Cộng quân ngay tại phía ngoài Chi khu An Lộc, đánh liên tục cả mấy tuần lễ liền. Ðạn hết, lương thực cũng hết và người thì đã hao hụt quá nửa mà Tân và đồng đội vẫn không ra khỏi được vòng vây của quân địch. Ðã thế, quân tấn công lại tập trung đủ loại pháo nặng, nhẹ các cỡ bắn vào thị xã như mưa, với dã tâm san bằng mục tiêu thành bình địa, không kể gì tới tánh mạng và tài sản của dân lành vô tội. Có ngày, họ đã bắn hơn 10 ngàn quả đạn pháo vào thị trấn nhỏ bé này, một thị trấn mà, từ trên máy bay nhìn xuống, chẳng thấy có một lợi thế phòng thủ nào đáng kể, vì ba bên, bốn bề của nó đều bỏ ngỏ, trải ra như tấm lòng rộng mở của những người em gái An Lộc thuộc lớp đàn chị của Thủy.

Thủy ngày xưa là vậy đó. Nhưng hôm nay đây, dáng dấp, giọng nói và gương mặt của người thiếu nữ đang đứng trước mặt Tân xem ra hết sức xa lạ với những gì mà Tân đã thấy, đã nghe và đã biết về người con gái ấy ở An Lộc hơn tám năm về trước. Ðó là một cô bé đáng thương, mặt mũi loang vết máu, tay chân trầy trụa, đang run lẩy bẩy trên tay Tân. Mẹ và em trai của cô bé, tuy chẳng bị thương tích gì đáng kể, nhưng đều đầy vẻ kinh hoàng, kêu khóc liên hồi trong nỗi sợ hãi cùng cực của những nạn nhân vừa mới được cứu khỏi cảnh bị chôn vùi giữa căn nhà đổ nát của mình.

Cô gái rời khỏi chiếc băng ghế dài, chạy tới nắm lấy tay Tân:

“Trời ơi, anh Tân! Sao anh dạo này ốm mà đen quá vậy? Ngày xưa lúc ai cũng khốn đốn vì bị Việt Cộng bao vây cả tháng, tuy bữa đói, bữa no nhưng anh đâu đến nỗi?”

Vừa nói, cô gái vừa lấy tay quệt nước mắt. Tân sững sờ trước tình huống bất ngờ:

“Không dè Thủy mau lớn quá. Lại đẹp hơn hồi nhỏ, làm anh nhận không ra. Nhưng làm sao em biết là anh đang ở đây mà tới thăm? Mà làm sao em xin phép đi thăm anh được, trong khi em chẳng có liên hệ họ hàng gần xa gì với anh?”

Tân vừa định ngồi xuống bên cạnh người con gái ở phía bên này chiếc bàn, nhưng sực nhớ tới quy định của của trại cấm anh em cải tạo không được ngồi kế bên khách, anh đành ngồi xuống nơi ghế phía đối diện với cô gái.

Thủy với tay lấy một trái quýt từ nơi một trong ba cái giỏ xách lớn và nặng trĩu mà có lẽ cô đã khá vất vả mới mang được vào trại từ bến xe lam cách đó cả cây số vào một buổi trưa nắng đổ như thế này. Ðưa tay chỉ mấy cái giỏ xách trên bàn, cô gái nói với Tân:

“Tất cả ba cái xách này là đồ của anh. Em tích lũy, gom góp của hợp tác xã cả tháng trời mới có đủ thứ cho anh đó! Anh nhớ ăn dè sẻn một chút, chớ ít ra cũng phải ba tháng sau em mới hy vọng lên thăm lại anh đó!”

Tân cố khách sáo:

“Lặn lội lên thăm anh là đã quý hóa lắm rồi, em bày vẽ làm gì cho tốn tiền mà lại nặng nhọc nữa? Mà em phải cho anh biết làm sao em có được phép tới thăm anh ngay vào chiều Ba Mươi Tết này chớ?”

Ðưa cho Tân mấy múi quýt đã lột sẵn, Thủy vừa cười vừa nói:

“Thiệt ra em hổng có xin phép từ địa phương của anh ở Sài Gòn, mà xin phép ngay từ trại này nè! Ông Tuân, trại phó sản xuất, tuần nào cũng ghé thăm dì em. Ổng đang dê dì em kịch liệt đó anh! Em nhờ dì em nói thẳng với ổng là em muốn đi thăm nuôi anh của em đang học trong trại dưới quyền ổng. Em khai là em cô cậu của anh. Dì Minh là người mà anh nói chuyện cả buổi lúc toán cưa củi của anh bị trở ngại xe cộ rồi được công an võ trang cho đi ăn uống gần bến xe đó… Anh còn nhớ hông? Dì Minh rất cảm động vì câu chuyện anh kể về đời lính của anh ngày xưa, nhứt là những ngày Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân đánh trận An Lộc, sống chết với dân An Lộc, với tụi em.”

Tân mới nuốt xong mấy múi quýt ngọt lịm qua cổ thì đã được Thủy tiếp cho hai múi khác.

“À! Anh nhớ ra rồi! Ủa, bà Minh là dì của em hả? Dì ruột hay dì trong họ?” Tân thắc mắc.

“Bả chỉ là dì họ thôi. Mà bả thương em lắm, anh Tân ơi! Một phần vì bả thấy em lanh lợi, giúp ích cho bả nhiều trong chuyện buôn bán, phần khác bả thấy em thiệt thà, ngay thẳng, không tham như mấy đứa khác cũng là cháu của bả. Bả có nói phải chi bả biết người trong câu chuyện anh kể là em thì bả đã cho anh biết ngay rằng bả là dì của em rồi. Hồi em còn nhỏ thì bả buôn bán đâu trên Sài Gòn, chỉ tiếp xúc với họ hàng em khi người nhà có công việc đi Sài Gòn, ghé ngủ tạm tại nhà bả một đôi hôm rồi đi.”

“Em mau lớn và xinh quá, anh thiệt không ngờ!” Tân nói, lòng vẫn e rằng người con gái đối diện sẽ ngượng ngùng vì lời khen mà Tân cứ lặp đi, lặp lại đó. Phải biết rằng gì chớ về “tâm lý bạn gái” thì Tân rất rành, mặc dù anh vốn là dân tác chiến Biệt Ðộng Quân thứ dữ.

“Thiệt vậy hả anh?” Thủy hỏi lại với vẻ ngây thơ pha lẫn đôi chút sung sướng. “Mà nghe nói vợ anh đã đi vượt biên rồi hả? Chỉ hiện tới đâu vậy, anh Tân?”

Vết thương lòng bỗng dưng lại bị khơi dậy. Nhưng Tân cảm thấy cần phải nói thiệt cho Thủy -người mà từ trước tới nay anh vẫn coi như em gái mình – để cho cô gái biết rõ, kẻo che giấu hoài sau này lại phải mất công cải chính:

“Sự thực không phải vậy đâu, Thủy!”

“Vậy chớ sự thực là sao, hả anh?”

Thủy giục.

“Vợ anh đã bỏ anh đi lấy chồng khác rồi! Lấy một thượng úy Cộng Sản trong phường của bả. Tại anh lỡ khoe với anh em trong trại rằng vợ mình rất chung thủy, nên chẳng dám cho ai biết sự thực, mà chỉ khai là bả đã vượt biên rồi, vì anh biết những người đồng bạn của anh tại đây đều ở tù ‘mút chỉ cà tha,’ chẳng ai đủ khả năng ra ngoài mà kiểm chứng cho rõ thiệt, hư.”

“Trời đất ơi! Thiệt là buồn quá, hả anh Tân? Em không ngờ thời này người ta hay ăn ở bất nghĩa đến như vậy. À, em quên hỏi thử anh và chị đã có mấy đứa con với nhau rồi? Bây giờ con cái ra sao?”

“May mà chỉ có một đứa con gái, năm nay mới lên mười. Vợ anh đã gởi nó về bên ngoại nuôi giùm, lâu lâu mới về thăm mà thôi. Bên ngoại nó được cái là rất cưng con nhỏ và cũng còn thương anh lắm. Mỗi năm vài lần, bên vợ anh vẫn gởi quà thăm nuôi cho anh trên này. Có điều là chẳng có ai tới thăm anh từ dạo Thắm bỏ anh mà thôi”…

Thủy chưa kịp bình luận gì về những tiết lộ mới này, thì Tân đã tiếp nối câu chuyện:

“Anh cũng không trách gì bả. Gặp cảnh đời thay đổi thì dù ông to, bà lớn cũng phải đổi thay để sống còn, huống hồ chi vợ anh cũng chỉ là một người phụ nữ tầm thường. Ai còn lạ gì…”

Tân vừa nói tới đó thì chợt thấy người công an vũ trang hồi nãy, mặc đồng phục vàng lợt, đeo súng AK, lấp ló ngoài cửa sổ. Thiệt ra, nhiệm vụ của anh ta cũng chỉ là để canh chừng xem anh em cải tạo được thăm có ta thán chế độ tù tội hay phát ngôn điều gì phản động, và khách thăm có lén lút đưa vào trại tài liệu nào nguy hại cho “an ninh tổ quốc” hay không mà thôi.

Thấy người công an đã bỏ đi vì không phát hiện hay nghe ngóng được điều gì hệ trọng, Tân nhích người tới gần Thủy hơn:

“Ai còn lạ gì chủ trương ‘tài sản ngụy, ta chiếm; vợ con ngụy, ta lấy’ của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối với gia đình sĩ quan, viên chức thuộc chế độ cũ bị đưa đi tập trung học tập cải tạo trong những ngày đầu Sài Gòn ‘giải phóng’? Anh lại thấy thà Thắm làm vậy còn hơn là tiếp tục lừa dối nhau. Trại này có một anh tên là Út. Tháng nào ảnh cũng nhận được thơ vợ viết vào thăm, kể lể, tâm tình thiệt là tình sâu, nghĩa nặng; thậm chí bà vợ còn làm thơ ca ngợi mối tình chung thủy của họ trong hoàn cảnh ‘loan phượng lìa đôi nữa’. Nhưng khi người anh em bạn cột chèo của ảnh được thả về thì mới vỡ lẽ ra rằng chị ta đang có mang với một tay công an phường nào đó, mà tay này thì lại vợ con đùm đề cả rồi, mới ác chớ! Thiệt là tình đời ngày nay đã đổi thay đến hết biết rồi, Thủy ơi!”

Thủy còn đang ngẩn người ra chưa kịp nói gì để an ủi Tân trong cơn xúc cảm, tủi buồn thì đã nghe có tiếng của người công an vũ trang hồi nãy nói với vào, giọng “Bắc kỳ 75” đặc sệt:

“Anh gì đó, chỉ còn có ba phút thôi nà anh phải về trại đấy! Còn cô Thùy hay Thủy gì đó nữa, khẩn trương nên nhé, thu gọn tâm tình nại mà về nhà, để nần tới nại được phép vào thăm nữa chứ!”

Thủy nắm lấy tay Tân:

“Cán bộ trại chưa chi đã hối về rồi đó! Ðể em bàn giao mấy món đồ ăn cho anh cho kịp giờ…”

Thủy vừa nói vừa soạn sành mấy cái giỏ xách:

“Ðây là mấy món mặn cho anh ăn dài dài nè: ruốc xào sả, ớt kiểu người Trung, mắm khô quẹt mẹ em làm – tuy mặn, nhưng ngon lắm – cá khô sặt, muối sả, tôm khô, thịt heo kho trứng vịt, và cả mắm tôm chua em mới làm hôm qua cho anh nữa! Trong cái xách đen đen này có đủ các thứ gia vị như tiêu, hành, ớt, tỏi, và nhứt là bột ngọt – cái bịch nylông có chữ ‘mì chính’ đó nghe anh! Cái túi lớn nhứt thì có mấy món hơi sang sang một chút để anh đãi bạn bè: mè xửng Huế nè, đường Cu-ba nè, lạp xưởng nè, đậu phộng nè. Dưới đáy xách là ba ký nếp hạng nhứt mà Dì Minh biểu gởi cho anh đó!”

“Trời đất ơi! Sao em biết trong này anh cần mấy thứ này mà mua sắm quá ‘đạt yêu cầu’ như vậy? Về cho anh gởi lời cám ơn dì Minh thiệt nhiều, nghe em!”

Với tay cầm lấy cái thẩu nhựa đựng mắm khô quẹt, Tân nói với Thủy:

“Cái món khô quẹt này để anh nhờ người lén đem cho anh Huy một ít, vì ảnh mê lắm. Tội nghiệp! Ảnh là một điêu khắc gia nổi tiếng của mình ngày xưa, chỉ vì mới đây ảnh tạc tượng ‘Bác Hồ’ mũi hơi khoằm và nhọn như mũi két nên bị ghép vào tội phản động, bị đem giam cô-nếch gần ba tháng nay. Tuần trước, anh đi lao động về có lén thẩy cho ảnh hai miếng đường, nhưng rủi bị cán bộ tuần tra phát hiện nên sáng nay phải ngồi làm kiểm điểm, mới suy nghĩ cách chạy tội thì nghe kêu có em lên thăm nuôi nên lại bỏ đó…”

Tân lôi mấy xâu lạp xưởng ra khỏi mớ đồ ăn:

“Chỉ có cái món lạp xưởng là không hạp với anh lắm thôi, nhưng đám công an, cán bộ thì lại khoái ghê lắm. Họ gọi là ‘con nạp xưởng’ đó em! Ðể anh mang vào hối lộ cho họ đặng lấy lòng, phòng khi hữu sự cũng thường tai qua, nạn khỏi lắm. Thủy ơi! Anh thiệt mang ơn em biết mấy! Ðã hơn hai năm rồi, kể từ khi vợ anh bỏ đi, chẳng có một mống nào tới thăm anh hết. Mẹ anh thì đã mù lòa, con anh thì còn quá nhỏ, anh đành giấu biệt địa chỉ sau lần chuyển trại tới đây, chớ đâu có nỡ lòng nào bắt họ phải đi thăm mình?”

Tân nắm lấy đôi bàn tay thon và đẹp của Thủy. Người con gái đứng yên hồi lâu, chẳng nói gì, không biết có phải vì muốn chìu ý Tân hay là vì chính cô gái cũng muốn hưởng trọn cái phút giây êm ái đó, tay trong tay với người mà ngày xưa cô bé vừa cảm phục, vừa biết ơn mà cũng vừa thương mến nhưng không đời nào dám ngỏ. Tân vừa định nói lời từ biệt với Thủy, thì người công an vũ trang đã bước vào nhà khách, khẩu AK-47 chế tạo tại Tiệp Khắc kè kè bên hông:

“Thôi, xong rồi. Anh, chị niệu mà về nẹ nẹ đi nhé! Nể nồi cán bộ quản giáo tôi đã gia hạn cho cả năm phút rồi đấy!”

Người cán bộ vũ trang này, Tân hơi ngờ ngợ, có lẽ cũng chính là anh chàng áo vàng ác ôn đã giọng cho thằng Chinh ba cái báng súng đau “thấu trời xanh” khi hắn bị giải giao vào biệt giam trong cái thùng sắt vuông vức gọi là cô-nếch mà ngày xưa lính Mỹ vẫn dùng để chứa hàng hóa và quân dụng. Vì cấu trúc bằng sắt và bốn bề kín mít như bưng, thời tiết bên trong cô-nếch chỉ có hai mùa: Ban đêm là mùa Ðông lạnh như Bắc cực và ban ngày là mùa Hè nóng như thiêu đốt của sa mạc Sahara!

Không để cho kẻ giam giữ mình phải nặng lời, Tân vội vã choàng tay qua vai, ôm nhẹ Thủy một cái. Cái tật “lợi dụng thời cơ” này của Tân nay, dẫu sao, cũng đã giảm bớt một nửa rồi so với ngày xưa, có lẽ cũng vì Tân còn mang nặng mặc cảm của kẻ chiến bại.

Người con gái, lộ vẻ thẹn thùng, đứng im lặng trong vòng tay Tân giây lát trước khi dịu dàng đẩy nhẹ Tân ra:

“Thôi, anh lo về nghỉ ngơi sớm đi, hết giờ thăm rồi! Em mừng hết sức vì đã được gặp lại anh hôm nay,” cô gái nói qua làn nước mắt rơm rớm. “Ðã biết anh vẫn còn sống nơi đây thì, bằng cách này hay cách khác, em cũng sẽ lo lắng, thăm nuôi anh. Gia đình em không bao giờ quên ơn cứu mạng của anh, của mấy người lính Biệt Ðộng Quân như anh trong cuộc chiến… À quên, anh Tân ơi, em còn gởi cho anh cái này…”

Thủy vội vã nhét vào chiếc túi quần bên hông của Tân một gói gì nho nhỏ nhưng khá cộm. Nghi đó là tiền, Tân vội chối từ:

“Gì chớ tiền thì anh không nhận đâu nhé, Thủy! Thơ cũng không được nữa, vì sẽ bị quản giáo xét trước khi về phòng.”

“Anh yên tâm, cái đó là của mẹ em chớ không phải của em đâu. Nhưng anh phải giấu nó chỗ nào đi nếu thấy không tiện lắm, nghe anh Tân! À, tí nữa em quên mất. Anh Tân có bao giờ nghĩ rằng trong cái rủi nhiều khi cũng có cái may? Biết đâu nhờ chị Thắm bỏ anh mà người khác mới có cơ hội được lo cho anh?” Thủy không nhìn thẳng vào mắt Tân mà gần như là nhìn xuống đất trong câu nói sau cùng này, trước khi gặt đầu ra dấu từ biệt Tân rồi bước đi.

Ðứng lặng yên giây lát cạnh ba cái giỏ xách đồ ăn mà Thủy mới trao cho, Tân đưa mắt nhìn theo cô gái đang chậm rãi quay gót ra phía trước cổng trại. Một cảm giác nửa vui, nửa buồn xâm chiếm lấy tâm hồn anh… Khi cái vẫy tay sau cùng của Thủy đã khuất sau cánh cổng lớn, Tân mới biết rằng mình đành phải tạm giã từ một niềm hạnh phúc tuy mới vừa ló dạng nhưng lại mang nhiều hứa hẹn tương lai.

“Anh Tân có bao giờ nghĩ rằng trong cái rủi nhiều khi cũng có cái may?” Lời nói của Thủy như vẫn còn vang vọng đâu đây trong tâm trí Tân trên đường từ nhà khách trở về trại, với mấy giỏ xách đồ ăn thăm nuôi trên tay.

Ðối với Tân, đêm Ba Mươi năm nay cũng chính là phút giây khởi đầu của những mộng ước tương lai trong một cuộc đời tưởng đã héo tàn nay bỗng dưng lại đơm hoa, kết trái. Trong khi bạn bè cùng phòng ai cũng hớn hở, cười vui vì được Tân chia sớt chút quà thăm nuôi bất ngờ để cùng đón giao thừa, thì tận nơi đáy lòng Tân lại đang rộn ràng những tình cảm thương yêu vừa chớm nở, y như một nụ mai vàng e ấp, âm thầm nhưng mãnh liệt, bung cánh chào đón Xuân sang.

ST