Sunday, May 3, 2020

Phần 1 - Những Ngày Cuối Của VNCH (nguyên Tác: The Final Collapse Của Đại Tướng Cao Văn Viên. Dịch Giả: Nguyễn Kỳ Phong)

Lời Người Dịch: Bắt đầu từ năm 1976 Trung Tâm Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ mời một số tướng lãnh của ba quốc gia Việt, Cam Bốt và Lào, viết lại kinh nghiệm quân sự của họ trong cuộc chiến Đông Dương. Sáu cựu sĩ quan VNCH cộng tác và hoàn tất 16 tác phẩm, ghi lại kinh nghiệm của họ về cuộc chiến Việt Nam. Trung Tâm Quân Sử Lục Quân xuất bản bộ sách này dưới tựa đề Indochina Monographs, gồm các tác phẩm: The Final Collapse (1983). Đại tướng Cao Văn Viên.
Leadership (1981). Đại tướng Cao Văn Viên.
Reflections on the Vietnam War (1980). Đại tướng Cao Văn Viên & Trung tướng Đồng Văn Khuyên.
The RVNAF [Republic of Vietnam Armed Forces] (1980). Trung tướng Đồng Văn Khuyên.
RVNAF Logistics (1980). Trung tướng Đồng Văn Khuyên.
The Easter Offensive of 1972 (1980). Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
RVNAF and U.S. Operational Cooperation and Coordination (1981). Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
Territorial Forces (1981). Trung tướng Ngô Quang Trưởng.
Lam Son 719 (1979). Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh.
Vietnamization and the Cease-fire (1980). Thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh.
The South Vietnamese Society (1980). Th/tướng Nguyễn Duy Hinh & Ch/tướng Trần Đình Thọ.
The Cambodian Incursion (1979). Chuẩn tướng Trần Đình Thọ.
Pacification (1980).  The Cambodian Incursion (1979).
The General Offensive of 1968-1969 (1981). Đại tá Hoàng Ngọc Lung.
Intelligence (1982). Đại tá Hoàng Ngọc Lung.
Strategy and Tactics (1980). Đại tá Hoàng Ngọc Lung.
The U.S. Adviser (1980). Đồng Văn Khuyên, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Duy Hinh, Trần Đình Thọ, Hoàng Ngọc Lung.
Đặc biệt trong bộ sách Indochina Monographs, tuy không phải là sĩ quan Việt Nam nhưng đại tá Hoa Kỳ William E. Le Gro, đã soạn một tác phẩm rất quan trọng về hai năm cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, From Cease-Fire to Capitulation. Đại tá Le Gro là một sĩ quan có nhiều kinh nghiệm ở chiến trường Á Châu. Trong năm năm phục vụ tại Việt Nam ông từng giữ chức trưởng phòng tình báo của Sư Đoàn 1 Bộ Binh; ba năm cuối cùng của chiến tranh Việt Nam ông là sĩ quan tình báo của MACV, rồi sau đó là trưởng phòng tình báo của DAO, cơ quan quân viện thay thế cho MACV sau Hiệp Định Paris 1973. Tác phẩm của đại tá Le Gro đáng được tham khảo song song với những tác phẩm của các cựu sĩ quan Việt Nam nói trên.
Trong thời gian dịch quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa (The Final Collapse), người dịch có nói chuyện nhiều lần với đại tướng Viên. Trong những lần nói chuyện, người dịch biết thêm về những khó khăn đại tướng Viên đối diện từ khi đảm nhiệm chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH cho đến ngày Miền Nam thất thủ. Trong khi những khó khăn hay những bí mật về cuộc chiến Việt Nam đại tướng Viên đã kinh nghiệm qua, là một đề tài bàn luận khác, ở đây người dịch chú trọng tới nội dung của tác phẩm đang được nói đến.
Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa được soạn thảo trong khoảng năm 1976-1978 (nhưng đến năm 1983 mới được xuất bản, có lẽ vì phải chờ giải mật và hợp thức hóa một số hồ sơ). Trong thời gian đó những tài liệu bí mật về cuộc chiến Việt Nam chưa được giải mật nhiều; sách của đại tướng Viên bị giới hạn vào những tài liệu được giải mật lúc đương thời hay chỉ có thể đề cập đến một cách tổng quát. Từ lúc tác phẩm được xuất bản cho đến nay, rất nhiều sách biên khảo, hồi ký ra đời, làm sáng tỏ thêm những bí mật của lịch sử và cuộc chiến Việt Nam hơn quyển sách của tướng Viên có thể cung cấp. Ở điểm đó chúng ta thông cảm được cho tác giả Cao Văn Viên: có nhiều sự kiện không được nhấn mạnh hay đề cập đến trong sách vì không có tài liệu hay nhân chứng. Một vài thí dụ như: những sự kiện về trận Ban Mê Thuột được đại tá Trịnh Tiếu, trưởng phòng quân báo quân đoàn II, sau khi ra khỏi tù cộng sản, viết lại chi tiết hơn. Hay chuyện quân đoàn I bị thất thủ một cách nhanh chóng, và cuộc rút quân ở quân đoàn II trở nên rối loạn là trách nhiệm hoàn toàn của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, theo những gì cựu phó thủ tướng Nguyễn Lưu Viên kể lại. Một số tài liệu khác cho thấy sự rối loạn của các lệnh hành quân gởi ra mặt trận từ Dinh Độc Lập làm cho cuộc sụp đổ của QLVNCH sụp đổ nhanh hơn.
Quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa của tướng Cao Văn Viên là một trong những quyển sách trong bộ Indochina Monographs được nhiều sử gia hiện đại của Trung Tâm Quân Sử Hoa Kỳ như Ronald S. Spector, Jeffrey J. Clarke, Phillip B. Davidson... trích nhiều trong các sách biên khảo về quân sự và quân sử. Các chương 2, 3, và 4 trong tác phẩm cung cấp nhiều chi tiết cần thiết về các hoạt động quân sự của cộng sản ngay sau ngày ngưng bắn. Thực trạng về sự thiếu thốn quân cụ và vũ khí của quân đội Việt Nam Cộng Hòa cũng được nói đến trong các chương này. Người dịch hy vọng quyển Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa sẽ là một bổ túc cho những sử liệu về sự sụp đổ của một quốc gia và một quân đội đã hiện hữu 20 năm.
Trong bản dịch này, ngoài một số chú thích của dịch giả để cung cấp thêm tài liệu mới vào sử liệu, tác giả Cao Văn Viên cũng thêm vào một số chú thích của ông. Những chú thích này là phản ảnh của tác giả sau khi đọc nhiều tác phẩm có liên hệ đến cuộc chiến, hay liên hệ đến chính cá nhân tác giả.
Như để giữ lại một dấu tích của tác phẩm ở dạng nguyên thủy Anh ngữ, người dịch và nhà xuất bản xin được chụp lại trang giới thiệu của chuẩn tướng James S. Collins, Jr., viện trưởng Viện Quân Sử Lục Quân Hoa Kỳ, về tác phẩm The Final Collapse của đại tướng Cao Văn Viên.
Nguyễn Kỳ PhongTháng 1, 2003. Centreville, Virginia

*
Thiếu Tá BCD Phạm Châu Tài 
Chương 1: Tổng Quát
Ngày 30 tháng 4, 1975, khi Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ và không còn hiện hữu như một quốc gia, thế giới bạn và thù sửng sốt. Mọi người, ngay cả kẻ chiến thắng, không tin cộng sản chiếm được miền Nam một cách dễ dàng và nhanh chóng như vậy. Làm sao chuyện đó có thể xảy ra" Tại sao miền Nam sụp đổ quá nhanh" Chuyện gì đã xảy đến cho một quân đội đã anh dũng chống lại hai cuộc tấn công hung hãn của CS vào năm 1968 và 1972" Làm sao một quân đội hùng mạnh như quân đội VNCH có thể sụp đổ một cách dễ dàng trong một thời gian ngắn ngủi"
Nhiều câu hỏi đặt ra, nhưng khó tìm câu trả lời. Thật vậy, tìm một lời giải thích trung thực và rõ ràng cho những câu hỏi trên là chuyện không dễ: Những kinh nghiệm đau thương và sự phẩn nộ bắt nguồn từ một mất mát lớn lao có thể làm cho câu trả lời sai lạc, thiếu chính xác. Thêm vào đó, những mặc cảm lỗi lầm, hay bản năng tự vệ muốn bảo tồn thanh danh của những người trong cuộc, có thể làm cho sự thật, giả, ngụy tạo, và chân lý lẫn lộn. Trong khi chúng ta có thể xác định những nguyên do trực tiếp đưa đến sự thất thủ, một số nguyên do có hậu quả liên đới khác, những nguyên do xa gần, được ghi lại rành mạch hay chỉ được nhắc đến một cách ngấm ngầm cần được nói đến.
Từ khi lập quốc, Việt Nam có một lịch sử trường tồn dài và gian khổ. Ngoài lịch sử về của những triều đại phong kiến, lịch sử Việt Nam là lịch sử của những cuộc tranh đấu chống ngoại xâm. Là một quốc gia nhỏ bé ở phía nam biên giới một quốc gia vĩ đại với tên là "Trung Quốc," Việt Nam luôn luôn lo sợ bị đô hộ. Một ngàn năm nằm dưới sự đô hộ của của Trung Hoa, rồi giành lại được độc lập chín trăm năm. Sau đó, gần một trăm năm nằm dưới sự cai trị của Pháp; và ba mươi năm nội chiến... tất cả, là lịch sử Việt Nam. Trong thời gian bị Tàu đô hộ, dưới sự lãnh đạo của Hai Bà Trưng, Triệu Ẩu, và Lý Bôn, nhân dân Việt Nam nổi dậy ba lần vào các năm 39, 248, và 542 sau tây lịch, chống lại sự đô hộ và giành lại được độc lập dù chỉ trong một thời gian ngắn. Tuy nhiên, trong suốt thời gian bị thống trị, dù người Tàu bắt buộc người Việt phải sống theo phong tục, tập quán, ngôn ngữ của họ, người Việt đã bền bỉ chống lại sự đồng hóa của người Tàu. Đó là một kỳ công sau những năm dài bị đô hộ, người Việt Nam trở thành một nước độc lập với một nền văn hóa riêng biệt.
Nền độc lập của Việt Nam bắt đầu từ năm 939, dưới triều Ngô. Đây là một triều đại hưng thịnh nhất của lịch sử Việt Nam. Trong 600 năm đầu từ khi được độc lập, các triều đại Lê, Lý, Trần, đã mở mang bờ cõi về hướng nam, sâu vào lãnh thổ dân Chàm, rồi từ năm 1471 sát nhập luôn đất Chàm vào lãnh thổ Việt Nam. Ba lần, vào những năm 1257, 1284, và 1287, dưới sự chỉ huy tài ba của Trần Hưng Đạo, chúng ta đã chống lại những cuộc tấn công hung bạo của quân Mông Cổ. Đánh bại được quân Mông Cổ là chuyện chưa xảy ra trong lịch sử của các dân tộc khác: Cho đến lúc đó, Mông Cổ đã chiếm trọn Trung Hoa, và đang trên đường chinh phục toàn cõi Châu Âu.
Nhưng Việt Nam bị kém may mắn khi bị phân chia ba lần. Lần đầu rất ngắn, xẩy ra năm 1527 dưới đời Mạc Đăng Dung, khi Mạc Đăng Dung cướp quyền nhà Lê. Lần phân chia thứ nhì kéo dài gần 200 năm, xảy ra khi chúa Trịnh ở miền Bắc và Chúa Nguyễn ở miền Nam tranh chấp quyền lực với nhau. Đất nước thống nhất vào năm 1802 khi Nguyễn Ánh, dưới sự giúp đỡ của người Pháp, đánh bại đối phương và lên ngôi với niên hiệu Gia Long.
Chính sự giúp đỡ từ ngoại nhân đã đưa đến sự thống trị của người Pháp. Trong thời gian gần một trăm năm bị đô hộ, nhiều cuộc nổi dậy chống lại người Pháp. Từ những cuộc nổi dậy đầu tiên của các nhà cách mạng như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu, hô hào việc khôi phục lại ngôi vua như một chánh nghĩa, cho đến cho đến những nhà cách mạng có tinh thần quốc gia thuộc Quốc Dân Đảng như Nguyễn Thái Học người đã cùng mười ba đồng chí trả giá cho lòng ái quốc bằng đầu mình trên máy chém vào năm 1930.
Sau đệ nhị thế chiến, một số đảng viên Quốc Dân Đảng được sự trợ giúp của Trung Hoa, trở về Việt Nam với ý định tranh đấu giành lại độc lập từ người Pháp. Nhưng với một cơ cấu tổ chức thiếu chặt chẽ; với nội tình trong đảng có nhiều phân chia, Quốc Dân Đảng không tranh được ảnh hưởng sâu rộng đối với quần chúng như những Đảng Cộng Sản lúc đó còn nằm dưới tên Việt Minh. Với cơ cấu tổ chức đảng chặt, ý chí kiên trì, nhóm cộng sản của Việt Minh chiếm chánh quyền dễ dàng sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh vào tháng 8, 1945, rồi tuyên bố Việt Nam độc lập vào ngày 2 tháng 9 cùng năm.
Sau đệ nhị thế chiến, với sự hỗ trợ của Anh Quốc, Pháp trở lại miền nam Việt Nam trước, sau đó vừa thương lượng, vừa hăm dọa miền bắc với ý định tái lập chánh quyền đô hộ. Nhưng những thương lượng giữa Pháp và Việt Minh không đem lại kết quả. Sự căng thẳng giữa đôi bên gia tăng... và chiến tranh bùng nổ vào ngày 19 tháng 12, 1946.
Cuộc chiến tranh chống Pháp kéo dài tám năm. Trong thời gian đó, nhóm lãnh đạo Việt Minh dần dần trở nên lộ liễu hơn với ý thức hệ cộng sản. Họ hô hào người dân tiến về "con đường chủ nghĩa xã hội." Hành động tuyên truyền của những người cộng sản đưa người dân đến một chọn lựa chính trị: Sau khi Pháp thua trận Điện Biên Phủ và ký hiệp định Geneva 1954, những người không cộng sản đã chọn thái độ chính trị của họ. Từ sau hiệp định, Nam Việt Nam hiện hữu như một quốc gia độc lập, với một vận mệnh riêng biệt. Toàn cõi Việt Nam bây giờ là một hữu thể độc lập chia ra làm hai miền: Miền Bắc với chính thể cộng sản, được Trung Cộng và Nga hỗ trợ về hai mặt quân sự kinh tế; miền Nam quốc gia được Hoa Kỳ và các quốc gia không cộng sản phụ giúp. Hoa Kỳ dùng viện trợ kinh tế và quân sự để xây dựng miền Nam thành một quốc gia độc lập, chống cộng, như một kế hoạch nằm trong chiến lược ngăn chặn sự xâm lăng của cộng sản ở vùng Đông Nam Á. (1) Khi chiến tranh tái diễn vào đầu thập niên 1960, đây cũng là nơi hai thế giới cộng sản và không cộng sản dùng nơi thử nghiệm vũ khí mới, chiến thuật quân sự, và ý thức hệ chính trị.
Thật sự mà nói, trong khoảng thời gian trợ giúp Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), với viện trợ quân sự và nhân sự qua các sư đoàn tác chiến, Hoa Kỳ đã tạo cho VNCH một lực lượng tự vệ đáng kể. Từ một quân lực với 173.000 quân nhân trang bị với vũ khí lỗi thời, quân đội VNCH trở thành một quân lực hùng mạnh, trang bị vũ khí tối tân, với hơn một triệu quân, và được coi là quân đội lớn nhất so với các quốc gia không cộng sản ở Á Châu. Không Quân VNCH lớn hàng thứ sáu trên thế giới, và các sư đoàn tác chiến tinh nhuệ của VNCH được so sánh ngang hàng với các sư đoàn tác chiến Hoa Kỳ. Nhưng sự trợ giúp đó cũng là một chuyện đáng tiếc: sau một thời gian dài nhận viện trợ, quân đội hùng mạnh nầy đã quá lệ thuộc vào tiền và quân viện để có thể sinh tồn; tinh thần tác chiến quen nhìn vào khả năng yểm trợ của không lực Hoa Kỳ như một cái mộc chống đỡ sự xâm lăng lộ liễu của cộng sản từ miền Bắc. Không thể chối cãi là quân đội VNCH có khả năng tác chiến; họ có khả năng tác chiến và tác chiến khá. Nhưng trong một thời gian dài họ tập ra tánh lệ thuộc vào những điều kiện đã có sẵn; coi những nhu cầu quân cụ là một nguồn viện trợ vô tận, và Hoa Kỳ lúc nào cũng đứng bên cạnh để giúp đỡ nếu họ bị lâm vào tình trạng nguy ngập. Lối suy nghĩ như vậy, sau một thời gian, điều kiện hóa tinh thần của đa số: dân thấy an lòng và quân đội thấy tin tưởng vào sự giúp đỡ của Hoa Kỳ.
Như vậy, khi Hoa Kỳ chuyển hướng muốn thương lượng với cộng sản và bắt đầu rút quân khỏi Việt Nam một cách nhanh chóng trong kế hoạch "Việt Nam hóa", quân đội VNCH chưa chuẩn bị về tinh thần cũng như nhân sự để thay thế. Làm sao họ có thể thiết lập ngay các đơn vị tác chiến để thay thế bảy sư đoàn đầy đủ, bốn lữ đoàn biệt lập, và vô số các đơn vị yểm trợ phụ thuộc của Hoa Kỳ đang có mặt tại Việt Nam. (2) Đó là chưa kể các đơn vị của các quốc gia của thế giới tự do. Không có vũ khí, quân cụ, huấn luyện quân sự, hay bất cứ một tuyên truyền chính trị nào có thể thay vào khoảng trống nhân sự đang thiếu và trấn an được một tâm lý lo sợ sẽ bị bỏ rơi. Sau khi Hoa Kỳ rút quân, quân lực VNCH bị trải mỏng ra và bắt đầu thấy được những hậu quả của sự thiếu thốn đó.
Cuộc tấn công của địch quân vào năm 1972 cho thấy sự yếu kém của kế hoạch Việt Nam hóa một cách thảm thương. Nếu không có sự yểm trợ về không lực và không vận của Hoa Kỳ quân đội ta khó giữ nổi An Lộc, chận đứng cuộc tấn công của cộng quân vào Kontum, hay chiếm lại Quảng Trị. Sau cuộc tấn công năm 1972, những phần đất đã mất, chúng ta để mất luôn vì không còn khả năng đánh chiếm lại. Nói tóm lại, chúng ta giữ được cán cân quân sự đối với địch nếu có sự yểm trợ không lực của Hoa Kỳ. Và với không lực, VNCH có khả năng chống lại mọi cuộc tấn công của miền Bắc.
Nhưng một khúc quanh lịch sử xuất hiện, và khúc quanh đó đưa đến mọi thay đổi. Hiệp Định Ba Lê được trao vào tay chúng ta như một trát lệnh tử hình. Việt Nam Cộng Hòa bị dẫn vào một ngõ cụt từ đó. Không ngạc nhiên khi đối phương gọi bản hiệp định là một chiến thắng. Thật vậy, cộng sản đã thắng vòng đầu. Khi Hoa Kỳ đã rời khỏi Việt Nam, cộng quân sửa soạn cho một cuộc tấn công cuối. Họ không còn lo ngại gì nữa: không kích và yểm trợ của không quân Hoa Kỳ không còn nữa dù chỉ như một hăm dọa lấy lệ. Cán cân quân sự từ lâu được giữ quân bình một cách cẩn thận bằng không lực, từ nay nghiêng hẳn về phía địch.
Câu hỏi Hoa Kỳ có trở lại can thiệp hay không là sự quan tâm lớn nhất khi VNCH miễn cưỡng chấp nhận duyệt xét Hiệp Định Ba Lê. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã không làm khó dễ với Hoa Kỳ, khi ông đòi muốn Hoa Kỳ bảo đảm can thiệp nếu muốn VNCH ký hiệp định Ba Lê. Sự bảo đảm của Hoa Kỳ là vấn đề hệ trọng, gắn liền vào sự sống còn của một quốc gia. Hơn tất cả mọi người, tổng thống Thiệu nhận thấy nếu không có sự bảo đảm của Hoa Kỳ, VNCH không có cách nào chống lại cuộc tấn công qui mô của quân đội Bắc Việt với vũ khí tối tân, và quân cụ đầy đủ hơn. Chẳng những sự can thiệp của Hoa Kỳ là một cần thiết về vấn đề quân sự, lời hứa bảo đảm còn nâng cao tinh thần của quân đội VNCH. Viễn ảnh VNCH phải chiến đấu một mình không có sự trợ giúp và bảo vệ của Hoa Kỳ sau hiệp định là chuyện không thể suy tưởng được. Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa tin khi tổng thống Nixon thành khẩn hứa là Hoa Kỳ sẽ trả đũa mạnh nếu cộng sản vi phạm hiệp định Ba Lê. Việt Nam Cộng Hòa coi lời hứa của tổng thống Nixon là lời hứa của Hoa Kỳ, không nghĩ đến những chuyện khó khăn trong tương lai sẽ xẩy ra cho Nixon như vụ Watergate, hay quốc hội Hoa Kỳ tức giận về chuyện đó đến độ ngăn cản những vị tổng thống kế nhiệm thi hành lời hứa của Hoa Kỳ đối với VNCH dù lời hứa đã được chánh phủ tiền nhiệm đồng ý thoả thuận.
Đầu năm 1975 cộng quân đánh một ván bài để dò xét phản ứng của Hoa Kỳ: Họ chiếm tỉnh Phước Long, tiên đoán Hoa Kỳ sẽ không phản ứng gì. Cộng quân tiên liệu đúng và thắng canh bạc. Bây giờ họ biết chắc Hoa Kỳ sẽ đứng ngoài cuộc chiến, không bao giờ trở lại. Con đường xâm lăng của cộng sản vậy là không còn gì cản trở cho đến mục tiêu chiến thắng sau cùng. (3)
Nếu cái chết của VNCH bắt đầu bằng hiệp định Ba Lê, và sự im lặng của Hoa Kỳ là một dấu hiệu tốt để cộng sản tiếp tục kế hoạch tối hậu của họ, thì vấn đề giảm thiểu quân viện đã làm gia tăng tiến trình của hai sự kiện trên. Từ những bất lợi đó, chuyện VNCH sẽ sụp đổ là chuyện phải xảy ra. Quân lực VNCH đã quen chiến đấu với số lượng quân trang quân dụng nhất định, bây giờ khó hoạt động trong hoàn cảnh thiếu thốn như trong tài khóa năm 1975. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, khi cường độ chiến trường gia tăng mãnh liệt theo hoạt động của địch, quân đội Việt Nam rơi vào tình trạng yếu thế. Việt Nam Cộng Hòa mất đi sức mạnh hỏa lực và khả năng cơ động là hai ưu điểm chính yếu để giữ thăng bằng về chiến thuật đối với một đối phương lúc nào cũng nắm thế chủ động. Bây giờ quân đội VNCH chỉ còn một hy vọng duy nhất là cầm cự trong trong khi chờ đợi Hoa Kỳ tái định lại mức quân viện cần thiết như đã cung ứng trong quá khứ. Nhưng có một nghịch lý trong sự khó khăn khi ngành hành pháp đi xin ngân khoản tài trợ quân viện: tổng thống Hoa Kỳ phải van xin quốc hội về một ngân khoản đã được chấp thuận trước. Quốc hội Hoa Kỳ từ chối đề nghị về ngân quỹ của tài khóa 1975, vì ngôn ngữ trong bản cam kết gọi chi phí đó là ngân khoản phụ trội hoặc là ngân khoản cho thêm thay vì tên gọi đúng nghĩa của ngân khoản đó là ngân khoản cần thiết [chữ in nghiêng của tác giả].
Quân viện bị giảm bớt nặng không những gây ra hậu quả bi thảm ở chiến trường, sự cắt giảm còn làm các chiến lược gia miền Nam lo âu. Khả năng giữ được lãnh thổ gắn liền với mức viện trợ. Khi quân viện bị cắt giảm, nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ nguyên vẹn khó hoàn tất. Các chiến lược gia VNCH suy luận: phương cách tốt nhất là phòng thủ lãnh thổ theo khả năng quân viện cho phép. (4) Nói ra nghe đơn giản, nhưng chiến lược phòng thủ cách đó phản ảnh tình hình thực tại. Đầu năm 1975 khi tổng thống Thiệu tái bố trí các đơn vị theo hệ thống phòng thủ mới, quyết định của ông không phải không chín chắn hay không có lý do. Nhưng cũng chính quyết định nầy là một định mệnh, kéo theo những lầm lẫn tại hại khác. Và những lỗi lầm tích tụ, đem đến sự sụp đổ của miền Nam.
Nguyên nhân chính làm VNCH sụp đổ nhanh chóng là kế hoạch tái phối trí các đơn vị được thực hiện quá vội vàng và bất cẩn. Nhưng với một cuộc phối trí quan trọng và rộng lớn như vậy, dù cho kế hoạch được thực hiện cẩn thận như hoạch định, xác suất thành công cao lắm cũng chỉ được năm mươi phần trăm căn cứ trên khả năng truy kích của địch quân. Lịch sử quân sự cho ta nhiều thí dụ về những cuộc lui quân trở thành một cuộc tan hàng rối loạn. Đó là lý do tại sao tư lệnh mặt trận rất ngại khi phải áp dụng kế hoạch lui quân gấp rút. (5)
Trong bối cảnh của chiến tranh Việt Nam, chính trị và quân sự gắn liền nhau. Ở một cuộc chiến mà người dân cần sự bảo vệ của quân đội và quân đội chiến đấu vì dân. Khi soạn thảo kế hoạch rút quân, nếu không tiên liệu phản ứng của dân thì kế hoạch đó kể như thất bại. Quân đội VNCH không phải như quân đội viễn chinh, chiến đấu trên một lãnh thổ xa lạ. Khi rút lui hay di chuyển, nếu quân đội không bảo vệ hay di tản dân, thì đó là hành động vô trách nhiệm và thiếu bổn phận. Sự thất bại của cuộc tái phối trí quân đội ở Vùng I và II là bằng chứng cho thấy một sự thật thảm thương: dân và quân đội không thể nào rời nhau được; và sự di chuyển /di tản của quân đội có thể bị hạn chế bởi số dân đang tìm cách đi theo. Nguyên nhân sự sụp đổ của quân đội VNCH là những khó khăn đó.
Đó là những nguyên do giải thích sự tan rã nhanh chóng của một quân đội đã chiến đấu anh dũng cho đến khi bị tan rã vì những biến cố nằm ngoài khả năng kiềm chế của họ.

Chú thích Chương 1

1. Ở phần sau của quyển sách tác gỉa sẽ bàn về Chiến Lược Cô Lập, một lý thuyết ngăn chặn xâm lăng của cộng sản. (chú thích của tác giả).
2. Đại sứ Bunker và tư lệnh MACV Creighton Abrams lần đầu nói chuyện với tổng thống Thiệu về kế hoạch Việt Nam hóa ngày 17 tháng 1, 1969. Nhưng từ tháng 4, 1968, tổng thống Thiệu đã tuyên bố người Mỹ có thể rút quân dần trong tương lai. 11 tháng 4, 1968, tổng thống Johnson bổ nhiệm tướng Abrams thay tướng Westmoreland làm tư lệnh quân đội Hoa Kỳ ở Việt Nam. Gần cuối năm 1968, Johnson ra lệnh Abrams nghiên cứu kế hoạch Việt Nam hóa. Vào tháng 1, 1969, Hoa Kỳ có 359 ngàn quân Bộ Binh; 80 ngàn Thủy Quân Lục Chiến; 36 ngàn Hải Quân; và 58 ngàn Không Quân ở Việt Nam. Phía VNCH có tương đương 10 sư đoàn bộ binh (kể luôn sư đoàn Dù và sáu tiểu đoàn TQLC) và 16 thiết đoàn. Xem Shelby Stanton, The Rise and Fall of an American Army (Presidio: California, 1985), trang 284-285; Jeffrey J. Clarke, Advice and Support: The Final Years (U.S. Army Center of Military: Washington, D.C., 1988) trang 346-347; đô đốc Elmo R. Zumwalt, Jr., On Watch (Quadrangle: NY, 1976) trang 36, 46-47, 377-378; và Đoàn Thêm, 1968: Việc Từng Ngày, (Xuân Thu: California, 1989), trang 11, 129 (chú thích của dịch giả).
3. Về những áp lực từ phía Hoa Kỳ bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải thỏa thuận Hiệp Định Ba Lê 1973, đọc Larry Berman, No Peace, No Honor: Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam (The Free Press: NY, 2001); Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, The Palace File (Harper & Row: NY, 1986). Về vai trò của Alexander Haig như một người đưa tin giữa Nixon, Kissinger và tổng thống Thiệu, đọc Roger Morris, Haig: The General Progress (The Playboy Press: Chicago, 1982) (chú thích của dịch giả).
4. Vào khoảng tháng 1 năm 1974, Bộ Tổng Tham Mưu được phía Hoa Kỳ thông báo viện trợ quân sự trong tài khoá 74-75 bị cắt giảm 300 triệu mỹ kim. Tổng Cục Tiếp Vận phụ trách việc cung cấp quân trang, quân dụng, xe cộ, vũ khí và đạn dược cho toàn thể quân lực VNCH đã nghiên cứu một kế hoạch để đối phó với tình hình mới. Một cách tổng quát, kế hoạch nhận định là, chương trình quân viện bị cắt giảm chỉ có thể thỏa mãn một quân đội với số quân ít hơn; và số quân đó chỉ có khả năng phòng thủ một lãnh thổ tương xứng của VNCH mà thôi. Kế hoạch này rấy hợp lý trên thực tế. Nhưng tổng thống Thiệu, với tư cách Tổng Tư Lệnh Tối Cao Quân Lực VNCH, đã đề ra đường lối quốc gia "Bốn Không" (một trong những cái không đó là không cắt đất cho cộng sản). Thấy kế hoạch của Tổng Cục Tiếp Vận trái với quốc sách trên nên tác giả không chỉ thị trình lên tổng thống một cách chính thức. Trung tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Liên Quân kiêm Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận, được phép trình miệng kế hoạch trên cho tổng thống. Theo lời tướng Khuyên trình lại, sau khi nghe thuyết trình, tổng thống Thiệu không có chỉ thị gì thêm, và tổng thống cũng không có chỉ thị nào trực tiếp cho tác giả. Vì những lý do trên, kế hoạch bị bỏ qua một bên (chú thích của tác giả).
5. Chương Tan Hàng Rối Loạn ở Cao Nguyên sẽ nói thêm về phương cách nào có thể chiếm lại được Ban Mê Thuột (Chú thích của tác giả).

*
Chương 2:  Tình Hình Trước Hiệp Định Ba Lê
Sau cuộc tấn công của cộng sản vào tháng 4, năm 1972 (Mùa Hè Đỏ Lửa), quân đội VNCH được lệnh tái chiếm các phần đất đang nằm trong tay địch. Ở Quân Khu I, hành quân Lam Sơn 72 được khai diễn với sự tham dự của sư đoàn 1 Bộ Binh (SĐ1/BB); sư đoàn Nhảy Dù (SĐND); sư đoàn Thủy Quân Lục Chiến (TQLC); và các đơn vị phụ thuộc. (1) Đến ngày 15 tháng 9, 1972, quân ta đã chiếm lại thành phố Quảng Trị và phần lớn lãnh thổ của tỉnh. Một hành lang phòng thủ được thiếp lập song song với sông Thạch Hãn, chạy dài ra bờ biển. Cộng quân chống trả rất mãnh liệt ở Quảng Trị, và có lúc mở nhiều cuộc phản công không thành ở phía nam Q/Khu I.
Ở Quân Khu II, nhiều cuộc hành quân được tổ chức nhằm giải tỏa áp lực địch ở Kontum, Pleiku, tái chiếm thung lũng An Lão ở Bình Định, giải tỏa các quốc lộ 19, 21, và đoạn đường Pleiku-Kontum trên quốc lộ 14. Để thực hiện nhiệm vụ đó, quân đoàn II được bổ sung thêm hai liên đoàn Biệt Động Quân (BĐQ), có cấp số tương đương hai trung đoàn. Hai liên đoàn này được tổ chức lại và đến từ Quân Khu IV (quân khu và quân đoàn giống nhau trong ý nghĩa quân sự; quân đoàn I phụ trách an ninh cho quân khu I; quân đoàn II cho quân khu II, v. v. . .)
Ở Quân Khu III, lực lượng chúng ta thành công giải tỏa An Lộc và vùng phụ cận. Tuy nhiên khoảng đường từ Lai Khê lên An Lộc trên quốc lộ 13 vẫn còn bị phong tỏa.
Trong khi đó, tình hình ở Quân Khu IV nằm dưới sự kiểm soát chặt chẽ của quân đội VNCH. Tất cả các cuộc đụng độ giữa ta và địch đều xảy ra trên đất Cam Bốt. Tuy nhiên một số xã ấp ở Chương Thiện vẫn còn bị cộng quân chiếm.
Tình hình quân sự trong nửa năm còn lại của năm 1972, nói một cách tổng quát, ta và địch ngang nhau trên chiến trường. Trong khi đó kế hoạch rút quân của Hoa Kỳ đang tiếp tục diễn ra. Đến năm 1973, địch có phần mạnh hơn vì chúng ta không còn được yểm trợ về không lực của Không và Hải Quân Hoa Kỳ.
Về phương diện chính trị, để đối đầu với tình trạng khẩn trương của năm 1972, chính quyền trung ương VNCH áp dụng một số biện pháp mạnh. Thiết quân luật được ban hành toàn quốc; giới hạn và gia tăng điều kiện miễn dịch đối với thanh niên trong lứa tuổi động viên. Ban hành sắc luật cấm nam công dân trong khoảng tuổi 17-43 du hành ra nước ngoài. Cùng lúc quốc hội ủy nhiệm tổng thống được toàn quyền quyết định về vấn đề kinh tế và quốc phòng trong thời gian từ tháng 7 cho đến tháng 12 năm 1972. Luật báo chí mới được áp dụng để chính phủ có thể kiểm soát các cơ quan ngôn luận hữu hiệu hơn. Cuộc bầu cử xã ấp của năm 1972 bị hủy bỏ. Thay vào đó các tỉnh trưởng được lệnh cải tổ lại cơ sở địa phương và chỉ định các trưởng ấp và xã trưởng trong vòng hai tháng.

Những Thương Thuyết Đầu Tiên
Trên quan điểm quân sự, cộng sản thất bại nặng nề trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân năm 1968. Nhưng về quan điểm chính trị và ảnh hưởng đối với tâm lý quần chúng, cuộc tấn công Tết Mậu Thân đem lại cho cộng sản ưu điểm. Thắng hay bại, qua trận Tết Mậu Thân, quần chúng Mỹ thất vọng về cuộc chiến ở Việt Nam. Khi đại tướng Westmoreland xin tiếp viện thêm hai trăm ngàn quân cho chiến trường, giới quan sát đi đến nhận xét là cuộc chiến Việt Nam khó giải quyết đơn thuần bằng vấn đề quân sự. Ngày 31 tháng 3, 1968, tổng thống Johnson tạm ngưng oanh tạc từ vĩ tuyến 20 trở lên, và đề nghị một giải pháp hòa bình. Cùng ngày, tổng thống Johnson tuyên bố ông không ra tái tranh cử cho nhiệm kỳ tổng thống sắp đến. Một tháng sau Bắc Việt đồng ý thương nghị hòa đàm, với cuộc họp đầu tiên vào ngày 10 tháng 5, 1968, giữa W. Averell Harriman và Xuân Thủy. (2) Lần nói chuyện đó không đi đến đâu. Để thúc đẩy Bắc Việt thật sự thương lượng và chứng tỏ thiện chí của Hoa Kỳ, tổng thống Johnson vào ngày 31/10, ra lệnh ngưng dội bom trên toàn lãnh thổ Bắc Việt. Nhiều cuộc hội đàm được diễn ra sau đó, nhưng không có một kết quả nào đáng kể sau một năm dài thương nghị.
Cũng trong tiến trình tìm giải pháp hòa bình cho Việt Nam, ngày 7 tháng 4, 1969, chính phủ VNCH đề nghị một giải pháp sáu điểm:
1. Cộng sản phải rút hết quân khỏi miền Nam.
2. Ngưng xử dụng căn cứ ở Lào và Cam Bốt.
3. Chủ trương hòa hợp và đại đoàn kết dân tộc.
4. Sự thống nhất đất nước sẽ được thực hiện trong tinh thần hòa hợp.
5. Cần sự quốc tế kiểm soát để bảo đảm cộng sản sẽ không xâm lấn trong tương lai.
 6. Ân xá cho các phần tử cộng sản ở miền Nam nếu họ tuyên thệ từ bỏ bạo động và tuân theo luật pháp. (3)
Một tháng sau, ngày 8 tháng 5, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đề nghị ngược lại một lập trường 10 điểm, nhằm chấm dứt chiến tranh:
1. Tôn trọng chủ quyền quốc gia của Việt Nam theo tinh thần hiệp định Geneva.
2. Hoa Kỳ và quân đội Đồng Minh phải tháo gỡ quân cụ, vũ khí, và rút khỏi miền Nam vô điều kiện.
3. Vấn đề có mặt của các lược lượng quân sự ở miền Nam sẽ do người Việt Nam tự giải quyết lấy.
4. Thiết lập một cuộc bầu cử trong tinh thần tự do dân chủ để lập một quốc hội lập hiến và một chính phủ liên hiệp.
5. Trong thời gian chờ cuộc bầu cử tổ chức, không phía nào được ép người dân theo chế độ của mình.
6. Miền Nam sẽ theo một chính sách đối ngoại trung lập và hòa bình.
7. Sự thống nhất đất nước sẽ theo những giai đoạn hòa giải, không có sự can thiệp của ngoại quốc.
8. Hai bên sẽ tránh liên kết về quân sự với nước ngoài trong khi chờ đợi sự thống nhất.
9. Vấn đề trao trả tù binh sẽ được hai bên giải quyết.
10. Quốc tế sẽ kiểm soát Hoa Kỳ và Đồng Minh rút quân khỏi Việt Nam.
Hai giải pháp có nhiều dị biệt. Những điểm chánh là (1) VNCH nhấn mạnh điểm cộng sản phải rút quân khỏi miền Nam, trong khi cộng sản đòi Hoa Kỳ và Đồng Minh rời Việt Nam vô điều kiện; (2) VNCH đề nghị một chương trình hòa giải dân tộc, cộng sản thì muốn một hiến pháp mới và một chánh phủ liên hiệp (một chính phủ bất lợi cho VNCH); (3) Hai bên đều muốn có sự kiểm soát của quốc tế. Nhưng cộng sản muốn quốc tế kiểm soát Hoa Kỳ và Đồng Minh rút quân, VNCH muốn sự hiện diện của quốc tế như một bảo đảm cộng sản sẽ không tiếp tục gây hấn. Sự dị biệt giữa hai giải pháp hòa bình làm cho cuộc hội ngưng trệ đến những tháng đầu năm 1970. Để thể hiện thêm thiện chí trong cuộc hòa đàm, Hoa Kỳ tuyên bố sẽ sẽ rút 25 ngàn quân khỏi Việt Nam cuối tháng 8, 1970, và sẽ thực hiện kế hoạch Việt Nam hóa ngay. (4) Cộng sản trả đũa lập tức, tuyên bố sự thành hình của một Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời từ ngày 10 tháng 6, 1969.
Trong khi cuộc hội đàm kéo dài và không đi đến đâu, ở Mỹ, sinh viên và hội đoàn tổ chức nhiều cuộc biểu tình phản đối chiến tranh vào những tháng cuối của năm 1969. Trong khi đó, đối diện với những gia tăng hoạt động quân sự của cộng sản, Hoa kỳ và VNCH mở một cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt vào ngày 29 tháng 4, 1970. Từ trước đến giờ, các căn cứ của cộng sản nằm trên đất Cam Bốt được coi là bất khả xâm phạm. Trong cuộc hành quân này, vô số vũ khí, quân trang và quân dụng của cộng sản bị tịch thu hay phá hủy. Tuy cộng sản đang ra mặt thương lượng, nhưng họ tiếp tục xâm nhập người và vũ khí vào Nam.
Vào ngày 8 tháng 2, 1971, quân đội VNCH mở cuộc tấn công vào Hạ Lào với mục đích phá hủy các căn cứ hậu cần và binh trạm của cộng sản thiết lập dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh. Cuộc tấn công qua Hạ Lào chỉ thành công một phần, vì thời tiết bất lợi và khả năng không vận bị giới hạn. Trong khi đó, ở bàn hội nghị, cộng sản vẫn không chịu nhân nhượng với đề nghị của họ. Đại sứ David K.E. Bruce, trưởng đoàn hòa đàm, tuyên bố là trong hai năm qua cộng sản chỉ dùng bàn hội nghị để tuyên truyền chứ không thật sự muốn tìm một giải pháp hòa bình. Đại sứ Phạm Đăng Lâm phiá VNCH cũng báo cáo về Saigon tương tự.
Quân đội Hoa Kỳ tiếp tục rời Việt Nam theo chương trình giảm quân trong kế hoạch Việt Nam hóa như đã định. Bộ Tổng Tham Mưu (BTTM) và Bộ Tư Lệnh Quân Viện Hoa Kỳ (MACV) hợp tác chặt chẽ để đạt được mục tiêu chính trị của kế hoạch. Trong năm 1971, cộng quân tiếp tục pháo kích vào thành phố và tấn công qua khu phi quân sự. Để trả đũa, Hoa Kỳ oanh kích trở lại các mục tiêu quân sự ở miền Bắc. Nhưng chiến dịch dội bom không làm cuộc hòa đàm ở Ba Lê tiến triển thêm. Cuộc dội bom của Hoa Kỳ cũng không ngăn được Bắc Việt xâm nhập và tích tụ nhiều lực lượng mạnh để chuẩn bị một cuộc tấn công qui mô bắt đầu vào ngày 30 tháng 3, 1972. (5) Một tháng sau, cuộc hòa đàm ở Ba Lê được đình hoãn.
Cuộc hòa đàm "cởi mở" ở Ba Lê là như vậy. Tình trạng chúng ta đối diện ở Ba Lê giống như cuộc hòa đàm giữa Hoa Kỳ và Bắc Hàn gần hai mươi năm về trước. Trong hai hội nghị, cộng sản dùng giống một chiến thuật "vừa đánh vừa đàm" để đạt được mục tiêu tương tự. Cho đến lúc Henry Kissinger, cố vấn an ninh quốc gia của tổng thống Nixon, trực tiếp tham dự thương thuyết bằng nhiều cuộc gặp gỡ bí mật với phía bên kia thì cuộc hòa đàm mới chuyển hướng. Đối với Kissinger, cuộc chiến Việt Nam đã kéo dài quá lâu. Hai bên không thể nào chấp nhận những quan điểm khác biệt để có thể cùng bỏ súng và tin tưởng nhau, để đi đến một sự hòa hợp. Mỗi bên đều nghi ngờ đối phuơng luôn giấu một lá bài tẩy trong tay và sẽ xử dụng để lừa bên kia. Kissinger suy luận, cách duy nhất để gây được lòng tin với nhau là những liên lạc riêng. Kissinger là người thấy được giá trị của kẻ trung gian trong các cuộc thương nghị. Tuy không phải là một chuyên viên về vấn đề Đông Nam Á lúc bấy giờ, nhưng Kissinger đã từng được TT Johnson ủy nhiệm việc liên lạc bí mật đầu tiên với đại diện ngoại giao của Bắc Việt là Mai Văn Bộ qua trung gian của hai người Pháp mà Kissinger quen biết. (6)
Khi Nixon trở thành tổng thống, Kissinger, nay đã thành cố vấn an ninh quốc gia, thuyết phục Nixon cho ông ta tiếp tục đường lối ngoại giao bí mật. Được sự ưng thuận của Nixon, Kissinger và Xuân Thủy gặp nhau lần đầu tiên vào tháng 8, 1969, ở tư gia của Jean Sainteny ở Ba Lê. Sau đó, từ tháng 2 cho đến tháng 4, 1970, Kissinger và Lê Đức Thọ bí mật gặp nhau bốn lần, nhưng không đem lại một tiến triển nào. (7) Trong lần nói chuyện vào tháng 9, 1970, Kissinger đề nghị Hoa Kỳ không còn đòi hỏi một cuộc rút quân song phương. Thay vào đó, Kissinger đề nghị một giải pháp đình chiến tại chỗ. Phiá cộng sản thì muốn Hoa Kỳ ngưng trợ giúp VNCH và thay chánh phủ đó bằng một chánh phủ liên hiệp như những điều kiện tiên quyết cho giải pháp hòa bình. Nói như vậy là Hoa Kỳ phải đứng vào vị trí bảo đảm cho những hoạt động của cộng sản ở miền Nam được tiếp tục để được rút quân ra khỏi cuộc chiến trong danh dự. Hoa Kỳ đã nhân nhượng nhiều trong những lần thương nghị, nhưng đối với nhiều đòi hỏi vô lý của Bắc Việt, cuộc nói chuyện bí mật giữa hai bên bị bế tắc.
Sau hai trận hành quân đánh qua Cam Bốt và Hạ Lào, Hoa Kỳ tiếp tục nhượng bộ cộng sản với một đề nghị mới gồm hai điểm: (1) Hoa Kỳ sẽ rút quân sáu tháng sau ngày hai bên đồng ý đi đến một thỏa hiệp. (2) Tổng thống thống Thiệu sẽ từ chức một tháng trước ngày có cuộc tổng tuyển cử. Bắc Việt từ chối đề nghị đó trong lần nói chuyện vào ngày 3 tháng 5, 1971. Trong năm lần gặp tiếp theo vào tháng 6, 7 và 8, tất cả các đề nghị mới của Hoa Kỳ đều bị từ chối, dù Hoa Kỳ cố gắng thay đổi theo ý muốn của cộng sản. Đến lần nói chuyện vào tháng 9 thì Hoa Kỳ mới hiểu ý định thật sự của cộng sản: Họ muốn Hoa Kỳ trao miền Nam cho họ trước khi Hoa Kỳ rút quân. Phải cần đến ba năm dài thương lượng Hoa Kỳ mới thấy được ý đồ của cộng sản! Cũng trong lần nói chuyện đó, cộng sản nhận thấy Hoa Kỳ muốn cố gắng tìm một giải pháp để chấm dứt chiến tranh, chứ không chỉ tìm một hiệp định chấm dứt chiến tranh như một che đậy cho sự đầu hàng. (8)
Ngày 20 tháng 3 năm 1972 Hoa Kỳ đề nghị hai bên tiếp tục thương thuyết lại. Bắc Việt đồng ý, nhưng sau đó xin đình hoãn đến ngày 15 tháng 4. Hoa Kỳ lại đề nghị ngày họp mới là 24 tháng 4. Chưa nhận được trả lời từ phía cộng sản thì ngày 31 tháng 3, 1972, cộng sản tấn công qui mô trên toàn lãnh thổ VNCH. Theo tôi nghĩ, qua sự che giấu khéo léo, cộng sản đã giữ được bí mật ngày giờ của cuộc tấn công, dù họ đã hoạch định và chuẩn bị cuộc tấn công ngay sau lần nói chuyện cuối cùng của năm 1971.
Tình hình quân sự ở miền Nam vào tháng 4 năm 1972 nguy ngập đến độ Hoa Kỳ lo sợ VNCH có thể thất thủ. Ngày 2 tháng 5, Lê Đức Thọ và Kissinger trở lại bàn hội nghị. Đối diện với những diễn tiến quân sự không được khả quan ở miền Nam, Hoa Kỳ đề nghị nếu Bắc Việt ngưng tấn công, đình chiến, và trao trả tù binh, Hoa Kỳ sẽ rút quân trong vòng bốn tháng. Lê Đức Thọ lập tức bác bỏ đề nghị đó, và quyết liệt muốn Hoa Kỳ thay chính phủ VNCH bằng một chính phủ liên hiệp. Với những đỏi hỏi vô lý như vậy, Hoa Kỳ cho Bắc Việt biết đề nghị của họ không thể nào được chấp nhận. Sau đó Hoa Kỳ gia tăng cường độ oanh tạc miền Bắc và phong tỏa hải cảng Hải Phòng và các thủy đạo quan trọng của Bắc Việt. Qua sự can thiệp của Nga và Trung Cộng, hai bên trở lại thương lượng với nhau vào những ngày 1, 14, và 19 tháng 8, 1972. Trong những lần hội đàm đó, tuy cộng sản vẫn muốn thấy Hoa Kỳ ép tổng thống Thiệu từ chức trước khi nói đến chuyện ngưng bắn, thái độ của họ trở nên hòa hoãn hơn. Họ công nhận Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội và một thực thể chính trị thứ ba: Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời của cộng sản ở miền Nam được coi như ngang hàng chính phủ VNCH.

Sửa Soạn Ngưng Bắn
Tiến sĩ Kissinger đến Saigon gặp tổng thống Thiệu ngày 16 tháng 8, 1972. Kissinger nói cho tổng thống Thiệu về những áp lực chính trị ở nội địa Hoa Kỳ, và những áp lực này có thể ảnh hưởng đến cuộc bầu củ tổng thống như thế nào. Kissinger đồng thời lập lại sự cương quyết của tổng thống Nixon đi tìm một giải pháp hòa bình cho chiến tranh Việt Nam. Ngày 11 tháng 9, 1972, Kissinger và Lê Đức Thọ gặp lại ở Ba Lê. Nhưng trong cuộc họp lần này tất cả sự thỏa thuận đã có từ những lần trước được viết ra thành văn kiện. Sự thỏa thuận, nói một cách tổng quát là: Vì Việt Nam có hai chính phủ, hai quân đội, và nhiều lực lượng chính trị khác, nên nếu đi đến một chính phủ hòa hợp hòa giải thì điều này phải được thực hiện bằng một giải pháp hoà bình, và hai bên tránh tìm cách triệt hạ nhau. VNCH sẽ không bị cưỡng ép theo một chế độ thân cộng hay thân Mỹ. Như vậy, lần đầu tiên trong cuộc hòa đàm, cộng sản bỏ ý định yêu cầu Hoa Kỳ thay thế chính phủ VNCH bằng một chính phủ thân cộng. (9)
Lần gặp vào ngày 26 tháng 9, Bắc Việt thêm vào bản thỏa hiệp một Hội Đồng Hòa Hợp Hòa Giải Quốc Gia. Với nhiều tiến triển khả quan xảy ra cho cuộc hòa đàm, mọi người hy vọng hòa bình sẽ được thực hiện trong những ngày sắp đến. Ngày 8 tháng 10, 1972, Kissinger trở lại thương lượng tiếp. Đó là lần thứ 19 Kissinger băng qua Đại Tây Dương để hội đàm với Lê Đức Thọ. Bắc Việt và Hoa Kỳ thỏa thuận với nhau qua một bản dự thảo bằnh Anh ngữ, trong đó Bắc Việt đồng ý coi vấn đề chính trị và quân sự là hai vấn đề khác nhau và phải được giải quyết riêng rẽ; Hai bên đồng ý ngưng bắn tại chỗ; Và vấn đề chính trị của miền Nam sẽ được giải quyết bởi hai miền. Như vậy, bản dự thảo kết thúc một cuộc đối thoại dài mấy năm trời của hai người điếc. (10) Tuy nhiên bản dự thảo còn nhiều chi tiết cần được bổ túc thêm. Sơ thảo của bản hiệp định giữa Kissinger và Lê Đức Thọ bao gồm chín điểm:
1. Hoa Kỳ tôn trọng chủ quyền, lãnh thổ và độc lập của Việt Nam.
2. Cuộc ngưng bắn sẽ được thực hiện hai mươi bốn giờ sau khi hiệp định có hiệu lực. Quân đội Hoa Kỳ sẽ rút khỏi miền Nam trong vòng 60 ngày.
3. Tất cả tù binh sẽ được trao trả trong vòng 60 ngày.
4. Thành lập một cơ cấu hành chánh gọi là Hội Đồng Hòa Hội hợp Hòa Giải Quốc Gia, gồm ba thành phần, để tổ chức cuộc bầu cử.
5. Sự thống nhất VN sẽ được thực hiện từng phần qua phương cách hòa hợp.
6. Một Ủy Ban Kiểm Soát và Giám Sát Quốc Tế sẽ được thiết lập.
7. Tổ chức một hội nghị quốc tế trong vòng 30 ngày để bảo đảm hòa bình ở Việt Nam.
8. Tất cả các lực lượng hứa sẽ tôn trọng độc lập, chủ quyền và lãnh thổ của Lào và Cam Bốt.
9. Hoa Kỳ sẽ góp phần vào công cuộc tái thiết hậu chiến ở miền Bắc và Đông Dương.
Được sự khuyến khích của tổng thống Nixon, Kissinger gặp lại Lê Đức Thọ hai ngày 9 và 10 tháng 10, mỗi ngày 16 tiếng để tiếp tục thương lượng. Một số dị biệt của hai phía được giải quyết, và cả hai đi đến một thời khoá biểu thực thi hiệp định: Hoa Kỳ ngừng oanh tạc và ngừng thả mìn phong tỏa Bắc Việt vào ngày 18; Sau khi được tổng thống Thiệu chấp nhận, Hoa Kỳ và Bắc Việt sẽ ký bản thỏa hiệp ngày hôm sau, 19 tháng 10, 1972.
Bản hiệp định chính thức sẽ được bốn bên, VNCH, Bắc Việt, Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời, và Hoa Kỳ, ký tại Ba Lê vào ngày 26/10/1972. Và cuộc ngưng bắn sẽ được thi hành vào ngày, 27/10.
Mọi việc tiến triển tốt đẹp. Hai bên muốn thấy cuộc ngưng bắn xảy ra trước ngày bầu cử tổng thống Hoa Kỳ. Bắc Việt sốt sắng hơn, vì họ nghĩ tổng thống Nixon sẽ không nhân nhượng nhiều sau khi được tái đắc cử. Tin tức của cuộc mật đàm giữa Lê Đức Thọ và Kissinger được chuyển đến đại diện của VNCH theo thường lệ. Tuy nhiên đại diện VNCH không biết gì về nội dung của bản hiệp định đang được trao đổi qua lại giữa Hoa Kỳ và Bắc Việt, hay là thời khóa biểu thực thi hiệp định đó. Tiến sĩ Kissinger tin tưởng ông có thể thuyết phục chính phủ VNCH chấp nhận hiệp định ông thương lượng với Bắc Việt. Nhưng một bất ngờ xảy ra làm đình hoãn lịch trình của bản hiệp định: Ngày 11 tháng 10, toà đại sứ Pháp ở Hà Nội bị thiệt hại trong cuộc dội bom của Hoa Kỳ. Đại sứ Pháp, Pierre Susini bị thương nặng. Khi Lê Đức Thọ phản đối với Kissinger, Hoa Kỳ đã ngừng oanh tạc. (11) Hai bên soạn lại một thời khóa biểu mới: Ngày 21 ngừng dội bom; ngày 22 ký bản hiệp định sơ thảo tại Hà Nội; và ngày 30/10 là ngày chánh thức ký bản hiệp định tại Ba Lê.

Chú Thích Chương 2
1. Lần đầu tiên trong cuộc chiến, Bộ Tổng Tham Mưu không còn quân tổng trừ bị khi hai sư đoàn Dù và TQLC hành quân ở Vùng I. Tình trạng trên được cải thiện sau 1972 (Xem tiểu mục tổ chức quân lực VNCH ở Chương 4) (chú thích của tác giả).
2. Theo Larry Berman trong No Peace, No Honor, trang 23, phái đoàn Hoa Kỳ và VNCH đến Paris ngày 9 tháng 5, và nói chuyện với Bắc Việt lần đầu vào ngày 13 tháng 5, 1968 (chú thích của dịch giả).
3. Cùng ngày, tổng thống Thiệu đọc một diễn văn trước quốc hội nói đến lập trường sáu điểm này. Đọc Đoàn Thêm, 1969: Việc Từng Ngày, trang 119.
4. Trên thực tế Hoa Kỳ đã bắt đầu giảm thiểu số quân có mặt tại Việt Nam từ tháng 7, 1969. Khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8, 1969, Hoa Kỳ "tái phối trí" 25 ngàn quân. Xem Jeffrey Clarke, Advice and Support: the Final Years, Phụ Bản C, trang 524 (chú thích của dịch giả).
5. Bộ tư lệnh MACV biết điểm tụ quân và kế hoạch tấn công của Bắc Việt từ tháng 1, 1972. Đại tướng Abrams và Tổng Tham Mưu Trưởng Liên Quân, Đô đốc Thomas Moore, xin lệnh của Nixon và Henrry Kissinger dùng B-52 phá hủy các điểm tập trung quân và xe tăng của địch, nhưng bị từ chối ba lần. Nixon và Kissinger muốn cho Bắc Việt tấn công trước rồi mới phản ứng. Đọc Lewis Sorley, A Better War: The Unexamined Victories and Final Tragedy of America's Last Years in Vietnam (Harvest Books: New York, 1999), trang 307-321; Dale Andradé, Trial by Fire: The 1972 Easter Offensive, America's Last Vietnam Battle (Hippocrene Books: New York, 1995) trang 24-30; Philip B. Davison, Vietnam at War: The History 1946-1975 (Oxford University Press: Oxford, 1988) trang 669; Ngô Quang Trưởng, The Easter Offensive of 1972 (Center of Military: Washington, D.C., 1980), trang 9-14. Hai tác giả Lewis Sorley và trung tướng Philip Davison là sĩ quan tình báo cao cấp của CIA và MACV (chú thích của dịch giả).
6. Tác giả Cao Văn Viên muốn nói đến hai trung gian người Pháp tên Hertbert Marcovich và Raymond Aubrac, mà Kissinger nhờ đi Hà Nội để nhắn đề nghị của tổng thống Johnson với Hồ Chí Minh vào cuối tháng 7, 1967. Marcovich là bạn của Kissinger, Aubrac là bạn của Marcovich; Aubrac quen thân với Hồ Chí Minh từ năm 1946. Kissinger liên lạc với Aubrac qua Marcovich. Sau lần liên lạc ở Hà Nội, tất cả các liên lạc về sau xảy ra ở Ba Lê giữa Mai Văn Bộ và Aubrac. Xem David Kraslow và Stuart H. Loory, The Secret Search for Peace in Vietnam (Vintage Books: New York 1968), trang 219-224. Cộng sản Việt Nam viết về những hội họp bí mật này trong, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Tiếp Xúc Bí Mật Việt Nam-Hoa Kỳ Trước Hội Nghị Paris (Hà Nội: Quân Đội Nhân Dân, 2000) (chú thích của dịch giả).
7. Tất cả chi tiết về những lần nói chuyện bí mật giữa Henry A. Kissinger và Lê Đức Thọ được trích theo quyển Kissinger (Boston-Toronto: Little, Brown and Co., 1974) của Bernard Kalb và Marvin Kalb (ghi chú của tác giả).
8. Kissinger, tr. 183-184 (ghi chú tác giả).
9. Trong lần mật đàm ngày 12 tháng 7, 1971, Lê Đức Thọ nằn nỉ Hoa Kỳ phải thay chính phủ Nguyễn Văn Thiệu bằng một chính phủ khác trong kỳ bầu cử tháng 10 năm 1971. Có lúc Lê Đức Thọ nhắn với Kissinger là "...có nhiều cách để thay Thiệu nếu quí ông muốn hạ bệ hắn [Thiệu]." Kissinger hiểu Lê Đức Thọ muốn nói đến chuyện ám sát. Xem Larry Berman, sách đã dẫn, trang 106-109; Trong The Palace File của Nguyễn Tiến Hưng và Jerrol L. Schecter, trang 80-81 cũng có bàn đến chuyện ám sát đó (chú thích của dịch giả).
10. Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 354 (chú thích của tác giả).
11. Marvin Kalb và Bernard Kalb, sách đã dẫn, trang 359, 361 (chú thích của tác giả).

Friday, April 24, 2020

NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ MIỀN NAM SAU CUỘC CHIẾN - Trần Hoàng Yến

Ba tôi là một sĩ quan truyền tin của quân đội VNCH. Gia đình tôi sống trong Bộ Tổng Tham Mưu, gần sát phi trường Tân Sơn Nhất. Vì sống trong trung tâm của Bộ Tổng Tham mưu nên ba tôi nói rất nguy hiểm và ba đã xây một cái hầm cho mẹ con tôi trốn đạn. Mẹ nói ba làm rất cực để giữ an toàn cho gia đình. Ba vì công việc nên đi hoài, mẹ ở nhà mỗi khi nghe đạn pháo nổ dắt chúng tôi chạy xuống hầm trốn đạn. Và ngày ấy đạn pháo bay như mưa, tôi còn nhớ cứ lâu lâu nghe tiếng súng bắn và nghe người ta la "chết rồi, máy bay cháy", hoặc "chết rồi, nổ rồi, cháy ..cháy" và trên radio thì cứ nghe bài hát "một cánh tay đưa lên, hàng ngàn cánh tay đưa lên quyết đấu tranh…. ".
Rồi miền Nam thất thủ rơi vào tay giặc.
Gia đình tôi phải dọn ra khỏi trại lính. Ba tôi cũng như những người Sĩ Quan khác bị bắt ra trình diện, họ nói ba tôi chỉ cần ra học tập cải tạo 3 ngày rồi sẽ được về. Khi ba tôi ra trình diện họ bắt nhốt luôn trong tù.
Mẹ tôi ở nhà người ta tới nói gia đình tôi nếu đi Kinh Tế Mới (KTM) thì ba tôi sẽ được khoan hồng. Họ đã gạt mẹ tôi, dẫn mẹ tôi đi coi miếng đất ở Kinh tế mới và chỉ miếng đất ngon có cây trái xum xuê, nào ngờ khi về đó họ đưa cho mẹ tôi miếng đất phèn, cỏ tranh, lau sậy mọc đầy, cao qua khỏi đầu, một nơi chưa có người ở. Mẹ tôi phải mướn người làm sạch và cất lên cho gia đình tôi 1 cái nhà.
 
KINH TẾ MỚI
Rồi mẹ con dắt díu nhau về KTM nhưng vì đông con nên mẹ gửi tôi, đứa em gái và người anh ở lại Sài Gòn cho ông ngoại và bà cô nuôi.
Một năm sau mẹ lên đón hai chị em tôi về còn anh tôi ở lại Sài Gòn với bà cô. Gia đình tôi là gia đình đầu tiên về KTM, chị em tôi không đi học vì không có trường.
Tôi còn nhớ chính quyền ở KTM kỳ thị gia đình tôi, họ không kêu tên mẹ tôi mà hay nói móc gọi mẹ tôi là bà "Đại Úy ngụy". Và họ nói "Không bán Gạo cho Bà Đại Úy ngụy!". Dạo ấy tôi không hiểu, sau này lớn lên tôi mới hiểu vì sao, vì ba tôi là sĩ quan của chế độ cũ.
Vào thời bao cấp nạn đói tràn lan mấy mẹ con tôi phải ăn khoai mì thay cơm! Mẹ tôi nuôi gà, vịt, trồng trọt đủ thứ, nhưng vì miếng đất nhà tôi ở là miếng đất phèn nên cây trái trồng không đơm bông kết trái như ý mẹ mong muốn.
Bỏ quá nhiều tiền để mướn người trồng cây nhưng không thu lại được kết quả, mẹ tôi đành phải bỏ bầy con ở nhà, mỗi ngày lên tỉnh mua bán để kiếm tiền đem về nuôi chị em tôi. Có những hôm mẹ tôi đi bán tối về không còn xe nên phải lội bộ gần 5 km cây số, khi mẹ về được tới nhà thì trời đã gần sáng.
Mẹ tôi đi sớm lúc chúng tôi còn ngủ và khi mẹ về khuya thì chị em tôi đã ngủ nên chúng tôi rất ít thấy mặt mẹ. Tám chị em tôi ở nhà một mình, tự nấu ăn và đứa lớn trông chừng đứa nhỏ, lúc ấy chị lớn nhất của tôi mới 11 tuổi.
Hai chị lớn của tôi ở nhà trông em, còn tôi thỉnh thoảng phải theo mẹ đi bán, 3-4 giờ sáng tôi dậy đi với mẹ, phải lội bộ xa lắm mới ra được đầu đường để đón xe. Ngày ấy mẹ đốt đuốc đi trước, tôi mắt nhắm mắt mở lẽo đẽo theo sau, và thỉnh thoảng mẹ la to coi chừng rắn, tôi nhìn xuống thấy những con rắn mập, bự nằm cuộn tròn phơi sương. Cứ đi một đoạn thì thấy một con rắn, tôi nghĩ nếu bó đuốc của mẹ tắt thì tôi sẽ đạp trúng những con rắn này, vì sợ quá làm tôi tỉnh ngủ luôn. Ký ức này ám ảnh theo tôi hoài có lẽ vì vậy tôi không thích sống ở làng quê.
KTM chỗ chúng tôi ở là vùng đất hoang, chưa có nhiều nhà ở, xa xa khoảng 500m mới có 1 căn nhà. Vì đang ở Sài Gòn mà bỗng dưng bị bắt về một vùng quê hẻo lánh ít có bóng người, tối thì đốt đèn dầu, ngủ nghe tiếng cóc nhái kêu làm tôi cảm thấy rùng rợn, tối nào ngủ tôi cũng chui vào giữa mấy chị nằm cho chắc ăn và an toàn.
Rồi một ngày em tôi bị “ma giấu” (1 hiện tượng có thật cho em tôi, mà tôi khó cắt nghĩa theo khoa học) mẹ tôi sợ quá không còn muốn ở lại KTM và mẹ quyết định bỏ nhà để lên thành phố sống. Chính quyền địa phương tức giận mẹ tôi nói "ma quỷ" là "Mỹ qua" và họ không cấp hộ khẩu cho gia đình chúng tôi. Tôi còn nhớ mẹ tôi lúc đó cũng phải trốn đi từ từ, không dám công khai dẫn chúng tôi đi cùng một lúc mà mẹ chia ra ba đợt để Chính quyền đừng nghi và không bị họ làm khó dễ. 
 
VỀ THÀNH PHỐ
Lên thành phố mẹ tôi chạy chọt khắp nơi, cuối cùng cũng xin được hộ khẩu và chị em tôi được đi học lại.
Rồi mẹ tôi quyết định buôn thuốc Tây, vì buôn bán thường thì không đủ nuôi 9-10 miệng ăn. Thời gian đó thuốc Tây là hàng quốc cấm, chỉ có hợp tác xã mới được bán. Vì vậy, những tiệm thuốc tây tư nhân phải đóng cửa, họ còn hàng nên giấu, lòn bán ra bên ngoài cho những con buôn. Mẹ tôi mua đi và bán lại.
Có những ngày tôi theo mẹ lên Sài Gòn lấy thuốc, tôi phải ngồi ngoài chợ giữ giỏ thuốc cho mẹ, nếu lỡ có bị Công an bắt thì hàng không bị mất hết. Mẹ đi gom thuốc, 2-3 tiếng mẹ đem lại bỏ giỏ cho tôi giữ rồi lại đi tiếp, cứ thế tôi phải ngồi đó một mình cả ngày để đợi mẹ nhiều lúc tôi giận mẹ lắm vì mẹ bỏ tôi ngồi một mình cả ngày ngoài chợ. Giờ nhớ lại tôi thấy cũng tội nghiệp mẹ, vì mẹ không có nhiều tiền nên lội bộ lấy thuốc chỗ này một chút, chỗ kia một chút nên mới lâu.
Chiều về thì mẹ con tôi và những bạn hàng phải đứng nép vào trong bóng tối thì xe mới dám ngừng để đón khách, có những lúc phải leo lên những chiếc xe hàng cao, người lên trước phải phụ giúp kéo người ở dưới lên cho lẹ để xe chạy không thôi bị Công An bắt hết.
Một lần mẹ tôi trải thuốc bán ở chợ, Công An tới, mọi người ôm đồ chạy nhưng vì đa số là đàn bà nên chạy không kịp và họ bị bắt, mẹ tôi cũng trong số đó. Mẹ kêu tôi chạy về báo bà Sáu biết, tôi lúc ấy mới lên 8, làm gì biết đường về, vì mỗi lần theo mẹ chỉ lẽo đẽo theo sau chứ có bao giờ để ý, mà cũng không biết tên bà là gì, chỉ biết gọi bà là bà Sáu và biết bà là em bà ngoại vậy thôi. Vậy mà lúc đó không hiểu sao tôi diễn tả bà Sáu có những người con tên Tòng, Hà, Phong...thì người ta biết và chỉ đường cho tôi và tôi đã về được nhà bà để cầu cứu.
Chuyện đời có đôi khi cũng lạ, Công An thường thì hống hách ưa đi bắt nạt người dân và hay bắt những người bán thuốc tây, nhưng cũng có lúc họ phải đi năn nỉ. Có một bạn hàng là bạn của mẹ tôi dẫn một ông cán bộ cao cấp tới nhà, năn nỉ mẹ tôi kiếm giùm cho ông 1 chai nước biển vàng vì sáng hôm sau 8 giờ sáng mẹ ông lên bàn mổ cần nước biển mà ông tìm hoài không ra.Thời đó nước biển vàng khan hiếm lắm. Mẹ tôi sợ không dám bán nhưng ông năn nỉ quá mẹ thấy cũng tội nghiệp nên kêu ông ra chợ Sài Gòn đợi sẽ có người đem tới bán cho ông và khi mẹ ông mổ xong, ông tới cảm ơn mẹ tôi rối rít và muốn đền ơn nhưng mẹ tôi không dám lấy vì sợ ông quật ngược lại bắt mẹ.
Khi khá chút mẹ tôi bắt đầu dự trữ thuốc tây ở nhà để bán, và nhiều người tới nhà tôi mua, họ không mua của hợp tác xã vì tôi nghe họ nói thuốc ở đó không tốt, chữa không hết bịnh, còn hàng mẹ tôi là thuốc thiệt và tốt vì mẹ tôi lấy từ những nhà thuốc tây tư nhân bị đóng cửa và ai cần thuốc gì thì mẹ tôi lên Sài Gòn lấy.
Những ông Công An phường bắt đầu canh me, khi thì chận đường bắt lấy giỏ thuốc của mẹ tôi và có lần họ vô xét nhà, tịch thu hết thuốc, mẹ tôi năn nỉ, khóc lóc xin đừng lấy vì mẹ cần tiền để nuôi con nhưng họ vẫn lấy. Mẹ tôi tức quá khóc kêu chị tôi đi mua cho mẹ chai thuốc rầy để tự tử, chị tôi lúc ấy còn con nít, ngây thơ, tưởng thiệt nên chạy đi mua. Giờ nhớ lại tôi thấy họ là những người vô cảm, tôi còn biết hàng xóm ghét cái ông công an tên Hùng, dân ở đó ghét gọi là Hùng mặt chuột vì ông ưa canh me lấy hàng của người khác.
Nghĩ lại những ngày đó thấy thương mẹ tôi, công trình đi lấy thuốc từ Mỹ Tho lên Sài Gòn đi và về cũng rất xa, nhưng bị Công An tịch thu hết, mất hết vốn mẹ tôi phải làm lại từ đầu.
 
TRẺ EM RA ĐƯỜNG KIẾM SỐNG
Có lần mẹ tôi bị bắt giam cả tháng trời trong nhà tù Mạc Đĩnh Chi chỉ vì cái tội bán thuốc tây, Mẹ tôi khóc miết vì không biết bên ngoài đàn con sống như thế nào.
Thời gian mẹ ở tù, 2 chị em tôi thay mẹ lên Sài Gòn lấy hàng. Chị lớn tôi năm ấy 13 tuổi và tôi lên 10, chị dặn tôi ngồi ở bến xe Xa Cảng Miền Tây đợi, chị đi lấy hàng rồi hai chị em sẽ về trước chuyến xe cuối cùng. Tôi đợi mãi cho tới khi trời tối và chuyến xe cuối cùng đã chạy nhưng chị không tới. Tôi đã khóc vì tôi không biết kiếm chị tôi ở đâu, tôi lại không có tiền mà cũng không biết phải làm sao vì trời đã tối. Cũng may có hai mẹ con thấy tôi đứng khóc và biết tôi lạc chị nên đã kêu tôi vào ngủ chung với họ để đợi trời sáng rồi đón xe về. Và đêm ấy tôi không dám ngủ nằm thút thít mãi cho tới khi trời sáng.
Sáng hôm sau tôi lên 1 chiếc xe, nghe nói xe về Mỹ Tho nơi tôi ở, tôi ngồi sát trong và cầu mong cho họ đừng thấy tôi và đừng đuổi tôi xuống xe vì tôi không có tiền nhưng may sao ông lơ xe chỉ thu tiền những người khác mà không thu tiền của tôi, tôi thấy ông ngó tôi rồi ông quay đi. Lúc đó tôi mừng quá thầm cảm ơn Trời, Phật đã che chở cho mình và cảm ơn ông đã không đuổi tôi xuống xe.
 
CÔ GiÁO TÔI
Chị em tôi ngày học ngày nghỉ và tôi thường hay đi học trễ. Một lần tôi bị cô giáo la: "Hoàng Yến, tại sao em đi học trễ hoài?" Bị cô la trước cả lớp làm tôi khóc vì quê. Tôi trả lời cô: "Dạ, thưa cô em phải tắm 5 đứa em". Nghe tôi nói cô dịu giọng xuống không còn la, cô hỏi tôi: "Vậy chứ mẹ em đâu, sao mẹ em không làm?". Tôi không thể nói mẹ tôi đang bị ở tù nên trả lời: "Dạ, mẹ em đi đâu em không biết nữa cô". Cô hỏi: "Mẹ em đi lâu chưa?" và tôi nói "Dạ, cũng lâu rồi cô." Cô làm thinh một lúc lâu, cô nói: "Chắc mẹ em đi vượt biên, cửa nhà em bằng gì?". Tôi chỉ biết cửa nhà tôi màu bạc nhưng bằng sắt, bằng nhôm hay bằng thiết có bao giờ tôi để ý, nên tôi nói đại "Dạ, chắc bằng sắt". Sau này tôi để ý lại mới biết cửa nhà tôi bằng thiết. Cô đã không la tôi nữa và tôi thấy nét mặt cô đăm chiêu có gì đó hơi buồn trong ánh mắt cô, cô nói nhỏ “em về chỗ ngồi đi”.
Sau đó tôi thường vắng mặt, cô kêu mấy bạn tới thăm tôi và coi cửa nẻo nhà tôi có chắc không về báo lại cho cô? Và khi tôi đi vượt biên cô không biết vẫn để dành phần thưởng cuối năm cho tôi và chị tôi lãnh thế. Chị tôi kể lại làm tôi rất cảm động. Có lần tôi thấy cô ngồi bán bánh ngoài chợ sau giờ dạy học, có lẽ cô cũng có nhiều khó khăn.
Đó là những cô giáo "ngụy" mà chính quyền mới thiếu người nên vẫn còn để các cô dạy. Những cô giáo của thời VNCH đào tạo còn sót lại, hiền lành, thương yêu trẻ và giúp đỡ các em học trò trong những hoàn cảnh khó khăn. Ngày tôi ra đi tôi rất nhớ cô và nhớ các bạn, nhớ mái trường xưa, nơi tôi đã từng học và nơi đó đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm.
Rồi mẹ tôi buôn bán để dành được ít tiền cho chị em tôi lần lượt vượt biển. Cuối cùng cả gia đình tôi cũng được đoàn tụ ở Đức.
Tuy sau này ba, mẹ tôi không sống chung với nhau nữa nhưng chúng tôi luôn tôn trọng ba, mẹ. Cuộc đời mẹ tôi đã quá khổ vì các con nên mẹ tôi đi thêm bước nữa chúng tôi vẫn vui và tôn trọng vì mẹ cũng cần phải có người lo cho mẹ. Ba tôi sau khi ra tù cũng lập gia đình khác, chúng tôi có thêm 3 người em ở VN và chúng tôi thương yêu nhau như trong 1 nhà. .
Đó là câu chuyện buồn của gia đình tôi, khi cộng sản vào chiếm miền Nam đã làm cho nhiều gia đình tan nát. Cuộc sống ngày nhỏ của tôi luôn thiếu vắng hình ảnh của cả cha lẫn mẹ nhưng giờ nghĩ lại tôi chắc vào thời điểm đó còn có nhiều gia đình và nhiều đứa trẻ khác còn khổ hơn gia đình tôi rất nhiều.
Những người phụ nữ miền Nam sau cuộc chiến, họ từng là những người phụ nữ chân yếu tay mềm nhưng vào thời điểm đó họ trở nên mạnh mẽ, cứng rắn, chịu thương chịu khó, thay chồng lo cho đàn con, dù khó khăn cực khổ cách mấy họ cũng vượt qua. Mẹ tôi là một trong số những người phụ nữ mạnh mẽ ấy. Dù mẹ ở hoàn cảnh nào cũng không bao giờ bỏ rơi đàn con của mình. Chúng tôi phải cảm ơn mẹ vì có mẹ chúng tôi mới có được ngày hôm. nay.
Trần Hoàng Yến

Tuesday, April 21, 2020

Huyền Thoại Về Tình Báo Bắc Việt Và Cuộc Chiến 1975 - Trọng Đạt


Tình hình chung.
Cách đây mười năm tôi đã viết bài “Chuyện gián điệp và cuộc chiến 1975”, nay cũng viết về đề tài này nhưng ngắn gọn và chú trọng vào chủ đề chính nhiều hơn
Ngày 7-11-1972 TT Nixon tái đắc cử với số phiếu cao nhất từ xưa đến nay: 96% phiếu Cử tri đoàn (520/17) hơn đối thủ McGovern 18 triệu phiếu. Nixon thắng phiếu Ctđ trên 49 tiểu bang trong khi Mc Govern chỉ thắng một tiểu bang và DC (Thủ đô), Nixon đã đem quân về nước, lập lại hòa bình trong danh dự, Hiệp định Paris gần ký, VNCH không sụp đổ, ông cũng hòa được CS Tầu tháng 2-1972 và CS Nga tháng 5-1972.
Tuy thắng lớn, Cộng Hòa vẫn giữ Hành Pháp nhưng đối lập Dân Chủ giữ ưu thế Quốc Hội: Tại Hạ Viện họ giữ 56% (242/192), Thượng Viện họ giữ  56% (56/42), Dân Chủ lại được Truyền thông và Phản chiến ủng hộ nên rất mạnh. Các vị Trưởng khối, chức sắc Thượng Nghị Sĩ, Dân Biểu... đã yêu cầu TT Nixon và Kissinger phải sớm ký kết Hiệp định Paris, chậm nhất là cuối tháng 1-1973, nếu không họ sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh đưa quân về nước (2).
Giữa tháng 12-1972 CSBV phá hòa đàm, bỏ họp về Hà Nội hy vọng Quốc Hội Mỹ ra Luật chấm dứt chiến tranh, khỏi cần phải họp hành cho mệt. TT Nixon bèn cho mở trận Mưa bom Giáng Sinh Linebacker II, trút 20,000 tấn bom lên đầu CSBV tại Hà Nội, Hải Phòng buộc chúng phải trở lại bàn Hội nghị.
Nixon phải nhượng bộ để cho BV đóng quân ở lại miền Nam vì Quốc Hội không muốn kéo dài đàm phán, họ luôn đe dọa ra Luật chấm dứt chiến tranh, đem quân về nước.
Tổng Thống Nixon nói sau ngày ký Hiệp định Paris 27-1-1973 miền Nam mạnh hơn miền Bắc về mặt quân sự (3). Đầu năm 1973, sau khi Hoa Kỳ đã rút quân về nước, VNCH rất mạnh về quân sự. Cuộc oanh tạc của Mỹ chấm dứt cùng với ngưng bắn.
 
Richard Nixon   *   Nguyễn Văn Thiệu
Hoa kỳ đã làm nghiêng cán cân về phía VNCH bằng sự cung cấp ồ ạt cuối năm 1972 qua hai chiến dịch lấy bí danh là Enhance (Gia tăng) và Enhance Plus (Gia tăng Cộng). Những hàng quân sự trao cho miền Nam gồm ba tiểu đoàn pháo binh 175mm, hai tiểu đoàn thiết giáp M-48, 286 chiếc trực thăng UH-1, 23 chiếc trực thăng không vận CH-47, 22 chiếc trực thăng vũ trang AC-119K, 28 chiếc máy bay chiến đấu A-1, 32 máy bay vận tải C-130A, 90 oanh tạc cơ loại nhẹ A-37, 118 phản lực cơ chiến đấu F-5A và và 23 phi cơ thám thính điện tử EC-47. Bắc việt cũng vội chuyên chở vũ khí cho quân đội của họ ở miền Nam nhưng với số lượng thua xa Mỹ .
Quân đội VNCH chiếm ưu thế trên khắp các mặt trận, BV bị thiệt hại rất nặng trong trận thảm bại 1972. VNCH kiểm soát các khu vực sầm uất thịnh vượng, các đường giao thông, khu đông dân cư, kiểm soát 80% đất đai và 87% dân số, Hà Nội thông báo cho các lực lượng của họ ở miền Nam biết phải chở ít nhất từ 3 cho tới 5 năm sau mới thực hiện được tổng tấn công: Một Tướng lãnh CSBV viết:
“ Quân đội ta kiệt lực, các đơn vị tan rã. Chúng ta vẫn chưa bù đắp nổi chỗ thiếu hụt. Chúng ta thiếu nhân lực cũng như lương thực và đạn dược, rất khó đương đầu với địch”.  (No More Vietnams, p. 171)
Nhưng chẳng bao lâu, 6 tháng sau Hiệp Định Paris, giữa năm 1973 Quốc Hội Dân Chủ cắt viện trợ VNCH từ 2 tỷ 1 năm 1973 còn 1 tỷ 4 cho năm 1974 và năm 1975  chỉ còn 700 triệu (4), giữa năm 1973 Quốc Hội cũng cắt hết ngân khoản oanh tạc Đông Dương của Hành Pháp.
Dân Chủ chiếm đa số Quốc Hội, họ kết hợp với Phản chiến và và Truyền thông nên rất mạnh. Sau khi TT Nixon từ chức, cuộc bầu cử Hạ Viện ngày 4-11-1974 khiến Dân Chủ thêm 49 ghế thành 291 (67%), Cộng Hòa mất 48 ghế chỉ còn 144 (33%), tại Thượng Viện Dân Chủ chiếm 60 ghế (60%), Cộng Hòa 38 ghế (38%).
 
   Văn Tiến Dũng   * Cao Văn Viên
Trong khi ấy viện trợ của CS quốc tế cho BV năm 1973, 1974 không thay đổi, họ mang vào Nam nhiều súng đạn hơn vì không còn bị oanh tạc trên đường mòn Hồ Chí Minh. Trong cuộc Hội thảo qui mô tổng kết cuộc chiến tranh VN vào ngày 14 và 15-4-2006 tại Sài Gòn, Viện Lịch sử quân sự VN đã cho biết. (5)
-Trong giai đoạn 1969-1972 Tổng số hàng viện trợ của CS quốc tế riêng về vũ khí gồm 684.666 tấn
-Trong giai đoạn 1973-1975 Tổng số viện trợ của CS Quốc tế riêng về vũ khí gồm 649.264 tấn
Như trên số vũ khí họ mang vào Nam qua hai giai đoạn ngang nhau. Viện trợ vũ khí của CS Quốc tế cho CSBV không thay đổi.
Ngoài ra theo Kissinger, cuối năm 1974, một viên chức cao cấp Nga, Tham Mưu Trưởng Liên Quân Viktor Kulikov có tới Hà Nội, những tháng sau đó số viện trợ quân sự do tầu Nga chở tăng gấp 4 lần trước (Soviet shipments of materiel increased fourfold in the months that followed) (6)
Năm 1973 Miền Nam còn rất mạnh nhưng từ năm sau, họ cắt giảm Viện trợ quân sự 50% mỗi năm, trong khi đó VC vẫn vi phạm Hiệp Định, đánh phá khắp nơi. Ngày 30-6-1973, Quốc Hội cắt ngân khoản oanh tạc Đông Dương gồm Nam VN, Bắc VN, Miên, Lào... khiến cho Nixon bị trói tay, không còn quyền hành đành phó mặc cho CSBV tự do xâm chiếm miền Nam (7).
Trong khi miền Nam dân chủ tự do, miền Bắc  nằm dưới ách ách độc tài của Lê Duẩn mà giới nghiên cứu Tây phương gọi là độc tài theo kiểu Staline. Từ năm 1960 khi Lê Duẩn nắm quyền sinh sát cho đến ngày y nhắm mắt năm 1986, suốt một phần tư thế kỷ đất nước không lúc nào ngớt cảnh máu chẩy thịt rơi.
Chiến lược thí quân kinh hoàng của Duẩn khiến người Mỹ cũng phải sợ, một Thiếu tướng Mỹ bi quan nói cho dù ta giết hết VC cũng không thắng nổi. Lê Duẩn đã phung phi xương máu của thanh niên miền Bắc để thỏa mãn tham vọng bệnh hoạn của y như thế nào.
Phim The Vietnam War 2017 chiếu cảnh các cán binh BV lục soát trực thăng Mỹ bị bắn rơi để tìm đồ hộp, họ nói bộ đội chỉ được cấp gạo và muối, phải tự tìm đồ ăn, bắt chim, chuột, hái rau rừng.. .  CS đã bóc lột tàn nhẫn xương máu người lính.
 
Đường mòn HCM
Trong cuốn 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh của tác giả Đặng Phong (xuất bản 2008, Hà Nội) trang 54 viết:
“Đại Tá Nguyễn Danh nói về các trạm lúc đó: “Gọi là trạm thực ra chỉ là một góc rừng quy ước với nhau để đến đó giao hàng, chứ có lều lán gì đâu! Mùa khô ráo anh em gom lá cây lại, lót tạm mỗi người một cái ổ, hệt như ổ lợn rừng, lúc nào ngủ thì rúc vào đó. Vài ba ngày sau rời trạm sang góc rừng khác, lại phải tãi ổ ra, trả lại lá rừng như cũ để xóa dấu vết. Khổ cực nhất là những tháng mùa mưa, có đêm phải trùm nylon ngồi dựa lưng vào gốc cây mà ngủ và ngủ vật. Chúng tôi sống như vậy không phải một tháng, một năm mà những ba năm liền...”
Chế độ đã hạ thấp giá trị con người xuống hàng súc vật, khốn khổ đến thế là cùng.
Tình báo CSBV
Vấn đề đặt ra là tình báo CSBV có biết miền Nam VN bị kiệt quệ về tiếp liệu, đạn dược do cắt giảm của Quốc Hội Mỹ hay không? Theo Kissinger thì họ có biết, ông dựa theo báo Học Tập của đảng CSBV, họ theo dõi việc cắt giảm viện trợ của Mỹ như sau:
“Hỏa lực ngụy suy giảm rõ rệt, trong quí ba 1974 hỏa lực quân ngụy giảm khoảng ba phần tư so với năm 1973. Số phi vụ của máy bay chiến thuật địch chỉ vào khoảng một phần năm (1/5) so với năm 1972.  Số máy bay của miền Nam đã giảm tới 70% so với thời kỳ chiến tranh giới hạn (thời TT Johnson), số máy bay lên thẳng giảm tới 80%.... Bom đạn trong kho của quân ngụy đã giảm và chúng cũng gặp khó khăn vô cùng về thiếu nhiên liệu cũng như bảo trì, sửa chữa, và xử dụng các loại máy bay, xe tăng, tầu chiến và vũ khí nặng (8)
Về điểm này ông Cao Văn Viên nói (9):
Xin sơ lược: Một bài viết tháng 1-1975 trên tạp chí Học Tập của CSVN mở Hội thảo lần thứ 23, họ sắp mở cuộc Tổng tấn công miền nam VN và kế hoạch của họ. Phía VNCH, ngày 6 tháng 12-1974, TT Thiệu chủ tọa một buổi hội thảo cao cấp tại Dinh Độc Lập. Buổi họp gồm các vị Tư Lệnh Vùng và các Sĩ quan cao cấp. Buổi họp kết luận năm 1975 CS sẽ tấn công miền Nam để phá hoại cuộc bầu cử VNCH năm 1975 và gây tiếng vang trong cuộc tranh cử Mỹ năm 1976.  Buổi họp kết luận cán quân quân sự nghiêng về phía địch, chúng đã chở vào Nam đủ đạn dược cho cuộc Tấn công kéo dài 18 tháng.
Trong Decent Intreval của Frank Snepp, văn phòng CIA ở Sài Gòn đã cho biết về buổi họp này: Một điệp viên trong bộ tham mưu thân cận của Tổng Thiệu đã gửi một bản báo cáo tối mật về những kế hoạch và ước đoán của chính phủ Sài Gòn cho Bắc Việt, (Trần Đông Phong có trích dịch chi tiết này trong cuốn VNCH, 10 Ngày Cuối Cùng).
Chuyện gián điệp tại dinh Độc Lập chắc có thật vì Tướng Văn Tiến Dũng, người chỉ huy trận chiến xâm lược miền Nam 1975 đã ghi nhận trong hồi ký như sau: (10)
“Theo tin tình báo của ta, trong hai ngày 9 và 10 tháng 12 năm 1974, trong dinh Độc Lập, Thiệu họp với bọn Tư lệnh các quân đoàn, quân khu ngụy để phán đoán hoạt động của ta trong năm 1975. Bọn chúng nhận định.
Trong năm 1975, ta có thể đánh với qui mô lớn hơn năm 1974 nhưng không như năm 1968 và không bằng năm 1972. Ta chưa có khả năng đánh thị xã lớn hoặc  thành phố, dù có đánh cũng không giữ được. Ta chỉ có thể đánh loại thị xã nhỏ và cô lập như Phước Long, Gia Nghĩa. .. . . . . .
. . . . . . .    Do nhân định như vậy, chúng không thay đổi thế bố trí chiến lược mạnh hai đầu (quân khu 1 và quân khu 3) và chúng cũng chưa có sự tăng cường lực lượng gì lớn ở quân khu 2, trong đó có Tây Nguyên.    (Trang 40, 41)
Trang 28, 29 trong cuốn hồi ký kể trên, Văn Tiến Dũng nói:
“Hội Nghị Bộ Chính (18-12-1974 tới 8-1-1975) có ý nghĩa lịch sử. . . . . . .
. . . .  Bộ Chính trị nêu quyết tâm “Động viên nỗ lực lớn nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, trong thời gian 1975-1976 đẩy mạnh quân sự, chính trị kết hợp với đấu tranh ngoại giao làm thay đổi nhanh chóng và toàn diện .  .  .  .  .  tạo điêu kiện chín mùi tiến hành tổng công kích, Tổng khởi nghĩa..”
Kế hoạch của Hà Nội đã được ghi nhận như sau:
“Quyết tâm chiến lược của Bộ Chính Trị được thể hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976: năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm 1976 tiến hành Tổng công kích-Tổng khởi nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.”
Như vậy rõ ràng là CSBV không hề hay biết miền Nam đã gần hết đạn, ông Cao Văn Viên trong cuốn The Final Collapse (2003) kể trên đã nói rõ trong trang 90 như sau:
“Tháng 2-1974, chúng ta làm một dự đoán, căn cứ vào mức tiết kiệm tối đa trong vấn đề tác xạ, đến tháng 6-1975, số đạn tồn kho sẽ tuột xuống còn 57 tấn hay chỉ đỉ cung ứng cho chiến trường trong vòng 24 ngày...”
Trang 92 ông nói vào đầu năm 1975, đạn dược các loại súng lớn, nhỏ chỉ đủ dùng khoảng 30 ngày, nghĩa là một tháng.
 
Tường trình chiến sự: Bộ tham mưu CS Bắc Việt

Tiếp liệu của VNCH đã cạn chỉ còn đủ xử dụng tới đầu năm 1975 thế mà Hà Nội đã thảo kế hoạch xâm lăng miền Nam trong 2 năm 1975, 1976. Họ phải bỏ hai năm mới chiếm được miền Nam thì ta đủ thấy tình báo chiến lược CSBV tồi tệ, gà mờ cỡ nào? Trong phim tài liệu Việt Nam Thiên Sử truyền hình (Vietnam History by Television) tôi xem ở VN giữa thập niên 80, Tướng Văn Tiến Dũng trả lời phỏng vấn ngoại quốc cũng nói y như thế. Bộ Chính Trị đã dự trù kế hoạch 2 năm 1975 và 1976 để xâm chiếm miền Nam. Họ cho người rình rập nghe ngóng nhân dân, đưa nằm vùng vào lãnh thổ quốc gia làm gián điệp thì không ai bằng, sự thực địch chỉ lấy được những tin lặt vặt về chiến thuật và không có khả năng thu lượm những tin tức có tầm vóc chiến lược..
Henry Kissinger dẫn báo Học Tập nói CSVN đã biết tình trạng thiếu hụt của miền Nam. Nhưng BV chỉ dựa vào các tin tức từ truyền thông Mỹ về việc Quốc Hội cắt giảm viện trợ, cụ thể chúng không biết tường tận chi tiết việc thiếu hụt trầm trọng của ngụy quân.
Sáu tháng sau Hiệp Định Paris, Quốc Hội Dân Chủ Mỹ cắt giảm viện trợ VNCH 50% cho tài khóa năm sau, đồng thời họ cũng cắt ngân khoản các cuộc oanh tạc Đông Dương của Hành Pháp. Mỹ sẽ không còn oanh tạc yểm trợ tại Đông Dương nữa dù CSBV vi phạm ngưng bắn, dù chúng đưa quân xâm chiếm miền Nam.
Trong trận Tổng công kích của BV từ tháng 4 tới tháng 9 năm 1972, mặc dù Quân đội VNCH đầy đủ tiếp liệu nhưng vẫn phải nhờ vảo hỏa lực yểm trợ của Không quân Mỹ. Nay nửa triệu quân Mỹ và 50 ngàn Quân đồng minh đại Hàn, Úc...  đã rút đi, VNCH phải gánh vác toàn bộ chiến trường với quân viện cắt giảm và không còn yểm trợ của B-52 nên không thể nào tự vệ nổi. Thật buồn cười là khi VNCH đang chết dở vì thiếu thốn, CSBV quá mạnh nhờ viện trợ của CS Quốc tế mà chúng đã dự trù hai năm để chiếm miền Nam!!
  
B52 * SAM-5 *  SAM 75
Tháng 12-1974, trong cuộc Hội thảo cao cấp tại Dinh Độc Lập, TT Thiệu vẫn lạc quan tin tưởng địch không đủ mạnh để đánh vào các thành phố lớn, ông vẫn tin tưởng Hoa Kỳ sẽ không bỏ miền Nam, sẽ tiếp tục viện trợ để giữ vững mảnh đất này, có lẽ Hà Nội cũng tin như vậy.
Toàn bộ lực lượng bộ binh chính qui của BV được đưa vào Nam năm 1975 gồm bốn Quân đoàn (1, 2, 3, 4) và Quân đoàn đoàn 232, mỗi Quân đoàn có 3 Sư đoàn tổng cộng 15 Sư đoàn, cộng thêm một Sư đoàn đặc công và trên 10 trung đoàn độc lập (11) Tổng cộng vào khoảng 20 Sư đoàn bộ binh. Năm 1972 VNCH đầy đủ nhiên liệu và đạn dược mà còn phải dựa vào yểm trợ của B-52, trái lại năm 1975 thiếu thốn mọi mặt, hoả lực VNCH giảm 60% vì cắt viện trợ xương tủy trong khi lực lượng BVgấp hai lần năm 1972, vũ khí đạn dược gấp ba lần năm 1972 (Báo Saigon giải phóng 1976 tiết lộ). Tình hình 1975 bi đát như thế mà cuối năm 1974 ông Thiệu vẫn vẫn chủ quan tin tưởng CSBV chưa phục hồi được sau trận mùa hè đỏ lửa, họ chưa có khả năng đánh vào các thành phố lớn.
Thiếu Tướng Trần Văn Nhật, cựu Tư lệnh Sư đoàn 2 nhận xét  ông Thiệu không có tầm nhìn xa:
“Việc ông sửa đổi Hiến Pháp để làm Tổng thống thêm một nhiệm kỳ năm năm nữa chứng tỏ ông đã không nhìn thấy việc Hoa Kỳ sắp bỏ rơi Việt Nam và đã làm xáo trộn thêm tình hình chính trị trong nước. Như tướng Khiêm phải ra mặt chống đối Tổng Thống Thiệu vì ông Thiệu không giữ lời hứa là sau hai nhiệm kỳ làm Tổng thống thì tới phiên ông Khiêm.”    ( Cuộc Chiến Dang Dở trang 273)
BV chỉ biết miền Nam hết tiếp liệu khi có cuộc triệt thoái miền Trung tháng 3-1975, Ban Mê Thuột thất thủ ngày 11-3, hôm sau 12-3 Hạ Viện Mỹ biểu quyết cắt 300 triệu Mỹ kim quân viện bổ túc cho VNCH.
Quân viện cho miền Nam 1975 chỉ còn 700 triệu, họ đưa trước 400, và từ chối đưa tiếp phần còn lại. BV chỉ mới biết miền Nam đã kiệt quệ đạn dược qua báo, đài. Khi miền Trung sụp đổ, Hà Nội vội vã đưa nốt 3 Sư đoàn tổng trừ bị (thuộc Quân đoàn 1) ở ngoài Bắc vào Nam để tấn công Sài Gòn trước mùa mưa, chúng dốc toàn lực vào Nam đánh một trận “xả láng sáng về sớm”. Kissinger nói trong phiên họp Nội các:
“Toàn bộ lực lượng của Quân đội BV đưa hết vào Nam, ta chỉ cần một Lữ đoàn Thủy quân lục chiến có thể chiếm miền Bắc: Một sự vi phạm Hiệp định Paris trắng trợn” (12)
Sau khi Quốc Hội từ chối khoản viện trợ cứu nguy, ông ta nói: “chúng ta không còn tiền để chơi tiếp ván bài, We have no chip left”
 
Di tản miền Trung
Giữa tháng 12-1974 Hà Nội đưa 3 sư đoàn chính qui tấn công Phước Long để thăm dò Mỹ, ngày 7-1-1975 họ chiếm được toàn tỉnh. (“Phuoc Binh was a test case.” Kissinger, Years of Renewal trang 484)
Ông Thiệu không cho tiếp cứu lấy lý do không đủ lực lượng, nhiều nhận định nói ông cố tình để mất với mục đích chờ Mỹ cứu. TT Ford chỉ phản đối xuông nên BV chuẩn bị đánh tiếp những trận đẫm máu để chiếm miền Nam.
Ngày 16-3-1975 ông Thiệu cho lệnh triệt thoái Quân Đoàn II tại Cao nguyên kết quả là 75% lực lượng bị hủy hoại sau khi về tới Tuy Hòa ngày 27/3. Quân đoàn I cũng sụp đổ ngày 29/3. Một phần do sự sai lầm của ông Thiệu nhưng nguyên do chính là sự kiệt quệ tiếp liệu do cắt giam viện trợ, khi ấy Hà Nội mới biết VNCH gần hết đạn, thiếu săng, tiếp liệu...
Nhiều người chỉ trích TT Thiệu tháu cáy Mỹ, giả vờ thua chạy tại Cao nguyên để hy vọng họ oanh tạc cứu nguy nhưng ông quá lạc quan, người ta đã có chính sách rút bỏ Đông Dương
Larry Berman nói người Mỹ chấm dứt can thiệp một cách có danh dự bằng Hiệp Định. Người dân, Quốc Hội sẽ không còn nghĩ tới việc yểm trợ cho đồng minh vì một nguyên nhân (cuộc chiến) gần như đã hết rồi (13)
Sau trận Tết Mậu Thân 1968, người Mỹ quá chán chiến tranh VN, họ biểu tình dữ dội liên tục đòi phải rút bỏ Đông Dương, sự sụp đổ của miền Nam đã bắt đầu từ tháng 2-1968, TT Johnson người đã nắm giữ vận mệnh Đông Dương và sự sinh tồn của mảnh đất này quá nhiều lầm lẫn.
Di tản Miền Trung
Cho dù ông Thiệu chống đối ký kết Hiệp Định cũng chỉ là hành động đơn phương không ảnh hưởng gì tới người Mỹ. Các vị Trưởng khối Quốc Hội đã cho Nixon biết nếu VNCH không chịu ký kết họ sẽ ra luật chấm dứt chiến tranh rút quân về nước, tình hình sẽ vô cùng thê thảm.
Kết luận
Nếu CSBV biết miền Nam hết đạn, cạn kiệt tiếp liệu họ sẽ tấn công sớm hơn ít nhất là 6 tháng hay từ đầu năm 1974.
Nửa năm sau Hiệp Định Paris, tức tháng 6-1973, Quốc Hội Dân Chủ cắt giảm 50% viện trợ quân sự cho VNCH, đồng thời họ cũng cắt hết ngân khoản oanh tạc Đông Dương của Hành Pháp Nixon (14) là lúc miền Nam đã bị trói tay chờ chết.
Trước và sau 1975 nhiều người miền Nam ca ngợi tình báo CSBV thật tài tình vì sau ngày 30-4, tại các cơ sở tôn giáo, hành chánh, thậm chí cơ quan cảnh sát, quân đội.. đều có VC nằm vùng. Người ta phục CS cài người giỏi, khi nghe tin tại Dinh Độc Lập có VC nằm vùng ai nấy đều thở dài bi quan vì địch đã biết hết mọi chuyện cơ mật rồi.
Nhưng thực ra BV chỉ hù dọa đối phương và “nổ zăng miểng”, bằng chứng là chuyện to đùng ngay trước mắt mà chúng không hề  hay biết, nhờ đó miền Nam còn tồn tại thêm được hơn một năm.
Nhiều người chê trách ông Thiệu nếu cứ tiếp tục đánh hồi tháng 3-1975 thì chưa biết “mèo nào cắn mỉu nào”. Thực ra với tình hình cắt giảm viện trợ xương tủy của Quốc Hội Dân Chủ như thế ta chỉ kéo dài cuộc chiến thêm mấy tuần hay một tháng là cùng, nó sẽ gây thêm tang thương đau khổ một cách vô ích.
Nhưng sự sai lầm của ông Thiệu cũng đã mang lại nhiều cái hay khác. Nếu ông đích thân ra mặt trận hối thúc binh sĩ chiến đấu tới cùng như quân Đức vào tháng 4-1945 tại Bá Linh thì không những cả hai bên đều thiệt hại nặng mà địch sẽ tàn phá miền Nam vô cùng tàn nhẫn. Chúng sẵn sàng cắm cờ trên đống gạch vụn của Nha Trang, Sài Gòn, Đà Nẵng... Chúng sẽ tàn sát tù binh và tắm máu miền Nam y như hồi Tết Mậu Thân năm 1968.
Nói ra thì chuyện đã rồi, cuộc chiến tranh VN tùy thuộc vào quân viện, bên nào nhiều tiếp liệu đạn dược thì bên đó thắng. Người Mỹ quá sợ hãi cuộc chiến tranh Việt Nam vì không biết bao giờ nó mới chấm dứt và nhất là địch sẵn sàng đem mấy chục cán binh đổi mạng một tên lính Mỹ để thúc đẩy phong trào phản chiến.
Sau một phần tư thế kỷ can thiệp vào Đông Dương nay họ đành dứt bỏ ra đi, một phần vì quá chán nản với cuộc chiến tranh dài nhất của Thế kỷ và vì lý do của cuộc chiến nay đã không còn.
Vấn đề đăt ra là nước Mỹ có bị sứt mẻ uy tín khi phản bội các đồng minh Việt Mên Lào của họ hay không? Dĩ nhiên là có, nay mặc dù các quốc gia Đông Nam Á đang hốt hoảng vì hiểm họa Trung Hoa đỏ nhưng họ cũng không theo Mỹ như ta đã thấy.
Lê Duẩn, người nhiều quyền lực nhất tại miền Bắc đã gặp nhiều may, nếu không có phong trào phản chiến thì dù y có đầy thêm một vài triệu thanh niên vào chỗ chết cũng chỉ làm mồi cho Pháo đài bay B-52 một cách vô ích.
Những người hân hoan sung sướng nhất của cuộc chiến 1975 là các bà mẹ miền Bắc: con em họ từ nay sẽ không phải phơi thây trên dẫy Trường Sơn hay bỏ xác tại mảnh đất xa xăm phía Nam của đất nước.
Những kẻ đã gây lên cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn, núi xương sông máu sẽ phải đời đời đắc tội với Non sông Tổ quốc.
 
Viết cho ngày 30-4-2020
 
Trọng Đạt
---
(1) Tập Hồi Ký cuối cùng của tác giả Kissinger, dầy 1,100 trang
(2) Larry Berman:  No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam- trang 200.
(3) No More VietNams, trang 1970, 1971
(4) Kissinger trong Years of Renewal trang 471
(5) BBC Vietnamese.com ngày 10-5-2006 Viện trợ quốc tế cho miền Bắc trong chiến tranh, Cuộc Hội thảo tại TP HCM ngày 14 và 15-4
(6) Years of Renewal, Indochina tradegy- The Beginning of  the End, trang 481.
(7) Richard Nixon, No More Vietnams trang 180
(8) Years of Renewal trang 480
(9)The Final Collapse, Những Ngày cuối của VNCH, Nguyễn Kỳ Phong dịch, năm 2003 (trang 94- 97)
(10) Đại Thắng Mùa Xuân, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2003
(11) Cao Văn Viên Những ngày cuối của VNCH trang 158. Nguyễn Đức Phương,  Chiến tranh VN toàn tập trang 901
(12) Larry Berman: No Peace No Honor, Nixon, Kissinger and Betrayal in Vietnam- trang 266.
(13) Sách kể trên, trang 200
(14) Richard Nixon, No More Vietnams, trang 180