"Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau." President Ronald Reagan
Sunday, December 20, 2015
Tuesday, December 15, 2015
Đại tá Bác sĩ Lynda K Vũ, Chỉ huy trưởng Phi đoàn 48 Quân y hàng không không gian Không quân Hoa Kỳ.
Đại tá Lynda Vũ trao bằng khen cho một quân nhân trong đơn vị
(USAF photo).
Đại tá Lynda Vũ, tốt nghiệp ngành sinh học tại trường Grace College năm 1988. Sau đó cô tiếp tục theo học tại Tufts University School of Medicine và tốt nghiệp văn bằng Bác sĩ y khoa vào năm 1993. Cô gia nhập Không quân Hoa Kỳ năm 1993. Từ năm 2005 đến năm 2007, Trung tá Lynda Vũ là Tham mưu trưởng tại
căn cứ Không quân Hickam AFB, Hawaii, trong khoảng thời gian hai năm đó
cô phục vụ trong vai trò Bác sĩ trưởng phi hành (Bác sĩ cấp cứu và điều
trị trên phi cơ) tại Theater Patient Movement Requirements Center.
Đến tháng 7 năm 2009, Trung tá Lynda Vũ được thuyên chuyển đến nhận
nhiệm vụ Chỉ huy trưởng Phi đoàn 42 Quân y tại căn cứ Không quân Maxwell AFB (1), cô phục vụ tại đây cho đến hết nhiệm kỳ vào tháng 6 năm 2011. Ngày 23 tháng 7 năm 2013, Đại tá Lynda Vũ nhận quyền chỉ huy và trở thành Chỉ huy trưởng của Phi đoàn 48 Quân y hàng không không gian.
Vào tháng 5 năm 2007, Đại tá Lynda Vũ, khi còn là Trung tá Tham mưu trưởng căn cứ Không quân Hickam AFB, Hawaii, thuộc Không lực 13, và là Bác sĩ trưởng phi hành phục vụ tại Theater Patient Movement Requirements Center, nhận được yêu cầu nghiêm trọng từ một bác sĩ nhi đồng tại Saipan để cấp cứu cho một bé trai tên John 2 tuổi bị bệnh viêm phổi rất nặng, ảnh hưởng đến hệ thống hô hấp, thời gian bấy giờ rất khẩn cấp để cứu sinh mạng của em. Và sự yêu cầu đã được đơn vị quân y không quân 613 đáp ứng, phái một toán Bác sĩ và y tá phi hành thuộc Phân đội 1, Phi đoàn 18 quân y Không quân theo phi cơ vận tải C-17 Globemaster của Phi đoàn 535 khởi hành đến Saipan. Trung tá Lynda Vũ túc trực bên cạnh toán Bác sĩ phi hành trong 36 giờ để cấp cứu bé John chuyển đên Bệnh viện Honolulu chữa trị.
Trung tá Lynda Vũ cho biết: "Nhiệm vụ thật vô cùng hữu ích, là một đội ngũ bác sĩ và y tá chuyên môn của đơn vị quân y không quân. Chúng tôi xác nhận yêu cầu của bệnh nhân, xác định mức độ chăm sóc và phối hợp các yêu cầu tiếp nhận tại các địa điểm đến gởi và nhận. Chúng tôi cùng phối hợp với nhiều bệnh viện quân sự và dân sự khác nhau để chăm sóc và chửa trị cứu sống nhiều quân nhân và dân chúng trong khu vực".
Đại tá Lynda Vũ trao bằng huy chương cho một nữ quân nhân
Vào tháng 5 năm 2007, Đại tá Lynda Vũ, khi còn là Trung tá Tham mưu trưởng căn cứ Không quân Hickam AFB, Hawaii, thuộc Không lực 13, và là Bác sĩ trưởng phi hành phục vụ tại Theater Patient Movement Requirements Center, nhận được yêu cầu nghiêm trọng từ một bác sĩ nhi đồng tại Saipan để cấp cứu cho một bé trai tên John 2 tuổi bị bệnh viêm phổi rất nặng, ảnh hưởng đến hệ thống hô hấp, thời gian bấy giờ rất khẩn cấp để cứu sinh mạng của em. Và sự yêu cầu đã được đơn vị quân y không quân 613 đáp ứng, phái một toán Bác sĩ và y tá phi hành thuộc Phân đội 1, Phi đoàn 18 quân y Không quân theo phi cơ vận tải C-17 Globemaster của Phi đoàn 535 khởi hành đến Saipan. Trung tá Lynda Vũ túc trực bên cạnh toán Bác sĩ phi hành trong 36 giờ để cấp cứu bé John chuyển đên Bệnh viện Honolulu chữa trị.
Trung tá Lynda Vũ cho biết: "Nhiệm vụ thật vô cùng hữu ích, là một đội ngũ bác sĩ và y tá chuyên môn của đơn vị quân y không quân. Chúng tôi xác nhận yêu cầu của bệnh nhân, xác định mức độ chăm sóc và phối hợp các yêu cầu tiếp nhận tại các địa điểm đến gởi và nhận. Chúng tôi cùng phối hợp với nhiều bệnh viện quân sự và dân sự khác nhau để chăm sóc và chửa trị cứu sống nhiều quân nhân và dân chúng trong khu vực".
Đại tá Lynda Vũ trao bằng huy chương cho một nữ quân nhân
trong đơn vị (USAF photo).
Trong tháng di sản Hoa Kỳ Á Châu - Thái Bình Dương vào tháng 5 năm 2010 (the Asian-Pacific American Heritage Month), Đại tá Lynda Vũ lúc bấy giờ là Trung tá Chỉ huy trưởng Phi đoàn 42 quân y Không quân được mời đến thảo luận về giá trị đa văn hóa của các sắc dân khu vực Á Châu - Thái Bình Dương. Cô đã chia sẻ câu chuyện về sự dạy dỗ của mẹ mình tại Việt Nam mà cô mô tả là một vùng đất của những căn nhà mái tranh, rừng dừa, ruộng lúa và đàn trâu cầy bừa trên các cánh đồng miền Nam, một vùng đất trù phú về nông nghiệp . Cô kể lại trường hợp gia đình bên ngoại của cô có tám người con, mẹ của cô là người thứ năm, chỉ được phép học hết lớp năm tiểu học, sau đó phải làm tròn bổn phận lo cho gia đình. Trung tá Vũ nói: "Mẹ tôi đã có một hạt giống của niềm đam mê và quyết tâm trong trái tim bà ấy để sống một cuộc sống tự do". Mẹ của Trung tá Vũ chuyển về thành thị sinh sống lúc 13 tuổi, sau đó lập gia đình, đên năm 21 tuổi bà đã trở thành góa phụ vì chồng qua đời trong chiến tranh, đó là kết quả đau buồn mất mát mà bà và nhiều người dân miền Nam Việt Nam phải gánh chịu. Khi quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, bà thấy người Mỹ như ngọn hải đăng của niềm hy vọng. Một thời gian sau, mẹ của Trung tá Lynda Vũ kết hôn với một quân nhân Hoa Kỳ, và theo chồng về Mỹ. Bà nhanh chóng thích nghi với đời sống tại vùng đất mới, bà cố gắng vượt qua những trỡ ngại để đưa các con của bà có một cuộc sống tuyệt vời tại Mỹ, học một nền văn hóa mới, ngôn ngữ mới và, cấp sách đến trường, sau đó tiếp tục vào đại học. Trung tá Lynda Vũ nói: "Mẹ tôi đã học được cách sống mới để giúp cho con mình có cuộc sống tốt đẹp hơn".
Năm 2012, Đại tá Lynda Vũ cùng năm Sĩ quan y sĩ chuyên ngành y khoa hàng không không gian được gởi đi thụ huấn bay loại phi cơ liên lạc, chương trình này sẽ giúp họ nâng cao kiến thức phi hành, hiểu biết thêm về những ảnh hưởng trở ngại thể lực và tinh thần trên phi cơ, đặt họ vào vị trí như một Trưởng phi cơ, để họ có thể giải quyết những giới hạn thời tiết, định hướng trong không gian và những trường hợp khẩn cấp trên phi cơ. Đây là một phần nỗ lực của trường y khoa hàng không không gian Không quân Hoa Kỳ (U.S. Air Force School of Aerospace Medicine), nhằm phát triễn chương trình huấn luyện các bác sĩ ngành y học hàng không không gian trong nhiệm vụ chuyên môn điều trị và chăm sóc bệnh nhân trên phi cơ hữu hiệu hơn (3).
Trong tháng di sản Hoa Kỳ Á Châu - Thái Bình Dương vào tháng 5 năm 2010 (the Asian-Pacific American Heritage Month), Đại tá Lynda Vũ lúc bấy giờ là Trung tá Chỉ huy trưởng Phi đoàn 42 quân y Không quân được mời đến thảo luận về giá trị đa văn hóa của các sắc dân khu vực Á Châu - Thái Bình Dương. Cô đã chia sẻ câu chuyện về sự dạy dỗ của mẹ mình tại Việt Nam mà cô mô tả là một vùng đất của những căn nhà mái tranh, rừng dừa, ruộng lúa và đàn trâu cầy bừa trên các cánh đồng miền Nam, một vùng đất trù phú về nông nghiệp . Cô kể lại trường hợp gia đình bên ngoại của cô có tám người con, mẹ của cô là người thứ năm, chỉ được phép học hết lớp năm tiểu học, sau đó phải làm tròn bổn phận lo cho gia đình. Trung tá Vũ nói: "Mẹ tôi đã có một hạt giống của niềm đam mê và quyết tâm trong trái tim bà ấy để sống một cuộc sống tự do". Mẹ của Trung tá Vũ chuyển về thành thị sinh sống lúc 13 tuổi, sau đó lập gia đình, đên năm 21 tuổi bà đã trở thành góa phụ vì chồng qua đời trong chiến tranh, đó là kết quả đau buồn mất mát mà bà và nhiều người dân miền Nam Việt Nam phải gánh chịu. Khi quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, bà thấy người Mỹ như ngọn hải đăng của niềm hy vọng. Một thời gian sau, mẹ của Trung tá Lynda Vũ kết hôn với một quân nhân Hoa Kỳ, và theo chồng về Mỹ. Bà nhanh chóng thích nghi với đời sống tại vùng đất mới, bà cố gắng vượt qua những trỡ ngại để đưa các con của bà có một cuộc sống tuyệt vời tại Mỹ, học một nền văn hóa mới, ngôn ngữ mới và, cấp sách đến trường, sau đó tiếp tục vào đại học. Trung tá Lynda Vũ nói: "Mẹ tôi đã học được cách sống mới để giúp cho con mình có cuộc sống tốt đẹp hơn".
Năm 2012, Đại tá Lynda Vũ cùng năm Sĩ quan y sĩ chuyên ngành y khoa hàng không không gian được gởi đi thụ huấn bay loại phi cơ liên lạc, chương trình này sẽ giúp họ nâng cao kiến thức phi hành, hiểu biết thêm về những ảnh hưởng trở ngại thể lực và tinh thần trên phi cơ, đặt họ vào vị trí như một Trưởng phi cơ, để họ có thể giải quyết những giới hạn thời tiết, định hướng trong không gian và những trường hợp khẩn cấp trên phi cơ. Đây là một phần nỗ lực của trường y khoa hàng không không gian Không quân Hoa Kỳ (U.S. Air Force School of Aerospace Medicine), nhằm phát triễn chương trình huấn luyện các bác sĩ ngành y học hàng không không gian trong nhiệm vụ chuyên môn điều trị và chăm sóc bệnh nhân trên phi cơ hữu hiệu hơn (3).
Đại tá Lynda Vũ bắt Huấn luyện viên sau chuyến bay solo (USAF photo).
Đại tá Lynda Vũ là một trong mười nữ Đại tá Hoa Kỳ gốc việt (2), đó là Đại tá Thu Phan Getka, Bác sĩ nha khoa Hải quân; Đại tá Hồ T Hoa, ngành cơ khí Hải quân; Đại tá Lục quân Phuong T. Pierson; Đại tá Lục quân Danielle J Ngô; Đại tá Vũ Minh Châu, Bác sĩ đoàn y tế công cộng/USPHS; Đại tá Vũ Thế Thùy Anh, Dược sĩ đoàn y tế công cộng/USPHS; Đại tá Roli Lưu, Điều dưỡng đoàn y tế công cộng/USPHS; Đại tá Trần Ngọc Nhung, Bác sĩ nha khoa Hải quân (hồi hưu năm 2012); Và Đại tá Mylene Trần Huỳnh, Bác sĩ Quân y Không quân (hồi hưu năm 2013).
Đại tá Lynda K Vũ được thăng cấp Thiếu tá năm 2000; Trung tá năm 2006; Đại tá năm 2012. Hiện nay Đại tá Lynda Vũ là Chỉ huy trưởng Phi đoàn 48 Quân y hàng không không gian, đồn trú tại căn cứ Không quân Hoa Kỳ RAF Lakenheath Anh Quốc.
Tân Sơn Hòa.
Chú thích: (1) Phi đoàn 42 quân y Không quân tương tự như Tiểu đoàn quân y Lục quân, Hải quân và TQLC; (2) Có một số nữ Đại tá Hoa Kỳ có họ và tên giống người Việt, nhưng không rõ là Việt, Hoa, Đại Hàn hay Mỹ như: Đại tá Lục quân Farrell Theresa Ly; Đại tá Lục quân Stewart Allison Le; Đại tá Hải quân Deramussuazo Nicole Ly; Đại tá Hải quân Melanie R. N. Hao; Đại tá Bác sĩ Ann N Do, USPHS; Đại tá Điều dưỡng Jenny Doan, USPHS v.v... (3) Theo Y sĩ Đại tá Nguyễn Tấn Hồng, Quân y Không quân VNCH, Aerospace Medicine là ngành Y học hàng không (Sách Quân Y QLVNCH).
Tài liệu: Congress.gov; Vietnamese Americans repay the US with military service; RAMs complete first solo flights as part of expanded aviation training; 42nd Medical Group squadrons change leadership; Những người lính Mỹ Gốc Việt Trong Quân Đội Hoa Kỳ-RFA.
Friday, December 11, 2015
Bị ném bom nguyên tử, vì sao người Nhật không thù hận nước Mỹ?
Bị ném bom nguyên tử,
vì sao người Nhật không hô hào tiêu diệt nước Mỹ?
MacArthur
là danh tướng của Mỹ. Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn
công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay
nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật muốn xé xác ông,
còn ông cũng hận người Nhật thấu xương.
Vào
2:5 chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và
đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không
mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng
thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà
họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ
“mất nước, mất nước, mất nước”.
Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng (Ảnh: Internet)
Nền
kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của
Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ
khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ
phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim
tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật
Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm
đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ
tìm con đường sống.
Theo
sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để
chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của
Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính
Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường
thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người
Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì
họ có làm được như thế không?
Tướng MacArthur. (Photo by Archive Photos/Getty Images)
Sau
khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm
chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ
Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày
25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ
chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử
của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ
nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc
này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều
thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người
chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà
kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu
cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế
là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ
kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi
người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
Vào
ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật
Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban
hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của
mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn
tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
Ngày
3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo
Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến
pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử
tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày
3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc
hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban
hành Tân Hiến pháp.
Đây
là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp
đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc
lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh
quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi
này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những
quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có
sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư
trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày
21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính
phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán
đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có
tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Người dân được cả quyền sử
dụng và quyền sở hữu mảnh đất của mình. Tất cả diễn ra không đổ
một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có
được một phần đất cho mình.
Ngày
31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của
giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi
người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của
Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban
Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách
học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm
1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản.
Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát
triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế
trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này
giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang. Hơn 10 năm sau, Nhật
Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn
vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu,
quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người
dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur
Trong
thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi
cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ
can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều
người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
Sáng
ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm
đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho
một số quan chức cấp cao người Nhật biết.
Nhưng
khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến
Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa
tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang
dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người
dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như
hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại
quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn
MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai
tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi
đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã
cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại
để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã
gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi
bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi
dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
Uy
lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của
Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn
chinh phục được người Nhật Bản.
Subscribe to:
Posts (Atom)


























