Wednesday, July 24, 2013

Chim Bay Về Biển


Xin phép chuyển đến các chiến hữu kính quý và những vị từng thương yêu  lính VNCH,
bài viết về một đồng đội đã luôn làm chúng tôi hãnh diện, quí mến.
=================================
 


Chim Bay Về Biển

(thay vòng hoa tiễn biệt Hải-Âu Phan Công Minh)

Một mai chim bỏ bay về biển

Ta đứng một mình ngó nhánh sông

Ta khóc nhìn theo giòng nước chảy

Nghe trăm ngọn sóng vỗ trong lòng

(Sương Mai)

  Buổi chiều, mùa hè Bắc Âu thường có những ngày mưa, ảm đạm. Tôi nhận được thư của bạn Dương văn Hiệp, giám đốc Đài Phát Thanh Nationwide Viet Radio (NVR) từ Hoa Thịnh Đốn, người em họ thương quí của Minh, báo tin Phan Công Minh vừa mới ra đi, trước đó chừng một tiếng đồng hồ. Lòng tôi chùng xuống, điều mất mát lớn lao ấy đã cho tôi cái cảm giác trống rỗng, mọi thứ chung quanh bỗng dưng đều trở thành vô nghĩa. Ngoài trời dường như gió đã ngưng thổi, một cơn mưa hạ vừa đổ xuống những hàng thông đứng lặng yên như chịu tang. Cơn mưa rào đến ào ào nhưng dứt sớm. Đứng trên bao lơn nhìn ra phía trước. Cả một vùng không gian tĩnh lặng. Trước mắt tôi chỉ còn một điểm cử động duy nhất: cánh chim. Cánh hải âu lẻ loi, thư thả, nhịp đôi cánh như hai mái chèo của con thuyền nhỏ trên dòng sông tĩnh mịch, rồi từ từ mất hút giữa không trung. Bất chợt, tôi hình dùng đến Phan Công Minh, một cánh chim Hải Âu (*) vừa trở về với biển.

  Đầu mùa đông năm ngoái, khi vừa sang Cali thăm mấy cô con gái và trốn cái lạnh Bắc Âu, nghe tin Minh bị ung thư gan, trong thời kỳ hóa trị, tôi gọi hỏi thăm. Minh sụt cân, chỉ còn khoảng 30 kg. Vậy mà vẫn vui cười sốt sắng:

  -Nếu dưới đó anh em gặp nhau, có gì vui, hú một tiếng em sẽ bay xuống ngay.

  Tôi cười :

  -Minh còn yếu, cần giữ gìn sức khỏe.

  Minh bình thản và lễ phép như bản tính ngày nào:

  -Em đã qua bao nhiêu năm lăn lộn ngoài chiến trường. Cái chết như đến bất cứ lúc nào. Sống được tới bây giờ là số mạng đã lớn lắm, nên em chẳng màn đến chuyện tử sinh.

  Chúng tôi, đám bạn bè cùng đơn vị thường xuyên gọi cho Minh, gởi cho Minh những bài thuốc dân gian về trị bệnh ung thư. Minh cho biết đã dùng lá đu đủ và thấy hiệu quả, nhưng lúc trồi lúc sụt. Có lúc yếu quá, Minh không dùng điện thoại được, nhưng  bảo cháu Mẫn, trưởng nam thương quí, gọi chúng tôi, cho biết tình hình. Khỏe lại một chút, Minh lại bắt đầu gởi email thăm hỏi, chuyển những tin tức về các cuộc đấu tranh của những người trẻ ở quê nhà, và tâm sự bao điều với anh em. Hai tuần sau lại im lặng. Một thứ im lặng đáng sợ, như ngày xưa, Minh dắt toán viễn thám nhảy vào  vùng địch. “Im lặng vô tuyến” là dấu hiệu địch đang ở rất gần, nguy hiểm.  Bỗng mới đây, cháu Mẫn gọi báo:

  -Ba cháu đã yếu lắm, chắc không còn nhiều thời gian. Các chú, bác sắp xếp có thể lên gặp ba cháu lần cuối cùng!

  Lúc nhận được tin này, vợ chồng tôi đang ở thăm hai người bạn tù tại thành phố Bruxelles, Vương Quốc Bỉ. Tôi điện thoại cho anh Ngô Văn Xuân, ông anh cả khả kính và hết lòng của đơn vị, cùng Mai Xuân Bê, người bạn thân cùng quê, cùng trường thời trung học và cùng đơn vị sau này, thúc dục đi thăm Minh. Tin tức được nhanh chóng chuyền đi đến rất nhiều anh em khác. Nhưng tất cả quyết định không đi nữa, vì Minh đã quá yếu và gia đình đang bận rộn chuẩn bị hậu sự cho Minh.  Sự có mặt của bạn bè anh em trong lúc này chỉ gây thêm phiền toái cho gia đình, vợ con Minh. Rồi cũng chỉ ba hôm sau, mọi sự đã kết thúc. Phan Công Minh đã thực sự nhắm mắt, sau khi nhắn nhủ với vợ con và nhắn gởi lời vĩnh biệt anh em, đồng đội cũ. Yêu cầu duy nhất của Minh là muốn bạn bè ở Cali gởi lên một lá cờ VNCH để vợ con phủ trên di thể và hỏa táng theo Minh.


  Sinh ra và lớn lên ở Phan Thiết. Trước khi bước chân vào quân trường Thủ Đức, Minh là một học sinh ưu tú của trường trung học Phan Bội Châu. Tốt nghiệp Khóa 27 Thủ Đức, Minh xin được về phục vụ tại Trung Đoàn 44BB, lúc ấy bản doanh đặt tại trại Lý Thường Kiệt Sông Mao, cách Phan Thiết khoảng 60 cây số về hướng Bắc.

Tình nguyện vào Đại Đội 44 Trinh Sát, vào thời kỳ đơn vị này đang nổi danh,  tạo nhiều chiến thắng vẻ vang, dưới sự chỉ huy của Trung úy Trần Công Lâm.

  Sau khi tốt nghiệp Khóa Viễn Thám tại TTHL/BĐQ Dục Mỹ, Minh về đơn vị nắm trung đội Viễn Thám. Với khả năng bén nhạy và tính gan dạ liều lĩnh, Minh tiếp tục tạo nhiều chiến công, và được cân nhắc lên làm Đại Đội Phó Tác chiến (khi ấy có Đại Đội Phó CTCT do Th/úy Nguyễn văn Lễ, tốt nghiệp Khóa 1/ĐH.CTCT đảm trách). Cùng với trung úy Trần Công Lâm, một đàn anh, xuất thân Khóa 18 Thủ Đức, một đại đội trưởng “ngoại hạng”, đại đội phó Phan Công Minh liên tục tạo thêm nhiều chiến thắng lẫy lừng. Chiến công của ĐĐ 44 Trinh Sát đã đưa Trung Đoàn 44 trở thành đơn vị xuất sắc nhất của Quân Đoàn II trong suốt mấy năm liền. Minh đựợc thăng cấp đặc cách và nhận rất nhiều huy chương tưởng thưởng.

  Đầu tháng 2/1972, toàn bộ Trung Đoàn di chuyển khẩn cấp lên An Khê để thay thế vị trí của Đơn vị  101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước, và giải toả một số căn cứ của Sư Đoàn Mãnh Hổ Đại Hàn, dọc theo đèo An Khê trên QL 19, bị Cộng quân tạo nhiều vòng đai vây hảm.

  Đến nơi đúng vào chiều mồng một Tết, Đại Đội 44 Trinh Sát được chỉ định làm lực lượng chính đánh vào sau lưng địch. Chỉ trong hai hôm , tất cả các căn cứ Đại Hàn đều được giải tỏa. Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng TMT, và Đại Tướng Tư Lệnh Lực Lượng Đồng Minh Đại Hàn tại VN bay lên An Khê để mừng chiến thắng và ngợi khen các đơn vị tham chiến, đặc biệt là Đại Đội 44 Trinh Sát.

  Ngày 24/4/72, căn cứ Tân Cảnh thất thủ khi Bộ Tư Lệnh của Sư Đoàn 22BB bị địch quân tràn ngập và vị Tư Lệnh, Đại Tá Lê Đức Đạt đã vùi thây nơi chiến địa. Ngày 13/5 toàn bộ Trung Đoàn 44BB có lênh di chuyển khẩn cấp lên phi trường Pleiku để được không vận lên Kontum và ngay sau đó đã liên tiếp tạo nhiểu chiến thắng lẫy lừng giữ vững được Kontum trong suốt mùa hè đỏ lửa. Trung Đoàn 44BB trở thành một trong những đơn vị thiện chiến nhất của QLVNCH trong năm 1972 khói lửa. (theo bản xếp hạng của Bộ TTM)

  Đại úy Trần Công Lâm được điều sang làm Tiểu Đoàn Trưởng TĐ3/44 , bàn giao Đại Đội 44 TS lại cho Trung úy Phan Công Minh, người đại đội phó mà anh rất tin tưởng quí mến. Với một chiến trường cam go, mà lực lượng địch gồm những Sư Đoàn Thép 320, Sư Đoàn 2 Sao Vàng, lúc nào cũng có nhiều ưu thế hơn ta từ quân số đến vũ khí, chiến xa, Đại Đội 44 TS dưới tài chỉ huy của Phan Công Minh đã chứng minh rất hùng hồn về khả năng của chính mình cũng như của đơn vị bách chiến bách thắng này.

  Đặc biệt,  Minh đã chỉ huy Đại Đội đánh một trận thần tốc, chỉ bằng lựu đạn và cận chiến, giải cứu cho một đơn vị BĐQ /BP bị vây trên đỉnh núi ChuPao. Minh bị thương nhưng vẫn tiếp tục điều quân, vừa phá vòng vây cứu nguy cho đơn vị bạn, vừa diệt những cái chốt cuối cùng, khai thông QL 14, để lực lượng chiến xa của Lữ Đoàn II KB lên tăng cường cho mặt trận và hộ tống đoàn xe tiếp tế, lần đầu đến Kontum kể từ khi cuộc chiến khởi đầu. Tướng Trần văn Hai, nguyên Chỉ huy trưởng BĐQ, lúc ấy là TLP/ QĐII đã đến QYV Pleiku ôm lấy người đại đội trưởng trẻ tuổi tài ba gan dạ Phan Công Minh ngay khi vừa mới được tản thương về, và gắn lon đại úy cùng anh dũng bội tinh với nhành dương liễu cho Minh tại đây. Lúc ấy Minh vừa tròn 25 tuổi.

  Sau khi xuất viện, Minh được điều động về làm Tiểu Đoàn Phó 3/44 cho Trần Công Lâm. Hai anh em từng sống chết bên nhau ở ĐĐ44TS bây giờ gặp lại nhau ở cấp chỉ huy của một tiểu đoàn thiện chiến. Nhưng “trong chinh chiến có mấy người trở lại”, tháng 12/1973, người “hùng” vang danh một thời Thiếu tá Trần Công Lâm đã anh dũng hy sinh trên đỉnh núi Ngok Wang đìu hiu gíó hú. Minh tạm thời XLTV Tiểu Đoàn. Hai tháng sau, Sư Đoàn bổ nhậm một vị thiếu tá từ trung đoàn khác sang làm tiểu đoàn trưởng, nhưng không bao lâu, anh ta bất ngờ được thuyên chuyển đi nơi khác, Tiểu Đoàn Phó Minh lại lên thay, Quyền Tiểu Đoàn Trưởng, tiếp tục chỉ huy đơn vị. Chiến trường ngày càng  ác liệt hơn sau khi Hiệp Định Paris vừa ký chưa ráo mực. Bọn CS tráo trở ngang nhiên vi phạm trước sự bất lực của Hoa Kỳ và các quốc gia ký tên trong bản hiệp định bất công, ngu xuẩn ấy. Minh bị thương trong một trận chiến đẫm máu. Sau khi xuất viện, được người anh cả trung đoàn, Trung tá Ngô văn Xuân, người luôn thương yêu quí mến Minh, kéo về làm Trưởng Ban 3 (Hành Quân) cho Trung Đoàn.

  Giữa tháng 3/75, thành phố Ban Mê Thuột, mất vào tay giặc. Trung Đoàn từ Hàm Rồng-Pleiku, lần lượt được trực thăng vận khẩn cấp xuống  Phước An trong kế hoạch tái chiếm thành phố này. Minh theo BCH Trung Đoàn trong đợt đầu tiên. Khi cuộc đổ quân chưa hoàn tất thì Pleiku và Kontum có lệnh di tản. Hơn một nửa đơn vị còn kẹt lại ở Pleiku phải triệt thoái theo con đường “tử lộ” 7.B. Hai tiểu đoàn gần như bị xóa sổ và hai người bạn tiểu đoàn trưởng đã tự sát không để lọt vào tay giặc.

  Khi đại quân với cả trung đoàn xe tăng của Cộng quân từ Ban Mê Thuột tràn xuống Phước An theo QL 21, ông Tân Tư Lệnh SĐ23BB mới nhận chức, vừa cất cánh rời khỏi ngọn đồi Chu Cúc sau một cái bắt tay đầu tiên vội vã với vị Trung Đoàn Trưởng, Cộng quân bao vây và tràn ngập nơi BCH Trung Đoàn được bảo vệ chỉ một đại đội trinh sát đang tạm đóng quân chờ lệnh. Với khả năng và kinh nghiệm điều quân cùng sự gan dạ can trường trong bao nhiêu năm binh nghiệp, vị Trung Đoàn trưởng và anh Trưởng Ban 3 chỉ còn khả năng tìm lối thoát, bảo toàn cho binh sĩ dưới quyền.  
  Đó cũng là thời điểm kết thúc oan nghiệt cho số phận một Trung Đoàn BB thiện chiến và của hai vị Sĩ quan chỉ huy bách chiến bách thắng, chưa hề nghĩ có một ngày phải đành buông súng.

  Sang Mỹ theo diện HO, Minh cùng gia đình sống âm thầm ở một thành phố ngoại ô New York, nơi có bãi biển rất đẹp, để mỗi chiều Minh ngồi nhìn ra biến khơi mà tưởng nhớ tới quê nhà, hình dung tới bao nhiêu khuôn mặt anh em đống đội cũ, kẻ chết, người sống, đang trôi dạt muôn phương, nhưng tất cả đều đã từng cùng Minh anh dũng xông pha chiến trận, từng vui đùa yêu thương trên nỗi chết. Tất cả cũng như Minh, từng có một thời sống rất đáng sống. Minh từng ước ao trở thành cánh chim Hải Âu, bay ra biển khơi tìm về các chiến trường xưa, nghe lại tiếng hò reo chiến thắng của những anh em đồng đội cũ.

  Mỗi lần có tin bạn bè ở xa tới, gặp mặt nhau ở một nơi nào đó trên nước Mỹ, là Minh đều có mặt. Vẫn trầm ngâm, ít nói, uống rượu không biết say, và luôn kính trên nhường dưới, biết anh biết em như thuở còn trong lính.

  Sang Mỹ, Minh làm hai job, thời gian còn lại chưa đủ cho một cơn say, nhiều đêm thức trắng như thuở ngồi trong rừng suốt đêm chờ địch. Lo lắng, sắp xếp cho vợ con có đời sống, học hành ổn định xong, cũng là lúc Minh phải chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Và vẫn sống vui vẻ thanh thản cho đến giờ phút từ biệt thế gian này.

  Trước khi nhắm mắt, Minh đã cố gắng nở một nụ cười, khi nghĩ là mình sắp trở về chiến trường xưa, gặp lại bao nhiếu bạn bè đồng đội đã hy sinh trong những năm tháng bên nhau cùng chiến đấu, và chưa hề chiến bại.

  Từ đây, đám bạn bè còn lại, mỗi lần gặp nhau, dù rượu XO cũng sẽ trở nên nhạt thếch và những nụ cười sẽ không tròn, bởi thiếu Phan Công Minh, một đồng đội, một người bạn, một người anh em mà hai chữ yêu thương , ngưỡng mộ, dường như vẫn chưa đủ để diễn đạt được hết lòng mình.



  Tạm biệt, và hẹn gặp Minh ở một nơi an bình vĩnh cửu. Không còn có chiến trường, tiếng súng, và không có hận thù giữa những con người.

Phạm Tín An Ninh


London 21/7/2013

(*) "Hải-Âu" là danh hiệu của đơn vị (TRĐ. 44BB)

Monday, July 22, 2013

Nguyễn Hiệp Đồng SVSQ K10B72

Nguyễn Hiệp Đồng SVSQ 10B/72
 
Đã từ lâu mình liên lạc được với bạn bè đồng môn 10b72. Ngày vào quân trường giai đoạn 1 minh ở Liên đoàn A Tiểu đoàn Lê Lợi Đại đội 106F DS 131. Giai đoạn đi ứng chiến SG mình đóng quân ở đặc khu 11 Bình Thới. Đi chiến dịch CTCT mình công tác ở TK Long Khánh (CK Định Quán). Giai đoạn 2, 3 mình ra Nha Trang ở Đ. đội766 Tiểu đoàn 12. Những ngày đi phép cuối tuần mình chụp mấy bức ảnh để làm kỹ niệm. Thời gian quá lâu và qua nhiều sóng gió không còn giữ được gì ngoài tấm ảnh nầy minh để trong chiếc gối đầu ngủ hàng đêm trên 20 năm sau nhiều lần thay áo gối bị rách. Mình muốn gửi nó để lưu trử giúp mình trên mạng. Bạn có thể Post vào trang 10b72 vì mình muốn có mặt với bạn bè trên trang nầy. Mong rằng nơi nầy sẽ vĩnh viễn còn mãi theo thời gian.
Xin chân thành cảm ơn bạn .
Xin chúc bạn và gia đinh vui vẻ và hạnh phúc.
                      Thân chào!
 

Thursday, July 18, 2013

Một đời phẫn nộ


ta sinh ra lúc sơn hà bể nửa

lưỡi dao thù cắm xuống xác cha ông
vạch một biên cương nhuộm đỏ sông Hồng
mang xương trắng làm phù sa sông Hậu
ta vùng vẫy, lạc loài trong biển máu
lặn hụp giữa trời đất nổi phong ba

tuổi hai mươi ta mất hẵn quê nhà
lang bạt tứ phương, ngủ bờ ngủ bụi

thù ai đây? trong mười năm lầm lủi
trên gông cùm cứa nát thịt, rách da   
hận ai đây? trên đất chết, tuổi già

trên dấu vết dần phai thời chinh chiến

ta là giống da vàng - thân cái kiến
cõng trên vai mối hận mất quê hương
dù rằng ta gõ gậy bước qua đường
xiềng xích vẫn từng giờ khua rổn rảng

ta ngó ta - ngó bầy đàn hoạn nạn  
nước mắt chan cơm lê lết từng ngày
hai chữ Tự Do nuốt đắng nuốt cay
cũng một Con Người - sao thua sâu bọ?

ta hận ta sống một đời rác cỏ

như chết lâu rồi hồn phách chưa tan
xác trơ trơ phủ đầy bụi thời gian
đau điếng nhìn núi sông đang mai một

cuối đời - ta chẳng biết ta là ai

Monday, July 8, 2013

JOHN L. BORLING



Poems from the Hanoi Hilton
by John Borling, Major General, USAF, Ret.

How did a prisoner of war survive six years and eight months of soul-crushing imprisonment in the Hanoi Hilton during the Vietnam War? By writing poetry. And how did he do it without pencil or paper?
Then-Captain John Borling "wrote" and memorized poems to keep his mind sharp and spirits up. He shared his creations with fellow captives by their only means of communication—the forbidden POW tap code. Rapping on the cell walls with his knuckles, he tapped poems, certainly of pain and despair, but also of humor, encouragement, and hope, to keep everyone’s strength and spirits alive.
With a foreword by fellow POW Senator John McCain, TAPS ON THE WALLS: POEMS FROM THE HANOI HILTON contains all the poems General Borling created during his confinement. You will read remarkable stories of endurance, life lessons, and means to achieve personal triumph.
The pen is truly mightier than the sword. No matter that the pen was only a mind and scarred knuckles ,and the sword, painful and interminable captivity.



WORDS STRONGER THAN WALLS
The world without, within our weathered walls,
Remote, like useless windows, small and barred
Here, months and years run quickly down dim halls,
But says, the daze, the empty days come hard.
I used to count a lot, count everything,
Like excersise and laps and words of prayer.
what hurt that hunger, thoughts that thirst can bring,
Companions, waking, sleeping, always there.
But policy unsanities unwind,
Till bad is good and betterment is worse.
So refuge blanket, net, and morning mind
Create a mingling dream-real universe.
I'm told that steel is forged by heavy blows.
If only man were steel, but then, who knows?

John Borling




John Lorin Borling (born 1940 in Chicago) is a retired Major General of the United States Air Force whose military career spanned 37 years. He has piloted many aircraft including the F-15, F16, F-4, the SR-71 Blackbird, the U-2, and B-52 and B-1 bombers. He is married to his high school sweetheart, Myrna, also from Illinois, they have two daughters.[1]

Contents

Education

Borling attended the United States Air Force Academy, and was subsequently a graduate of the National War College and executive programs at the John F. Kennedy School of Government and the Harvard Business School. He was a White House Fellow and, later, treasurer and director of the White House Fellows governing foundation and for many years a regional selection panel member.

Military career

Borling was a fighter pilot during the Vietnam War, where he was shot down by ground fire. Seriously injured in his crash, Captain Borling still attempted to commandeer a Vietnamese supply truck for his escape. He was able to gain control of a supply truck, but the truck was carrying Vietnamese regulars.[2] Captain Borling was soon overpowered by the soldiers and would spend the next 6½ years as a POW in Hanoi.[3] John Borling was released on February 12, 1973. Subsequent to his return, he was an F-15 Eagle fighter pilot and commander of the “Hat in the Ring” squadron. He was an Air Division commander at Minot AFB, and Head of Operations for Strategic Air Command (SAC) in Omaha. In that position, he directed SAC’s support of hostilities in the first Gulf War and Panama and was charged with execution responsibilities for the nation’s nuclear war plan. At the Pentagon, he led CHECKMATE, a highly classified war fighting think tank and was Director of Air Force Operational Requirements helping initiate a new family of guided weapons. In Germany, he commanded the largest fighter and support base outside the United States and later served at NATO’s Supreme Headquarters in Belgium working directly for the Supreme Commander and Chief of Staff. He was central to the creation of HQ North in Norway and served as Chief of Staff of that integrated NATO/National command.

Writing

Borling created Taps on the Walls: Poems from the Hanoi Hilton: a collection of poems he wrote during his time in captivity.

Civic Activities

Civic activities include: The Commercial Club of Chicago, Trustee, The Lincoln Academy of Illinois, Chicago Host Committee, The Medal of Honor Society Convention, President, Sister Lakes Michigan Land Conservancy, Inductee, Illinois Aviation Hall of Fame, Who's Who in America, and numerous other local and national organizations.[4]

Medals

A highly decorated officer, his awards include:[3][5] The Silver Star, two Bronze Stars with V for Valor and two Purple Hearts. Other medals include:Prisoner of War Medal, Distinguished Flying Cross, Distinguished Flying Cross, Legion of Merit, Defense, Superior Service Medal, Air Force Distinguished Service Medal, Defense Distinguished Service Medal, and the Defense Distinguished Service Medal.[6]





John Lorin Borling

Date of birth: 24-Mar-40
Place of Birth: Illinois, Chicago
Home of record: Chicago Illinois
Status: POW

John Borling graduated from the U.S. Air Force Academy at Colorado Springs, Class of 1963. He was interned as a Prisoner of War in North Vietnam after he was shot down on June 1, 1966, and was held until his release on February 12, 1973.

AWARDS AND CITATIONS


Defense Distinguished Service Medal

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Peace Time Awards

The Secretary of Defense of the United States of America takes pleasure in presenting the Defense Distinguished Service Medal to Major General John Lorin Borling, United States Air Force, for exceptionally distinguished performance of duty contributing to national security and the defense of the United States. Major General Borling distinguished himself by exceptionally distinguished service as Deputy Chief of Staff, Air and Deputy Chief of Staff, Principal Subordinate Command NORTH, Headquarters Allied Forces Northern Europe, Kolsaas, Norway, from January 1992 to June 1994. During this period General Borling made dramatic improvements in the effectiveness of allied air operations in the Northern Region. His outstanding leadership was reflected by the great success of the Tactical Fighter Meet exercise program. His initiative and personal involvement overcame many planning difficulties during a period of massive command restructuring and preserved essential continuity of exercise operations, thus increasing the readiness of the Region's air forces. As Executive Agent for the development of the new tri-service command and control headquarters at Stavanger, Norway, General Borling was the driving force behind the successful establishment of the North Atlantic Treaty Organization's first fully integrated headquarters. His leadership ensured the Commander-in-Chief's goals and priorities were met and the headquarters was properly staffed and equipped to meet mission capability requirements ahead of schedule. The result of his efforts was a model for future integrated headquarters in Allied Command Europe. The distinctive accomplishments of General Borling reflect great credit upon himself, the United States Air Force, and the Department of Defense.
Action Date: January 1992 - June 1994

Service:
Air Force

Rank: Major General

Defense Distinguished Service Medal

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Peace Time Awards

(Citation Needed) - SYNOPSIS: Major General John Lorin Borling, United States Air Force, was awarded a Bronze Oak Leaf Cluster in lieu of a Second Award of the Defense Distinguished Service Medal for exceptionally meritorious and distinguished services to the Government of the United States, to the Government of the United States, in a duty of great responsibility.
Service: Air Force

Rank: Major General

Air Force Distinguished Service Medal

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Vietnam War

(Citation Needed) - SYNOPSIS: Major General John Lorin Borling, United States Air Force, was awarded the Air Force Distinguished Service Medal for exceptionally meritorious and distinguished services to the Government of the United States, to the Government of the United States, in a duty of great responsibility.
Service: Air Force

Rank: Major General

Silver Star

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Vietnam War

The President of the United States of America, authorized by Act of Congress, July 8, 1918 (amended by act of July 25, 1963), takes pleasure in presenting the Silver Star to Major John Lorin Borling, United States Air Force, for gallantry and intrepidity in action in connection with military operations against an opposing armed force during the period from 1 August 1966 to 12 September 1966, while a Prisoner of War in North Vietnam. During this period major Borling was placed into a dark cell, severely harassed and brutally tortured for a war crimes confession. While resisting to the limits of his physical and mental abilities, Major Borling continued to communicate with others who were under heavy enemy pressure, morally inspiring them to hold out for a long period against enemy demands. The word of Major Borling's heroic resistance spread across the prison camp and was a source of inspiration to his fellow officers. By his gallantry and devotion to duty, Major Borling has reflected great credit upon himself and the United States Air force.
Action Date: August 1 - September 12, 1966

Service:
Air Force

Rank: Major

Division: Prisoner of War (North Vietnam)

Defense Superior Service Medal

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Peace Time Awards

Under the provisions of Department of Defense 1348.33-M, the Secretary of Defense of the United States of America takes pleasure in presenting the Defense Superior Service Medal to Major General John Lorin Borling, United States Air Force, for exceptionally superior service to the Department of Defense.
Service: Air Force

Rank: Major General

Legion of Merit

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Peace Time Awards

(Citation Needed) - SYNOPSIS: Major General John Lorin Borling, United States Air Force, was awarded the Legion of Merit for exceptionally meritorious conduct in the performance of outstanding services to the Government of the United States.
Service: Air Force

Rank: Major General

Legion of Merit

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Peace Time Awards

(Citation Needed) - SYNOPSIS: Major General John Lorin Borling, United States Air Force, was awarded a Bronze Oak Leaf Cluster in lieu of a Second Award of the Legion of Merit for exceptionally meritorious conduct in the performance of outstanding services to the Government of the United States.
Service: Air Force

Rank: Major General

Distinguished Flying Cross

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Vietnam War

(Citation Needed) - SYNOPSIS: Major John Lorin Borling, United States Air Force, was awarded the Distinguished Flying Cross for extraordinary achievement while participating in aerial flight in Southeast Asia.
General Orders: Headquarters, 7th Air Force, Special Order G-560 (March 23, 1966)

Action Date: Vietnam War

Service:
Air Force

Rank: Major

Distinguished Flying Cross

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Vietnam War

(Citation Needed) - SYNOPSIS: Major John Lorin Borling, United States Air Force, was awarded a Bronze Oak Leaf Cluster in lieu of a Second Award of the Distinguished Flying Cross for extraordinary achievement while participating in aerial flight in Southeast Asia.
General Orders: Headquarters, 7th Air Force, Special Order G-560 (March 23, 1966)

Action Date: Vietnam War

Service:
Air Force

Rank: Major

Prisoner of War Medal

See more recipients of this award

Awarded for actions during the Vietnam War

Major John Lorin Borling, United States Air Force, was held as a Prisoner of War in North Vietnam from June 1, 1966 until his release on February 12, 1973.
Action Date: June 1, 1966 - February 12, 1973

Service:
Air Force

Rank: Major







MAJOR GENERAL JOHN L. BORLING

photo of MAJOR GENERAL JOHN  L. BORLING


Bio Tools
 Printable bio


Retired Aug. 1, 1996.   Major General John L. Borling is the chief of staff, Headquarters Allied Forces North Europe, Stavanger, Norway. As the principal architect for this new tri-service and integrated North Atlantic Treaty Organization (NATO) and Norwegian National Command, he is responsible for assets in excess of $500 million and 600 people. He also serves as the senior United States military officer in Scandinavia and NATO's Northwest Region.

Born in Chicago, General Borling studied at the University of Illinois and Augustana College prior to graduating from the U.S. Air Force Academy in 1963. He received his pilot wings in August 1964, then completed F-4 fighter training. In 1966, after 97 combat missions in Southeast Asia, he was shot down by ground fire northeast of Hanoi, North Vietnam. Seriously injured, he was captured and spent 6 1/2 years as a prisoner of war. He returned to the United States and resumed his military career to include command of fighter, bomber, tanker, missile and support units at squadron, group and division level. He is a command pilot and has flown many different aircraft. High level staff experience includes the White House, the Pentagon, Strategic Air Command as director of operations for the conflicts in Panama and Iraq, and Supreme Headquarters Allied Powers Europe (SHAPE).

EDUCATION
1963 Bachelor of science degree in humanities and management, U.S. Air Force Academy, Colorado Springs, Colo.
1975 White House Fellow, Washington, D.C.
1976 Armed Forces Staff College, Norfolk, Va.
1980 National War College, Fort Lesley J. McNair, Washington, D.C.
1989 Joint Flag Officer Warfighting Course, Ala.
1991 Senior Managers in Government Course, Harvard University, Mass.

ASSIGNMENTS
1. June 1963 - July 1964, pilot training, Laredo Air Force Base, Texas
2. July 1964 - January 1965, F-4 combat crew training, Davis-Monthan Air Force Base, Ariz.
3. February 1965 - June 1966, F-4 pilot, 433rd Fighter Squadron, George Air Force Base, Calif., and Ubon Royal Thai Air Force Base, Thailand
4. June 1966 - February 1973, prisoner of war, Hanoi, North Vietnam
5. February 1973 - August 1974, T-38 recurrency, Instructor Pilot Instrument School, and F-4 pilot, George Air Force Base, Calif.
6. August 1974 - August 1975, White House Fellow, special assistant to the counselor to the president and executive assistant to special assistant to the president for human resources, the White House, Washington, D.C.
7. August 1975 - January 1976, Armed Forces Staff College, Norfolk, Va.
8. January 1976 - August 1979, operations officer, F-15, 71st and 94th Fighter Squadrons, chief of maintenance training, and commander, 94th Fighter Squadron (Hat in the Ring), Langley Air Force Base, Va.
9. August 1979 - July 1980, National War College, Fort Lesley J. McNair, Washington, D.C.
10. August 1980 - February 1982, chief, Checkmate Group, and assistant deputy director for operational initiatives and joint matters, Headquarters U.S. Air Force, the Pentagon, Washington, D.C.
11. February 1982 - August 1984, commander, 86th Combat Support Group and commander, 86th Fighter Group, Ramstein Air Base, West Germany
12. August 1984 - June 1986, senior special assistant to the chief of staff, and principal staff and executive officer to the chief of staff, SHAPE, Mons, Belgium
13. June 1986 - January 1987, executive to the commander in chief, Headquarters Strategic Air Command, Offutt Air Force Base, Neb.
14. January 1987 - June 1987, assistant for plans and policy, deputy chief of staff, plans, Headquarters Strategic Air Command; and deputy director for analysis, concepts and systems, (Joint Strategic Target Planning Staff), Offutt Air Force Base, Neb.
15. June 1987 - June 1988, commander, 57th Air Division, Strategic Air Command, Minot Air Force Base, N.D.
16. June 1988 - July 1989, assistant to deputy chief of staff, operations, Headquarters Strategic Air Command, Offutt Air Force Base, Neb.
17. July 1989 - February 1991, deputy chief of staff for operations; and deputy director of operations, STRACOS, Headquarters Strategic Air Command, Offutt Air Force Base, Neb.
18. January 1991 - January 1992, director of operational requirements, Headquarters U.S. Air Force, the Pentagon, Washington, D.C.
19. January 1992 - June 1994, deputy chief of staff, Air, Headquarters AFNORTH, Kolsas, Norway
20. June 1994 - present, chief of staff, Headquarters Allied Forces North Europe, Stavanger, Norway

FLIGHT INFORMATION
Rating: Command pilot
Flight hours: More than 3,000
Aircraft flown: Fighter, bomber, tanker and reconnaissance

MAJOR AWARDS AND DECORATIONS
Distinguished Service Medal
Silver Star
Defense Superior Service Medal
Legion of Merit with oak leaf cluster
Distinguished Flying Cross with oak leaf cluster
Bronze Star Medal with "V" device and two oak leaf clusters
Purple Heart with oak leaf cluster
Meritorious Service Medal with oak leaf cluster
Air Medal with five oak leaf clusters
Air Force Commendation Medal with two oak leaf clusters
Presidential Unit Citation

EFFECTIVE DATES OF PROMOTION
Second Lieutenant Jun 5, 1963
First Lieutenant Dec 5, 1964
Captain Mar 10, 1967
Major Apr 1, 1974
Lieutenant Colonel Dec 1, 1976
Colonel Feb 1, 1980
Brigadier General Aug 1, 1987
Major General Dec 1, 1989