Friday, November 23, 2012

Ky 1: Những con đường Trường Sơn đặc biệt


TT - Đó là những con đường nhận và vận chuyển hàng hóa vào miền Nam trong những năm đất nước trải qua chiến tranh. Bên cạnh đường mòn Hồ Chí Minh, đường Hồ Chí Minh trên biển hay con đường ống xăng dầu, những con đường đặc biệt này được mở ra theo những tuyến lạ lùng chưa từng có, vì mục tiêu số một: chi viện khẩn cấp cho miền Nam.
Những câu chuyện độc đáo về các tuyến đường này lần đầu tiên được kể lại một cách có hệ thống trong cuốn sách 5 con đường mòn Hồ Chí Minh của giáo sư Đặng Phong (Viện Kinh tế VN) do Nhà xuất bản Tri Thức ấn hành tháng 8-2008.
Kỳ 1: Vận chuyển quá cảnh
Cổng vào cảng Sihanoukville -Ảnh tư liệu
TT - Bước sang những năm 1960, nhu cầu chi viện vật tư, hàng hóa và vũ khí cho miền Nam tăng lên. Những nguồn viện trợ của Liên Xô, nhất là vũ khí, chiếm phần lớn nhất và quan trọng nhất trong viện trợ, lại gặp khó khăn trong việc vận chuyển qua đất Trung Quốc. Do đó, VN phải tìm một con đường khác để nhận và vận chuyển hàng viện trợ, nhất là vũ khí vào Nam. Con đường đó chỉ có thể là đường thủy. Hướng được lựa chọn là Campuchia.
Mở tuyến
Để củng cố mối quan hệ tối cần thiết này, ngay từ cuối thập kỷ 1950 phía VN đã cử giáo sư Ca Văn Thỉnh sang làm đại sứ tại Phnom Penh. Ca Văn Thỉnh vốn là đốc học tỉnh Bến Tre từ thời Pháp, sau đó trở thành thầy giáo dạy trường trung học tại Sài Gòn mà thái tử Sihanouk là học trò. Quan hệ thầy trò chắc chắn đã góp phần rất quan trọng vào việc thắt chặt mối quan hệ VN - Campuchia.
Với quan hệ tốt đẹp giữa hai nước và trước những đe dọa của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm, thái tử Sihanouk sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho VN trong việc vận chuyển vũ khí. Từ đó, đã mở ra con đường thủy để chuyên chở vũ khí thẳng từ Liên Xô tới cảng Sihanoukville. Rồi sau đó đưa về những kho đặt rải rác dọc biên giới. Từ các kho này hàng được vận chuyển về các địa điểm khác nhau trong vùng căn cứ.
Xe tải trên đường từ cảng Sihanoukville về biên giới VN - Ảnh tư liệu
Từ năm 1966, cường độ chiến tranh tăng lên mức ác liệt. Chi viện bằng đường bộ không đủ. Con đường vận tải trên biển bị kiểm soát gắt gao từ sau "vụ Vũng Rô” (tháng 2-1965). Con đường qua cảng Sihanoukville càng trở thành trọng yếu.
Tháng 7-1966, Trung ương Cục quyết định thành lập Đoàn hậu cần 17, chuyên trách việc tổ chức tiếp nhận hàng chi viện từ miền Bắc qua cảng Sihanoukville, rồi từ đó qua nhiều tuyến vận tải khác nhau vào tới tận B2, tức Nam bộ. Hàng hóa do nước bạn viện trợ khi chở đến cảng này được chuyển vào một kho riêng, mà các bạn Campuchia hay gọi là "kho Việt cộng". Từ đây, có các "đường dây" của Ban Kinh tài đến nhận và chuyển về vùng giải phóng.
Đặt cơ sở
Người phụ trách chính công tác này tại Phnom Penh là ông Nguyễn Gia Đằng, tức Tư Cam, ủy viên Ban cán sự Việt kiều Campuchia (bí danh là Ban cán sự K). Có những thời kỳ phải chấp nhận mức giá "lót đường" cho một số tướng tá Campuchia rất cao: tiền lót đường được tính theo giá 2 đôla/kg vũ khí và 1 đôla/kg các loại hàng khác. Mức giá này luôn thay đổi, tùy theo tuyến đường nào và viên tướng nào quản lý tuyến đường đó. Có những thời kỳ các viên tướng không chịu lấy tiền mà đòi đổi vũ khí. Cũng theo ông Tư Cam, có trường hợp phải chấp nhận chia cho họ 30% số vũ khí quá cảnh.
Bản thân quốc vương Sihanouk sau này cũng kể lại với sử gia Pháp Jean Lacouture về việc này và với nội dung khá trung thực: "Vũ khí chở đến cảng Sihanoukville được chia 1/3 cho chính phủ của tôi, 2/3 cho phía Việt Minh, chưa kể còn những khoản hối lộ khác cho tướng tham mưu trưởng Lonnol".
Báo cáo tổng kết công tác ngoại hối 1964-1975 có đề cập việc vận chuyển theo tuyến này như sau: "Từ 1966-1969, việc đưa vũ khí và vật tư hàng hóa cho chiến trường từ Liên Xô qua đường sắt liên vận gặp trắc trở, ta đã vận dụng sách lược với chính quyền Sihanouk và Lonnol, đưa hàng từ Liên Xô vào cảng Sihanoukville, sử dụng cảng và địa bàn K để đưa vào miền Nam. Nhờ vậy chiến trường đã nhận được 20.478 tấn vũ khí, 1.284 tấn quân trang, 731 tấn quân y, 65.810 tấn gạo, 5.000 tấn muối".
Trong hệ thống tổ chức của đoàn 17 có Công ty thương mại vận tải Hắc Lỷ. Công ty này được chính quyền Campuchia cấp giấy phép kinh doanh trong các tỉnh và thủ đô Phnom Penh. Đoàn vừa làm nhiệm vụ thu mua khai thác các nguồn hàng hóa tại Campuchia, vừa tổ chức tiếp nhận hàng chi viện của Trung ương qua cảng Sihanoukville, tiếp chuyển hàng về khu vực thuộc chiến trường B.52. Biên chế của đoàn chỉ có 84 người nhưng sử dụng lực lượng ngoài biên chế là 564 người, chủ yếu là Việt kiều và hàng trăm nhân dân, binh lính, sĩ quan Campuchia hoạt động cho ta.
Đây là chuyến vận tải hoàn toàn bằng cơ giới, có tới 150 ôtô vận tải, có lúc thuê mướn thêm 300 ôtô, 500 canô để vận chuyển hàng hóa đi các hướng, nên đã vận chuyển và khai thác được một khối lượng hàng lớn và quan trọng. Ngoài ra, đoàn còn có các cơ sở kinh doanh mua bán sản xuất, sửa chữa tại các thành phố của Campuchia như xưởng sửa chữa xe đạp, thực phẩm, may mặc quần áo...
Trong cuốn Trường Sơn - đường Hồ Chí Minh huyền thoại (Nhà xuất bản Trẻ, 2004), đại tá Nguyễn Việt Phương kể: "Một cán bộ đầy tài năng của Tổng cục Hậu cần là Đức Phương được cử vào đóng vai nhà tư sản kinh doanh, làm chủ Công ty thương mại Hắc Lỷ. Đức Phương có dáng người to cao, đường bệ, nước da ngăm nâu, trán hói…, đủ điều kiện để đóng vai một ông chủ hãng buôn lớn xứ chùa tháp.
Miền Bắc đã cung ứng cho Đức Phương đủ vàng và ngoại tệ mạnh để hoạt động kinh doanh. Ông đã mở rộng quan hệ với các quan chức cao cấp ở Campuchia, trong đó có tư lệnh thành phố Phnom Penh là Unxiut. Unxiut đã nhanh chóng kết thân với Đức Phương. Viên sĩ quan phụ tá của Unxiut cũng được Đức Phương ưu ái nên tận tình giúp đỡ. Với mối quan hệ đó, Công ty Hắc Lỷ có thể thuê cả một đoàn xe nhà binh của quân đội Campuchia chở vũ khí và hàng hóa từ cảng Sihanoukville về đến tận biên giới VN.
Đức Phương còn chơi thân với bộ trưởng an ninh của Chính phủ Campuchia. Có lần nhân sinh nhật vị bộ trưởng này, Đức Phương đã gửi một món quà tặng đặc biệt: một chiếc Mercedes mới. Để đáp lễ, bộ trưởng an ninh đã tặng lại Đức Phương chiếc xe cũ mình đang đi làm kỷ niệm. Với chiếc xe này, Đức Phương và các cán bộ của Hắc Lỷ đi đến đâu cảnh sát cũng không đụng tới, chỉ nhìn thấy chiếc xe và số hiệu là đã giơ tay chào. Chính Đức Phương đã tổ chức những chuyến xe đặc biệt chở hàng Z, tức tiền Sài Gòn, vào cho Trung ương Cục".
ĐẶNG PHONG
____________________
Phần việc khó khăn và phức tạp là đưa số hàng tại các kho ở biên giới vào chiến trường miền Nam. Việc này không thể chỉ dùng các biện pháp ngoại giao…

Xem tiếp phần 2 nối các đường dây về nước

Kỳ 8 Cất giữ "kho báu"


Những con đường Trường Sơn đặc biệt - Kỳ 8 Cất giữ "kho báu"
C.32 đón đoàn xe vận chuyển hàng và tiền từ Bắc vào-  Ảnh tư liệu
TT - Tại B2 và các địa bàn khác do Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo, có đơn vị kho quỹ là C.32 trực thuộc Ban Kinh tài (BS.107) của Trung ương Cục miền Nam. Đó là đầu mối, là tổng quỹ tiếp nhận các nguồn tiền mặt từ trung ương phân bổ vào theo đường chuyển tiền mặt AM và do Ban tài chính đặc biệt thuộc Trung ương Cục miền Nam (N.2683) cung cấp theo con đường chuyển ngân FM.
Bí mật quốc gia
Ông Nguyễn Thành Nguyên, người phụ trách kế toán của C.32, kể: "Tôi là trưởng kế toán và quản lý kho bạc, ký hiệu đơn vị tôi là B1/C32/BS107. Anh Hai Cảnh phụ trách kho quỹ. Tôi được phân công theo dõi toàn bộ khoản tiền trung ương chi cho B qua hai con đường. Tiền đôla được trung ương chuyển theo đường bộ qua đường dây của đoàn 559 (Trường Sơn) vào thẳng đến C.32. Tiền Sài Gòn, riel Campuchia, kip Lào được giao chuyển từ nhiều con đường đến C.32... Số cán bộ của C.32 lo "chế biến" có các anh Lý Hồng, Thanh Châu, anh Giàu, Năm Hải, Ba Hài. Các anh này là cán bộ phụ trách, mỗi chốt đều có thêm một số đồng chí khác cùng làm việc...
Mỗi lần trung ương gửi tiền mặt đôla hoặc chuyển khoản đôla đều có điện báo vào C.32, tôi đều vào sổ để đối chiếu số liệu với các bộ phận liên quan. Hằng tháng, quý, năm, kế toán chúng tôi đều có lập báo cáo viết và bản cân đối kế toán nộp lên Ban Kinh - tài. Ông Trần Dương là phó ban, ông Hai Xô, thường vụ Trung ương Cục, là trưởng ban".
Thượng tá an ninh Phạm Bạn - nguyên chiến sĩ cận vệ Trung ương Cục miền Nam - nhớ lại: "Một hôm, ông Hai Xô cho gọi năm anh em bảo vệ (trong đó có tôi) đến giao nhiệm vụ. Ông nói đại ý: Hiện có một số hàng cần bảo quản giữ gìn, đây là bí mật quốc gia, các chú phải coi trọng và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho dù phải hi sinh cả tính mạng. Không có các thủ tục xuất, nhập, giấy tờ, biên bản. Chúng tôi chỉ biết đào hầm bí mật chắc chắn để chứa những hòm sắt dài độ 50cm, dày khoảng 20cm, nặng chừng 12kg, trong ruột có một hộp gắn thiếc nặng chừng 3kg. Bình thường các hộp đó để trong hầm, được canh gác nghiêm mật ngày đêm. Khi có động thì anh em tháo bỏ vỏ, cho các hộp vào balô con cóc, mỗi người mang bốn hộp bí mật chuyển cất giấu ở các cứ dự phòng. Chúng tôi làm công việc thầm lặng này một cách tự giác và nghiêm mật, tôi cảm thấy ngoài ông Hai Già (tức ông Hai Xô) và Ba Thái thì không còn ai biết "kho báu" cất giấu ở chỗ nào.
Một buổi chiều mùa khô năm 1972, hàng chục trực thăng quần đảo và đổ bộ xuống trảng, sát cứ kinh tài Miền. Nguy cơ bị "chụp" chỉ còn trong gang tấc. Anh em cảnh vệ đã tính đến phải mở đường máu để cứu nguy thủ trưởng hoặc chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ "kho báu". Song chính lúc đó, nhờ sự bình tĩnh và dày dạn kinh nghiệm chiến trường của ông Hai, chúng tôi đã giữ bí mật lực lượng cho đến khi màn đêm sập xuống, đối phương không dám nống ra.
Thời cơ ấy cho chúng tôi cắt rừng chuyển cứ suốt đêm, đảm bảo người và tài sản an toàn đến nơi ở mới. Sau này, giải phóng miền Nam, chúng tôi mới được biết mình đã từng bảo vệ "kho bạc" có đến hàng triệu đôla trong bom đạn không hề suy suyển một xu. Trong số năm người thì bốn người đã qua đời vì chất độc da cam và các căn bệnh hiểm nghèo, nay chỉ còn lại mình tôi. Còn ông Hai Già - người thủ trưởng năm xưa của chúng tôi - nay đã ở tuổi 91".
Những cái "kho"
Dưới nền căn nhà lá này là “kho báu” (người ngồi võng là Phạm Bạn, chiến sĩ cận vệ Trung ương Cục miền Nam), tại cứ R năm 1973 - Ảnh tư liệu
Trong hệ thống phân phối tiền từ Trung ương Cục tới các phân khu, có hệ thống các kho quỹ của khu và tỉnh. Nói đến chữ kho, người ta thường hình dung những ngôi nhà kín cổng cao tường với những két sắt kiên cố...
Nhưng cái gọi là kho của các khu và các tỉnh thời kỳ này thật ra chỉ là một hòm sắt. Bà Đỗ Thị Lệ Hồng sau khi làm công tác vận chuyển tiền, năm 1970 được phân công phụ trách kho quỹ của Khu IX. Bà kể lại: "Cơ ngơi kho quỹ của tôi chỉ là một chiếc bàn nhỏ và một chiếc hòm sắt, vốn là thùng đựng đạn đại bác, có nắp kín, không thấm nước. Tiền để trong đó. Công việc tôi được giao là cấp phát tiền theo lệnh của khu cho các đơn vị. Tiền đó chủ yếu để chi tiêu cho các đơn vị như mua sắm, trả tiền thuê mướn, vận chuyển. Còn tiền lương thì tất cả miền Tây lúc đó không có, chỉ có sinh hoạt phí. Mức sinh hoạt phí của mọi người như nhau.
Bản thân tôi cũng như tất cả các đồng chí khác, từ lãnh đạo khu cho tới nhân viên đều được hưởng một khoản sinh hoạt phí mà tôi không nhớ là bao nhiêu, chỉ nhớ rằng tính ra hằng tháng chỉ mua được một ống kem đánh răng và một bàn chải. Còn cái "kho" của tôi thường xuyên phải dìm xuống sình 3-4 lần một ngày. Mỗi lần có máy bay, có đại bác bắn thì người phải chui vào hầm, "kho" thì dìm xuống sình để nếu lính càn tới không tìm thấy tiền, bom đạn bắn phá cũng không bị hư nát. Khi có người đến lãnh tiền, giao tiền lại phải kéo "kho" lên. Kéo lên xong thì rửa tay cho sạch. Làm xong công việc lại đưa kho xuống sình. Tay tôi vì thế suốt ngày lấm lem vì sình" .
Tại chiến trường Liên khu V, nguồn tiền trung ương đưa vào được ngân tín Khu V, thuộc Ban Tài - mậu Liên khu ủy, tiếp nhận, quản lý và phân phối. Nếu phải "chế biến" từ đôla Mỹ ra tiền Sài Gòn thì ngân tín các tỉnh được giao trách nhiệm thực hiện chế biến phân tán lẻ, theo sự chỉ đạo về số lượng và tỉ giá tối thiểu của tài - mậu khu ủy V... Ông Võ Văn Kiểu, người phụ trách ngân tín Bình Định, cho biết: "Năm 1968 tôi được Ngân hàng Trung ương cử đi B1, phụ trách trưởng tiểu ban ngân tín, trực thuộc Ban Tài - mậu Tỉnh ủy Bình Định. Nguồn tiền mặt đôla Mỹ, trung ương giao cho khu, khu giao cho tỉnh quản lý và chế biến. Số lượng đôla cần chế biến ra tiền Sài Gòn cũng như tỉ giá tối thiểu giữa đôla và tiền Z đều do khu ủy chỉ đạo.
Tiền đôla từ căn cứ chiến khu cần chuyển tới vùng ven thành phố Quy Nhơn, do cán bộ ngân tín phụ trách. Còn các cán bộ hoạt động hợp pháp trong thành phố thì liên hệ với các cơ sở thương nhân để đặt yêu cầu, xác định số lượng và tỉ giá. Nguyên tắc là "tiền trao cháo múc". Lấy "Núi Bà” vùng ven chiến khu làm nơi giao nhận tiền. Từ đây, tiền Sài Gòn tiếp tục do các cán bộ ngân tín đưa về căn cứ các nơi theo chỉ đạo của tỉnh và khu ủy. Trong những cán bộ ngân tín làm nhiệm vụ này, hiện ở Bình Định còn nhiều người đang công tác tại các ngành. Như anh Thao, giám đốc Vietcombank Quy Nhơn hiện thời, đã từng làm nhiệm vụ trên, khi đó anh Thao mới 17, 18 tuổi".
ĐẶNG PHONG
------
Sau khi đã nhận và đưa tiền về các khu căn cứ, B.29 báo bằng mật mã ra Hà Nội để lo việc thanh toán cho đối tác bằng cách chuyển tiền tới tài khoản của họ ở nước ngoài. Chuyển tiền bằng điện hối, séc. Nhưng sự thể hiện trên giấy trắng mực đen thì không ai biết đó là gì cả. Tất cả đều đã được quy ước. 

Xem tiếp phần 9 Những Tờ Check Mả Hóa

ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN HÔM NAY

Lời cuối sách
ĐƯỜNG TRƯỜNG SƠN HÔM NAY
Ghi chép của Hồng Quang

Khởi phát ý tưởng xây dựng một ấn phẩm về đường Trường Sơn mang tên "Trường Sơn - Đường khát vọng” nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày mở đường Hồ Chí Minh được bắt đầu từ tháng 3/2009 và phải in xong trước ngày 10/05/2009.

Làm cuốn sách này có nhiều cái khó, thứ nhất là thời hạn gấp rút mà nội dung lại đề cập đến nhiều vấn đề chuyện xưa và nay trải dài gần nửa thế kỷ xoay quanh tuyến đường lịch sử từ khi nó chỉ là những lối mòn đến nay đã thành quốc lộ thênh thang. Thứ nữa là kinh phí để làm sách rất eo hẹp, hầu như từ số không.

Tuy nhiên, làm ấn phẩm này, ban biên soạn coi là một việc nghĩa, một sự tri ân với những người đã mất và cả những người còn sống đã một thời không tiếc xương máu, không tiếc tuổi xanh cùng với cả nước làm nên những chiến công lẫy lừng. Cuốn sách này còn có tác dụng cung cấp tư liệu cho thế hệ trẻ ngày nay hiểu thêm một chặng đường lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước đồng thời nó cũng phản ánh được những nét đổi thay sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phỏng.

Đất nước sang một trang sử mới, tuyến đường Trường Sơn xưa đã được xây dựng lại thành đường Hồ Chí Minh và kéo theo đó cũng là một sự thay đổi lớn lao về bộ mặt kinh tế của những vùng, địa phương có tuyến đường đi qua. Tất nhiên, tuyến đường không chỉ có ý nghiã phát triển kinh tế ở miền tây của đất nước dọc theo dải Trường Sơn mà còn mang nhiều ý nghĩa về mặt chính trị, quốc phòng và đặc biệt là ý nghiã xã hội, dân tộc.

Với tất cả những ý nghĩa này mà đoàn "khảo sát" đường Trường Sơn mới chúng tôi lên đường vào giữa tháng 3/2009. Đoàn gồm có anh Nguyễn Sĩ Cứ, Tổng Biên tập Tạp chí Vietnam Business Forum, nhà thơ Châu Nho, nhà báo trẻ Hương Ly; anh Thắng lái xe và tôi. Thành phần như vậy là tương đối đầy đủ và gọn nhẹ; có già có trẻ, có nam và nữ.

Anh Sỹ Cứ và anh Châu Nho đều là những cựu binh tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ, hơn nữa lại hoạt động ở chính những khu vực mà tuyến đường lịch sử đi qua. Vì thế trên chặng đường dài dằng dặc các anh luôn kể những câu chuyện ngày xưa khi đến những miền đất cũ, đi qua những kỷ niệm chiến trường, hồi tưởng lại những bạn bè, đồng đội...

Những câu chuyện mà chắc chẳng có sách báo nào có thể viết ra được hết. Đối với chúng tôi, thế hệ sau không được trực tiếp cầm súng ra chiến trường thì đó là lịch sử sống động, là chuyện người thật việc thật một trăm phần trăm. Được đi thế này mới biết rằng đã có rất, rất nhiều sách báo, phim ảnh, nhạc phẩm, thơ văn về đường Trường Sơn nhưng sự thật lịch sử hào hùng ấy còn lâu mới viết hết được. Trường Sơn, quả thật nó còn là nguồn cảm hứng vô tận cho tất cả các ngành nghệ thuật.

*
*   *

Điểm đến đầu tiên của Đoàn là cột mốc số 0 tại huyện Tân Kỳ (Nghệ An). Khu vực "km số 0" này đã được xây dựng khá khang trang và thoáng đãng trở thành một công viên nhỏ có nhiều cây xanh của các vị lãnh đạo trồng lưu niệm. Trên bệ đặt cột mốc còn được xây dựng thành sân khấu có thể tổ chức mít tinh hoặc biểu diễn nghệ thuật. Trong khuôn viên còn có trụ sở của Ban quản lý di tích trưng bày các tư liệu lịch sử, tranh ảnh hiện vật suốt quá trình xây dựng đường Hồ Chí Minh từ trong chiến tranh và sau giải phóng đến nay.

Điểm di tích lịch sử này còn có một ý nghĩa rất đặc biệt trong suốt chiều dài tuyến đường. Hiện nay vẫn còn có nhiều ý kiến tranh luận: Tại sao lại có km số 0 ở đây? ở Đức Lạc, Đức Thọ (Hà Tĩnh) cũng có km số 0; trên tuyến đường 20 của Quảng Bình cũng có km số 0; ở Hoà Lạc nơi bắt đầu tuyến đường Hồ Chí Minh cũng có km số 0 Vậy "km số 0" ở Tân Kỳ (Nghệ An) được hình thành ra sao và nó có vị trí như thế nào đối với cả tuyến đường?

Đem những câu hỏi này đến lãnh đạo Huyện uỷ, ủy ban nhân dân huyện Tân Kỳ chúng tôi được giới thiệu với một cán bộ được coi là am hiểu vấn đề này và đã từng sưu tập tài liệu xoay quanh km số 0 tại Tân Kỳ. Ông là Vũ Văn Kiều, đại tá, chính trị viên Ban chỉ huy quân sự huyện Tân Kỳ đã nghỉ hưu, ông nhập ngũ từ năm 1967 từng vào Nam ra Bắc, từ năm 1983 đến năm 1998 làm chỉnh trị viên huyện đội và làm các phần tư liệu chuẩn bị cho kỷ niệm 30 năm Bộ đội Trường Sơn.

Ông Kiều cho biết: "Con đường Hồ Chí Minh nếu tính từ phía nam ra bắc có 5 trục đường chính, điểm vươn ra bắc xa nhất, giao điểm của đường 15A và đường 15B là ở Tân Kỳ. Chính cột mốc cũ cắt đường 15A được mở từ năm 1971".


Logged

SaoVang
Đại tá
*

Bài viết: 8205


« Trả lời #292 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2010, 05:39:53 PM »


Tại sao lại có nhiều ý kiến khác nhau về đường mòn Hồ Chí Minh bởi vì có những con đường mòn, đi mãi thành đường rồi sau có khi lại mất, lấp lại ngay. Vả lại, đường mòn Hồ Chí Minh bao gồm rất nhiều con đường hình thành nên. Có đường mòn sau này lại trở thành đường cơ giới chiến lược.

Cái mốc đầu tiên phải nhớ đó là ngày 19/5/1959 Bác Hồ ký quyết định thành lập Đoàn 559, sau này gọi là Bộ đội Trường Sơn. Đoàn lúc đó gần 500 người, chủ yếu là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc. Lúc đó ông Nguyễn Văn Vịnh, là Trưởng ban Thống nhất Trung ương trực tiếp giao cho ông Võ Bẩm thành lập đơn vị đầu tiên đi bộ, gùi hàng trên vai, mang một số vật dụng, quân dụng vào Nam. Hiện nay các tỉnh Quảng Bình, Hà Tĩnh cũng đặt cột mốc số 0, nhưng vấn đề là địa điểm Khe Hò là đơn vị bộ đội đầu tiên vận chuyển vào Nam bằng con đường cơ giới chiến lược.

Trong cuốn “Ba mươi năm bộ đội đường Hồ Chí Minh" do Binh đoàn Trường Sơn xuất bản cũng đã ghi rõ: "Đường Hồ Chí Minh khởi nguồn từ Tân Kỳ (Nghệ An - quê Bác) vắt qua dãy Trường Sơn trùng điệp chạy suốt tận Chơn Thành -gần thành phố mang tên Người". Cuốn sách này do ông Lê Si, đại tá làm chủ biên, xuất bản tháng 5/1989. Đây có thể coi như một tài liệu chính thức của Bộ đội Trường Sơn công nhận “km số 0" tại Tân Kỳ (Nghệ An). Và cũng chính vì vậy mà Nhà nước mới cho xây cột mốc số 0 hoành tráng như hiện nay.

Anh Nguyễn Duy Thuỷ, Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Tân Kỳ còn bổ sung thêm: “ngược lại lịch sử vài trăm năm con đường mà những nhà nghiên cứu lịch sử đặt tên là “đường Thượng đạo" của Quang Trung khi tiến quân ra Bắc cũng rất trùng hợp với đường Hồ Chí Minh này".

Vị trí "km số 0" ở Tân Kỳ là một điểm đặc biệt, phải đi gấp khúc tay áo, vào Nam hay ra Bắc theo tuyến đường thượng đạo đều phải qua đây. Hơn nữa Tân Kỳ còn có nhiều lợi thế để đóng quân, làm hậu cứ, làm điểm xuất phát. Nó có hệ thống hang động, rừng núi nếu nâng cấp có thể đóng quân hàng sư đoàn, thậm chí có cả sân bay cho máy bay lên thẳng.

Trong cuộc kháng chiến chống giặc Minh, Lê Lợi đã chọn địa bàn Tân Kỳ làm nơi tập kết mộ binh, luyện quân, cất giữ lương thảo và đã ra quân với trận đầu Trà Lân oanh liệt được Nguyễn Trãi ghi trong Bình Ngô đại cáo: “miền Trà Lân trúc chẻ tro bay". Trà Lân là một địa danh thuộc huyện Con Cuông, giáp với Tân Kỳ.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Tân Kỳ thực sự là hậu phương chiến lược của Quân khu 4 và cả nước; là nơi có các kho tàng quân sự, nơi trú quân huấn luyện của các sư đoàn 318, 324, 316A, 316B và là nơi dừng chân làm công tác tổ chức bổ sung lực lượng, vũ khí, phương tiện của các binh đoàn chủ lực khi vào các chiến trường miền Nam chiến đấu.

Đất và dân Tân Kỳ cũng là nơi, chở che đùm bọc Trường Quân chính liên khu 4; Trại điều dưỡng tâm thần; Trường Trung học sư phạm miền núi; Trường sư phạm mẫu giáo Nghệ An và trên 3 vạn người dân Vĩnh Linh ra sơ tán trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ ác liệt. Nếu nhìn một cách xuyên suốt, có thể nói Tân Kỳ là nơi ghi nhiều dấu ấn của nhiều cuộc kháng chiến.

Địa bàn Tân Kỳ không chỉ là hậu phương của cả nước mà còn là điểm tập kết của cả hệ thống xã hội chủ nghĩa. Chúng tôi đang xây dựng đề án để lập một tượng đài, có phù điêu để ghi lại những chiến công của quân và dân Tân Kỳ. Phù điêu này có thể sẽ được ghi là "Hậu phương hướng về tiền phương".

Tân Kỳ hiện còn nghèo, nhưng là một trong bảy trung tâm văn hoá của tỉnh. Nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội của huyện chưa được khai thác hết, đặc biệt là từ khi con đường Hồ Chí Minh xây dựng xong, Tân Kỳ càng có những điều kiện thuận lợi hơn.

Tuyến đường Hồ Chí Minh chạy qua huyện Tân Kỳ từ đông bắc tới tây nam dài 38 km, cách Hà Nội gần 300 km đã trở thành tuyến đường giao thông rất quan trọng để phát triển kinh tế. Toàn huyện có 7.000 ha đất canh tác trên tổng diện tích 72.000 ha, trong đó một phần tư đất rừng. Để khai thác quỹ đất này, huyện đã đầu tư trồng cây công nghiệp dài ngày. Hiện có trên 1.000 ha cao su, trong đó 800 ha đã được thu hoạch. Trong quy hoạch, diện tích trồng cao su sẽ tăng từ 4.000 - 5.000 ha.

Cây mía còn được gọi là "cây xoá đói giảm nghèo" của Tân Kỳ, có thể lợi nhuận không được nhiều nhưng đây là loài cây dễ trồng có thể tận dụng được rất nhiều loại đất để trồng. Nhưng năm trước huyện mới có 2.000 ha mía, phục vụ cho nhà máy đường 1.200 tấn/ngày. Hai năm qua đã nâng diện tích mía lên 3.500 ha, phục vụ cho nhà máy đường 1.600 tấn/ngày và kế hoạch tới đây sẽ nâng công suất lên 2.500 tấn/ngày.


Logged

SaoVang
Đại tá
*

Bài viết: 8205


« Trả lời #293 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2010, 05:40:36 PM »


Từ sau khi có tuyến đường Hồ Chí Minh mới Tân Kỳ đã có sự thay đổi rất lớn. Nhìn chung, nhân dân trong huyện đã biết chuyển sang sản xuất hàng hoá, đi sâu vào thâm canh. Tuy nhiên vẫn phải đảm bảo cung cấp lương thực đủ ăn trong toàn huyện ở mức 4,6 tạ/người/năm. Quỹ đất chủ yếu vẫn là trồng rừng để bán nguyên liệu cho ngành công nghiệp sản xuất giấy. Đi theo hướng này người dân Tân Kỳ có thể sống được bằng kinh tế rừng với mức thu nhập ròng 7 triệu đồng/ha/năm.

Hướng về công nghiệp, huyện sẽ tận dụng những ưu thế sẵn có là cát, sỏi, đá, đất sét là nguồn nguyên liệu phục vụ cho ngành xây dựng. Đá ở đây có nhiều loại: granite, đá trắng xay thành bột đá siêu mịn, đá vôi để sản xuất xi măng...Theo khảo sát huyện có trữ lượng 2,8 tỷ tấn nguyên liệu để sản xuất xi măng chất lượng cao.

Ngày 04/3/2009, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 535/TTG-KTN đồng ý bổ sung dự án xi măng Sài Gòn - Tân Kỳ vào quy hoạch phát triển công nghiệp xì măng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Dự án này do Tập đoàn Đầu tư Sài Gòn làm Chủ đầu tư, giai đoạn I có công suất 2.500 tấn clinke/ngày tương đương khoảng hơn 1 triệu tấn ximăng/năm với 100% vốn đầu tư của Nhà đầu tư dự kiến sẽ khởi công vào cuối năm 2009.

Ngoài ra, huyện Tân Kỳ còn có vùng nguyên liệu đất sét nổi tiếng làm gốm hoặc làm ngói chất lượng cao tại thị trấn Cừa. Vấn đề là phải đầu tư vào công nghệ cao để làm tăng giá trị của đất. Đường Hồ Chí Minh chạy qua Tân Kỳ là một lợi thế lớn. Nhưng khai thác, sử dụng nó như thế nào vẫn là những câu hỏi bức xúc của lãnh đạo huyện. Các dự án phát triển kinh tế của huyện đều phải tính đến việc sử dụng phát huy con đường này.

Tuy nhiên, các đồng chí lãnh đạo huyện cũng muốn đề xuất với tỉnh và Nhà nước cần quan tâm nhiều hơn nữa mới có thể khai thác hết năng lực của con đường chiến lược này, phát triển kinh tế xã hội phía tây của Nghệ An. Sự quan tâm, theo lãnh đạo huyện không phải việc cho tiền mà là đầu tư để khai thác, phải xác định đâu là lợi thế của huyện để đầu tư đúng hướng, có trọng tâm trọng điểm chứ không dàn trải.

Đầu tư cơ sở hạ tầng ngoài con đường Hồ Chí Minh là trục chính còn cần đầu tư một hệ thống “đường xương cá" đến những cụm điểm công nghiệp của huyện hoặc vùng. Chính sách để phát triển miền tây, ngoài việc đầu tư vào hạ tầng còn cần đầu tư nâng cao chất lượng lao động, đào tạo nghề cho người lao động gắn với đặc điểm kinh tế miền núi. Cần phải có một sự đầu tư đồng bộ như vậy mới có thể khai thác đầy đủ những lợi thế của khu vực miền núi phía tây này.

Rời Tân Kỳ, đoàn chúng tôi tiếp tục hành trình vào sâu dãy Trường Sơn. Đường Hồ Chí Minh ngày nay làm đẹp, đường phẳng, vắng người, ô tô có thể chạy trên 100km/h dù đường có quanh co qua đèo, qua núi. Với tốc độ này mà so sánh với tốc độ bộ đội ta hành quân ngày xưa thì "chẳng biết nói thế nào". Mọi sự so sánh đều khó khăn quá mà. Chỉ thấy các anh Bộ đội Trường Sơn trong đoàn xuýt xoa: "ấy cái đoạn mình vừa đi qua, bọn tớ ngày xưa đi mất nửa tháng đấy”.

Dọc tuyến đường quốc lộ mới, thi thoảng lại qua một vài điểm có dân, lác đác đã có những người dân ra đường bán khoai, ngô luộc hoặc vài thứ lâm thổ sản của địa phương. Đường xe chạy rất vắng người và xe cộ qua lại. Quả thật, Nhà nước đã bỏ ra khá nhiều tiền để xây dựng nên tuyến đường này cũng mong để cho dân cư hai bên đường đông đúc lên, tiến bộ hơn, kinh tế sẽ khá lên và theo đó là sự phát triển cả văn hoá, xã hội để miền núi tiến kịp miền xuôi

Tuy nhiên, để có thể trở thành một tuyến đường tấp nập xe cộ có lẽ còn lâu lắm vì còn cần nhiều yếu tố khác nữa. Không phải cứ có đường là kinh tế phát triển, cuộc sống đổi thay. Mong muốn là một chuyện, thực tế là một chuyện. Vả lại, muốn thay đổi cũng cần phải có một thời gian nhất định.

Cách thành phố Đồng Hới khoảng hơn 40 km về phía Nam theo đường Trường Sơn đoàn chúng tôi còn ghé một địa danh khác đang được tỉnh Quảng Bình đầu tư để làm điểm du lịch sinh thái, đó là khu suối nước khoáng Bang, thuộc huyện Lệ Thuỷ. Từ trục đường Hồ Chí Minh đi lên phía tây (giáp biên giới Lào) rẽ phải khoảng 15km theo tỉnh lộ là đến suối nước nóng Bang.

Thoạt tiên chúng tôi cứ ngỡ là đi vào một công trường, đất đai lổn nhổn, suối chẳng thấy đâu, một vài dày nhà lèo tèo nằm ẩn trên sườn núi, lọt thỏm giữa rừng xanh. Có đâu hình ảnh suối Bang như mơ trong một bức hình quảng cáo tại một khách sạn ở Đồng Hới. Trong bức tranh sơn thuỷ có cả cô "sơn nữ” xinh đẹp tươi cười nổi bật giữa rừng xanh, nắng vàng. Té ra quảng cáo với sự thật khác nhau ghê lắm. Thậm chí, quanh khu vực này không có một ai để hỏi thăm.

Thôi thì cứ liều vào cái "công trường dở dang" ấy xem sao vì đây đúng là khu suối nước khoáng Bang rồi. May sao có anh công nhân của xí nghiệp khai thác nước khoáng đang trực trong một căn nhà cấp bốn. Phía trước còn đậu một xe ô tô đang lấy nước khoáng nóng.


Logged

SaoVang
Đại tá
*

Bài viết: 8205


« Trả lời #294 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2010, 05:41:21 PM »


Dọc theo một con suối nóng có những chỗ hơi nước bốc lên nghi ngút, lên đến gần cuối bãi có một “căn nhà" lồng sắt quây 4 phía một cái trụ bằng xi măng. Dưới cái trụ xi măng ấy là một ống thép dẫn nước nóng, nước khoáng tự trong đất đá trào lên chứ chẳng cần bơm hút gì cả. Cái trụ xi măng ấy xây lên để ngăn cột nước bắn lên cao té nước nóng ra xung quanh. Người ta phải làm lồng sắt để tránh nguy hiểm cho mọi người. Nước ở đây đo được sôi đến 105oC, có thể nói là nóng nhất trong các loại suối nước nóng ở Việt Nam, mà không chừng cả khu vực Đông Dương. Mùi lưu huỳnh đậm đặc bốc lên hăng hăng, thum thủm.

Theo những công nhân làm ở đây thì nước được đưa về xí nghiệp của huyện mỗi ngày khoảng 2 xe. Sau đó xí nghiệp xử lý qua một số công đoạn rồi đóng chai đưa ra thị trường. Còn ở tại đây, khi suối nước nóng phun lên còn tạo ra một số vũng nước nhỏ vẫn sôi sùng sục suốt ngày suốt đêm. Khách đến thăm thường có mang hoặc mua ngay tại nhà của công nhân trực ở đây một ít trứng vịt lộn rồi thả xuống ngâm độ 10 phút là trứng chín. Anh Châu Nho hăng hái mua cả một rổ trứng vịt lộn xuống ngâm. Trứng ngâm trong nước khoáng nóng 105oC ăn tuyệt ngon.

Tìm hiểu kỹ hơn chúng tôi được biết khu suối nước khoáng nóng Bang này đã được tỉnh Quảng Bình phê duyệt cho chủ đầu tư là Công ty trách nhiệm hữu hạn Đông Dương xây dựng và khai thác từ tháng 3/2008. Hiện nay, Công ty này đang đầu tư xây dựng khu suối nước khoáng thành một khu mang tên khu nghỉ dưỡng phục hồi chức năng suối nước nóng Bang".

Đây thật là một điểm du lịch đẹp và quý do thiên nhiên ban tặng cho Lệ Thuỷ - Quảng Bình. Nếu chủ đầu tư thực sự tâm huyết để xây dựng khu du lịch này, nếu đường xá đi vào được cải tạo tốt hơn và nếu công tác tuyên truyền quảng bá được rộng rãi thì tôi tin rằng nơi này sẽ thu hút khách. Đây cũng chính là những điểm nhấn, kích thích cho kinh tế quanh khu vực, nơi có Đường Trường Sơn đi qua phát triển. Hết chiến tranh là phải làm kinh tế, và du lịch chính là một trong những ngành kinh tế đang phát triển mạnh. Quảng Bình đã có động Phong Nha - Kẻ Bàng, có bãi biển Nhật Lệ, nay lại có suối nước nóng Bang, tiềm năng phát triển du lịch rất dồi dào.

Trở lại với tuyến đường Trường Sơn, chúng tôi đến Ban Quản lý di tích tỉnh Quảng Bình. Chị Trần Thị Lý, Phó ban cho chúng tôi biết: “Quảng Bình có 7 cụm di tích lịch sử liên quan đến đường Trường Sơn, được Nhà nước công nhận xếp hạng từ năm 1986, gồm:

một là, các trọng điểm trên đường 12, Khe Ve, La Trọng, Cổng Trời, đồi 37 (nơi anh hùng Nguyễn Viết Xuân hy sinh để lại câu nói nổi tiếng: "Nhằm thẳng quân thù mà bắn"), Bãi Dĩnh;

hai là, đường 20 - Quyết thắng, Km số 0 của đường 20, cầu Trà Ang, Đền 8 thanh niên xung phong hy sinh do bom Mỹ đánh sập cửa hang (còn gọi là hang 8 cô), Trọng điểm ATP (cua chữ A, ngầm Ta lê, đèo Phu La Nhích);

ba là, bến phà Xuân Sơn (bến A);

bốn là bến phà Long Đại (Hiền Ninh);

năm là, cơ sở chỉ huy Bộ tư lệnh 559 ở Hiền Ninh, huyện Quảng Ninh;

sáu là, trạm thông tin A72 tại xã Ngân Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ;

bảy là, các hang động ở xã Hoá Thanh, Hoá Tiến, huyện Minh Hoá (các hang này sử dụng để làm kho vũ khí).

Ngoài ra còn rất nhiều di tích lịch sử nữa đã và đang được Ban quản lý lập hồ sơ để xin công nhận như: đồi Trà Ang, hang Lèn Hà, rồi Ngầm Dinh, đèo Đá Đẽo, cầu Ca Tam, cảng cá Thanh Khê, v.v..

Thực ra với một danh sách dày như thế cũng có thể chưa phản ánh hết được những chiến công hay những hy sinh mất mát mà quân và dân Quảng Bình phái gánh chịu trong những năm chiến tranh. Thấy được những địa danh này mới thấy được thế nào là "Tuyến lửa" anh hùng.

Hết Quảng Bình là vào đến đất Quảng Trị, vì là ngày nghỉ khối các cơ quan đơn vị đều không làm việc nên đoàn chúng tôi quyết định dành hẳn một ngày để viếng hai nghĩa trang. Hôm nay là ngày chủ nhật, nắng gắt, đoàn chúng tôi đến Nghĩa trang Trường Sơn - nơi chôn cất hàng vạn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên chiến trường để thắp hương tưởng niệm các anh. Hầu như đoàn khách nào đi qua cũng ghé vào đây thắp hương.


Logged

SaoVang
Đại tá
*

Bài viết: 8205


« Trả lời #295 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2010, 05:42:08 PM »


Trưa hôm ấy ngoài một số đoàn thăm viếng có đoàn của tập thể thầy cô giáo và các em học sinh trung học ở Vĩnh Linh đến làm lễ thắp hương tưởng niệm. Đoàn được tổ chức rất chu đáo, các em học sinh ăn mặc đồng phục chỉnh tề, có kèn, trống và vòng hoa, có cả ban tổ chức là Ban Quản lý nghĩa trang Trường Sơn đem micro đọc trên loa bài điếu văn tưởng nhớ công lao các anh hùng hệt sĩ đã hy sinh vì Tổ quốc. Tiếp đến là những lời hứa trước linh hồn những chiến sĩ Trường Sơn của các thầy cô giáo và các em học sinh cố gắng học tập tốt, dạy thật tốt để trở thành lớp người xây dựng mảnh đất này giàu đẹp hơn, mảnh đất mà hàng vạn sinh mạng đã ngã xuống để giành được độc lập.

Giữa trời trưa nắng gắt, với một bầu không khí trang nghiêm và tại đây, một khu nghĩa trang rộng bát ngát, tôi cũng cảm nhận một không khí linh thiêng khó tả. Thắp nén hương cho các anh mà hồn tôi cũng lắng sâu. Đối với các anh Sĩ Cứ, Châu Nho là các anh thắp hương cho đồng đội. Đối với tôi là thắp hương cho những người anh, người chi thân thiết của tôi. Ai mà chẳng phải chết, nhưng có những cái chết vinh, có những cái chết nhục. Cái chết của những liệt sĩ sẽ đời đời được Tổ quốc ghi công và được đời đời những thế hệ sau kính trọng.

Rời Nghĩa trang Trường Sơn chúng tôi lại đến Nghĩa trang liệt sĩ Đường 9. Ngày xưa mặt trận Đường 9 - Nam Lào được coi là mặt trận nóng bỏng nhất, là nơi diên ra cuộc đối đầu ác liệt giữa ta và địch. Những chiến sĩ đã từng chiến đấu và hy sinh trên mặt trận này và cả số chiến sĩ chiến đấu, hy sinh trên đất bạn Lào đều được quy tập vào đây.

Nghĩa trang được xây ngay sát đường số 9 trên một khu đồi thoáng và rộng. Ở đây vắng vẻ hơn Nghĩa trang Trường Sơn. Khách đến thăm viếng cũng ít hơn vì quy mô và diện tích nhỏ hơn. Tuy vậy, Nghĩa trang được kiến trúc rất trang nhã, từ cổng vào đến tận nhà tưởng niệm có mái che; các bức tượng, phù điêu nổi lên rất đẹp, toát lên vẻ thanh thoát mà trang nghiêm, diễn tả được cái hào khí của bộ đội giải phóng miền Nam. Phía trước, mặt tiền của khu tưởng niệm còn xây lầu chuông rất hoành tráng trong đó có treo một chuông đồng lớn, gióng lên một tiếng âm vang khắp cả vùng. Làm đầy đủ thủ tục thắp hương tưởng niệm xong chúng tôi tiếp tục lên Đường 9, quay trở lại Khe Sanh và lên Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo.

Cách đây chừng 5 - 6 năm, tôi đã từng lên Lao Bảo (huyện Hướng Hoá - Quảng Trị). Khi ấy, Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo mới đang được mở ở giai đoạn thí điểm. Mọi điều kiện cơ sở hạ tầng còn vô cùng thiêu thôn. Đường sá chật hẹp. Đến chỗ ăn nghỉ cũng còn khó khăn.

Khi ấy, nạn buôn lậu hàng hoá qua biên giới vẫn còn phổ biến. Hình ảnh những chiếc xe Minxcơ phóng như bay trên Đường 9, trên xe chở đầy những tải thuốc lá ngoại nhập đã được tôi chụp lại làm tư liệu. Đến nay thì đã khác hẳn, chỉ dạo một vòng quanh thị trấn của khẩu đã thấy sự thay đổi không ngờ. Đường sá rộng rãi khang trang, rất nhiều siêu thị được xây dựng trên những khu đất rộng rãi. Khách sạn cao tầng cũng rất nhiều.

Điều đặc biệt là ở khu kinh tế này có rất nhiều xe hơi đẹp, sang trọng của Nhật Bản, cả châu Âu và Mỹ... Những chiếc xe mang biển số Lào và cả "biển vàng LB" tức là biển số xe của riêng "đặc khu” Lao Bảo. Hỏi ra mới biết xe hơi hay tất cả hàng hoá nhập vào khu này không phải chịu thuế nhập khẩu.

Ở trong các siêu thị Lào - Thái cũng tràn ngập hàng nhập khẩu. Tuy nhiên về giá cả cũng không khác biệt lắm so với những nơi khác và chủ yếu là hàng tiêu dùng. Những đổi thay về bộ mặt đô thị ở Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo, những phát triển vượt bậc về đời sống kinh tế cư dân trong vùng rất dễ nhận ra. Nhưng những thay đổi khác về số phận con người, về từng gia đình, nếp sống văn hoá, về giáo dục thì phải tiếp xúc với những con người cụ thể thì mới biết được.

Thật là may, trong cuộc làm việc với chính quyền huyện Hướng Hoá tại thị trấn Khe Sanh, chúng tôi được gặp chị Hồ Thị Lệ Hà, vừa mới nhận chức Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện Hướng Hoá. Chị rất trẻ và nhanh nhẹn, bố là người Vân Kiều, mẹ là người Pa Cô. Chị sinh ra ở Hà Nội, học Đại học Kinh tế ở Đà Nẵng khoa Tài chính ngân hàng. 22 tuổi chị làm cán bộ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Sau đó chuyến sang phụ trách Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội. Tiếp đó, chị là đại biểu Hội đồng nhân dân huyện và mới đây được giữ chức Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện phụ trách Tài chính - Công thương.

Có lẽ đây là một nhân vật khá tiêu biểu về sự thay đổi lớn lao trên mảnh đất đầy bom đạn trước đây. Chính thế hệ cha và anh của chị theo Đảng, theo Bác Hồ cầm súng đánh Mỹ ứơc mong đất nước được giải phóng, để lớp con cháu sau này được nên người. Một cán bộ trẻ người dân tộc Pa Cô đã được học hành và trưởng thành như vậy chính là niềm khát khao của thế hệ những người đi trước.

Anh Phùng Huy Hoàng, Trưởng Ban Tuyên giáo huyện Hướng Hoá cho biết: chỉ riêng hai dân tộc Vân Kiều và Pa Cô đã chiếm 47,64% dân số toàn huyện. Hướng Hoá là một huyện miền núi biên giới của tỉnh Quảng Trị, là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ xâm lược. Đầu năm 1997, tỉnh tách 10 xã từ huyện Hướng Hoá để thành lập huyện mới Đakrông. Hiện nay, Hướng Hoá có 22 xã, thị trấn; 15 xã thuộc vùng sâu vùng xa, 13 xã có biên giới giáp Lào. Đường Hồ Chí Minh qua địa bàn huyện có 2 tuyến.


Logged

SaoVang
Đại tá
*

Bài viết: 8205


« Trả lời #296 vào lúc: 13 Tháng Sáu, 2010, 05:43:11 PM »


Về con đường huyền thoại Hồ Chí Minh trong tài liệu mà sử sách có ghi hiện chưa có cuốn sách hay tài liệu nào in riêng, chỉ có cuốn sách xuất bản nhân kỷ niệm 40 năm ngày giải phóng huyện (1968-2008). Hướng Hoá là huyện đầu tiên của miền Nam được giải phóng. Trên địa bàn huyện hiện nay trong khoảng 10km2 có các điểm di tích nổi tiếng trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước như sân bay Tà Cơn, Làng Vây, khu di tích đồi Cô Bốc, Thung lũng Khe Sanh và đặc biệt có "con đường Hồ Chí Minh huyền thoại" mà điểm đầu từ ngã tư Đường 9 tại thị trấn Khe Sanh đi A Lưới. Đoàn chúng tôi cũng đã đi thử con đường huyền thoại này chừng 5-7 km, đến đoạn con suối La La cắt ngang, chụp vài kiểu ảnh rồi vẫn phải quay lại Đường 9 chứ xe con không thể đi được trên “con đường huyền thoại" này.

Rời Khe Sanh, lại xuôi Đường 9 đến Đakrông, một cây cầu nổi tiếng để từ đây lại vào Nam tiếp tục theo con đường Hồ Chí Minh đi A Lưới (Thừa Thiên Huế). Từ đây trở đi chúng tôi có cảm giác rõ rệt là xuyên qua dãy Trường Sơn hùng vĩ về phía đông. Tôi còn nhớ, trước đây trên vách núi đã dựng đứng gần cây cầu Đakrông còn khắc sâu hai dòng thơ nổi tiếng của Tố Hữu: "Xẻ dọc Tn(ờng Sơn đi cứu nước. Mà lòng phơi phới dậy tương lai”. Đúng là xẻ dọc núi thật, dù núi tiếp núi, đèo tiếp đèo. Đường Hồ Chí Minh đoạn này làm có vẻ nhỏ hẹp hơn đoạn đường từ Bắc vào. Có lẽ do nhu cầu và mật độ giao thông xe cộ còn quá ít chăng?

Từ cầu Đakrông đến trung tâm huyện A Lưới khoảng hơn 90 km, tuy đường hẹp lại đèo dốc quanh co nhưng xe vẫn chạy tốt và khá nhanh, chỉ chừng nửa buổi là đến thị trấn. Rừng A Lưới trong những năm chiến tranh là nơi mà Mỹ thả chất độc màu da cam nhiều nhất. Chúng muốn biến mảnh đất xanh tốt này thành khu trắng. Thế nhưng, màu xanh giờ đây đã trở lại, vết thương đã được hàn gắn. Và chắc chắn rằng cuộc sống của người dân miền tây Thừa Thiên- Huế đã được đổi đời.

Tiếp chúng tôi tại trụ sở Huyện uỷ A Lưới có Bí thư Huyện ủy Lê Văn Trừ, 51 tuổi anh là người dân tộc Tà Ôi và anh Lê Văn Miệng, Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện uỷ, là người dân tộc Pa Kô. A Lưới là huyện được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vù trang vào năm 1979, cả huyện cũng có 17/2 1 xã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang. Huyện có 42.000 dân trong đó có 35.000 người dân tộc Tà Ôi và Pa Cô.

Anh Trừ cho biết, A Lưới ngày nay phát triển kinh tế nông - lâm nghiệp là chủ yếu. Các loại cây lương thực như lúa, ngô, khoai, sắn với tổng diện tích gieo trồng hàng năm khoảng gần 5.000 ha, sản lượng lương thực có hạt đạt gần 10.000 tấn, bình quân lương thực đầu người đạt 240 kg, khắc phục được tình trạng đói giáp hạt triền miên.

Trong những thành tựu về phát triển kinh tế, điều ghi nhận là cơ sở hạ tầng đã được đầu tư thích đáng; đến nay 100% xã có đường ô tô với 185 tuyến và gần 300 km phần lớn là đường nhựa và bê tông. Đặc biệt, Đường Hồ Chí Minh xuyên qua huyện với chiều dài 106 km, khai thông hành lang Bắc - Nam. Đã hoàn thành xây dựng của khẩu S10 A Dớt - Tà Vàng, mở ra triển vọng khai thông hành lang Đông - Tây trong tương lai.

Năm 2006, huyện A Lưới đã tổ chức kỷ niệm 40 năm chiến thắng A So và 30 năm thành lập huyện A Lưới. Sau 30 năm xây dựng và trưởng thành, người dân A Lưới giờ đây mới có thể nói rằng đã được "đổi đời hàng vạn sải" (có nghĩa là một sự thay đổi lớn chưa từng thấy với tất cả các tiêu chuẩn của vùng nông thông miền núi: điện - đường - trường - trạm).

Buổi trưa, Huyện uỷ mời đoàn ăn cơm tại quán “cơm phở bắc Ngọc Hoà", ngay trên phố trung tâm huyện. Rất bất ngờ, bà chủ quán cơm lại là cựu bộ đội công binh Đường 559. Chị tên là Phạm Thị Hoà, quê gốc ở Thái Bình, lấy chồng ở Phổ Yên - Thái Nguyên. Chị tham gia bộ đội công binh từ tháng 8- 1973 đến năm 1976. Lúc đầu chị làm ở đèo Lý Hoà sau đó lại chuyển vào đường 14 (thời kỳ đồng chí Đồng Sĩ Nguyên là chỉ huy). Sau giải phóng chị chuyển sang ngành Thương nghiệp, học Thương nghiệp ở Thái Nguyên và lấy chồng ở đó. Sau này cùng chồng vào tận đây để xây dựng vùng kinh tế mới. Khi gặp và biết đoàn chúng tôi đi tuyên truyền cho 50 năm ngày truyền thống Bộ đội Trường Sơn nên chị rất vui và mở lòng tâm sự. Chị có 3 người con, sắp tới sẽ cưới vợ cho con trai đầu, chị sẽ mời bằng được những bạn bè là những đồng đội - lính công binh 559. Ngày gặp nhau ấy chắc phải vui lắm.

Ở thị trấn A Lưới, đoàn chúng tôi còn đến thăm Anh hùng lực lượng vũ trang Kan Lịch, người con gái nổi tiếng "Lấy súng giặc đánh lại giặc". Chị vẫn khoẻ mạnh và nhanh nhẹn dù đã ở tuổi bà. Chị kể vắn tắt đã 7 lần gặp Bác Hồ và 4 lần được ăn cơm cùng Bác. Rất nhiều câu chuyện của chị, chuyện xưa và nay chị kể rất hồn nhiên.

Chuyện chị xông vào đồn bọn nguỵ lúc ban đêm, lính gác ngủ gật chị giật súng đâm chết, còn bọn bên trong vẫn đang ngủ chị lại dựng dậy rồi mới nổ súng. Lúc đó chị còn không biết gọi tên bọn nguỵ như thế nào. Thấy anh em bộ đội gọi nhau là "đồng chí", chị cũng gọi bọn ngụy đang ngủ trong đồn là "đồng chí", bảo các "đồng chí" dậy rồi mới bắn để đếm cho khỏi sót. Câu chuyện này khiến chúng tôi cười chảy nước mắt.

Sau giải phóng một thời gian dài khi đất nước khôi phục kinh tế sau chiến tranh, gia đình chị Kan Lịch cũng khó khăn vất vả, nhưng rồi được nhiều người giúp đỡ nên đến nay đời sống cũng tạm ổn. Cuộc đời người con gái Pa Cô, người anh hùng đã được sách báo viết rất nhiều, nhưng cũng thật bình dị như nhiều người Pa Cô, Vân Kiều khác trên quê hương A Lưới.

Một điều nữa cũng phải nói là trên mảnh đất miền tây Thừa Thiên - Huế có một bề dày truyền thống cách mạng, có rất nhiều người con anh hùng lực lượng vũ trang vậy mà đến nay A Lưới vẫn chưa có phòng truyền thống đế trưng bày những hiện vật, chứng tích chiến tranh, để ghi lại truyền thống lịch sử oanh liệt của cuộc kháng chiến và của cả công cuộc đổi mới xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Phòng truyền thống này cũng là nơi để giáo dục thế hệ đi sau tiếp tục sự nghiệp xây dựng quê hương đất nước.

Đây là tâm tư nguyện vọng của anh Lê Anh Miệng. Trưởng Ban Tuyên giáo Huyện uỷ A Lưới. Anh còn muốn ngoài việc xây dựng Phòng truyền thống huyền cũng muốn xây dựng một tượng đài "Chiến thắng Trường Sơn" nhưng không biết đề nghị đến đâu, tìm nguồn kinh phí ở đâu để làm. Tâm sự của anh Miệng có lẽ cũng trùng hợp với đa phần lãnh đạo huyện là những cán bộ lớp trước, ít nhiều có tham gia chiến đấu hoặc công tác phục vụ chiến đấu, còn có thâm tình với quá khứ. Đối với việc làm sách về đường Trường Sơn của đoàn chúng tôi anh hết sức nhiệt tình hưởng ứng, vận động tuyên truyền mua cuốn sách này đến từng chi bộ.

Chúng tôi còn được biết người Pa Cô trước đây chưa hề có chữ viết. Mãi đến năm 1983, cùng với sự giúp đỡ của Viện Ngôn ngữ, Uỷ ban Khoa học Xã hội (nay là Viện Khoa học xã hội Việt Nam) và một số người ở địa phương thì bộ chữ viết Pa Cô - Tà Ôi mới được biên soạn hoàn chỉnh. Người dân A Lưới trước đây phần đông là mù chữ. Vậy mà giờ đây đã có Tiến sĩ ngôn ngữ học, chị Nguyễn Thị Sửu, sinh năm 1973. Nói theo cách của anh Miệng "đổi mới đến hàng vạn sải".

Theo kế hoạch, đoàn "khảo sát đường Trường Sơn" chúng tôi sẽ phải đi từ km số 0 (Tân Kỳ) đến tận Chơn Thành (Lộc Ninh). Tuy nhiên do thời hạn để ra cuốn sách cho đúng dịp kỷ niệm quá gấp rút nên mới đi được nửa chặng đường đã phải quay ra. Thật là tiếc, dẫu vậy, từ Hà Nội vào đến tận A Lưới cũng đã là một chặng đường dài. Chuyến đi của chúng tôi đã để lại rất nhiều những ấn tượng, cảm xúc trong mỗi thành viên. Đối với tôi có những "thu hoạch" ngắn gọn thế này:

Trường Sơn ngày nay khác xưa nhiều lắm. Con đường Hồ Chí Minh - hiện đại hoá, công nghiệp hoá đã hình thành đem lại bao thay đổi cho bộ mặt núi rừng Trường Sơn. Kinh tế phát triển, văn hoá, giáo dục và đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc cũng được cải thiện. Đây phải chăng là con đường khát vọng của những người đi.

HẾT

Kỳ 9: Những tờ check mã hóa


Những con đường Trường Sơn đặc biệt - Kỳ 9: Những tờ séc mã hóa
NarodnyBank London
TT - Sau khi đã nhận và đưa tiền về các khu căn cứ, nhiệm vụ tiếp theo là của Quỹ ngoại tệ đặc biệt (B.29). Ông Lữ Minh Châu báo bằng mật mã ra Hà Nội cho ông Nguyễn Nhật Hồng - người trực tiếp phụ trách B.29 - để lo toan việc thanh toán cho đối tác, bằng cách chuyển tiền tới tài khoản của họ ở nước ngoài.
Ông Mười Phi kể: "Vì vậy trong lòng của hệ thống Ngân hàng Trung ương Hà Nội có một bộ phận cơ mật đặc biệt chuyên trách, vừa phối hợp với những đầu cầu, mối quan hệ đặt ở nước ngoài, ví dụ như tại Hong Kong, Paris, London, vừa phối hợp với chúng tôi".
Tờ lịch đặc biệt
Sau này ông Nguyễn Nhật Hồng kể lại rằng con đường chuyển ngân FM xuất phát từ chủ trương: thương nhân cung ứng tiền Sài Gòn trước và chịu nhận trả ngoại tệ sau ở nước ngoài. Đây giống như một kiểu "đào hối", có lợi cho phía giải phóng và tất nhiên đảm bảo lợi ích thiết thực của thương nhân. Nghiệp vụ ngân hàng ở đây là sự chuyển tiền bằng điện hối hoặc chuyển tiền bằng séc cầm tay. Nhưng đặc biệt ở chỗ đây là một kiểu thanh toán tay ba. B.29 Hà Nội chuyển trả tiền thay cho chiến trường nhận tiền Sài Gòn, thời gian và không gian khác nhau.
Ông Charles Hilsum, giám đốc EuroBank thời kỳ 1946-1965
Ông Hồng cho biết với chuyển tiền bằng điện hối, B.29 giữ vai trò ngân hàng chuyển tiền. Khách hàng yêu cầu chuyển tiền là Ban Tài chính đặc biệt N.2683, cũng là người mua hàng. Người nhận tiền ở nước ngoài là cơ sở đại diện của người đã cung cấp tiền Sài Gòn. Ngân hàng thực hiện chuyển tiền trả là nơi giữ tài khoản cho B.29 tại hải ngoại.
Tất cả đều quy ước trước: loại tiền và số tiền đều mã hóa theo những yếu tố quy ước... Chẳng hạn tại Hong Kong, Ngân hàng Trung Quốc (BOC) Hong Kong chọn giúp hai cơ sở ngân hàng để thực hiện nhiệm vụ giữ tài khoản và trả tiền theo điện hối và séc từ Việt Nam phát hành. Theo quy ước cơ sở này gọi là Anh Bảo, còn đồng đôla Mỹ quy ước là X19.
Với chuyển trả tiền bằng séc cầm tay, B.29 thông qua cơ sở trả tiền ở nước ngoài là ngân hàng giữ tài khoản, thực hiện trả tiền cho người cầm séc. Bộ phận N.2683 tại Sài Gòn là người ký phát séc. Người cầm séc là nhà cung cấp vật tư và hàng hóa cho vùng giải phóng, cũng là người hưởng séc.
Nội dung của tờ séc là để trả tiền, nhưng quy ước lại là "một tờ lịch" của bất cứ một ngày nào đó đã qua. Những yếu tố ngày, tháng, năm trên tờ lịch cùng những yếu tố về số tiền, loại tiền, địa điểm trả tiền... đều được mã hóa theo quy ước, chính là "số máy điện thoại" được ghi trên tờ lịch. Tờ lịch cũ như tờ giấy lộn, nhưng lại là một tờ séc chuyển tiền cầm tay vô danh của FM. Nếu người cầm tờ séc này bị địch bắt thì tờ lịch không nói lên điều gì.
Nội dung là chuyển tiền bằng điện hối, séc nhưng sự thể hiện trên giấy trắng mực đen thì không ai biết đó là cái gì cả! Tất cả đều đã được quy ước. Lộ một khâu nào trong dây chuyền xem như hết! Rất may ta đã làm việc trót lọt đến tận ngày 30-4-1975. Theo tổng kết, FM chiếm đến 1/3 tổng kim ngạch chi viện.
Công lao một người cộng sản Pháp
Hòa bình năm 1975, Quỹ ngoại tệ đặc biệt cùng guồng máy kinh tài của Đảng ở khắp các chiến trường miền Nam hoàn tất nhiệm vụ lịch sử của mình. Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, trực tiếp là Phó thủ tướng Lê Thanh Nghị, những người đã làm việc âm thầm bao năm trong guồng máy này đã tiến hành việc "quyết toán" đúng với nghiệp vụ ngân hàng. Các chiến trường đã tiến hành đối chiếu các số liệu về tiếp nhận viện trợ của trung ương bằng ngoại tệ qua Quỹ ngoại tệ đặc biệt suốt những năm chống Mỹ đến 30-4-1975.
Trên cơ sở đó, đôn đốc chuyển nộp lại số tiền mặt ngoại tệ chưa sử dụng để thống nhất và tập trung sử dụng theo yêu cầu của tình hình mới sau chiến tranh.
Quyết toán từ năm 1965-1975, B.29 đã tiếp nhận 678.700.000 USD, trong đó hơn 626 triệu USD là tiền viện trợ đặc biệt, hơn 24 triệu USD là tiền của các tổ chức và nhân dân quốc tế ủng hộ, gần 21 triệu USD là tiền lãi kinh doanh chuyển đổi và gửi ngoại tệ ở nước ngoài, gần 7,5 triệu USD là lãi từ tiền dự trữ của chiến trường sau giải phóng...
Trong thanh toán quốc tế, tức là chi trả cho những doanh nhân ở Sài Gòn đã giao tiền Sài Gòn cho N.2683 và tiền lót đường cho các sĩ quan quân đội Campuchia, B.29 có trách nhiệm chi trả bằng ngoại tệ, nhưng không phải trả trực tiếp mà trả vào các tài khoản do họ quy định ở các ngân hàng nước ngoài.
Như vậy phải có những cơ sở ngân hàng nước ngoài tại các trung tâm giao dịch liên quan đến hệ thống thanh toán này, chủ yếu là Hong Kong, Bắc Kinh, Paris, London. Ở Hong Kong đã có BOC. Ở London và Paris thì Liên Xô đã giúp Việt Nam bằng cách cho sử dụng các chi nhánh ngân hàng quốc gia Liên Xô tại Paris là EuroBank và tại London là NarodnyBank.
Các ngân hàng này đã đứng ra nhận các khoản tiền của BOC gửi sang theo lệnh của B.29. Các ngân hàng đó cũng nhận các khoản tiền giúp đỡ của bà con Việt kiều. Sau đó, cũng theo lệnh của B.29, các ngân hàng này chuyển tiền chi trả vào tài khoản của các khách hàng như đã nói ở trên.
Ông Nguyễn Nhật Hồng giải thích về cơ chế này: "Địa bàn quốc tế của B.29 đã lồng vào địa bàn quan hệ thanh toán của Ngân hàng Ngoại thương, tại thị trường tư bản có Paris, Hong Kong, London, Rome, Bruxelles, Tokyo, Stockholm, Zurich, Bangkok, Vientiane, Phnom Penh... Tại thị trường xã hội chủ nghĩa có Matxcơva, Berlin, Bắc Kinh, Quảng Châu.
Tại đây, các ngân hàng là đại lý của Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam có tài khoản tiền gửi ngoại tệ tự do chuyển đổi với kim ngạch rất lớn, chủ yếu là vốn của B.29 dự trữ để thực hiện thanh toán đặc biệt và kinh doanh ngoại hối. Có một số ngân hàng tại các nước tư bản biết rõ nghiệp vụ này góp phần chuyển viện trợ quốc tế cho miền Nam chống Mỹ, nhưng họ đã tự giác bảo mật chuyện đó”.
Trong công việc thầm lặng và công phu này, phải nhắc đến công lao của một người cộng sản Pháp tên Charles Hilsum. Ông làm giám đốc EuroBank ở Paris từ 1946-1965, chính ông là người thiết kế những đường dây này và nối nó với những hệ thống ngân hàng ở London và các ngân hàng khác.
Ông đã trực tiếp sang Việt Nam những năm đầu thập niên 1960 để hướng dẫn các cán bộ thuộc B.29 về những thủ tục thanh toán quốc tế trong hệ thống ngân hàng thế giới, mà lúc đó Ngân hàng Việt Nam còn ít nhiều ấu trĩ. Đặc biệt, ông cũng cung cấp nhiều kinh nghiệm về những biện pháp tránh rủi ro trước hệ thống giám sát của các ngân hàng Mỹ.
ĐẶNG PHONG
_________________________________
Nhiều nhà lãnh đạo cấp cao đã từng vào Nam ra Bắc công tác trên những con đường Trường Sơn thời chiến. Thậm chí tuyến lửa đã từng đón các nhà lãnh đạo nước ngoài đến thăm. Đối phương không hề biết

Kỳ 8 Cất giữ "kho báu"


Những con đường Trường Sơn đặc biệt - Kỳ 8 Cất giữ "kho báu"
C.32 đón đoàn xe vận chuyển hàng và tiền từ Bắc vào-  Ảnh tư liệu
TT - Tại B2 và các địa bàn khác do Trung ương Cục miền Nam chỉ đạo, có đơn vị kho quỹ là C.32 trực thuộc Ban Kinh tài (BS.107) của Trung ương Cục miền Nam. Đó là đầu mối, là tổng quỹ tiếp nhận các nguồn tiền mặt từ trung ương phân bổ vào theo đường chuyển tiền mặt AM và do Ban tài chính đặc biệt thuộc Trung ương Cục miền Nam (N.2683) cung cấp theo con đường chuyển ngân FM.
Bí mật quốc gia
Ông Nguyễn Thành Nguyên, người phụ trách kế toán của C.32, kể: "Tôi là trưởng kế toán và quản lý kho bạc, ký hiệu đơn vị tôi là B1/C32/BS107. Anh Hai Cảnh phụ trách kho quỹ. Tôi được phân công theo dõi toàn bộ khoản tiền trung ương chi cho B qua hai con đường. Tiền đôla được trung ương chuyển theo đường bộ qua đường dây của đoàn 559 (Trường Sơn) vào thẳng đến C.32. Tiền Sài Gòn, riel Campuchia, kip Lào được giao chuyển từ nhiều con đường đến C.32... Số cán bộ của C.32 lo "chế biến" có các anh Lý Hồng, Thanh Châu, anh Giàu, Năm Hải, Ba Hài. Các anh này là cán bộ phụ trách, mỗi chốt đều có thêm một số đồng chí khác cùng làm việc...
Mỗi lần trung ương gửi tiền mặt đôla hoặc chuyển khoản đôla đều có điện báo vào C.32, tôi đều vào sổ để đối chiếu số liệu với các bộ phận liên quan. Hằng tháng, quý, năm, kế toán chúng tôi đều có lập báo cáo viết và bản cân đối kế toán nộp lên Ban Kinh - tài. Ông Trần Dương là phó ban, ông Hai Xô, thường vụ Trung ương Cục, là trưởng ban".
Thượng tá an ninh Phạm Bạn - nguyên chiến sĩ cận vệ Trung ương Cục miền Nam - nhớ lại: "Một hôm, ông Hai Xô cho gọi năm anh em bảo vệ (trong đó có tôi) đến giao nhiệm vụ. Ông nói đại ý: Hiện có một số hàng cần bảo quản giữ gìn, đây là bí mật quốc gia, các chú phải coi trọng và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho dù phải hi sinh cả tính mạng. Không có các thủ tục xuất, nhập, giấy tờ, biên bản. Chúng tôi chỉ biết đào hầm bí mật chắc chắn để chứa những hòm sắt dài độ 50cm, dày khoảng 20cm, nặng chừng 12kg, trong ruột có một hộp gắn thiếc nặng chừng 3kg. Bình thường các hộp đó để trong hầm, được canh gác nghiêm mật ngày đêm. Khi có động thì anh em tháo bỏ vỏ, cho các hộp vào balô con cóc, mỗi người mang bốn hộp bí mật chuyển cất giấu ở các cứ dự phòng. Chúng tôi làm công việc thầm lặng này một cách tự giác và nghiêm mật, tôi cảm thấy ngoài ông Hai Già (tức ông Hai Xô) và Ba Thái thì không còn ai biết "kho báu" cất giấu ở chỗ nào.
Một buổi chiều mùa khô năm 1972, hàng chục trực thăng quần đảo và đổ bộ xuống trảng, sát cứ kinh tài Miền. Nguy cơ bị "chụp" chỉ còn trong gang tấc. Anh em cảnh vệ đã tính đến phải mở đường máu để cứu nguy thủ trưởng hoặc chiến đấu đến người cuối cùng để bảo vệ "kho báu". Song chính lúc đó, nhờ sự bình tĩnh và dày dạn kinh nghiệm chiến trường của ông Hai, chúng tôi đã giữ bí mật lực lượng cho đến khi màn đêm sập xuống, đối phương không dám nống ra.
Thời cơ ấy cho chúng tôi cắt rừng chuyển cứ suốt đêm, đảm bảo người và tài sản an toàn đến nơi ở mới. Sau này, giải phóng miền Nam, chúng tôi mới được biết mình đã từng bảo vệ "kho bạc" có đến hàng triệu đôla trong bom đạn không hề suy suyển một xu. Trong số năm người thì bốn người đã qua đời vì chất độc da cam và các căn bệnh hiểm nghèo, nay chỉ còn lại mình tôi. Còn ông Hai Già - người thủ trưởng năm xưa của chúng tôi - nay đã ở tuổi 91".
Những cái "kho"
Dưới nền căn nhà lá này là “kho báu” (người ngồi võng là Phạm Bạn, chiến sĩ cận vệ Trung ương Cục miền Nam), tại cứ R năm 1973 - Ảnh tư liệu
Trong hệ thống phân phối tiền từ Trung ương Cục tới các phân khu, có hệ thống các kho quỹ của khu và tỉnh. Nói đến chữ kho, người ta thường hình dung những ngôi nhà kín cổng cao tường với những két sắt kiên cố...
Nhưng cái gọi là kho của các khu và các tỉnh thời kỳ này thật ra chỉ là một hòm sắt. Bà Đỗ Thị Lệ Hồng sau khi làm công tác vận chuyển tiền, năm 1970 được phân công phụ trách kho quỹ của Khu IX. Bà kể lại: "Cơ ngơi kho quỹ của tôi chỉ là một chiếc bàn nhỏ và một chiếc hòm sắt, vốn là thùng đựng đạn đại bác, có nắp kín, không thấm nước. Tiền để trong đó. Công việc tôi được giao là cấp phát tiền theo lệnh của khu cho các đơn vị. Tiền đó chủ yếu để chi tiêu cho các đơn vị như mua sắm, trả tiền thuê mướn, vận chuyển. Còn tiền lương thì tất cả miền Tây lúc đó không có, chỉ có sinh hoạt phí. Mức sinh hoạt phí của mọi người như nhau.
Bản thân tôi cũng như tất cả các đồng chí khác, từ lãnh đạo khu cho tới nhân viên đều được hưởng một khoản sinh hoạt phí mà tôi không nhớ là bao nhiêu, chỉ nhớ rằng tính ra hằng tháng chỉ mua được một ống kem đánh răng và một bàn chải. Còn cái "kho" của tôi thường xuyên phải dìm xuống sình 3-4 lần một ngày. Mỗi lần có máy bay, có đại bác bắn thì người phải chui vào hầm, "kho" thì dìm xuống sình để nếu lính càn tới không tìm thấy tiền, bom đạn bắn phá cũng không bị hư nát. Khi có người đến lãnh tiền, giao tiền lại phải kéo "kho" lên. Kéo lên xong thì rửa tay cho sạch. Làm xong công việc lại đưa kho xuống sình. Tay tôi vì thế suốt ngày lấm lem vì sình" .
Tại chiến trường Liên khu V, nguồn tiền trung ương đưa vào được ngân tín Khu V, thuộc Ban Tài - mậu Liên khu ủy, tiếp nhận, quản lý và phân phối. Nếu phải "chế biến" từ đôla Mỹ ra tiền Sài Gòn thì ngân tín các tỉnh được giao trách nhiệm thực hiện chế biến phân tán lẻ, theo sự chỉ đạo về số lượng và tỉ giá tối thiểu của tài - mậu khu ủy V... Ông Võ Văn Kiểu, người phụ trách ngân tín Bình Định, cho biết: "Năm 1968 tôi được Ngân hàng Trung ương cử đi B1, phụ trách trưởng tiểu ban ngân tín, trực thuộc Ban Tài - mậu Tỉnh ủy Bình Định. Nguồn tiền mặt đôla Mỹ, trung ương giao cho khu, khu giao cho tỉnh quản lý và chế biến. Số lượng đôla cần chế biến ra tiền Sài Gòn cũng như tỉ giá tối thiểu giữa đôla và tiền Z đều do khu ủy chỉ đạo.
Tiền đôla từ căn cứ chiến khu cần chuyển tới vùng ven thành phố Quy Nhơn, do cán bộ ngân tín phụ trách. Còn các cán bộ hoạt động hợp pháp trong thành phố thì liên hệ với các cơ sở thương nhân để đặt yêu cầu, xác định số lượng và tỉ giá. Nguyên tắc là "tiền trao cháo múc". Lấy "Núi Bà” vùng ven chiến khu làm nơi giao nhận tiền. Từ đây, tiền Sài Gòn tiếp tục do các cán bộ ngân tín đưa về căn cứ các nơi theo chỉ đạo của tỉnh và khu ủy. Trong những cán bộ ngân tín làm nhiệm vụ này, hiện ở Bình Định còn nhiều người đang công tác tại các ngành. Như anh Thao, giám đốc Vietcombank Quy Nhơn hiện thời, đã từng làm nhiệm vụ trên, khi đó anh Thao mới 17, 18 tuổi".
ĐẶNG PHONG
------
Sau khi đã nhận và đưa tiền về các khu căn cứ, B.29 báo bằng mật mã ra Hà Nội để lo việc thanh toán cho đối tác bằng cách chuyển tiền tới tài khoản của họ ở nước ngoài. Chuyển tiền bằng điện hối, séc. Nhưng sự thể hiện trên giấy trắng mực đen thì không ai biết đó là gì cả. Tất cả đều đã được quy ước. 

Xem tiếp phần 9 Những Tờ Check Mả Hóa

Kỳ 7: Chuyển tiền về cứ


Những con đường Trường Sơn đặc biệt - Kỳ 7: Chuyển tiền về cứ
Bà Đỗ Thị Lệ Hồng kể lại công việc chuyển tiền thời chống Mỹ
TT - Sau khi lấy được tiền Sài Gòn, một khâu rất quan trọng nhưng lại đầy rủi ro là chuyển về các vùng căn cứ. Quy ước là chỉ nhận tiền lớn và đã đóng gói, có dấu của ngân hàng để đỡ mất công đếm.
Sau khi nhận, tiền được cất trong các kho phân tán tại các cơ sở rải rác khắp nội thành, do Tư Trần An (một Hoa kiều chuyên nhập vàng từ Hong Kong về bán cho các chủ tiệm vàng ở Sài Gòn) sắp đặt và Dân Sanh (Nguyễn Thanh Quang) quản lý. Cũng chính Dân Sanh là người tổ chức vận chuyển. Tiền giấy chở nhiều rất nặng, Dân Sanh phải tổ chức một loạt đường vận chuyển hợp pháp để kết hợp chở hàng, chở khách với việc chở tiền. Đây cũng là cả một kỳ công.
Đảm bảo bí mật
Ông Mười Phi kể: "Trần An đã thiết lập những kho chứa kiên cố, bí mật để giấu tiền chờ giao, chờ chuyển, xe hơi có thể ra vào chở hàng thuận tiện. Phía Dân Sanh cũng có hệ thống kho của mình. Dân Sanh tổ chức thêm xe tải chở đậu vào Chợ Lớn bán rồi mua phân tro tải về Suối Sâu. Năm Đậu tải phân đồng thời tải luôn cả tiền về giao cho Ba Công để chuyển tiền về R. Dân Sanh đã tự tạo cho mình một cơ cấu bình phong dày đặc gồm một đoàn xe tải, hai tàu đi buôn về miền Trung, làm nhiều thứ việc, phối hợp với Phương Mai, Thu Hương, Dân Cường.
Về sau C.130 (biệt danh của nhà cung cấp tiền Sài Gòn là những chủ kinh doanh lớn sẵn sàng hợp tác với một đầu mối của Ban Tài chính đặc biệt thuộc Trung ương Cục miền Nam - N.2683, do Dân Sanh đảm nhiệm) đã có cả đoàn 40 xe tải mua bán gạo với cao nguyên và Trung bộ, giao tận đại lý gạo tại Buôn Ma Thuột. Nơi đó, Khu VI cử người đến nhận lại tiền, giấu trong gạo. Đồng thời có hai chiếc tàu Phương Mai và Thuận Phong mua bán bia từ Sài Gòn chở ra Huế, Đà Nẵng. Trên đường ra miền Trung, tàu dừng lại Vũng Rô (Phú Yên) ban đêm chờ bộ đội giải phóng ra khơi nhận tiền, đưa lên núi cho Khu V".
Tiền mặt các loại, chủ yếu bằng đôla Mỹ và tiền Sài Gòn, theo cả hai phương thức chi viện AM và FM cuối cùng đều được tập trung về các vùng căn cứ kháng chiến, do các cơ quan tài chính và ngân tín trực tiếp quản lý, điều hành phân phối theo các nhu cầu kháng chiến.
Về việc vận chuyển tiền cho các căn cứ, một trong những người trực tiếp tham gia là bà Đỗ Thị Lệ Hồng, nay là phó giám đốc Ngân hàng Ngoại thương tỉnh Cần Thơ, kể lại: "Trước khi về miền Tây, tôi là lính của anh Trần Dương, tức anh Ba Thái, Ban Kinh tài Trung ương Cục. Tôi được phân công vào một nhóm có nhiệm vụ chuyển tiền từ Campuchia về cho các đơn vị thuộc Trung ương Cục.
Chúng tôi sắm những con thuyền có gắn máy, đóng vai đi buôn gạo, buôn trái cây dọc sông Mekong, vận chuyển hàng từ Phnom Penh về Nam bộ. Có khi một tháng một lần, khi vài tháng một lần. Bên dưới đáy thuyền có giấu tiền. Chúng tôi phải bố trí những chuyến hàng rất cẩn thận vì đó là tài sản của Đảng, của bao nhiêu đơn vị đang cần đến nó cho công cuộc kháng chiến. Tiền chở về được đưa về những địa chỉ nhất định, có người tiếp nhận.
Tuy là cấp dưới của anh Trần Dương nhưng trong thời kỳ chiến tranh chưa bao giờ tôi biết mặt anh ấy. Chúng tôi đi về, gặp nhau, giao nhận tiền... thường đều bịt kín mặt, chỉ thấy con mắt. Trong hoàn cảnh ác liệt lúc đó, đảm bảo bí mật là yêu cầu tối quan trọng. Phải không ai nhận được mặt nhau, để lỡ đối phương bắt được ai cũng không dễ lần ra đầu mối.
Trong số những anh em đến vùng căn cứ, có không ít người hoạt động ở nội thành. Những người đó lại càng phải giữ bí mật, không ai nhận diện được. Có những trường hợp chúng tôi thậm chí không nhìn thấy người nhau, không thấy dáng đi của nhau, mỗi người một bên bức vách bằng lá, trao đổi với nhau một số điều cần thiết, để lại tài liệu, thỏa thuận những mật hiệu và những con số..., sau đó mỗi người một ngả. Chính vì vậy đối phương khó có thể phát hiện và tìm ra manh mối của các cơ sở cách mạng, cả trong thành lẫn ngoài vùng căn cứ".
Nhà thầu khoán
Nhà thầu khoán Lữ Văn Buối trong thời kỳ làm “xây dựng” ở miền Tây
Đối với các vùng căn cứ thuộc miền núi và cao nguyên hẻo lánh mà hệ thống ngân hàng không vươn tới được buộc phải dùng phương pháp thủ công: người mang tiền đi. Còn đối với các vùng căn cứ gần các thị trấn hoặc thị xã, phương pháp chuyển ngân đã được sử dụng. Với phương pháp này, C130 bố trí các đầu mối trong thị trường tiền tệ quốc nội của Nam Việt Nam để chuyển tiền từ N.2683 tới các thị trấn, thị xã. Ở đó có người của các khu căn cứ tới nhận.
Một trong những tuyến chuyển ngân quan trọng nhất là chuyển từ C.130 tại Sài Gòn về các tỉnh miền Tây. Đối với miền Tây, từ sau cuộc Đồng khởi, việc thu đảm vụ (từ giữa thập niên 1960, Trung ương Cục có chủ trương huy động sự đóng góp của nhân dân cho cuộc kháng chiến dưới hình thức thuế gọi là "đảm vụ”, chủ yếu là thu ở các hộ kinh doanh công thương nghiệp và những hộ nông dân có thu nhập cao) tại chỗ ngày càng eo hẹp. Quân đội đối phương lấn chiếm và quản lý rất chặt chẽ các vùng nông thôn. Do đó không có khả năng tự túc về tài chính mà phải nhờ sự chi viện từ trung ương thông qua Trung ương Cục, cụ thể là qua tuyến C.130 rót về.
Người đảm đương công việc này chính là thân phụ của Lữ Minh Châu (phó trưởng ban N.2683): ông Lữ Văn Buối, một cán bộ lão thành cách mạng hoạt động từ thời tiền khởi nghĩa. Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, ông đóng vai trò một doanh nhân người Hoa (gia đình ông vốn là dòng họ Minh Hương đã sinh sống ở Cà Mau 3-4 thế kỷ trước). Ông chuyên kinh doanh ngành xây dựng. Lĩnh vực của ông là thầu xây dựng các khu chợ thuộc các thị xã và thị trấn ở miền Tây Nam bộ, suốt từ Sài Gòn đến Cà Mau.
Ông có phong độ chững chạc của một doanh nhân lớn, công việc của ông lại rất rõ ràng và cụ thể, không ai có thể nghi ngờ. Khi nhận được "chỉ thị” từ con trai, ông cho chuyển các khoản tiền của C.130 về điểm quy ước là chợ Cà Mau.
Ở Cà Mau có một cơ sở kinh doanh của ông nhận khoản chuyển ngân đó. Họ rút ra thành tiền mặt. Lượng tiền mặt đó được đóng thùng như những thùng hàng bình thường rồi chuyển tới các sạp hàng ngay giữa chợ Cà Mau. Người của các quân khu VIII, IX nhận được mật hiệu thì đến đó để nhận "hàng". Giữa một khu chợ sầm uất, đông đúc và ồn ào như chợ Cà Mau, việc có người đem tới những thùng hàng nào đó và có người khác tới nhận mang đi là chuyện hoàn toàn bình thường, không ai để ý, cũng không ai có thể ngờ việc chuyển giao những khối tiền lớn cho các căn cứ kháng chiến lại được thực hiện ở đây.
Từ đó cho tới ngày giải phóng miền Nam, tuyến đường chuyển ngân qua tay ông Lữ Văn Buối là tuyến đường quan trọng nhất, là nguồn dinh dưỡng tài chính cơ bản cho toàn miền Tây Nam bộ. Sau ngày giải phóng miền Nam, ông Lữ Văn Buối đã trút bỏ "phần đời" của một nhà thầu khoán, sống cuộc đời thanh bạch của một chiến sĩ cách mạng lão thành trong lĩnh vực tài chính của miền Nam.
ĐẶNG PHONG
-------
Một hôm, ông Hai Xô cho gọi năm anh em bảo vệ đến giao nhiệm vụ. Ông nói đại ý: "Hiện có một số hàng cần bảo quản giữ gìn, đây là bí mật quốc gia, các chú phải coi trọng và bảo vệ an toàn tuyệt đối cho dù phải hi sinh cả tính mạng". Không có các thủ tục xuất, nhập, giấy tờ, biên bản. Làm sao để giữ? 

Xem tiếp phần 8  Cất Giử Kho Báu

Wednesday, November 21, 2012

Đòan Chuẩn / Ký Ức Thời Gian



Chuyển Bến / Ký Ức Thời Gian - Đòan Chuẩn -Từ Linh


Trăng Tàn Trên Hè Phố / Phương Diễm Hạnh