Sunday, December 6, 2020

TÔ PHẠM LIỆU: NGƯỜI TRỞ LẠI CHARLIE Phạm Anh Dũng

  

           Lật qua tờ nhật báo Người Việt ngày 5 tháng 10 năm 1997, một tin cáo phó làm tôi giật mình chú ý đọc ngay: “... Tô Phạm Liệu (1941-1997) Y Sĩ Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù…đã không còn với chúng ta kể từ 29 tháng 9 năm 1997...”

          Vậy là anh Liệu đã từ giã cõi đời này! Hình ảnh của Tô Phạm Liệu trở về từ dĩ vãng xa xưa.
          Lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu đã lâu lắm rồi, gần 28 năm trước đây. Ngày đó, vừa học xong lớp Y Khoa Năm Thứ Nhất ở trường Đại Học Y Khoa Sài Gòn, tôi và một số khá đông bạn bè cùng lớp rủ nhau nộp đơn, đi thi và đỗ vào trường Quân Y.

         Tháng 1, 1970, vào ngày nhập ngũ, chúng tôi rủ nhau nao nức đi trình diện ở trường Quân Y. Một đám sinh viên Y Dược Nha đến và được tập trung ở cổng trường, chỗ gần trạm kiểm soát ra vào. Chúng tôi đều là tân sinh viên quân y. Người đầu tiên ra gặp chúng tôi mặc quân phục xanh bộ binh. Ở cầu vai, anh đeo lon trung úy, hai bông mai vàng trên một nền nhung đỏ thẫm. Ở ngực áo, có dấu hiệu con rắn vàng của ngành quân y, và dấu hiệu một cánh dù màu xám, bằng nhảy dù. Thoáng gặp anh, chúng tôi phải để ý ngay, vì anh là một người có tầm vóc đáng kể, vừa to vừa cao trông như  một “ông hộ pháp.”
          Không cười đón niềm nở chút nào và với giọng nói to, vang vang trong buổi chiều nắng gió, anh tự giới thiệu. Rất ngắn và gọn, anh cho biết anh tên là Tô Phạm Liệu, sinh viên sĩ quan quân y năm thứ sáu, được cấp trên đề cử làm Sinh Viên Sĩ Quan Đại Đội Trưởng Đại Đội Tân Sinh Viên.
          Anh Liệu dẫn khoảng bốn năm chục người chúng tôi vào một sân rộng lớn có một cột cờ với lá cờ vàng ba sọc đỏ khá cao, Vũ Đình Trường của Trường Quân Y. Và ở đó đã có thêm  hai sinh viên sĩ quan quân y khác đứng chờ sẵn. Chúng tôi được lệnh xếp hàng. Rồi ba ông đàn anh dẫn chúng tôi chạy vòng quanh sân cờ, cho đến khi tất cả hầu như hết sức lực, khi một người trong hàng đã phải ngất xỉu.
          Đó là kinh nghiệm đầu tiên của đa số chúng tôi đối với quân đội. Lần hành xác này để mở đầu cho Tám Tuần Lễ Huấn Nhục của Đại Đội Tân Sinh Viên Sĩ Quan Quân Y. Đối với những “thư sinh trói gà không chặt” mà còn “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”, chỉ biết việc sách đèn, đây quả là một thử thách khá lớn lao. Đó cũng là lần đầu tiên tôi gặp Tô Phạm Liệu.
          Trong tám tuần lễ của “mồ hôi, nước mắt” chúng tôi được các đàn anh của các khóa trước “chỉ dậy” một cách rất tận tình bằng mọi cách. Chúng tôi  học qua căn bản quân sự, căn bản thao diễn. Và mọi người được thay nhau tập hít đất, tập thở, tập chạy, tập cười... theo lệnh các huynh trưởng.
          Các đàn anh chia ra làm từng toán ba người. Anh Tô Phạm Liệu đích thân làm trưởng một toán. Mỗi toán có nhiệm vụ hướng dẫn các tân sinh viên một ngày. Riêng anh Liệu, hình như ngày nào cũng có mặt để quan sát các hoạt động, tiến triển trong việc huấn luyện các tân sinh viên Quân Y. Anh Tô Phạm Liệu rất tận tâm bỏ khá nhiều thì giờ vào việc dẫn dắt đàn em mới nhập ngũ. Những người nào có vẻ lười biếng công việc tập tành thật khó qua khỏi mắt của đàn anh. Ai đau thật hay chỉ ốm giả anh cũng biết. Hình như anh biết rõ về bản chất, tính tình của từng người một. Anh là người gần gũi với chúng tôi nhất trong những ngày đầu tiên khi mới gia nhập quân ngũ.
          Sinh hoạt với anh một thời gian ngắn, chúng tôi nhận thấy ngay ngoài “cái vỏ” lạnh lùng nghiêm nghị của anh còn có một bề trong khác hẳn với một tâm hồn đầy tình cảm và hiểu biết. Anh Liệu thường là người thấu hiểu gần như mọi chuyện xẩy ra trong đại đội tân sinh viên quân y và thường giải thích hay giải quyết, thường là bằng tình cảm, những vấn đề khó khăn hay khó nói nhất. Nhiệm vụ chỉ huy hướng dẫn đôi khi làm anh có vẻ khó khăn và khô khan. Nhưng những lúc nói chuyện với anh Liệu trong khi rảnh rang đã làm chúng tôi thấy anh là một người rất nhiều tình cảm, rộng lượng và rất thương mến những anh em trong gia đình Y Dược Nha trong ngành Quân Y. Một điều đặc biệt nhất là Tô Phạm Liệu nói chuyện rất hay, rất lôi cuốn người nghe, nhất là những khi anh đứng trước hàng quân. Tôi được biết anh đã  là một huynh trưởng trong ngành Hướng Đạo Việt Nam. Việc anh giỏi về diễn thuyết hay chỉ huy là do đã có kinh nghiệm từ lâu.
          Nhiệm vụ khó khăn của anh trong sự hướng dẫn chúng tôi có được những khái niệm ban đầu về Quân Đội rồi cũng thành công. Tất cả đám tân sinh viên Y Nha Dược đều qua khỏi tám tuần lễ huấn nhục gian lao. Chúng tôi sau lễ gắn alpha, trở thành những sinh viên Quân Y hiện dịch thực thụ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Đêm hôm gắn alpha, anh có nói chuyện riêng khá cảm động với một vài người chúng tôi. Anh cho biết anh rất hài lòng với kết quả, đồng thời cũng nhắn nhủ công chuyện tương lai. Tô Phạm Liệu có nói, ngày nào đó chúng tôi sẽ hiểu rõ đàn anh hơn khi đứng ra hướng dẫn những đàn em sau này. Riêng tôi, về sau này tôi rất thông cảm anh vì chính bản thân lại “được” cử ra làm nhiệm vụ của anh, dẫn dắt các tân sinh viên quân y, khi khóa sinh viên sĩ quan của chúng tôi trở thành khóa đàn anh lớn nhất trong trường Quân Y.
          Năm 1970, chúng tôi gia nhập Quân Y, cũng là năm khóa 17 Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y của anh Liệu sắp ra trường. Năm 1971, khi chọn đơn vị, anh Liệu chọn binh chủng Nhảy Dù và nhiệm sở đầu tiên là một tiểu đoàn nhảy dù. Tô Phạm Liệu đã chính thức trở thành y sĩ của một tiểu đoàn tác chiến binh chủng nhảy dù, đúng như ý định của anh.
          Những ngày tháng ngay sau đó, tôi rất ít gặp anh Liệu. Chúng tôi ở lại hậu phương hoàn tất công chuyện học hành ở những trường Y Nha Dược. Anh Liệu và các anh khác tản mác trong những đơn vị của quân đội khắp bốn vùng chiến thuật. Tôi chỉ gặp lại anh Liệu một hai lần trong một khoảng thời gian độ một năm trời khi anh về ghé thăm trường Quân Y trong những dịp nghỉ phép. Những ngày đó anh vẫn cao lớn và đội mũ đỏ, mặc quần áo rằn ri nhảy dù trông rất oai hùng. Chúng tôi chỉ có dịp nói chuyện chào hỏi chút ít và tôi được biết là anh đã trải qua khá nhiều thử thách ngoài mặt trận.
        Rồi... đến một ngày tháng, vào một nơi... của định mệnh: 
        Thời điểm năm 1972, mùa Hè nắng cháy.
        Địa điểm là Charlie,  Cao Nguyên Nam Việt Nam.
        Tôi được nghe đến, được biết và được hiểu Tô Phạm Liệu nhiều hơn.
        Bốn năm trước đó, năm 1968, vào dịp bầu cử tổng thống ở Hoa Kỳ cũng là khi Bắc Việt cho tổng tấn công và thất bại trên các chiến địa Tết Mậu Thân. Tuy Cộng Sản thất bại nặng nề trên bình diện quân sự, nhưng phải công nhận họ đã gây ảnh hưởng khá mạnh trong việc tuyên truyền chính trị. Hình ảnh chiến tranh tại Việt Nam, một nơi xa xôi ở bên kia nửa quả địa cầu, được người dân Mỹ chứng kiến mỗi ngày, ngay tại nhà riêng, qua hệ thống vô tuyến truyền hình. Dân chúng Hoa Kỳ đã bắt đầu chán sợ cuộc chiến tranh đẫm máu và dai dẳng. Đầu óc thực tế của họ nghe nhiều đến số tiền đã và phải trang trải thêm cho cuộc chiến. Hình ảnh quan tài những quân nhân Hoa Kỳ chết ở Việt Nam đem về Mỹ được chiếu rõ trên truyền hình, làm nao núng cả quốc gia. Các phong trào phản chiến Hoa Kỳ hoạt động mạnh hơn. Các ứng cử viên Tổng Thống Mỹ đều biết rõ tầm quan trọng của việc cần phải chấm dứt cuộc chiến tại Việt Nam.
          Năm 1972, cũng lại là năm bầu cử Tổng Thống Mỹ . Do đó, thêm một lần nữa, Bắc Việt muốn có tiếng vang vọng với bất cứ giá nào. Đại Tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp còn nghĩ là có thể chiếm đoạt miền Nam vào lúc này.
          Cũng như Trận Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân năm 1968, Tướng Giáp đã “thí quân”, quyết định tấn công với ba mặt trận lớn đã bùng nổ vào mùa Hè 1972.
          Thứ nhất: Mặt Trận Giới Tuyến tại vùng Phi Quân Sự. Việt Cộng đã bất chấp tất cả mọi ký kết của chính họ ở Hiệp Định Genève 1954. Họ cho hai Sư Đoàn 304 và 308, tăng phái bởi bốn Trung Đoàn Đặc Công với hơn 200 chiến xa của Trung Đoàn 203 và 204 cộng thêm ba Trung Đoàn Pháo Binh, vượt khu Phi Quân Sự đánh chiếm Quảng Trị. Cùng lúc đó, Sư Đoàn 324B và hai Trung Đoàn đặc biệt 5 và 6 đến xâm nhập Huế. Còn Sư Đoàn 711 Cộng Quân thì quấy phá Đà Nẵng.
          Thứ hai: Mặt Trận Biên Giới chiếm đánh Lộc Ninh, An Lộc do các Sư Đoàn Cộng Sản 5, 7 và 9 cùng với hơn 200 xe thiết giáp. Trong khi đó, Sư Đoàn 1 Bắc Việt quấy rối vùng Đồng Bằng Cửu Long để cầm bớt quân đội Việt Nam lại vùng IV chiến thuật.
          Thứ ba: Mặt Trận Cao Nguyên thì có hai Sư Đoàn 2 và 320 với một trung đoàn chiến xa đánh chiếm vùng Kontum, Pleiku. Đồng thời, Sư Đoàn 3 Cộng Sản đánh vùng Bình Định. Tại Cao Nguyên, Tướng Võ Nguyên Giáp mưu định cắt miền Nam thành hai mảnh.
          Thời điểm là Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.
          Địa điểm là Charlie của Chiến Trường Cao Nguyên.
          Trong quyển sách viết về chiến tranh Việt Nam “Mùa Hè Đỏ Lửa,” Phan Nhật Nam đã viết trong đoạn đầu tiên “Charlie, tên nghe quá lạ:”
          “Quả tình nếu không có trận chiến mùa hè 1972, thì cũng chẳng ai biết đến Charlie, vì đây chỉ là tên quân sự dùng để gọi một cao độ nằm trong chuỗi cao độ chập chùng vùng Tân Cảnh, Kontum. Charlie hay Cải Cách hay [C] đỉnh núi cao không quá 900 thước trông xuống thung lũng sông Poko và đường 14, Đông Bắc là Tân Cảnh, với 12 cây số đường chim bay, Đông Nam là Kontum thị trấn cực Bắc của vùng Tây Nguyên... Charlie lọt giữa bị bao vây bởi căn cứ 5, căn cứ 6, ở phía Bắc, những mục tiêu quân sự nổi tiếng, những vị trí then chốt giữ cửa ngỏ vào Tân Cảnh mà bao nhiêu năm qua, bao nhiêu mùa hè, mùa “mưa rào”, báo chí hàng ngày trong và ngoài nước phải nhắc tới khi những hạt mưa đầu mùa rơi xuống miền núi non xương sườn cực Tây của quê hương Việt Nam...
          Năm nay, sau bao nhiêu lần thử thách từ mùa mưa của 1971 qua đầu xuân của 1972, Bắc quân vẫn không vượt qua hai cửa ngỏ. Căn cứ 5, Căn cứ 6... Cộng quân đổi hướng tiến lòn sâu xuống phía nam của 2 căn cứ trên để tiếp tục sự nghiệp “giải phóng” với mục tiêu cố định: Tân Cảnh, cắt đường 14...”
          Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù được cử đến lập một vòng đai để giữ những yếu điểm trong vùng quanh Quốc Lộ 14 và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù có nhiệm vụ đóng giữ Charlie. Vào ngày 2 tháng 4, Tô Phạm Liệu, người y sĩ  của tiểu đoàn và cũng là một sĩ quan nhảy dù, đã được thả đến Charlie cùng với Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù. Đây là tiểu đoàn nhảy dù mới nhất của Sư Đoàn Nhảy Dù Việt Nam.
          Sau đó, tại Charlie, một trận đánh oai hùng và bi thương của người lính nhảy dù Việt Nam Cộng Hòa đã xẩy ra.
           Lúc bấy giờ, Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù là Trung Tá Nguyễn Đình Bảo tốt nghiệp khóa 14 Trường Sinh Viên Sĩ Quan Hiện Dịch Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Trung Tá Bảo là một sĩ quan chỉ huy rất giỏi và có nhiều kinh nghiệm chiến trường. Ông gia nhập Nhảy Dù ngay sau khi ra trường võ bị, đã tham dự nhiều trận chiến khốc liệt, đã chiến thắng nhiều và đã bị thương hai lần ở mặt trận.
          Tuy vậy, lần này Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù bị hơn một sư đoàn Bắc Việt bao vây. Đó là Sư Đoàn 320  có mang danh là Sư Đoàn Điện Biên và cũng được gọi là Sư Đoàn Thép tăng phái thêm Trung Đoàn 64 của  Sư Đoàn Sao Vàng Cộng Sản. Trước chiến lược thí quân của Bắc Việt, Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù và Trung Tá Nguyễn Đình Bảo trở nên “hổ trong lồng.”
          Ngày 11 tháng 4, Cộng Sản sửa soạn tấn công. Hàng trăm quả pháo rót vào Charlie kể cả đại pháo 130 ly với đạn xuyên phá ”delay.” Đây là loại đạn đặc biệt nguy hiểm, không nổ ngay khi chạm đất, mà sẽ nổ sau khi đã xuống dưới mặt đất khoảng hơn một thước, để tàn phá những hầm trú ẩn.
           Ngày 12 tháng 4, Cộng Quân tiến đánh. Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù kể cả Bác Sĩ Quân Y Tô Phạm Liệu đã quần thảo với lính Cộng của Sư Đoàn Điện Biên. Họ đã đổ máu để tranh thủ từng thước đất.
          Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, nhiều sĩ quan và binh sĩ nhảy dù đã hy sinh tại mặt trận.
          Ngày 15 tháng 4, 1972 Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã. Chính bản thân Tô Phạm Liệu cũng bị thương ở chân. Tô Phạm Liệu và Thiếu Tá Tiểu Đoàn Phó đã dẫn một nhóm nhỏ còn lại và các thương binh rút khỏi Charlie. Và nhóm này cuối cùng được trực thăng “bốc” đi thoát. Một số khác chạy bộ băng rừng về.
          Xác chết của nhiều quân nhân và của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo đã không đem được về và đành để lại Charlie.
         Nhiều chiến sĩ  nhảy dù đã anh dũng “ở lại” Charlie.
        Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sau đó cảm xúc sự hy sinh của Trung Tá Nguyễn Đình Bảo và những chiến sĩ nhảy dù khác tại mặt trận Charlie đã sáng tác “Người Ở Lại Charlie”, một bản nhạc khá hay và cảm động:
          “Anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.
          Anh! Anh! Hỡi anh giã từ vũ khí.
          Vâng, chính anh là ngôi sao mới, một lần này chợt sáng trưng, là cánh dù đan bằng tiếc thương vô cùng.
          Này anh! Anh! Hỡi anh ở lại Charlie.
          Anh! Vâng, chính anh là loài chim quí.
          Ôi, cánh chim trùng khơi vạn lý, một lần dậy cánh bay, người để cho người nước mắt trên tay...”
          Sự kiện Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Charlie, khi bị hơn một Sư Đoàn Bộ Đội Bắc Việt tấn công với đại pháo và chiến xa, là chuyện dĩ nhiên phải xẩy ra. Nhưng điều quan trọng hơn là sự hy sinh dũng cảm của những người lính Việt Nam Cộng Hòa. Những chiến sĩ nhảy dù đã gây tổn thất nặng cho đối phương và làm ảnh hưởng nhiều đến tinh thần của Cán Binh Bắc Việt.
                Tuy là ngay sau đó, Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù phải bỏ cả Tân Cảnh về Kontum. Tuy là các Sư Đoàn Bắc Việt kiểm soát được  Quốc Lộ 14. Tuy là họ đã bao vây thành phố Cao Nguyên Kontom. Tuy là họ dốc toàn lực đánh Kontum  hai lần ngày 14 tháng 5 và ngày 25 tháng 5. Nhưng họ vẫn thất bại. Cuối cùng Cộng Sản Việt Nam vẫn không đạt được mục tiêu vào năm 1972 và phải rút lui tại mặt trận miền Cao Nguyên.
             Mặt Trận Biên Giới nổ lớn tại An Lộc-Bình Long. Bộ Đội Cộng Sản hàng hàng, lớp lớp, “biển người”, được yểm trợ bởi hàng trăm chiến xa tối tân và đại bác hỏa tiễn hùng hậu, tràn ngập mặt trận. Nhưng họ đã phải đứng khựng lại ở quận An Lộc, cứ điểm quan trọng ngăn cản đường tiến của Bắc Quân đến Quốc Lộ 13 để về “giải phóng” Sài Gòn. Trong khoảng 100 ngày, gần 60 ngàn quả đại bác đã bắn vào độ một cây số vuông của quận lỵ nhỏ bé An Lộc. Năm lần Việt Cộng đã mở những cuộc tấn công. Cả năm lần Bắc Quân phải chùn bước. Người hùng Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng và các lực lượng phòng thủ, với sự phụ lực của Đại Tá Lê Quang Lưỡng và Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, cùng với sự yểm trợ hữu hiệu của Không Quân Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ, đã cho Bắc Việt một bài học cay đắng: họ cho tướng Võ Nguyên Giáp biết thế nào là “tử thủ”. Ngày 8 tháng 6, 1972 Tiểu Đoàn 8 Nhảy Dù tiến vào thành phố, đã “bắt tay” được với  tiểu đoàn nhảy dù”bạn”, Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù là đơn vị đã được trực thăng vận đến An Lộc mấy ngày trước.
              An Lộc hoang tàn. Nhưng An Lộc vẫn đứng vững...
          An Lộc đẫm máu. An Lộc đầy lửa khói. Nhưng An Lộc vẫn còn...
          Cuối cùng Bắc Quân phải rút lui.
         
          Mặt Trận Vùng Hỏa Tuyến: ngay những ngày đầu tiên Việt Cộng đã tràn ngập Quảng Trị và Sư Đoàn 3 Bộ Binh Việt Nam sau đó phải tan rã chạy về phía Nam. Dân chúng Quảng Trị ghét sợ Cộng Sản chạy theo quân. Hỗn loạn! Kinh hoàng! Nơi nơi máu đổ nhiều! Quân dân chạy giặc dưới làn đạn làm hàng ngàn người chết ở Đại Lộ Kinh Hoàng.
               Bắc Quân tràn lan, đánh chiếm khắp nơi, tiến sâu thêm phía Nam.
          Nhưng họ đã bị chận đứng lại ở sông Mỹ Chánh. Nơi đây ngày 2 tháng 5, Lữ Đoàn 147 Thủy Quân Lục Chiến đã bắn hạ 17 chiến xa Bắc Việt. Cùng một lúc Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng được cử ra giữ chức Tư Lệnh Quân Đoàn I. Thế cờ được lật ngược.
                Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù tan rã ở Tân Cảnh nhưng không biến mất mà đã phối trí lại. Chẳng những vậy, chỉ độ một tháng sau ngày tan rã ở Charlie, Tô Phạm Liệu và Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù đã là có mặt chiến đấu lại ngay ở miền Hỏa Tuyến.
          Tháng 6, 1972 Sư Đoàn Nhảy Dù, Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến và Sư Đoàn 1 Bộ Binh cùng với sự yểm trợ của Không Quân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và Không Quân Hoa Kỳ đã mở chiến dịch tổng phản công tại vùng giới tuyến. Họ đã anh dũng chiến đấu, quần thảo  với tổng cộng sáu Sư Đoàn Bộ Đội Bắc Việt. Hai sư đoàn Cộng Sản 304 và 308 lúc này đã thêm bốn Sư Đoàn 312, 320B, 324B và 325.
          Cuộc chiến đẫm máu kéo dài đến tháng 9, 1972 khi lá cờ vàng ba sọc đỏ được những người lính Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa dựng lại tại Cổ Thành Quảng Trị và khi tàn quân Bắc Việt chạy ngược trở về bên phía Bắc dòng sông Thạch Hãn.
          Giấc mơ chiếm đoạt miến Nam vào mùa Hè 1972 của tướng Võ Nguyên Giáp hóa ra “chỉ là  một giấc mơ thôi.”
          Có lẽ hàng nhiều ngàn hay có thể đến hàng chục ngàn người  “sinh Bắc” đã “tử Nam” trong mùa Hè này.
          Y Sĩ Đại Úy Tô Phạm Liệu được Sư Đoàn Nhảy Dù trao tặng danh hiệu “Quân Nhân Xuất Sắc Nhất Của Sư Đoàn Nhẩy Dù.”
          Tô Phạm Liệu, tên tuổi hào hùng của ngành Quân Y “con rắn” chúng tôi, đã lừng danh trong những đơn vị Nhảy Dù “mũ đỏ” của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thời đó.
          Chiến dịch mùa Hè 1972 đã làm Bắc Việt tổn thất nặng. Phải một thời gian khá lâu họ mới hồi phục lại được sức mạnh. Những ngày tháng ngay sau đó họ đã không tạo thêm được tiếng vang gì đáng kể. Ngoại trừ một cố gắng khác, nhưng vẫn thất bại, ở Sa Huỳnh ở vùng Quảng Ngãi-Bình Định vào đầu năm 1973.
          Năm 1973 cũng là năm Henry Kissinger và Lê Đức Thọ ký kết Hiệp Định Paris, là năm của Việt Nam Hóa Chiến Tranh Việt Nam. Hiệp Định Paris đã đẩy Việt Nam Cộng Hòa vào con đường cùng. Hoa Kỳ rút dần dần ra khỏi Việt Nam. Viện trợ quân sự Mỹ cho quân đội Việt Nam cũng giảm dần theo. Đạn dược, súng ống của quân Việt Nam trở thành thiếu thốn. Xe tăng lỗi thời. Máy bay cũng ít dần và cũ kỹ dần. Bắc Quân ngày càng nhiều khí giới tối tân. vì Nga Sô và Trung Cộng cùng các nước Cộng Sản trên thế giới vẫn tiếp tục ủng hộ tiếp tế Hà Nội một cách tích cực. Việt Nam Cộng Hòa chiến đấu hầu như một mình với Cộng Sản Bắc Việt và cả một thế giới Cộng Sản đứng ở đằng sau. Đó là kết quả của Việt Nam Hóa Chiến Tranh Việt Nam, chính sách của Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon.
          Hiệp Định Hòa Bình Paris 1973, rồi giải Nobel được trao tặng cho Kissinger và Thọ chỉ là những trò hề. Bắc Quân tiếp tục xâm phạm những gì họ ký kết. Đường mòn Hồ Chí Minh “đông người như đi chợ” chuyển quân và vũ khí thiết giáp vào miền Nam.
          Tô Phạm Liệu tốt nghiệp khóa 17 Sĩ Quan Quân Y Hiện Dịch gia nhập Nhảy Dù năm 1971.
          Khóa 21 Sĩ Quan Hiện Dịch Quân Y, khóa cuối cùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, khóa của chúng tôi ra đơn vị năm 1975.
          Chỉ có bốn năm mà tình hình đã đổi khác hoàn toàn. Những tân Trung Úy Y Nha Dược ra đơn vị đúng lúc ngày tàn của cuộc chiến. Tỉnh Phước Long rơi vào tay Cộng Sản tháng 2, 1975.
           Chuyện gì phải xẩy ra đã xẩy ra. Chuyện mất miền Nam Việt Nam vào tay Cộng Sản ngày 30 tháng 4, 1975 đã đến. Có điều chuyện xẩy ra quá bất ngờ, một cách rất ngạc nhiên, ngoài sự dự liệu của tất cả mọi người trong và ngoài cuộc. Lịch sử sẽ cho dần những câu trả lời. Nhưng làm sao có ai, có những lý do nào... mà có cho đủ được những câu trả lời cho chuyện bỏ chạy một cách nhanh chóng như vậy?
          Đa số chúng tôi của khóa 21 Quân Y chỉ đến đơn vị được một, hai tháng thì cuộc đời nhà binh cũng chấm dứt.
          Để sửa soạn dư luận cho cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ năm 1976. Tướng Việt Cộng Văn Tiến Dũng đã bắt đầu Chiến Dịch Mùa Xuân năm 1975. Nhưng chính những người cầm đầu đảng Cộng Sản Việt Nam cũng không thể ngờ có kết quả nhanh, ngoài dự liệu như vậy.
          Miền Nam Việt Nam xụp đổ, đổ dần như một căn nhà không có nền móng, chỉ trong vòng khoảng 55 ngày.
          Ngày 10 tháng 3, 1975 Bắc Quân bắt đầu tiến đánh Ban Mê Thuột.
          Ban Mê Thuột mất ngày 17 tháng 3, 1975.
          Theo đó là Quảng Trị mất 20 tháng 3.
          Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh bỏ Huế 23, tháng 3.
          Rồi Đà Nẵng di tản ngày 29 tháng 3...
          Bắc Việt tiến chiếm dễ dàng dần dần từ Bắc xuống Nam. Bắc Quân vào nhiều thành phố bỏ trống như chỗ không người. Tình hình thật là hỗn loạn.
        Những câu chuyện cười ra nước mắt được kể lại. Như: một thành phố ở miền Trung được di tản đến cả ba, bốn ngày sau một đơn vị quân đội nhỏ của Việt Nam Cộng Hòa quay lại cũng vẫn còn y nguyên vì Cộng Sản cũng không đến kịp vào để tiếp thu! Hoặc: có thành phố được phát ngôn viên chính phủ Việt Nam Cộng Hòa cho biết đã di tản nhưng sự thật dân quân vẫn còn nguyên tại chỗ!
          Hầu như tất cả mọi người đều không làm được gì cả.
          Chúng tôi bất lực. Chúng tôi không làm được gì ngoài việc chỉ cố tránh né để mái nhà sụp hay bức tường vỡ khỏi rơi vào người.
          Ngày 20 tháng 4, 1975  tiền đồn cuối cùng ở Xuân Lộc bị phá vỡ. Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo và Sư Đoàn 18 phải rút quân. Sài Gòn hầu như rối loạn hoàn toàn. Nhìn trước ngó sau chỉ thấy nhiều người tìm cách đi khỏi nước Việt Nam hơn là tìm cách chống trả giữ Sài Gòn.
          Sài Gòn coi như đã mất. Một thành phố đang dẫy chết ! Chỉ còn vấn đề thời gian, một thời gian rất ngắn thôi.
          Trong những ngày cuối cùng ở Sài Gòn, hàng ngày, có khi hàng giờ tôi nghe được những tin tức mới của những người nào đã ra đi và của những người nào sắp ra đi.
          Ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tân Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng.
          Tôi may mắn thoát được lên chiến hạm Hải Quân Việt Nam HQ 1. Chỉ độ mười phút sau đó tầu rời bến Bạch Đằng,  cùng tất cả những chiến hạm còn lại ở bến của Hạm Đội Hải Quân Việt Nam, sau khi binh sĩ Hải Quân chặt cầu vì không đủ chỗ cho hàng ngàn người đang đứng đợi lên tầu.
         Thế là hết! Vĩnh biệt Sài Gòn! Vĩnh Biệt Việt Nam!
          Lênh đênh vài ngày trên Thái Bình Dương, chiếc tầu Việt Nam của chúng tôi đến Subic Bay ở Phi Luật Tân. Ngay sau đó tất cả chúng tôi được chuyển ngay sang một tầu Hoa Kỳ rộng lớn hơn để đi đến đảo Guam.
          Trên tầu Hoa Kỳ đầy người. Đủ loại người. Dân sự có, quân sự có. Người nằm, kẻ đứng ngồi. Hỗn loạn. Tôi tìm đến một  góc nhỏ để tránh né phiền phức. Ở đây tôi thấy một người khá to lớn nằm trên một chiếc võng mắc vào những cái cột của tầu. Lại gần nhận ra đó là huynh trưởng Tô Phạm Liệu. Tôi không ngờ gặp nhau trong hoàn cảnh này.
         Tôi buồn nhớ lại những ngày xưa người anh từ chiến trường về thăm trường Quân Y, với binh phục nhảy dù oai hùng. Bây giờ, Tô Phạm Liệu vẫn mặc binh phục nhảy dù Việt Nam nhưng bẩn và nhầu nát. Chiếc mũ đỏ cũng không thấy đâu nữa. Anh Liệu không giống anh Liệu những ngày trước khi anh trở về từ những chiến thắng nữa. Tô Phạm Liệu nằm trên võng, anh vẫn tỉnh giấc nhưng mắt nhắm như để quên đi những hình ảnh nào đó. Anh Liệu hình như muốn ngủ triền miên. Nhưng làm sao mà ngủ được? Rồi cũng có lúc Tô Phạm Liệu mở mắt ra. Anh kể lại những lúc cuối cùng, những giây phút cay đắng nhất trong cuộc đời khi đơn vị tan hàng. Mắt của anh long lanh khi nói đến gia đình, chị và các cháu, anh không kịp đón đi.
          Tô Phạm Liệu nói rất ít. Tôi cũng chẳng nói nhiều. Đau khổ đã làm tê liệt cả con người.
          Nhưng thật ra còn có gì khác để đáng nói đến nữa đâu?
          Anh em nhìn nhau thẫn thờ! Bàng hoàng! Sững sờ! Giọt lệ nào đó hình như vòng quanh khóe mắt làm mờ mắt của cả hai chúng tôi!
            Ngày hôm sau, tôi trở lại chỗ cũ không thấy anh đâu cả. Chiếc võng cũng biến mất. Tôi để ý tìm mà không gặp. Tô Phạm Liệu chắc cũng chả muốn gặp lại ai nữa. Chính bản thân tôi cũng không muốn thấy người quen nào nữa.
          Những ngày đầu tiên đến đất Mỹ là những lúc vật lộn với cuộc đời mới cũng như các bạn bè khác trong giới Y Khoa để tìm đường trở về nghề cũ. Và cũng như đa số bạn bè Y khoa, cuối cùng tôi cũng trở lại được với nghiệp Y.
          Thỉnh thoảng tôi được nghe bạn bè nhắc nhở đến anh Tô Phạm Liệu. Tôi biết anh đã quay lại hành nghề ở một nhà thương điên (state hospital) nào đó ở Kansas. Tôi được biết, cũng qua bạn bè kể lại, anh uống rượu nhiều, rất nhiều. Tôi muốn nhưng chưa có dịp liên lạc.
          Năm 1989, tôi đi dự cuộc họp Hội Y Sĩ Quốc Tế Việt Nam Tự Do ở  một khách sạn lớn ở Little Saigon, California. Đang đi vớ vẩn trong khách sạn thì có tiếng gọi tên. Tôi nhìn ra thấy huynh trưởng Tô Phạm Liệu. Anh em gặp nhau mừng ứa nước mắt.
          Anh dẫn tôi vào ngồi ở một quầy rượu. Anh Liệu uống rượu mạnh liên miên. Tô Phạm Liệu lần này nói chuyện nhiều hơn, nói khá nhiều. Có khi là người nói, có khi là “rượu nói”. Anh nhìn tôi và nhắc nhớ đến Đoàn Trung Bửu (Biệt Động Quân, chết trên đường ra đơn vị 1975), Vũ Đức Giang (Thủy Quân Lục Chiến, tự tử chết trong trại học tập 1976)... Đó là những bạn cùng lớp khóa 21 Quân Y của tôi, những đàn em của Đại Đội Tân Sinh Viên Quân Y 19 năm trước của anh, đã hy sinh trong những ngày vừa qua.
          Anh Tô Phạm Liệu bây giờ ốm hơn trước. Anh Liệu cho biết là anh đang bị bệnh Tiểu Đường (Diabetes Mellitus). Nhưng anh vẫn uống rượu liên miên. Anh cho biết “có lẽ” đã bị chứng Đau Thần Kinh Ngoại Biên Tiểu Đường (Diabetic Peripheral Neuropathy). Tô Phạm Liệu bảo những cơn đau rất gần nhau và khá nặng. Nhưng anh vẫn không uống thuốc giảm đau. Tôi hiểu anh muốn có một nỗi đau thể xác  để quên cái niềm đau tinh thần.
          Tô Phạm Liệu cảm thấy lẻ loi ở cái đại hội y sĩ có nhiều những người “mặc quần mới áo đẹp” và “ăn to nói lớn”, thích “nhảy đầm” và “xếp hàng để lên hát”... Trong cơn say,  anh nói là phải chi trước kia, mười mấy năm trước kia, anh được “ở lại Charlie” với Trung Tá Nguyễn Đình Bảo, với các bạn nhảy dù thì “sướng hơn nhiều.”
          Tô Phạm Liệu nói “chỉ thích uống rượu” và “không muốn làm gì nữa cả.”
          Tôi không uống được nhiều rượu nhưng cũng uống  hai ba ly rượu để làm vừa lòng anh. Tôi chú ý nghe  anh nói. Anh nói chuyện vẫn hay, vẫn hấp dẫn. Mười chín năm trước đó, khi anh đang huấn luyện tân sinh viên quân y, mỗi lần nghe anh nói chuyện tôi hầu như thấy anh nói đều có lý cả. Lúc này thì khác. Có nhiều chỗ tôi thấy anh nói đúng. Có nhiều lúc tôi nghĩ là anh nghĩ sai. Nhiều lúc là “rượu nói” chứ không phải anh nói nữa. Nhưng tôi hiểu Tô Phạm Liệu nhiều.
          Giữa bữa tiệc rượu của hai anh em, sau 14 năm mới gặp gỡ, Tô Phạm Liệu làm tôi ngạc nhiên khi nói là muốn đọc thơ cho tôi nghe. Anh nói là anh chả có thích thơ và cũng chả nhớ bài thơ nào, nhưng chỉ thích và nhớ  một đoạn trong bài thơ “Nhớ Rừng” của Thế Lữ:
           “...Ta sống mãi trong tình thương nỗi nhớ
           Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
          Nhớ cảnh sơn lâm, bóng cả, cây già
          Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hát núi
          Với khi thét khúc trường ca dữ dội
          Ta bước chân lên, dõng dạc, đường hoàng
          Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng
          Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
          Trong hang tối, mắt thần khi đã quắc
          Là khiến mọi vật đều im hơi
          Ta biết ta chúa tể cả muôn loài
          Giữa chốn thảo hoa không tên, không tuổi
           Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
           Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan
           Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
           Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới...”
          Tôi hiểu Tô Phạm Liệu nhiều hơn. Tôi vẫn kính trọng anh. Tôi vẫn thương mến anh như những ngày xưa, và có thể là hơn những ngày xưa nữa.
          Nhưng vẫn có những điểm tôi không đồng ý với anh Liệu.
          Lần gặp gỡ đó là lần sau cùng tôi gặp người anh lớn của khóa tân sinh viên sĩ quan quân y ngày nào của chúng tôi.
          Sau này tôi được biết anh đã dọn về ở tiểu bang Lousiana và làm việc ở một nhà thương nào đó.
          Và đến bây giờ huynh trưởng Tô Phạm Liệu đã vĩnh viễn ra đi.
          Tờ cáo phó của tờ báo Người Việt trên tay tôi trở thành mờ nhạt:
          “ Vô cùng thương tiếc bạn chúng ta, Tô Phạm Liệu (1941-1997) Y Sĩ Tiểu Đoàn 11 Nhảy Dù... đã không còn với chúng ta kể từ 29 tháng 9 năm 1997...một lòng binh chủng Nhảy Dù. Cầu Anh Linh bạn quên phiền hà, coi như trở lại Charlie...”.
          Tôi nhìn qua khung cửa sổ.
          Xa xa trên bầu trời trong xanh, gần những đám mây trắng ở trên thật cao, hình như mờ ảo có một cánh dù nhỏ bé...

          Anh Liệu đang trở lại Charlie...
          Anh trở lại! Anh đi tìm lại Nguyễn Đình Bảo và những anh em nhảy dù khác, những đồng đội đã “ở lại Charlie”.
         
          Tô Phạm Liệu: Người Trở Lại Charlie.

QYHD Phạm Anh Dũng
Santa Maria, California, USA

Friday, December 4, 2020

Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến


Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa (tiếng Anh: Republic of Vietnam Marine Division, RVNMD) là 1 đại đơn vị quy mô cấp Sư Đoàn,trực thuộc lực lượng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.
Đây được xem là một trong 4 lực lượng thiện chiến cơ động nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (3 lực lượng còn lại gồm Sư Đoàn Nhẩy Dù Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa,Liên Đoàn 81 Biệt Cách Nhẩy Dù và Lực Lượng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hòa).
Nhiệm vụ chính của lực lượng cơ động Hành Quân Thủy Bộ,kiểm soát vùng biển và sông ngòi Miền Nam,với địa bàn chiến đấu khắp bốn vùng chiến thuật và mặt trận ngoại biên.
Đây là đơn vị được tổ chức,chiến đấu và huấn luyện rập khuôn theo Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (USMC),được nhận xét như là đơn vị thiện chiến dày dặn kinh nghiệm nhất trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa.

Lịch Sử:
Lực Lượng Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam Cộng Hòa có nguồn gốc từ thời kỳ Pháp.Năm 1949, theo Thỏa ước Pháp-Việt, lực lượng vũ trang của Chính Phủ Quốc gia Việt Nam sẽ bao gồm lực lượng Hải Quân, với tổ chức và huấn luyện do phía hải quân Pháp đảm nhiệm.Năm 1951,Pháp đề nghị phương án phát triển Hải Quân Việt Nam,theo đó sẽ thành lập hai Sư Đoàn Hải Quân,do Pháp chỉ huy.Tháng 3 năm 1952, Sắc Lệnh số 2 của Đế chế Pháp chính thức xác lập Hải Quân Việt Nam.Tới năm sau, hai sư đoàn hải quân được thiết lập.

TQLC, Giai Ðoạn Chuyển Tiếp:
Ngay trong năm 1953, hai chính phủ Pháp và Việt Nam đã thỏa thuận gia tăng Lực Lượng Bộ Binh Việt Nam lên đến 57 tiểu đoàn hầu đáp ứng nhu cầu hành quân, và mở thêm nhiều cuộc hành quân đến các vùng duyên hải. Do đó, việc gia tăng lực lượng hải quân cũng được coi là quan trọng. Khi nghiên cứu quyền chỉ huy các lực lượng hỗn hợp hành quân trong sông ngòi, Ðô Ðốc người Pháp là Auboyneau đưa ra đề nghị thành lập đơn vị mang tên là Bộ Binh Hải Quân. Vào năm 1954, khi quân Pháp bắt đầu rút lui khỏi Việt Nam, thì đơn vị Bộ Binh Hải Quân còn nằm trong tổ chức của Hải Quân, mới chỉ có một Bộ Chỉ Huy, 4 Giang Ðoàn và những Ðại Ðội Biệt Kích (Commando) hành quân biệt lập.

Sau khi Quân Ðội Pháp rút khỏi Viện Nam vào cuối năm 1954, Chính Phủ và Quân Ðội Hoa Kỳ trực tiếp đóng vai trò quân viện và trợ giúp Quân Ðội Nam Việt Nam tái tổ chức. Một sĩ quan TQLC trong Cơ Quan Viện Trợ Quân Sự Hoa Kỳ (USMAAG) là Trung tá Victor J. Croizat, sau nhiều cuộc tiếp xúc và thảo luận chính thức để xúc tiến việc thành lập Binh Chủng mới với chính phủ Việt Nam, thì ngày 13 tháng 10 năm 1954, Thủ Tướng Ngô Đình Diệm ký Nghị Ðịnh số 991/NĐ, trong đó, điều 1 và 3 ghi rõ:
Điều 1: Hiệu lực kể từ ngày 1 tháng 10 năm 1954, thành lập trong Tổ Chức Hải Quân VN, một Binh Chủng Bộ Binh, đặc trách kiểm soát các thủy trình và những cuộc hành quân thủy bộ dọc theo bờ biển Nam Hải và trong sông ngòi, mang tên: “Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến”.
Điều 3: Binh Chủng TQLC sẽ gồm nhiều đơn vị khác nhau, tùy theo nhiệm vụ, đã có sẵn trong các Quân Chủng Lục Quân và Hải Quân, hay sẽ được thành lập sau nay, tùy theo kế hoạch phát triển của Quân Đội Nam VN.
Chiếu theo Nghị Ðịnh này, những Ðại Ðội Biệt Kích, Ðại Ðội Yểm Trợ và Giang Ðoàn, từ hai Quân Chủng Hải và Lục quân được sát nhập để thành lập Binh Chủng TQLC. Nhiều đơn vị Biệt Kích Hải Quân, từng hoạt động trong vùng đồng bằng sông Hồng Hà Bắc Việt tỏ ra rất hữu hiệu. Ðoàn tàu xung kích đó thường gồm trên 10 chiếc, với những chiến đĩnh chở quân đổ bộ võ trang, chiến đĩnh yểm trợ hỏa lực và chiến đĩnh chỉ huy. Một Ðại Ðội Biệt Kích, quân số khoảng 100 người, đặt dưới quyền điều động của một BCH Hải Quân. Với lực lượng và hỏa lực như vậy, đoàn tàu xung kích có khả năng điều động những đơn vị bộ binh tác chiến, đổ bộ lên những vùng địa thế hiểm trở, với hỏa lực yểm trợ tiếp cận hùng hậu của dại liên, đại bác trực xạ và súng cối tầm xa. Những cuộc hành quân loại này đã đạt được nhiều kết quả trong khu vực sông Hồng Hà, là nơi có nhiều sông ngòi và có nhiều đơn vị Cộng Sản trú ẩn.

Ðệ I Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân (1er Bataillon de L'infanterie Marine) đầu tiên được thành lập từ những Ðại Ðội Biệt Kích dưới quyền chỉ huy của các sĩ quan Pháp, đồn trú tại căn cứ gần Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân Nha Trang. Cũng vào thời gian đầu này, Tr/Tá Lê Quang Trọng được Thủ Tướng Ngô Ðình Diệm bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Binh Chủng TQLC và Trung Tá Croizat cũng được USMAAG cử làm Cố Vấn Trưởng đầu tiên. Những thành phần còn lại của Binh Chủng trong khi đó vẫn còn phân tán ở nhiều nơi, từ Huế vào đến vùng Châu Thổ sông Cửu Long như: 6 Đại Ðội Giang Thuyền, 5 Đại Ðội Yểm Trợ Tác Chiến và 1 đoàn chiến thuyền huấn luyện. Vì chưa có Bộ Chỉ Huy chính thức, nên Tr/Tá Trọng gần như cách biệt với các đơn vị dưới quyền của ông. Với một tổ chức và tên tuổi mới mẻ, Binh Chủng TQLC đã gặp rất nhiều khó khăn. Trước nhất, và có lẽ là nguyên do chính, dù đã có nghị định thành lập của Thủ Tướng Diệm, Binh Chủng TQLC thực tế vẫn ở trong vị thế "bán chính thức". Một cố vấn HK đã giải thích: "Binh Chủng TQLC/VN ít được ai biết tới. Họ gồm nhiều đơn vị không đồng nhất, lại đồn trú rải rác quá nhiều nơi, từ Huế vào đến vùng Châu Thổ Cửu Long". Trên thực tế, những đơn vị đồn trú phân tán đó, vẫn do đạo quân viễn chinh Pháp yểm trợ về tiếp vận tiếp liệu, cho thấy rõ tình trạng "lệ thuộc" của Binh Chủng. Kế đến, trở ngại đến từ phía người Pháp. Sĩ quan Pháp vẫn nắm giữ các chức vụ chỉ huy các đơn vị. Binh Chủng TQLC lại nằm trong hệ thống tổ chức của Hải Quân. Dưới sự thỏa thuận của Pháp và Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu chuyển tiếp, Hải Quân và Không Quân VN do các sĩ quan Pháp trách nhiệm tổ chức và huấn luyện. Một vị Ðại Tá Pháp giữ 2 nhiệm vụ, vừa là Trưởng Tiểu Ban Thành Lập và Huấn Luyện Hải Quân, vừa là Tư Lệnh Hải Quân Nam VN. Điều này đã dành cho vị sĩ quan Hải Quân Pháp toàn quyền duyệt xét và quyết định những đề nghị đưa lên từ phía Cố vấn TQLC Hoa Kỳ. Vấn đề thêm phức tạp, Tiểu Đoàn Trưởng Ðệ I Tiểu Ðoàn Bộ Binh Hải Quân lúc đó lại là Th/Tá người Pháp tên là Souquet, TÐP là Ð/U Jean Louis Delayen, Ðại Ðội Trưởng CH là Ð/U Roger Bùi Phó Chí. Kế hoạch giải ngũ chung trong quân đội Nam VN theo hiệp định Genève cũng đưa đến nhiều trở ngại cho Binh Chủng TQLC vào đầu năm 1955. Theo sự thỏa thuận của hai Chánh phủ HK và Nam VN, quân số của Hải Quân được ấn định là 3,000 người, trong đó TQLC đã có tới 2,400, vừa sĩ quan lẫn binh sĩ, được lệnh phải giảm xuống còn 1,137 người. Vì Binh Chủng TQLC chưa có Bộ Chỉ Huy Trung Ương và chưa có thực quyền, ngay cả nhiệm vụ là tập trung các đơn vị, nên đã xảy ra nhiều vấn đề khó khăn và phức tạp về quản trị hành chánh. Do đó, việc thành lập và phát triển Binh Chủng TQLC lúc đầu đã gặp rất nhiều trở ngại. Binh Chủng TQLC/VN nằm trong tay 3 nhân vật chính: Th/Tá Souquet, Trung tá Victor J. Croizat và Tr/Tá Lê Quang Trọng.

Thời gian đầu năm 1955, về chính trị, chính phủ Ngô Đình Diệm gặp khó khăn liên tiếp do những tranh chấp nội bộ, gây tê liệt không ít đến nỗ lực xây dựng một Quốc Gia chống Cộng do các phe phái tại Nam VN. Vào tháng 2, các nhà lãnh đạo Giáo Phái Hòa Hảo, Cao Đài và tổ chức Binh Xuyên bất mãn với chính phủ của Thủ Tướng Diệm vì đã không thỏa mãn những yêu sách của họ, liên kết thành một tổ chức lấy tên "Mặt Trận Liên Hiệp Lực Lượng Quốc Gia". Cuối tháng 3, tổ chức này cảm thấy lực lượng của họ đủ mạnh để đương đầu với quân chính phủ, đã tạo ra những cuộc giao tranh quân sự. Lực lượng của Giáo Phái Hòa Hảo mở những trận đánh du kích vào lực lượng chính phủ trong vùng căn cứ địa của Giáo Phái ở Châu Đốc, phía Tây Nam Sài gòn. Ngày 28 tháng 3, Thủ Tướng Diệm ra lệnh cho một đơn vị Nhảy Dù tấn công và chiếm Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia, lúc đó Pháp trao quyền kiểm soát cho Binh Xuyên. Nhiều cuộc chạm súng dữ dội giữa quân chính phủ và lực lượng Bình Xuyên đã xảy ra trên các đường phố Sàigòn và Chợ Lớn. Sau 3 ngày giao chiến, qua sự dàn xếp của tướng Paul Ely, quân chính phủ và Bình xuyên ngưng bắn. Ngày 31, lực lương quân sự Cao Đài của Thiếu tướng Trịnh Minh Thế tuyên bố ly khai Mặt Trận Liên Hiệp về hợp tác với chính phủ Ngô Ðình Diệm và sát nhập các đơn vị võ trang vào quân đội Quốc gia. Cuộc hòa hoãn giữa quân chính phủ và Bình Xuyên kéo dài không lâu. Ngày 28 tháng 4, cuộc đụng độ quân sự lại tái phát. Tới giữa tháng 5, lực lượng của quân chính phủ đẩy lui được quân đội Bình Xuyên ra khỏi Sàigòn và Chợ Lớn, gây rạn nứt trong hàng ngũ lãnh đạo của tổ chức này. Tàn quân của Bình Xuyên đã rút lui vào mật khu Rừng Sát, phía Nam Sàigòn, vùng rừng cây đước mọc chằng chịt và địa thế xình lầy dễ lẩn tránh và chiến đấu từng toán nhỏ.

Binh Chủng TQLC đã được chính phủ tin tưởng sau những chiến thắng khởi đầu cuộc chính biến. Ngày 1 tháng 5 năm 1955, Trung Tá Lê quang Trọng thiết lập bản doanh và Bộ Chỉ Huy chính thức tại Trại Cửu Long, Thị Nghè, sau được dời về số 15 Lê Thánh Tôn Sài Gòn sau cuộc Cách Mạng lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm tháng 11 năm 1963. Thủ Tướng Diệm bổ nhiệm Đại Úy Bùi Phó Chí làm Tiểu Đoàn Trưởng Ðệ I Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân thay thế Th/Tá Souquet. Các sĩ quan Pháp chỉ còn giữ chức vụ cố vấn. Vào cuối tháng 6, Thủ Tướng Diệm thay thế tất cả sỉ quan Pháp đang giữ chức vụ chỉ huy trong Hải Quân bằng sĩ quan VN. Việc thay đổi này dã làm giảm thiểu ảnh hưởng người Pháp trong Quân Ðội và cũng từ đó, TQLC/VN được điều động bởi Bộ Tổng Tham Mưu trung ương nhiều hơn. Tại vùng nông thôn phía Nam Sàigòn, lực lượng gần 30 tiểu đoàn quân chính phủ, trong đó có Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân, mở những cuộc tấn công vào các đơn vị chủ lực và bán quân sự của Giáo phái Hòa Hảo. Cuối tháng 6, thủ lãnh Ba Cụt bị bắt, Năm Lửa quy hàng với trên 8,000 quân và ra lệnh ngưng các hành động chống đối chính phủ. Ðệ I Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân đã đánh một trận quyết định với lực lượng Hòa Hảo tại tỉnh Kiên Giang, cách Sàigòn 120 cây số về phía Tây Nam, chiếm được bản doanh và tiêu diệt lực lượng này. Đoạn kết của cuộc xung đột Giáo Phái được đánh dấu bằng cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc ngày 23 tháng 10 bầu vị nguyên thủ Miền Nam. Kết quả, Thủ Tướng Diệm đạt được tỷ lệ số phiếu 98% so với Cựu Hoàng Bảo Đại. Và, ngày 26 tháng 10, tân Tổng Thống Ngô Đình Diệm tuyên bố Quốc Hiệu của Miền Nam là Việt Nam Cộng Hòa.

Cuối năm 1955, Ðệ I Tiểu Đoàn Bộ Binh Hải Quân, xử dụng các đại đội Giang Thuyền tấn công những ổ kháng cự cuối cùng của Bình Xuyên tại Rừng Sát, đánh dấu sự tan rã hoàn toàn của các lực lượng chống đối chính phủ. Ngày 18 tháng 1 năm 1956, Tổng Thống Diệm bổ nhiệm Thiếu Tá Phạm Văn Liễu làm Chỉ Huy Trưởng TQLC, vị CHT thứ 2 của Binh Chủng, thay thế Trung Tá Lê Quang Trọng đi giữ chức Tư Lệnh SÐ Bộ Binh.
Các vị Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ1/TQLC gồm: Th/Tá Souquet (1954), Ð/U Bùi Phó Chí (1955), Tr/U Ngụy Văn Thanh (1956), Ð/U Nguyễn Văn Tài (1958), Ð/U Lê Nguyên Khang (1960), Tr/U Trần Văn Nhựt (1960), Ð/U Tôn Thất Soạn (1964), Ð/U Phan Văn Thắng (1966), Th/Tá Nguyễn Thành Trí (1969), Th/Tá Nguyễn Ðằng Tống (1970), Th/Tá Nguyễn Ðăng Hòa (1972) và Th/Tá Dương văn Hưng (1975).

Quân Phục và Trang Bị
Từ khởi đầu cho đến năm 1960, TQLC mang quân phục hỗn hợp tương tự như Hải Quân và như Lục Quân VN, đội nón beret xanh có hai mỏ neo chéo nhau. Nhưng từ năm 1960 trở đi, nhằm tạo niềm tự hào Binh Chủng (Esprit de Corps), quân phục tác chiến của Binh Chủng màu ngụy trang bệt đen và xanh lá cây sóng biển, còn được gọi là da cọp. Huy hiệu Binh Chủng cũng được dùng từ thời gian này, lấy mẫu từ huy hiệu của TQLC HK, con Ó đứng trên quả cầu, mỏ neo bắt chéo, có thêm đặc điểm là ngôi sao đỏ bên trong có bản đồ VN màu Vàng. Huy hiệu được gắn trên mũ beret và trên cánh tay áo trái. TQLC cũng dùng mũ lưỡi trai và nón sắt bọc vải ngụy trang như TQLC HK. Giữa thập niên 1960, huấn luyện viên quân sự và cơ bản thao diễn tại TTHL/TQLC còn dùng mũ nỉ vành rộng màu nâu "Smokey the Bear hat". Quân phục kaki vàng, các loại quân phục dạo phố mủa hè mùa đông và đại lễ cũng tương tự như Hải Quân, nhưng về cấp bậc, thay vì màu Vàng, TQLC dùng màu kim tuyến Trắng.
Từ khi thành lập cho đến giữa thập niên 1960, TQLC giữ nguyên trang bị các loại vũ khí từ thời Pháp. Ðến giữa năm 1963, một số súng AR15 và M79 được trang bị cho TQLC nhưng còn mang tính cách trắc nghiệm. Mãi đến 1967, TQLC mới hoàn toàn được trang bị súng trường mới M16 cùng với súng phóng lựu M79, đại liên M60 và hỏa tiễn chống chiến xa M72. Trong trận chiến Mùa Hè 1972, TQLC còn được trang bi thêm hỏa tiễn điều khiển TOW chống chiến xa.

Cải Tổ và Phát Triển
Qua năm 1956, quân số của Binh Chủng giảm xuống còn khoảng 1,800 người, mặc dầu vẫn duy trì hệ thống tổ chức như lúc đầu, gồm có 6 Ðại Ðội Hải Thuyền, 5 đại đội Yểm Trợ nhẹ, 1 Tiểu đoàn Bộ Binh, và 1 Bộ Chỉ Huy. Sau hơn nửa năm nghiên cứu của bộ tham mưu và được các cố vấn HK yểm trợ, ngày 21 tháng 12, Thiếu Tá Liễu đệ trình lên Bộ Tổng Tham Mưu kế hoạch cải tổ mới với 2 điểm đặc biệt là: -Thành lập thêm 1 tiểu đoàn bộ binh TQLC mà quân số không quá mức ấn định, -và nâng Binh Chủng thành Liên Ðoàn Thủy Quân Lục Chiến. Bộ Tổng Tham Mưu chấp thuận những đề nghị của TQLC đưa lên. Kế hoạch phát triển khởi sự vào tháng 2 năm 1956 khi Tiểu Đoàn 1 Bộ Binh TQLC hoàn tất công tác "dẹp loạn" trở về hậu cứ Nha Trang. Tất cả những đại đội Hải Thuyền và Yểm trợ được giải tán. Ba đơn vị tân lập gồm có: Tiểu đoàn 2 Bộ Binh TQLC, một Ðại Ðội Trọng Pháo 106 ly, tiền thân của Pháo Binh TQLC và một Đại Ðội Chỉ Huy và Công Vụ Liên Ðoàn, tiền thân của TÐ Tổng Hành Dinh.

Sau khi chiến dịch Hoàng Diệu nhằm tảo thanh tàn quân Bình xuyên ở Rừng Sát chấm dứt ngày 24/10/1955, Đ/U Nguyễn Kiên Hùng, CHT Liên đoàn Tuần Giang và xung kích số 1, được chỉ định thành lập Tiểu đoàn 2 Bộ Binh TQLC. Đơn vị tân lập đồn trú tại Long Hải, Bà Rịa. Ðầu năm 1956, TÐ rời căn cứ về Rạch Dừa Vũng Tàu. Tháng 6 năm 1957, một lần nữa, TÐ di chuyển bằng đường bộ ra Ba Ngòi, tiếp nhận căn cứ Cam Ranh của Hải Quân Pháp trao lại, là nơi quân đội Pháp đã dùng để huấn luyện lực lượng thủy bộ trong giai doạn cuối cuộc chiến Đông Dương. Với kết quả cải tổ này, sơ đồ tổ chức của Tiểu Ðoàn TQLC/VN tương tự như sơ đồ tổ chức của Tiểu Ðoàn TQLC Hoa Kỳ gồm 3 đại đội tác chiến, 1 đại đội vũ khí nặng và 1 đại đội chỉ huy và công vụ. Mỗi đại đội tác chiến có 3 trung đội khinh binh và 1 trung đội vũ khí cộng đồng. Và cũng như vậy, 1 trung đội khinh binh có 3 tiểu đội chiến đấu, mỗi tiểu đội có 3 tiểu tổ 3 binh sĩ (sau này, hệ thống tam chế được cải tổ thành tứ chế). Vũ khí cá nhân trang bị cho các khinh binh là súng Carbine M-1, loại vũ khí nhẹ từng được trang bị cho những đơn vị Commando thời Pháp. Trung đội vũ khí cộng đồng được trang bị 6 khẩu trung liên BAR (Browning Automatic Rifle). Đại đội vũ khí nặng của tiểu đoàn gồm 1 trung đội 4 khẩu súng cối 81 ly và một trung đội 2 khẩu đại bác không giật 57 ly. Trong khi kế hoạch cải tổ được tiến hành tốt đẹp, BCH Liên Đoàn khởi sự kế hoạch phát triển Binh Chủng thành Trung Đoàn. Với kế hoạch này, quân số TQLC sẽ tăng từ 1,837 lên 2,485 người, vẫn không vượt quá mức quân số ấn định của Hải Quân và của QLVNCH, trong đó, Tiểu Ðoàn Bộ Binh TQLC thứ ba sẽ được thành lập. Kế hoạch này cũng đề nghị, Binh Chủng TQLC sẽ trở thành lực lượng Tổng Trừ Bị và được đặt trực tiếp dưới quyền điều động cùa Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Mặc dù đề nghị này không được chấp thuận ngay, nhưng đã trở thành kế hoạch phát triển sau đó.
Các vị Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ2 gồm: Ð/U Nguyễn Kiên Hùng (11/1955), Ð/U Hoàng A Sam (6/1956), Ð/U Lê Nguyên Khang (9/1957), Ð/U Nguyễn Hải Ðằng (5/1958), Ð/U Nguyễn Thành Yên (7/1958), Tr/U Dương Hạnh Phước (6/1960), Ð/U Nguyễn Thành Yên (1/1961), Ð/U Cổ Tấn Tinh Châu (11/1963), Ð/U Hoàng Tích Thông (11/1964), Th/Tá Lê Hằng Minh (11/1965), Ð/U Ngô Văn Ðịnh (6/1966), Th/Tá Nguyễn Kim Ðễ XLTV/TÐ (3/1969), Th/Tá Nguyễn Xuân Phúc (5/1969), và Th/Tá Trần văn Hợp (5/72-4/1975).

Đầu tháng 8 năm 1956, Tổng Thống Diệm bổ nhiệm Đại Úy Bùi Phó Chí, lúc đó đang làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Bộ Binh TQLC, kiêm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn TQLC thay thế Thiếu Tá Phạm Văn Liễu. Ðến ngày 1 tháng 10, Thiếu Tá Lê Như Hùng được bổ nhiệm làm Chỉ Huy Trưởng thứ 4 của Binh Chủng.

Ngày 1/9/1957 Đ/U Lê Nguyên Khang được ủy thác thành lập Tiểu Ðoàn 3 Bộ Binh TQLC. Đ/U Trần Trung Ái, XLTV chức vụ Tiểu đoàn Trưởng một thời gian ngắn rồi được thuyên chuyển về làm Trưởng ban Tâm lý chiến Liên đoàn và Đ/U Nguyễn kiên Hùng lên thay. Kể từ năm 1957 đến 1971 Hậu cứ của TĐ3 được lần lượt qua các nơi như Thủy Xưởng Miền Đông thuộc BTL Hải Quân đến trại Hoàng Diệu, trại Chương Dương, trại Ngô Xuân Soạn ở Thủ Đức. Tử Năm 1971, hậu cứ TÐ3 được di chuyển vào Căn Cứ Sóng Thần, Dĩ An. Sau ngày lễ xuất quân tại Gò Dưa, Thủ Ðức, Tiểu Ðoàn 3 mở những cuộc hành quân an ninh tại Đức Hòa, Đức Huệ (Hậu Nghĩa), yểm trợ mở đường xuyên qua khu rừng Cò Mi (sau này là đường xa lộ từ Dĩ An đến Bình Dưong). Rồi TĐ3 bất ngờ đổ bộ lên đảo Phú Quốc, vùng Đá Bạc (U Minh) để phá tan hậu cần của CS. TÐ3 là đơn vị tiên phong đột nhập và tiến chiếm Cổ Thành Quảng Trị cùng với các TÐ khác trong ngày 15 tháng 9 năm 1972.
Tiểu Ðoàn 3/TQLC được chỉ huy bởi các TÐT sau đây: Ð/U Lê Nguyên Khang (9/1957), Ð/U Trần Trung Ái (1959), Ð/U Nguyễn Kiên Hùng (1959), Ð/U Mã Viết Bằng (1961), Ð/U Dương Hạnh Phước (1962), Ð/U Mã Viết Bằng (5/1963), Ð/U Tôn Thất Soạn (12/1963), Th/Tá Nguyễn Thành Yên (1/1964), Th/Tá Nguyễn Thế Lương (12/1964), Ð/U Nguyễn Năng Bảo (6/1966), Th/Tá Phạm Văn Sắt (5/1969), Th/Tá Nguyễn Năng Bảo (9/1969), Th/Tá Lê Bá Bình (1971), Th/Tá Nguyễn Văn Cảnh (1972), và Th/Tá Nguyễn Văn Sử (1974).

Tiểu đoàn 4/TQLC được thành lập tại trại Cửu Long, Thị Nghè, Gia Định vào đầu tháng 9/1961. Sau khi hoàn tất huấn luyện, TĐ di chuyển đồn trú hậu cứ tại trại Hoàng Hoa Thám, đường Lê Lợi, thị xã Vũng Tàu vào đầu tháng 3/1962. Tiểu Ðoàn Trưởng đầu tiên là Đ/U Bùi Thế Lân và TĐP là Đ/U Tôn Thất Soạn vừa mản khóa Tham Mưu Hành quân Thủy Bộ Mỹ trở về. Lần xuất quân đầu tiên mang tên Sơn Dương 2, những Cọp Biển TĐ4/TQLC đã thực hiện một cuộc hành quân đổ bộ vô tiền khoáng hậu trong lịch sử TQLC bằng những ghe đánh cá bằng gỗ và những xuồng tam bản trong khi biển động. Không có chiến đỉnh yểm trợ và không có hải pháo dọn bãi, TĐ4 đã hành quân tàn phá mật khu Lê Hồng Phong ở phía Tây Bắc quận Mũi Né, Phan Thiết, phá hủy toàn bộ các mật khu Đằng Kia, Ara Salour ở Tây Nam Phan Thiết, các doanh trại, các khu canh tác, tịch thu nhiều tiếp liệu phẩm từ miền Bắc đưa vào. Đây là mật khu bất khả xâm phạm từ thời chiến tranh Pháp trước năm 1954. Các vị Tiểu Ðoàn Trưởng của Tiểu đoàn 4/TQLC gồm: Ð/U Bùi Thế Lân (1961), Ð/U Lê Hằng Minh (1963), Th/Tá Nguyễn Kiên Hùng (1964), Ð/U Nguyễn Văn Nho (1964), Ð/U Nguyễn Thành Trí (1965), Th/Tá Ðỗ Ðình Vượng (1968), Th/Tá Võ Kỉnh (1969), Th/Tá Trần Xuân Quang (1971), Th/Tá Nguyễn Ðằng Tống (1972), Th/Tá Trần Ngọc Toàn (1973), Th/Tá Đinh Long Thành (3/1975), và Th/Tá Trần Ngọc Toàn (4/75).

Tháng 5 năm 1960, Th/Tá Lê Nguyên Khang được bổ nhiệm giữ chức CHT Liên Ðoàn TQLC. Để yểm trợ đặc biệt cho các cuộc hành quân, các đại đội Yểm Trợ Thủy Bộ, Đại Ðội Vận Tãi, Đại Ðội Truyền Tin, Đại Dội Quân Y, kế tiếp nhau ra đời. Sau ngày Cách Mạng lật đổ Tổng Thống Ngô Ðình Diệm 1 tháng 11 năm 1963, Tr/Tá Nguyễn Bá Liên lên giữ chức CHT Liên Ðoàn, Th/Tá Trần Văn Nhựt giữ chức Chỉ Huy Phó Liên Ðoàn. Sau cuộc chỉnh lý đầu năm 1964, Ðại Tá Lê Nguyên Khang được tái bổ nhiệm chức vụ CHT Liên Ðoàn TQLC, Th/Tá Bùi Thế Lân làm Tham Mưu Trưởng. Ngày 5 tháng 1 năm 1965, Binh Chủng chính thức tách rời khỏi Quân Chủng Hải Quân, trực thuộc Bộ TTM/QLVNCH về chỉ huy, điều động chiến thuật và yểm trợ tiếp vận. Cùng với Nhảy Dù, TQLC là lực lượng Tổng Trừ Bị của Bộ TTM/QLVNCH. Trong hai tuần lễ diễn biến chính trị đầu tháng 5 năm này, Th/Tướng Lê Nguyên Khang được chỉ định kiêm nhiệm chức Tư Lệnh Hải Quân thay thế Ðề Ðốc Chung Tấn Cang. Sau khi tách rời khỏi Hải Quân, ngày 1 tháng 10 năm 1965, Liên Ðoàn TQLC được cải danh thành Lữ Ðoàn TQLC và danh xưng CHT cũng được đổi thành Tư Lệnh. Ngày 1 tháng 10 năm 1968, ngày Sinh Nhật Binh Chủng TQLC thứ 14, là ngày Lữ Ðoàn TQLC được nâng lên thành Sư Đoàn TQLC. Các đơn vị yểm trợ cũng tăng cấp thành Tiểu Ðoàn như: Tiểu Ðoàn Yểm Trợ Thủy Bộ, Truyền Tin, Công Binh, Quân Y.

Trước đó năm 1964, vì nhu cầu chiến thuật, hai Bộ Chỉ Huy Chiến Ðoàn A và Chiến Ðoàn B được thành lập để chỉ huy các TĐ/TQLC tăng phái hành quân tại lãnh thổ các Quân Khu và Vùng Chiến Thuật. Cuối năm 1964, Tr/Tá Nguyễn Thành Yên Chỉ Huy Phó Liên Ðoàn kiêm nhiệm chức vụ Chiến Ðoàn Trưỏng CÐA . Tr/Tá Tôn Thất Soạn được bổ nhiệm chính thức chức CÐT/CÐB vào cuối năm 1965. Cuối năm 1967, sau khi thụ huấn khóa Chỉ Huy Tham Mưu Trung Cấp Ðalạt trở về, Th/Tá Hoàng Tích Thông được bổ nhiệm làm CÐT/CÐA thay thế Ð/Tá Nguyễn Thành Yên lên chức Tư Lênh Phó Lữ Ðoàn TQLC. Ngày 1 tháng 10 năm 1968, hai BCH/Chiến đoàn A và B được cài danh thành hai BCH/Lữ đoàn 147 và 258. Sau cuộc hành quân Lam Sơn 719, tháng 4 năm 1971, Ð/Tá Hoàng Tích Thông rời Binh Chủng, bàn giao LÐ147 cho Tr/Tá Nguyễn Năng Bảo, lúc BCH/LÐ đang đóng tại khu vực La Vang, Quảng Trị. Tháng 7 năm 1974, Tr/Tá Ðỗ Hữu Tùng XLTV/LÐT thế Ð/Tá Bảo theo học khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Long Bình. Tháng 11/74, Ð/Tá Nguyễn Thế Lương sau khi mãn khóa học CHTM Cao Cấp, giữ chức vụ LTÐ/147 thay Tr/Tá Tùng và chỉ huy LÐ cho đến cuối tháng 3/1975, khi toàn bộ LÐ bị Cộng quân bao vây trên lộ trình triệt thoái từ Huế về Ðà Nẵng dọc theo bờ biển, bị bắt làm tù binh gần cửa biển Thuận An, Huế.

Tháng 6 năm 1970, Ð/Tá Soạn bàn giao LÐ258 lại cho Tr/Tá Nguyễn Thành Trí để theo học Khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp Ðà Lạt. Sau khóa học, Ð/Tá Soạn về giữ chức Trưởng Phòng Tổng Thanh Tra SÐ/TQLC. Ðầu tháng 4/1971, Tr/Tá Trí được vinh thăng Ð/Tá. Ðến tháng 7, tại căn cứ hành quân ở Mai Lộc, Quảng Trị, Ð/Tá Trí bàn giao LÐ lại cho Tr/Tá Ngô Văn Ðịnh vừa mãn khóa CHTM Cao Cấp Ðàlạt, để du học khóa Command and Staff College TQLC Hoa Kỳ. Khi trở về, Ð/Tá Trí được bổ nhiệm giữ chức Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn. Tháng 12 năm 1974, Ð/Tá Ðịnh bàn giao LÐ258 cho Ð/Tá Nguyễn Năng Bảo vừa mãn khóa học CHTM Cao Cấp, để đi thành lập LÐ468. Ð/Tá Lê Ðình Quế, giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng Sư Ðoàn từ năm 1970 đến 1975. Trước đó nhiều năm, ông giữ chức Tham Mưu Phó Hành Quân Tiếp Vận, Chánh Văn Phòng cho Tướng Tư Lệnh Lê Nguyên Khang và là sỉ quan tham mưu ở Bộ Chỉ Huy khi Binh Chủng còn là Liên Ðoàn và Lữ Ðoàn.

Vì nhu cầu chiến trường, BCH/LÐ369 được thành lập vào cuối tháng 11 năm 1969, Tr/Tá Ngô Văn Ðịnh là vị LÐT đầu tiên. Thành lập xong vào tháng 4 năm 1970, xuất quân sang Kampuchia tham dự cuộc hành quân Toàn thắng 42 do Quân Ðoàn IV tổ chức, thay thế Ð/Tá Tôn Thất Soạn và BCH/LÐ258 trở về hậu cứ. Cuối tháng 12, Tr/Tá Ðịnh bàn giao LÐ cho Tr/Tá Phạm Văn Chung để về nước theo học khóa CHTM Cao Cấp Ðàlạt. LÐ369 chấm dứt hành quân tại xứ Chùa Tháp cuối tháng 1 năm 1971 trở về nước tham dự hành quân Lam Sơn 719 tại vùng Khe Sanh, Quảng Trị. Tr/Tá Chung được vinh thăng Ð/Tá tháng 6/1971 sau cuộc hành quân Lam Sơn 810 tại mật khu Ba Lòng. Tháng 5/1972, Ð/Tá Chung bàn giao LÐ cho Tr/Tá Nguyễn Thế Lương để đảm nhận chức vụ TMT Hành Quân Sư Ðoàn. Sau chiến dịch tái chiếm Cổ Thành Quảng Trị, Tr/Tá Nguyễn Thế Lương được vinh thăng Ð/Tá. Tháng 7/1974, Ð/Tá Lương bàn giao LÐ cho Tr/Tá Nguyễn Xuân Phúc để về Sài Gòn theo học khóa CHTM Cao Cấp. Trung Tá Phúc LÐT và Tr/Tá Ðỗ Hữu Tùng LÐP được ghi nhận là mất tích sau cuộc triệt thoái của Sư Ðoàn khỏi bãi biển Non Nước, Ðà Nẵng ngày 29 tháng 3/1975.

Tiểu Ðoàn 5/TQLC được thành lập vào cuối năm 1964, hậu cứ tại Suối Lồ Ồ (Dĩ An, Biên Hòa), trước là Trại Thanh Nữ Cộng Hòa dưới thời Tổng Thống Diệm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng đầu tiên là Th/tá Nguyễn Văn Tính. Sau khi huấn luyện và bổ sung quân số và trang bị tại chỗ theo đúng bản cấp số, TĐ5 được bàn giao cho Th/tá Dương Hạnh Phước và bắt đầu tham dự những cuộc hành quân tại Dakto, Toumorong (Vùng 2 Chiến Thuật), nhất là trận giải vây trại Lực Lượng Biên Phòng Đức Cơ, nằm sát biên giới Lào-Việt. Sau Th/Tá Phước, là các vị TÐT: Th/Tá Phạm Nhã (1967), Th/Tá Trần Văn Hiển (1969), Th/Tá Võ Trí Huệ (1970), Th/Tá Hồ Quang Lịch (1972), Th/Tá Ðinh Xuân Lãm (1974), Th/Tá Phạm văn Tiền (1975).

Tiểu đoàn 6/TQLC được thành lập vào tháng 8 năm 1966 bởi Th/Tá Phạm Văn Chung và Đ/U Trần Văn Hiển làm TĐP. Các Ðại Ðội Trưởng gồm: Tr/U Nguyễn Ðình Thủy ÐÐ1, Tr/U Nguyễn Tường Huy ÐÐ2, Tr/U Lê Văn Huyền ÐÐ3, Tr/U Lê văn Cưu ÐÐ4 và Ð/U Hoàng Trọng Ðộ ÐÐCH, Trưởng Ban 3 là Tr/U Trần Ðình Thụy. Lễ xuất quân đưọc tổ chức vào cuối Thu 1967. Nơi thử lửa đầu tiên là vùng xình lầy Ðặc Khu Rừng Sát. TĐ chịu trách nhiệm bảo vệ an ninh sông Lòng Tào, thủy trình từ sông Sài Gòn ra cửa Cần Giờ. Tháng 4/1968 Th/Tá Chung bàn giao TĐ cho Th/Tá Nguyễn Xuân Phúc để nhận chức CHT Trung Tâm Huấn luyện TQLC tại Rừng Cấm, Thủ Đức. Các vị Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ6 gồm: Th/Tá Phạm Văn Chung (1966), Th/Tá Nguyễn Xuân Phúc (1968), Tr/Tá Nguyễn Thế Lương (1968), Th/Tá Ðỗ Hữu Tùng (1969), Th/Tá Trần Văn Hiển (1972), và Tr/Tá Lê Bá Bình (1974).

Năm 1961, TQLC chỉ có một Trung Ðội Huấn Luyện đạt tại hậu cứ TÐ2/TQLC ở Cam Ranh. Năm 1962, biến thành Ðại Ðội Huấn Luyện và di chuyển về Trại Yế Kiêu, Thủ Ðúc. Ðến năm 1968 theo đà lớn mạnh của Binh Chủng, được cải tổ thành Trung Tâm Huấn Luyện TQLC, tọa lạc tại khu Rừng Cấm, Thủ Đức, cơ sở và phương tiện đầy đủ, có khả năng huấn luyện 20 đại đội tân binh cùng một lúc, cung cấp hàng ngàn tân binh cho các đơn vị tác chiến sau khi được huấn luyện thuần thục. TQLCVN được tổ chức tương tự như Binh Chủng TQLC Hoa Kỳ, dùng cùng một phương pháp huấn luyện và chiến thuật hành quân. Tân binh TQLC trải qua 12 tuần huấn luyện căn bản tác chiến cá nhân như các TTHL tân binh khác, còn được huấn luyện thêm 4 tuần về hành quân thủy bộ và trực thăng vận. TTHL/TQLC được coi là quân trường huấn luyện tân binh gian khổ nhất QLVNCH, tương tư như TTHL Binh Chủng Nhảy Dù. Về chương trình huấn luyện cán bộ, từ cuối năm 1957, sĩ quan TQLC được gửi sang HK thụ huấn các khóa Sĩ Quan Căn Bản, Sĩ Quan Truyền Tin và Tham Mưu Hành Quân Thủy Bộ ở TTHL TQLC/HK tại thành phố Quantico, tiểu bang Virginia. Một số hạ sĩ quan được tuyển chọn gửi qua TTHL HSQ/TQLC tại San Diego tiểu bang California, để được huấn luyện về vũ khí, tác chiến cá nhân và cơ bản thao diễn, trở về làm cán bộ huấn luyện tại TTHL/TQLC. Các hạ sĩ quan và binh sĩ cũng được gửi đi thụ huấn các ngành chuyên môn tại các quân trường trong nước. Để tạo niềm kiệu hãnh "Tinh Thần Binh Chủng" (Esprit de Corps), TQLC/VN chỉ thâu nhận những quân nhân tình nguyện, từ sỉ quan đến binh sĩ. Các vị CHT Trung Tâm gồm Ð/U Phạm Văn Chung, Ð/U Ngô Văn Ðịnh, Ð/U Hoàng Văn Nam, Tr/Tá Phạm Văn Chung, sau cùng là Tr/Tá Nguyễn Ðức Ân.

Bệnh xá TQLC cũng được nâng cấp. Từ Bịnh xá Cửu Long đặt tại trại Cửu Long, Thị Nghè, được đổi thành Bệnh Viện Lê hửu Sanh từ ngày 1/10/1968 lúc thành lập Tiểu đoàn Quân Y TQLC và được dời về Rừng Cấm vào năm 1969. Vị Tiểu đoàn trưởng đầu tiên và duy nhất là Y Sỉ Trung Tá Nguyễn Văn Thế. Các Y Sỉ Trưởng bệnh viện lần lượt là Y Sỉ Th/tá Trần mạnh Tường, Trương minh Cường và Trần công Hiệp. Tuy nhiên, khi thành lập TÐ1 và TÐ2/TQLC năm 1955, đã có 2 vị bác sĩ tốt nghiệp Trường Ðại Học Y khoa Hà Nội tình nguyện về TQLC, đó là các y sĩ Tr/U Nguyễn Văn Hoàng và Nguyễn Văn Chất, là hai anh em ruột. Sau này, 2 ông về lại Quân Y. Trung Tá Hoàng làm Trưởng Phòng điện tuyến TYVCH, còn Trung Tá Chất thì làm Trưởng Phòng bệnh ngoài da TYVCH. Ông Hoàng ở Canada, còn ông Chất ở Florida.

Công Binh TQLC đóng góp rất nhiều trong việc phát triển Binh Chủng qua hai nhiệm vụ chính là “Chiến đấu và Kiến tạo”. Công Binh TQLC khởi đầu bằng Ðại đội Công Binh do Tr/U Bùi Văn Phẩm thành lập năm 1962. Tới năm 1968, Công Binh phát triển thành Liên Ðại Ðội do Ð/U Cao Văn Tâm làm Liên Ðội trưởng. Theo đà phát triển của Binh chủng, tháng 4 năm 1971, Tiểu đoàn Công Binh TQLC được thành hình. Cuối năm 1971, Th/Tá Ðỗ Văn Tỵ từ Cục Công Binh thuyên chuyển về Binh Chủng, được bổ nhiệm làm Tiểu Ðoàn Trưởng. Ngoài những công việc nguy hiểm ngoài hành quân như thiết lập những bãi mìn chống chiến xa tại căn cứ Phượng Hoàng, đặt mìn phá cầu Đông Hà, Mỹ Chánh, Tiểu Ðoàn Công binh còn thiết lập và kiến tạo nhiều công trình lớn trong Binh Chủng như góp phần xây dựng Bịnh viện Lê hửu Sanh, biến khu căn cứ Dĩ An của SÐ1 Lục Quân HK giao lại thành Căn Cứ Sóng Thần với những doanh trại của các Tiểu Đoàn trong Sư Đoàn và còn nhiều công trình khác. Công binh TQLC có mặt hầu hết trên những vùng tham chiến của Binh Chủng.

Tiểu Ðoàn Tổng Hành Dinh đưọc thành lập đầu năm 1969, hậu thân của Đại Ðội Chỉ Huy và Công Vụ Liên Ðoàn năm 1956, đồn trú tại BTL/SÐ, số 15 Lê Thánh Tôn Sài Gòn. Nhiệm vụ chính là bảo vệ an ninh cho BTL/SÐ, quản trị quân số, quân lương, quân thực, tiếp liệu cho quân số cơ hữu BTL và cho BCH Pháo Binh SÐ, các BCH Lữ Ðoàn. Các vị TÐT từ ngày thành lập gồm: Th/Tá Bùi Văn Phẩm (1969), Th/Tá Nguyễn Ðức Ân (1970), Tr/Tá Võ Kỉnh (1971), Tr/Tá Phạm Nhã (1972), Tr/Tá Nguyễn Phán (1974).

Tiểu Ðoàn Công Vụ là hậu thân của Ðại Ðội Tiếp Liệu, được thành lập vào ngày thành lập Binh chủng 1 tháng 10 năm 1968. Năm 1972, TÐ Công Vụ được cải danh thành TÐ Yểm Trợ Thủy Bộ. Vị TÐT tiên khởi là Th/Tá Nguyễn Xuân Phúc (4/1968), kế tiếp là Tr/Tá Ngô Văn Ðịnh (5/1969), Th/Tá Vương Văn Tài (1/1970), Th/Tá Phạm Văn Sắt (1972), Th/Tá Ngô Nhật Thăng (1974).

Một đơn vị không thể thiếu vắng trong tất cả các cuộc hành quân của Binh Chủng, đó lá Pháo Binh TQLC. Khởi thủy, cùng thời gian thành lập TÐ2/TQLC cuối năm 1955, Ðại Ðội Trọng Pháo 106 ly được thành lập, đồn trú tại Mỹ Tho, sau dời về đảo Bnhì Ba trong Vịnh Cam Ranh. Nhưng đến giữa năm 1961, đon vị này bị giải thể, được thay thế bằng Pháo Ðội Ðại Bác 75 ly Sơn Pháo. Ðầu năm 1962, Tiểu Ðoàn Pháo Binh TQLC được hình thành với 2 Pháo Ðội 75 ly và 1 Pháo Ðội 105 ly nòng ngắn do Đ/U Nguyễn Văn Trước làm TÐT và Đ/U Cao Văn Thinh làm TÐP. Các Tr/U Đoàn Trọng Cảo coi Pháo Ðội A/75 ly, Tr/U Nguyễn Hửu Hạnh Pháo Ðội B/75 ly, Tr/U Nguyễn Hồ Quì Pháo Ðội C/105 ly. Ðầu năm 1969, TÐ/PB thứ 2 đuợc thành lập cùng với BCH/PB/SÐ, Th/Tá Nguyễn Văn Trước lên làm CHT, TÐT/TÐ1PB là Ð/U Ðoàn Trọng Cảo, TÐT/TÐ2PB là Ð/U Nguyễn Hồ Quỳ. Sau đó vào năm 1970, TÐ3/PB được thành lập với Ð/U Trần Thiện Hiệu làm TÐT. Ðầu năm 1975, cùng với sự thành lập LÐ468, Pháo Ðội P/105 ly được thành lập với Ð/U Nguyễn Văn Vinh Làm PÐT. TÐT/TÐ2PB sau cùng là Tr/Tá Nguyễn Trọng Ðạt và TÐ3/PB là Th/Tá Nguyễn Tấn Lộc.

Tiểu đoàn 7/TQLC được thành lập ngày 1/6/1969 tại Rừng Cấm, Thủ Đức. Sau đó TÐ di chuyển huấn luyện bổ túc đơn vị tại TTHL Quốc gia Vạn Kiếp, Bà Rịa trong vòng 3 tháng. Tiểu đoàn 7/TQLC sẵn sàng tham dự vào cuộc hành quân đầu tiên với Lực Lượng Đặc Nhiệm Thủy Bộ 211 nhằm thay thế cho Sư đoàn 9 Riverine, rút về nước, trong vùng Kiến Hòa, Mỹ Tho, Chương Thiện. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng đầu tiên là Th/Tá Phạm Nhã và Th/Tá Trần Xuân Quang giữ chức TÐP. Các Ðại Ðội Trưởng gồm: Ð/U Trần Ba ÐÐ1, Tr/U Nguyễn Xuân Quang ÐÐ2, Tr/U Nguyễn Văn Sử ÐÐ3, Tr/U Nguyễn Văn Lộc ÐÐ4, và Tr/U Nguyễn Văn Hòa ÐÐCH. Các vị Tiểu Ðoàn Trưởng TÐ7 gồm: Tr/Tá Phạm Nhã (1969), Th/Tá Võ Trí Huệ (1971), Th/Tá Nguyễn Văn Kim (1972) và Th/tá Phạm Cang (1974).

Tiểu Ðoàn 8/TQLC được thành lập vào cuối năm 1969. Th/Tá Phạm Văn Sắt là vị Tiểu Ðoàn Trưởng dầu tiên. Sau khi bị thương tại chiến trường Kampuchia, Th/Tá Sắt bàn giao Tiểu Ðoàn lại cho Th/Tá Nguyễn văn Phán. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng sau cùng là Tr/Tá Nguyễn Ðăng Hòa.

Tiểu Ðoàn 9/TQLC được thành lập vào tháng 3/1970. Tiểu Ðoàn Trưởng là Th/Tá Nguyễn Kim Đễ, Ð/U Dương Văn Hưng TÐP. Các Ðại Ðội Trưởng là: Tr/U Trần Công Giáo ÐÐ1, Tr/U Lê Thắng ÐÐ2, Tr/U Ðoàn Văn Tịnh ÐÐ3, Tr/U Nguyễn Mạnh Trí ÐÐ4, Ð/U Ngô Ðình Lợi ÐÐCH, và Tr/U Hoàng Ðôn Tuấn Trưởng Ban 3. Đơn vị tham dự hành quân đầu tiên tại Kampuchia với trận giải tỏa đèo Pic Nil. Sau chiến dịch tái chiếm Cổ Thành v àbình iịnh Tỉnh Quảng Trị hoàn tất, tháng 8 năm 1973, Tr/Tá Ðễ bàn giao TÐ9 cho Tr/Tá Huỳnh Văn Lượm để đảm nhận chức vụ Trưởng Phòng 3/SÐ. Tháng 10 năm 1974, Th/Tá Lâm Tài Thạnh thay thế Tr/Tá Lượm giữ chức Tiểu Ðoàn Trưởng. Trận đánh sau cùng của TÐ9 đã xảy ra tại bờ biển Mỹ Khê, Ðà Nẵng vào chiều tối 29 tháng 3 năm 1975 khi SÐ/TQLC đã rút khỏi nơi này với nhiều tổn thất nặng nề.

Tháng 1/1971, Sư Ðoàn TQLC tiếp nhận căn cứ của SÐ1 Lục Quân HK tại Rừng Cấm, nằm tiết giáp 3 quận Thù Ðức, Dĩ An và Lái Thiêu, cải danh thành Căn Cứ Sóng Thần. Căn Cứ có phi trường cho phi cơ vận tải C-123 đáp được và bãi đậu trực thăng cho 1 phi đoàn. Các đơn vị đồn trú, luôn cả Trại Gia Binh, Chợ Sóng Thần, và trường Trung Học Quân Ðội, Bệnh Viện Lê Hữu Sanh, có TT Huấn Luyện, Sân Bắn, hậu cứ các BCH/LÐ147, 258, 369 v à468. Các TÐ1, 2, 3, 5, 6, 7, 8, 9, 14, 16, 18 và 3 TÐ Pháo Binh, TÐ Công Binh, TÐQY, TDYTTB và Ðại Ðội Thủy Xa LVT-5. Căn Cứ còn có 1 pháo đội 105/TQLC thường trực để yểm trợ cho cả 3 Quận Lái Thiêu, Dĩ An và Thủ Ðức cho đến ngày 30/4/1975. Riêng hậu cứ TÐ4 vẫn ở Vũng Tàu. Các vị CHT Căn Cứ gồm: Th/Tá Trần Ngọc Toàn (1/1971), Tr/Tá Lê Bá Bình (8/1972), Ð/Tá Nguyễn Năng Bảo (11/1974), Th/Tá Trần Vệ XLTV (12/1974), Tr/Tá Nguyễn Ðức Ân (1975).

Đầu năm 1975, thực hiện kế hoạch tăng cường lực lượng Tổng Trừ Bị của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, Sư Đoàn TQLC đã tiến hành việc thành lập Lữ Ðoàn 468 với các tiểu đoàn 14, 16, 18. Ðể thành lập các tiểu đoàn trên, từ những tháng cuối năm 1974, mỗi tiểu đoàn TQLC thành lập thêm một đại đội thứ 5 để đưa qua các tiểu đoàn tân lập. Đến đầu tháng 1/1975, việc thành lập Lữ Ðoàn 468 và 3 Tiểu Ðoàn TQLC tân lập bắt đầu thnhà hình. Các sĩ quan sau đây đã được bổ nhiệm vào các chức vụ chỉ huy: Đại Tá Ngô Văn Định Lữ Ðoàn Trưởng. Tr/Tá Nguyễn Văn Cảnh, TÐT/TÐ14. Th/Tá Đinh Xuân Lãm, TÐT TÐ/16. Th/Tá Trần Ngọc Toàn, TÐT/TÐ18. Đ/U Nguyễn Văn Vinh, Pháo Ðội Trưởng Pháo Ðội P/105 ly. Sau đó toàn bộ Lữ Đoàn được không vận và thủy vận về tiếp nhận hậu cứ trong Căn Cứ Sóng Thần, Dĩ An. Tháng 2/1975 Lữ Đoàn được tăng phái cho Tiểu Khu Long An, mở những cuộc hành quân càn quét, tìm và tiêu diệt địch tại quận Bến Lức. Tháng 3/1975 Lữ Đoàn được không vận ra Đà Nẵng, gia nhập với SĐ/TQLC đang hành quân tại đây. Tiếp tục hoàn tất việc thành lập TĐ18/TQLC. Lữ Đoàn được lệnh thay thế Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù phòng thủ khu vực đèo Hải Vân. TÐ18 chưa hoàn tất thành lập đơn vị thì xảy ra biến cố SÐ di tản chiến thuật khỏi Vùng I cuối tháng 3/1975.

Với khả năng chiến đấu hữu hiệu trên mọi chiến trường và miọ địa thế, với nghệ thuật lãnh đạo và chỉ huy vững vàng của hệ thống cán bộ các cấp trong Binh Chủng, nên từ đầu năm 1974, Bộ TTM/QLVNCH có kế hoạch thành lập thêm một Sư Ðơàn TQLC thứ hai, nhưng chưa thực hiện được vì cuộc tổng tấn công của Cộng quân vào đầu năm 1975. Tuy nhiên, SÐ/TQLC đã thành lập được 4 Lữ Ðoàn và các đơn vị Yểm Trợ và Hậu Cứ, quân số có lúc đã lên đến gần 16,000 người.

Đoạn Kết
Có thể nói, giai đoạn thành lập Binh Chủng TQLC/VN, từ năm 1954 đến 1959, là khoảng thời gian đầy khó khăn và thử thách. Được thành lập ngay sau ngày đất nước bị chia đôi bởi hiệp định Genève và trong giai đoạn xáo trộn chính trị tại Miền Nam, TQLC/VN đã tồn tại giữa những khó khăn để phát triển với sự yểm trợ của Cố Vấn HK. Khi các đơn vị còn đồn trú rải rác, TQLC đã cấp thời được xử dụng trong các cuộc hành quân tảo thanh các lực lượng võ trang Giáo phái và Bình Xuyên. Các vị Chỉ Huy Trưởng và Tư Lệnh của Binh Chủng TQLC: Trung Tá Lê Quang Trọng (10/1954), Thiếu Tá Phạm văn Liểu (1/1956), Đại Úy Bùi Phó Chí XLTV/CHT (8/1956), Thiếu Tá Lê Như Hùng (10/1956), Thiếu Tá Lê Nguyên Khang (1960), Trung Tá Nguyễn Bá Liên (11/1963), Đại Tá Lê Nguyên Khang (2/1964) và Đại Tá Bùi Thế Lân (5/1972), đã dồn mọi nỗ lực, cải tổ những đơn vị Biệt Kích, các Ðại Ðội Yểm Trợ và Hải Thuyền, dưới quyền chỉ huy của sĩ quan Pháp, thành một Binh Chủng hùng mạnh, có khả năng chiến đấu đa dạng, tương tự như Lực Lượng Thủy Bộ Xung Kích TQLC/HK. Cùng với các Cố Vấn HK tận tâm và kinh nghiệm, Binh Chủng TQLC/VN trở thành một trong những đại đơn vị có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, được huấn luyện thuần thục, chịu đựng dẻo dai, trang bị vũ khí tối tân, cán bộ và quân số đầy đủ nhất của QLVNCH. Bên cạnh các Tự Lệnh TQLCVN ngay từ thời gian đầu thành lập Binh Chủng có những Cố Vấn Trưởng ưu tú, đầy khả năng, tiêu biểu cho Binh Chủng TQLC Hoa Kỳ, đó là: Tr/Tá Victor J. Croizat (8/1954), Tr/Tá William N. Wilkes Jr. (6/1956), Tr/Tá Frank N. Wilkinson Jr. (6/1958), Tr/Tá Clifford J. Robichaud Jr. (6/1960), Tr/Tá Robert E. Brown (8/1961), Tr/Tá Clarence G. Moody Jr (10/1962), Tr/Tá Wesley C. Noren (10/1963), Ð/Tá William Nesbit P. Nesbit (9/1964), Ð/Tá John A. McNeil (7/1965), Ð/Tá Nels E. Anderson (7/1966), Ð/Tá Richard L. Michael Jr. (7/1967), Ð/Tá Leroy V. Corbett (7/1968), Ð/Tá William M. VanZuyen (7/1969), Tr/Tá Alexander P. McMillan (6/1970), Ð/Tá Francis W. Tief (7/1970), Ð/Tá Joshua W. Dorsey III (7/1971), và Ð/Tá Anthony Lukeman (7/1973-4/1975).

Trong cuộc chiến Mùa hè năm 1972, Bộ Tư Lệnh Sư đoàn TQLC được không vận từ Sài Gòn ra Huế để trực tiếp chỉ huy toàn bộ các đơn vị trực thuộc và tăng phái. Ðầu tháng 5/72, Tr/Tướng Lê nguyên Khang, sau 12 năm chỉ huy Binh chủng từ 4/1960, đã bàn giao chức vụ Tư Lệnh SĐ lại cho Đại Tá Tư Lệnh Phó Bùi Thế Lân. Đ/Tá Lân xuất thân Khóa 4 Trường Vỏ Khoa Thủ Đức, phục vụ trong Binh Chủng từ năm 1956. Ông được vinh thăng Chuẩn Tướng cuối tháng 5/72, thăng Thiếu Tướng tháng 2 năm 1975 và giữ chức Tư Lệnh TQLC cho đến ngày 30/4/1975.

Cuộc di tản chiến thuật khỏi Vùng I Chiến Thuật trong tháng 3/1975 đã gây tổn thất nặng nề về nhân mạng cũng như về trang bị cho nhiều đơn vị của SĐ/TQLC. Phần lớn lực lượng của LĐ147 bị quân CS vây hãm và bắt làm tù bình dọc bờ biển gần cửa Thuận An, Huế. Một số rất ít quân nhân của hai Lữ Đoàn 258 và 369 lên được tàu Hải Quân tại bải biển Non Nước, Đà Nẵng. Chỉ có LĐ468 với các TĐ 8, 14, 16 lên tàu Hải Quân với toàn bộ quân số và trang bị tại làng Cùi, dưới chân đèo Hải Vân trong đêm 28 rạng 29 tháng 3. Các thành phần thuộc Bộ Tham Mưu SĐ, các đơn vị yểm trợ như các Tiểu Ðoàn Yểm Trợ Thủy Bộ, Công Binh, Quân Y, Truyền Tin v.v... cũng đã bị tổn thất rất nặng. Sau khi tạm dừng quân ở Cam Ranh, SÐ được lệnh tiếp tục di chuyển về tập trung tại Vũng Tàu để được tái trang bị quân dụng và vũ khí các loại. Ngày 9 tháng 4, SĐ/TQLC được lệnh Bộ TTM tăng phái hành quân cho BTL/QÐ III, nhiệm vụ phòng thủ vòng đai Ðông Bắc Sài Gòn, khu vực Biên Hòa và Long Bình. Các Cọp Biển VN giữ vững phòng tuyến cuối cùng này, và họ đã chỉ buông súng theo lệnh của Tổng Thống Dương Văn Minh, vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH vào sáng ngày 30 tháng 4, đánh dấu trang sử cuối cùng của Binh Chủng TQLC/VN sau hơn 20 năm chiến đấu bảo vệ nền Ðộc Lập, Tự Do và Lãnh Thổ, Lãnh Hải của Miền Nam Việt Nam.

Mũ Xanh Trần Văn Hiển
Cựu Trung Tá Trưởng Phòng 3/SÐ/TQLC

Sư đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến là đơn vị Tổng Trừ Bị, cực kì lưu động và được coi là thiện chiến nhất trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Sư đoàn được thành lập theo đà phát triển của chiến tranh, đồng thời chia sẻ gánh nặng với các đơn vị bạn, Sư đoàn được đánh giá là 1 trong những đơn vị chiến đấu tốt nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, lời nhận xét này được đưa ra từ phía Đồng Minh, đặc biệt là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Tất cả các quân nhân trong Sư đoàn, từ sĩ quan cho đến binh sĩ đều là tình nguyện. Sư đoàn đã lập được rất nhiều thành tích, mặt trận nào cũng tham dự, từ rừng rậm hay núi non hiểm trở đến duyên hải và đồng bằng sình lầy. Với những thành tích đạt được, Quân kỳ Sư đoàn được tặng thưởng dây biểu chương màu Tam Hợp.

Các Trận Tham Chiến:

Chiến thắng Đầm Dơi (An Xuyên)

Các cuộc hành quân giải tỏa tại Sài Gòn và Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968

Chiến dịch Lam Sơn 719

Trận tái chiếm Cổ thành Đinh Công Tráng Quảng Trị.

Mùa Hè Đỏ Lửa 1972 - Tái Chiếm Cổ Thành Quảng Trị
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Mặt trận Quảng Trị - Huế 1972 - (từ trái qua) Đại tá Lê văn Thân phụ tá Tư Lệnh Quân Đoàn I, Đặc trách hành quân kiêm Trưởng ban kế hoạch tái chiếm Quảng Trị, Đại tá Ngô Văn Định Lữ đoàn trưởng LĐ 258 TQLC, Chuẩn tướng Bùi Thế Lân Tư Lệnh Sư Đoàn TQLC, Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QĐI và QKI.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Trung tướng Lê Nguyên Khang gắn dây biểu chương cho Hiệu kỳ Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên và Trung tá Định TĐT.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Đại tá Nguyễn văn Đức Tư Lệnh Phó/BK44 và Trung tá Ngô văn Định Lữ Đoàn Trưởng /Lữ Đoàn 369 TQLC tại Neak-Luong.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Thiếu Tá Trương Thanh Tâm và Trung Tá Ngô Văn Định.


Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968. Phái Đoàn có: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ, Ông Hoàng Đức Nhã, Trung Tướng Đặng Văn Quang, Trung Tướng Nguyễn Văn Là, Trung Tướng Lê Nguyên Khang và một số Tướng Lãnh khác.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968. "Đồ Sơn" Ngô Văn Định
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968. "Đồ Sơn" Ngô Văn Định
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968. Lê Hằng Minh - Tổng Thống Thiệu - "Đồ Sơn" Ngô Văn Định - Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968.
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và phái đoàn Tướng Lănh đến thăm Căn Cứ của Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên / Thủy Quân Lục Chiến tại Tam Bình, Thủ Đức ngày 28/12/1968. - Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tham Mưu Trưởng Kiêm Tư Lệnh SĐTQLC Bùi Thế Lân


Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên/TQLC
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên/TQLC
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên/TQLC
Binh Chủng Thủy Quân Lục Chiến
Tiểu Đoàn 2 Trâu Điên/TQLC

Nguồn : Page Phóng Viên Chiến Trường  

 Read more at: https://anhxua.net/album/binh-chung-thuy-quan-luc-chien.html
























 

Tiểu Đoàn 8 TQLC - Trận Cam-Bốt MX Phạm Văn Chung

Lần đầu tiên ba thầy trò chúng tôi được chuyên chở bằng loại máy bay dân sự nhõ Cessna 2 chỗ ngồi: Tôi, Thượng sĩ Tchen A Sieu, Trung sĩ Nguyễn Văn Thanh, cộng thêm vũ khí cá nhân, ít quân trang dụng nên quá chật chội. Hơn một tiếng đồng hồ ngồi trong thế khổ sở gần như ôm cổ lẫn nhau từ phi trường dân sự Tân Sơn Nhứt đến Pochengton, Nam Vang bên Cam Bốt, máy bay nhẹ khi lên cao độ đủ bay rồi, cảm tưởng như mình chẳng ngồi vào cái gì cả, bồng bềnh nhẹ trôi theo mây.

Trong đời binh nghiệp, mỗi lần chúng tôi được không vận thì thường nhét vào sàn trực thăng hoặc những vận tải cơ C47, C123, C130, tiếng động cơ ồn ào tại các phi trường quân sự vốn sẵn đã đầy âm thanh hỗn độn: Tiếng trực thăng, tiếng ầm ầm cùa phản lực cơ, lính tráng ồn ào lên xuống, thấp thoáng một vài cáng thương binh, tử sĩ, tiếng pháo binh ầm ì vọng về đâu đó, không gian sặc sụa mùi chiến tranh. Thật vậy, chúng tôi là Lực lượng Tổng Trừ Bị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa cho nên được chở đến đâu thì nơi đó đang khói lửa mịt mù.

Lần này được chỉ định trách nhiệm Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến thay thế Trung tá Ngô Văn Ðịnh về tham dự lớp Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp.

Tôi nhớ vào những ngày cuối mùa mưa tháng 12/1970, phi trường Pochengton chắc vừa qua trận mưa, nhiều vũng nước còn loang loáng khắp phi đạo, quang cảnh nghèo nàn ít náo nhiệt hơn Tân Sơn Nhứt; chưa bao giờ tôi đặt chân đến đây, những hàng rào kẽm gai, bao cát, ụ đất, đây đó lính tráng qua lại tấp nập, v.v...

Khung cảnh đó bỗng nhiên tôi cảm thấy buồn, những đất nước nhỏ bé xinh đẹp, hiền hòa, đất đai mầu mỡ, cây cối xanh ngát thế kia cũng như đất nước thân yêu của tôi mà sao cứ phải chịu cảnh chiến tranh tàn phá hoài như vậy.

Chiếc Cessna chưa đáp hẳn thì đã thấy chiếc trực thăng quân sự rà rà bay đến đậu gần đó, vừa xuống đất, 3 chúng tôi đều phải đứng vuôn vai cho đỡ mỏi sau hơn 1 tiếng bó tròn trong lòng chiếc máy bay quá nhỏ kia. Ðại úy Ðoàn Trung Ương, Trưởng ban 3 Lữ đoàn đến chào nói: Trung tá Ðịnh gửi trực thăng đón Trung tá về Neak Luong, lâu ngày chúng tôi mới gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng rồi không chậm trễ, nhét nhau lên sàn chiếc trực thăng bay về Bộ chỉ huy Lữ đoàn cách đó khoảng 45 cây số phía Ðông Nam.

Ðến nơi, gặp Trung tá Ðịnh, tôi cứ đinh ninh rằng: chúng tôi thế nào cũng còn ở với nhau 1 hoặc 2 ngày chuyện trò tâm sự, Ðịnh và tôi cùng xuất thân Khóa 4 phụ Sĩ Quan Trừ Bị tại Dalat năm 1954, vốn sẵn tinh thần đó chúng tôi lại cùng phục vụ trong Binh chủng Thủy Quân Lục Chiến nên càng gần gũi nhau hơn, tôi nhiều hơn Ðịnh 2, 3 tuổi gì đó nên Ðịnh có thói quen gọi tôi bằng anh.

Gọi là bàn giao Lữ đoàn nhưng chẳng bàn giao gì cả, vừa gặp nhau thì Ðịnh nói liền: Thiếu tá Ðoàn Thức, Tham mưu trưởng sẽ trình bày cho anh rõ tình hình, thầy trò tôi phải đi ngay trực thăng đang chờ để kịp giờ cho chiếc Cessna chở tôi sang và bốc Ðịnh về lại Sàigòn ngay. Thế là Ðịnh xòe bắt tay tôi: Ông anh ở lại, chúc may mắn.

Lữ đoàn 369 hành quân vượt biên sang Cam Bốt trước đó ít tháng, giờ được đặt dưới sự chỉ huy của Quân Ðoàn 4, Vùng 4 Chiến Thuật do Trung tướng Ngô Quang Trưởng làm Tư lệnh. Hiện vùng trách nhiệm của Lữ đoàn tương đối yên ổn, Bộ chỉ huy Lữ đoàn và Tiểu đoàn Pháo binh do Thiếu tá Ðoàn Trọng Cảo làm Tiểu đoàn trưởng tại Neak Lương, 3 Tiểu đoàn tác chiến trú quân cách nhau khoảng 5, 6 cây số trong khu hoạt động của họ gồm:

- Tiểu đoàn 5 do Thiếu tá Võ Trí Huệ làm Tiểu đoàn trưởng.

- Tiểu đoàn 8 do Thiếu tá Nguyễn Văn Phán làm Tiểu đoàn trưởng.

- Tiểu đoàn 9 do Thiếu tá Nguyễn Kim Ðể làm Tiểu đoàn trưởng.

Nhiệm vụ Lữ đoàn hành quân lục soát tiêu diệt địch trong vùng chỉ định, an ninh bảo vệ thủy lộ (sông Mekong) cho đoàn tàu dân sự quốc tế tiếp tế mọi nhu yếu phẩm cho dân chúng Nam Vang, vì cảng chính của Cam Bốt phía Tây Nam bị áp lực địch không xử dụng được. Lữ đoàn phải làm sao để địch không thể thả mìn, phục kích, pháo kích đoàn tàu cứ khoảng 20 hoặc 30 ngày một chuyến tiếp tế như vậy.

Vào một, hai ngày trước khi đoàn tàu tiếp tế đi qua khu vực của Lữ đoàn, các Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến phải hành quân lục soát gần bờ sông khoảng 3 cây số, trải quân chiếm giữ các điểm chiến thuật then chốt chế ngự sông Mekong từ cách Châu Ðốc, Việt Nam khoảng 25 cây số qua Neak Lương về đến khoảng 10 cây số cách Nam Vang, còn đoạn gần Nam Vang tương đối an ninh do Quân Lực Cộng Hòa Cam Bốt chịu trách nhiệm.

Riêng đúng ngày đoàn tàu tiếp tế di chuyển qua, Lữ đoàn phải rút một Tiểu đoàn Thủy Quân Lục Chiến khỏi vùng hành quân về túc trực cùng một Phi đoàn trực thăng gửi từ Cần Thơ (Việt Nam) qua tại sân bay nhỏ Neak Luong để sẵn sàng can thiệp.

Vào khoảng 10 giờ 45 sáng, một ngày cuối tháng 1/1971 đoàn tàu tiếp tế bị phục kích tại ranh giới giữa Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến và Lữ đoàn 2 Quân Lực Cộng Hòa Cam Bốt trách nhiệm,

Ngay khi được Toán truyền tin Lữ đoàn gửi xuống đi theo vị Thuyền trưởng, Trưởng đoàn tàu báo bị phục kích, Lữ đoàn trưởng, Ðại úy Ðoàn Trung Ương Trưởng ban 3 Lữ đoàn, một Hạ sĩ truyền tin cùng lên trực thăng chỉ huy do Ðại úy Không quân, Phi đoàn trưởng lái cất cánh ngay, đồng thời lệnh Tiểu đoàn 8 lên trực thăng đợt đầu.

Khi trực thăng chỉ huy bay đến vùng phục kích đoàn tàu, chúng tôi xà xuống thấp quan sát trận địa, thấy địch nằm trải theo bờ sông phía Ðông Nam (cùng phía Neak Luong) đang tác xạ mãnh liệt vào đoàn tàu. Từ trên cao quan sát thấy mặt nước sông tung tóe mỗi khi đạn nổ không trúng tàu: như súng liên thanh hạng nặng 12.7 ly, súng phóng lựu, súng cối 60, 82 ly, đặc biệt chúng tôi còn nhìn thấy cả đạn đạo của súng cà nông 57, 75 ly không giật bắn thẳng từ bờ sông ra đoàn tàu. Một chiếc tàu trúng đạn bốc khói nhưng vẫn tiếp tục cùng đoàn tàu di chuyển, may mắn không chiếc nào cán thủy lôi hoặc hư hại nặng làm tắc nghẽn dòng sông.

Hai trực thăng Gunship bay theo chúng tôi từ Neak Luong được lệnh can thiệp nên nhào xuống xả súng liên thanh, hỏa tiễn vào bờ sông, súng phòng không địch từ dưới đất bắt đầu bắn lên trực thăng chúng tôi.

Bay vòng ra phía sau lưng địch, chúng tôi thấy hai trảng trống, vừa ruộng lúa vừa bụi rậm thấp cách khoảng 300 thước ngay sau tuyến địch phục kích. Chúng tôi quyết định đổ quân vào các trảng trống này đồng thời liên lạc với Thiếu tá Phán Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 8 đang bay cùng Ðại đội trong đợt trực thăng đầu và lệnh cho 2 Gunship tác xạ dọn bãi đáp. Thường thì dọn bãi đáp bằng nhiều loại hỏa lực khác nhau như Pháo binh, Không quân chiến thuật trước rồi trực thăng Gunship tác xạ cuối cùng là đổ quân ngay. Nhưng ở đây thời gian không cho phép làm như vậy nữa. Chúng tôi muốn chụp ngay sau lưng địch không cho chạy thoát nên xử dụng 2 Gunship tác xạ, phóng hỏa tiễn ít trái xuống bãi đáp là đổ ngay Tiểu đoàn 8 đợt đầu xuống.

***
Tiểu đoàn 8 chia sẵn thành 2 cánh A và B: - Cánh A gồm 2 Ðại đội tác chiến, Ban chỉ huy Tiểu đoàn - Cánh B cũng 2 Ðại đội, Ban chỉ huy nhẹ do Thiếu tá Trần Ba, Tiểu đoàn phó chỉ huy.

Ðợt đầu vừa xong, thì đợt trực thăng thứ hai (cánh B) xuất hiện trên vòm trời xa xa rồi cũng nhanh chóng đổ quân xuống trảng trống thứ hai lao lên hướng Bắc sau lưng địch; trong tiếng đồng hồ sau đó 2 Ðại đội còn lại của 2 cánh được thả xuống 2 bãi đáp xong xuôi.

Tiểu đoàn K17 địch tăng cường nhiều súng cộng đồng hạng nặng nhằm đạt mục tiêu đánh đắm các tàu dân sự quốc tế để gây tiếng vang không ngờ bị Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến làm triệt tiêu hy vọng đó.

Diễn tiến như sau: Trong lúc còn bay trên trực thăng, chúng tôi cùng Thiếu tá Phán đã đồng ý với nhau phải tốc chiến càng nhanh càng tốt không để cho địch kịp trở tay hoặc tháo lui mất.

Trên trực thăng chỉ huy chúng tôi ngưng ngay mọi liên lạc trực tiếp với Phán, chỉ monitor để nghe anh điều động các con cái của Tiểu đoàn anh.

Tiếng Phán oang oang trong ống liên hợp, chửi thề, hò hét, dàn rộng ra, tiến nhanh lên, chạy thẳng ra bờ sông, còn mấy thằng chết hoặc bị thương cứ để đó, để ở bãi đáp tính sau. Ngồi trực thăng trên cao hình dung ra con O¨ Biển đầu đàn Nguyễn Văn Phán đang hung hăng xông xáo lùa đàn O¨ Biển phóng thẳng vào mũi súng địch, anh và Ban chỉ huy Tiểu đoàn cũng hàng ngang chạy vào như mọi người, không còn cách nào khác khi địch thấy đoàn trực thăng đổ quân sau lưng, đã nhả mồi (đoàn tàu) quay lại phía sau súng lớn nhỏ nổ vào đoàn O¨ Biển của 2 cánh A và B như mưa.

Chỉ có độc nhất một con đường sống là cứ nhắm địch mà phóng tới, ai rớt mặc ai, thầy trò anh cứ phóng tới, làm sao mà lớ quớ ở địa thế trống trải để địch tỉa lần được. Phải bay trên đầu anh, nghe tiếng anh hổn hển trong loa truyền tin mới thấy được cái dũng mãnh như con hổ đói mồi của Nguyễn Văn Phán lúc bấy giờ.

Phán xuất thân khóa Sĩ quan Trừ bị Thủ Ðức, anh là rể của nhà triệu phú đã từng ra tranh cử đối chọi với Tổng thống Ngô Ðình Diệm ngày xưa. Ðánh giặc anh hung hãn như cọp nhưng về hậu cứ nghỉ ngơi, dưỡng quân anh lại vui nhộn, trẻ trung, ồn ào kết giao rộng rãi trong giới sành ăn chơi của Saigon một thời. Tính tình cởi mở nhưng liều mạng và bốc ẩu. Trời sanh tánh ai mà sửa được cho ai, cũng vì bản tính trời cho như vậy nên trong trận mạc anh đã gây cho địch nhiều cú táng bất ngờ thất kinh khiếp đảm. Con người như vậy không ai ngờ anh lại có giọng ca đục khàn còn liễu trai hơn cả nữ ca sĩ có tước hiệu tiếng hát liễu trai, nhưng với Phán muốn có giọng ca đó thì anh phải đi 2, 3 tuần cognac, nửa gói thuốc lá trước đã, thời gian phải vào khoảng sau nửa đêm, trong hội trường đèn mờ xuống, ngoài trời se lạnh, sương phủ lãng đãng đó đây, những lúc đó giọng ca của anh càng khàn càng đục ai oán không cùng.

Anh là một Tiểu đoàn trưởng cự phách không thua gì các Tiểu đoàn trưởng: Phạm Nhã, Nguyễn Xuân Phúc tức Robert Lửa, Ðỗ Hữu Tùng, Lê Bá Bình, Phạm Cang, Nguyễn Ðằng Tống, Nguyễn Ðăng Hòa, Nguyễn Văn Cảnh, v.v...

Về phía cánh B của Thiếu tá Trần Ba, Tiểu đoàn phó cũng không kém phần ác liệt, cũng địa thế trống trơn, địch cũng quay lại mà bắn bia vào đoàn O¨ Biển. Còn cách nào khác chỉ một con đường sống là nhắm ngay địch mà phóng tới, nhưng Trần Ba giọng Huế, chắc nịch, chậm rải cũng chửi thề, cũng hô hoán xung phong, nhào tới, chửi thề, nhào lên...

Trần Ba gốc Thiếu Sinh Quân, xuất thân khóa Sĩ Quan đặc biệt, cao lớn, đẹp trai. Khi còn là Trung đội trưởng, Ðại đội trưởng chúng tôi đã nhìn thấy rõ nét, anh sẽ là những Tiểu đoàn trưởng cự phách tương lai của Thủy Quân Lục Chiến, nhưng rất tiếc anh bị tử trận khi là Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5, ít lâu sau trong trận phòng thủ tuyến Mỹ Chánh mùa Hè Ðỏ Lửa 72 tại Quảng Trị (người viết đã có viết về Thiếu tá Trần Ba trong bài 369 bên giòng sông Mỹ Chánh).

Pháo binh đặt tại Neak Luong cách 10 cây số gần như mút tầm của đại bác 105 ly, nên chúng tôi lệnh cho Thiếu tá Ðoàn Trọng Cảo Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Pháo binh mang một Pháo đội dùng phà vượt sông Mekong sang bờ sông phía Tây, di chuyển lên ngang trận địa, nên pháo binh can thiệp rất hữu hiệu, mặc dù không còn quân tác chiến nào để bảo vệ, Pháo binh vừa tác xạ vừa tự giữ an ninh lấy qua đêm, liều lĩnh về phía chúng tôi nhưng bất ngờ cho địch nên địch càng hốt hoảng khiếp đảm.

***
Ðịch bị khóa chặt một là bị giết, bắt sống hay chạy thẳng theo bờ sông lên hướng Bắc; sau 3 giờ giao tranh ác liệt, đẫm máu, tuyến địch bị bung, tháo chạy tứ phía, tha hồ làm mồi cho trực thăng Gunship cùng Pháo binh tác xạ truy kích. Sát bờ sông địch và ta trộn chấu, nhưng ta đang khí thế dũng mãnh nên địch hoặc bị giết hoặc bị bắt sống, thu rất nhiều vũ khí.

- Cao Bằng, đây O¨ Biển 1 gọi.

- Cao Bằng tôi nghe anh năm trên năm.

Tiếng Phán oang oang báo cáo, tôi mần tụi nó ráo trọi, thu rất nhiều súng cộng đồng, có 2, 3 khẩu 75 ly không giật đây; trình Ðại Bàng địch chạy tứ tán, một số khá đông chạy dọc theo bờ sông lên hướng Bắc, xin Ðại Bàng kêu tụi Lữ đoàn 2 Cam Bốt hốt đi, v.v...

Tôi khích lệ Phán ít lời và làm theo Phán yêu cầu, liên lạc với Ðại tá Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 2 cuSa Quân Lực Cộng Hòa Cam Bốt, báo cho rõ sự tình, vị Ðại tá này sau thăng cấp Thiếu tướng làm Tham Mưu Trưởng Quân Lực Công Hòa Cam Bốt dưới thời Tổng thống Lon Nol.

Tổng kết trận đánh: Tiểu đoàn 8 Thủy Quân Lục Chiến vừa chết, bị thương dưới 30, địch khoảng hơn trăm xác rải rác tại trận địa, một số chết vì Gunship, Pháo binh tác xạ truy kích không thể đếm được, bắt sống khoảng 20, thu rất nhiều vũ khí cá nhân, cộng đồng như: AK47, B40, B41, cối Trung Cộng 82 ly, đặc biệt là 2 khẩu đại liên 12.7, 3 khẩu 57 ly và 2 khẩu 75 ly không giật bắn thẳng.

Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân Ðoàn 4, Vùng 4 Chiến Thuật nghe tin chiến thắng bay từ Cần Thơ đến thăm Lữ đoàn ngày hôm sau.

Ðây là lời Trung tướng Ngô Quang Trưởng: Tôi và Bộ Tham Mưu Quân Ðoàn, nhất là Ðại tá Trưởng phòng 3 Quân Ðoàn khen Lữ đoàn và Tiểu đoàn chuyển thế trận nhanh chóng, các anh thắng vì sự điều quân gan dạ và liều lĩnh gây hoàn toàn vô phản ứng về phía địch: - Thứ nhất là các anh di chuyển quá nhanh chóng, Pháo binh sát tới trận địa, địch không ngờ - Về phía đoàn tàu dân sự quốc tế chỉ một vài chiếc trúng đạn hư hại nhẹ, một thủy thủ chết vài ba bị thương nhẹ.

***
Khoảng tháng sau đó Lữ đoàn 369 Thủy Quân Lục Chiến được lệnh di chuyển về Saigon gấp, bổ sung quân số, đạn dược, lương thực trong 2 ngày và được vận tải cơ C130 không vận thẳng đến phi trường quân sự Khe Sanh tham dự cuộc hành quân Lam Sơn 719 vượt biên sang Hạ Lào.

MX Phạm Văn Chung