Tuesday, November 10, 2020

Đại Tá Hồ Sĩ Khải - Chỉ Huy Trưởng Trường Pháo Binh Dục Mỹ

1-10-1953 Tốt nghiệp khóa 3 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Ngành Pháo Binh
1-1954 Thuyên chuyển đến Tiểu đoàn 4 Pháo Binh tại Pleiku
1-5-1955 thăng cấp Trung úy Pháo Đội trưởng Pháo Đội 1 / Tiểu Đoàn 4 Pháo Binh
15-8-1955 Pháo Đội trưởng Pháo Đội Chỉ Huy & Công Vụ /Tiểu đoàn 3 Pháo binh tại Sông Mao
1-7-1957 Thăng cấp Đại úy thuyên chuyển về Bộ Chỉ Huy / Pháo Binh / Quân Đoàn 2
1958 Tốt nghiệp thủ khoa khóa Sĩ quan chuyên môn giải đoán không ảnh bộ Tổng Tham Mưu / QLVNCH
1959 Du học Hoa kỳ, khoá Pháo Binh Cao Cấp tại Ft Sill, Oklahoma Hoa Kỳ 
1-10-1959 Tiểu đòan trưởng Tiểu Đòan 5 Pháo Binh Sông Mao
1-11-1963 Thăng cấp Thiếu tá Hiện dịch
5-1964 Tham Mưu Phó Bộ Chỉ Huy Pháo Binh QLVNCH Sài Gòn
10-1964 Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Sư Đoàn 25 Bộ binh Đức Hòa Hậu Nghĩa
1-11-1966 Thăng cấp Trung tá
9-4-1967 Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh Quân Đoàn 1 tại Đà Nẵng
6/1968 Du học Hoa kỳ Khóa Chỉ Huy Tham Mưu Cao cấp Ft Leavenworth
1-9-1969 Giám Sát Các Lớp Trường Chỉ Huy Tham Mưu tại Đà Lạt
1-10-1969 Vinh thăng Đại Tá
16-7-1970 Chỉ Huy Trưởng Trường Pháo Binh QLVNCH Dục Mỹ.

Huy Chương:

Đệ tứ đẳng Bảo Quốc Huân Chương
15 Anh Dũng Bội Tinh với 2 nhành dương liễu, 3 ngôi sao vàng, 8 ngôi sao bạc, và 2 sao đồng.
1 chiến thương bội tinh
1 US Bronze star.
8 huy chương đủ loại, gồm Lục Quân Huân chương đệ nhất, Danh dự bội tinh hang nhất, Quân phong Bội Tinh đệ nhất, Tham mưu, Chiến dịch, Huấn vụ Bội Tinh hạng nhất, Hải vụ Bội tinh, và Chương Mỹ Bội Tinh.

1975 Định cư tại Los Angeles và Orange County California.

Nguồn: Pháo Binh

Monday, November 2, 2020

VỊ TỔNG THỐNG ĐẦU TIÊN VỚI NGÀY QUỐC KHÁNH 26/10 CỦA VNCH

 TỔNG THỐNG NGÔ ĐÌNH DIỆM

Pháo thủ Lê Châu Lộc nói chuyện về Tổng Thống Ngô Đình Diệm (Trích trong quyển Kỷ Yếu Pháo Binh QLVNCH 2010)
Song Lê
Người viết bài này quen biết pháo thủ Lê Châu Lộc vì vừa là đồng nghiệp pháo thủ vừa cùng chung đơn vị với nhau trong những năm 1956, 57, và 58 tại Bình Thủy Cần Thơ, và Trảng Bàng Tây Ninh.
Anh là một Sĩ quan Pháo binh Việt Nam Cộng Hòa có quá trình phục vụ và thăng tiến khá đặc biệt. Tốt nghiệp Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức Khóa 5 - Vì Dân. Học Pháo Binh Tại Trường Pháo Binh Phú Lợi, tu nghiệp pháo binh ở Châlons-sur-Marnes (Pháp) và Fort Sill (Hoa Kỳ), từng là huấn luyện viên ở nhiều Trường Pháo Binh trong nước (Phú Lợi, Dục Mỹ) và ngoài nước (Fort Sill USA). Đơn vị chiến đấu đầu tiên Anh phục vụ là Tiểu Đoàn 21 Pháo Binh. Rồi Trường Đại Học Quân Sự, rồi Lữ Đoàn Liên Binh Phủ Tổng Thống. Cuối năm 1959 Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm cho đến ngày đảo chính 1-11-1963. Rồi Pháo Binh Quân Đoàn III và Trường Pháo Binh.
Anh xin giải ngũ sau ngày đảo chính và được giải ngũ năm 1965. Thi tuyển vào Học Viện Quốc Gia Hành Chánh. Tốt nghiệp Đốc sự khóa 13 và Cao học Hành chánh khóa 5. Nghiên cứu hậu Cao học về Quản Trị Phát Triển tại các trường Đại học London, Oslo, Dublin. Tham quan các hệ thống Phát triển và Phòng vệ tại Do Thái và Ấn Độ. Giảng viên Trường Quốc Gia Công Tác Xã Hội (Saì Gòn). Cuối năm 1969 Anh tham gia Liên danh Bông Huệ của Luật sư Nguyễn Văn Huyền, đắc cử vào Thượng Nghị Viện VNCH. Anh là Nghị sĩ cho đến 30 tháng Tư Đen, 1975.
Khi lưu vong ở nước ngoài, trong suốt 23 năm (1975-1998), cựu pháo thủ Lê Châu Lộc hoạt động không ngừng ở khắp Á, Âu, Phi, Mỹ cho công việc cứu trợ những người tỵ nạn Cộng sản. Phần quan trọng hơn gồm việc thiết kế và điều khiển các dự án chương trình viện trợ phát triển vững bền cho các quốc gia trong khối đệ tam thế giới khắp Á, Phi, Đông Âu và Trung Đông. Anh về hưu năm1998 tại Hoa Kỳ. Mặc dầu Anh đang hưu trí, người ta vẫn thấy Anh xuất hiện trong các hoạt động truyền thông, xã hội, chính trị khi cái lão và cái bệnh không “hành hạ” Anh quá mức.
Người viết, cũng như những ai từng quen biết Anh trong Pháo binh, trong Thượng viện, hoặc ở các lãnh vực hoạt động khác của Anh, đều tìm thấy nơi Anh một người bạn, người cộng sự, người chỉ huy vui vẻ, từ tốn, năng động trong công việc, có tinh thần trách nhiệm, có đạo tâm, và đáng tin cậy.
Người viết nghĩ rằng bạn đồng đội trong quân ngũ cũng muốn nghe người bạn này hiện là một trong số ít nhân chứng sống còn lại kể cho biết một vài việc đơn sơ về Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Lại nghĩ Binh chủng Pháo Binh VNCH trước kia, có một pháo thủ như thế trong hàng ngũ, hẳn cũng là hảo sự. Vì muốn “tốt đẹp khoe ra” nên đã hơi dài dòng một chút về Anh Lê Châu Lộc.
Tổng Thống Ngô Đình Diệm là một con người lịch sử. Ông là Tổng Thống đầu tiên của Việt Nam tự do và là vị sáng lập nền Cộng Hòa Việt Nam. Sau chín năm cầm quyền đã bị thảm sát bởi chính kẻ đồng minh Ông tin cậy, bởi chính hàng khanh tướng Ông tạo ra. Khi Ông nằm xuống, những người mưu giết Ông và cộng sản thù ghét Ông đã bêu xấu Ông tàn tệ bằng những điều tiếng bịa đặt bỉ ổi, bằng những sự thật bị bóp méo để chạy tội, để lấp liếm những ý đồ xấu xa, những tâm địa phản phúc. Đến nay đã 45 năm qua, người đời vẫn còn nhắc tới Ông. Vẫn còn người không ưa, vẫn còn người thương tiếc. Vẫn cỏn lời bôi bác, vẫn còn lời bênh vực. Tuy nhiên những sự thật lịch sử liên quan tới Tổng Thống Ngô Đình Diệm đang dần được sáng tỏ nhờ những phát hiện từ nhiều tài liệu được giải mật từ phía Moscou, Peking, Hà Nội và Washington, từ lời tuyên bố hoặc bài viết của những người phản tỉnh, và tiết lộ của nhiều nhân chứng đáng tin. Nhà biên khảo Minh Võ đã công phu gom góp rất nhiều những ý kiến trái ngược đó vào một cuốn sách đặc biệt: “Ngô Đình Diệm, lời khen tiếng chê” nhằm trình bày vàng thau trước công luận và trả lại công đạo cho một vị Tổng Thống mà đức hạnh ngời ngời không ai bôi đen được, và mục tiêu chính trị suốt đời chỉ là mưu cầu độc lập toàn vẹn chủ quyền, tự lập cho đất nước, tiến bộ, tự do và nhân phẩm cho người dân, an lạc, thịnh vượng cho đời sống.
Đại úy Lê Châu Lộc được Tổng Thống Ngô Đình Diệm chọn để làm một vài công tác đặc biệt khoảng cuối năm 1958 và sau đó hơn một năm được chọn làm Sĩ quan Tùy viên. Trong thời gian ở gần Tổng Thống, chắc chắn Anh thường được nghe và thấy lời nói và sinh hoạt hằng ngày của vị lãnh đạo quốc gia nhưng không thấy Anh viết ra hoặc kể lại. Hình như Anh không muốn dây dưa vào cuộc đôi co về người đã khuất mà Anh rất mực kính trọng. Đã nhiều lần tôi (người viết bài này – LVT) ngỏ ý muốn được Anh kể cho nghe những mẩu chuyện nhỏ mặt thấy tai nghe đó mà Anh cỏn nhớ được vể Tổng Thống Diệm. Mãi gần đây Anh mới đồng ý, vì có độ lùi thời gian và thuận lợi cho sự trả lại chân lý cho lịch sử Việt Nam. Anh cũng muốn bầy tỏ tình nghĩa anh em với vong linh các anh hùng bỏ mình vì chính nghĩa dân tộc và tập thể những chiến sĩ quốc gia còn ngậm hờn nơi đất khách.
Về cận thần - Ai là những cận thần của Tổng Thống?
Là một sĩ quan tùy viên (SQTV), Lê Châu Lộc làm việc hằng ngày sát cạnh Tổng Thống, tiếp xúc và sinh hoạt với các vị có tên tuổi sau đây: Bác sĩ Bùi Kiện Tín, Y sĩ riêng của Tổng Thống, Ông Bí Thư Trần Sử, Ông Chánh Văn phòng Đặc biệt Võ Văn Hải, Ông Đổng Lý Quách Tòng Đức, Ông Phó Đổng Lý Đoàn Thêm, Ông Tổng Thư Ký Nguyễn Thành Cung, Ông Phó Tổng Thư ký Nguyễn Văn Cẩn, Ông Tôn Thất Thiết, Sở Nội dịch Phủ Tổng Thống (PTT). Ông Trương Bửu Điện làm Giám Đốc Nha Báo Chí, Ông Tôn Thất Thiện, một trong 4 hay 5 người theo Thủ Tướng Ngô Đình Diệm về nước, giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Nam Thông Tấn Xã và cũng là thông dịch viên chính thức của Tổng Thống. Sau đó Ông Trương Bửu Khánh tiếp giữ chức vụ Tổng Giám Đốc Việt Tấn xã. Ông Hoàng Thúc Đàm làm Giám đốc Nha Nghi Lễ.
Bên phía quân sự thì có Tham Mưu Trưởng Biệt Bộ Phủ Tổng Thống, trước chính biến 1960 là Trung tá Cao Văn Viên được bổ nhiệm Tư Lệnh Lữ Đoàn thay thế Nguyễn Chánh Thi, về sau thăng Đại tướng giữ chức vụ Tổng Tham Mưu Trưởng . Tiếp nối bởi Trung tá Lê Như Hùng, chỉ huy cao cấp của Thủy Quân Lục Chiên. Sĩ quan lái phi cơ Tổng Thống là Trung tá Phan Văn Sang, sau này thăng Chuẩn tướng Không quân. Lữ đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống do Trung tá Lê Ngọc Triển, sau này thăng Thiếu tướng, với nhiều sĩ quan xuất sắc khác như Thiếu tá Nguyễn Hữu Duệ, sau lên Đại tá Tham Mưu trưởng, Đại úy Nguyễn Văn Của về sau thăng Đại tá Tư lệnh Lữ đoàn IV Thiết giáp.
Dưới lầu là Văn phòng Ông Ngô Đình Nhu, Cố vấn Chính trị, phụ tá lỗi lạc mà bạn hay thù đều nể trọng, có Trung tá Phạm Thư Đường, Đại úy Nguyễn Ngọc Hạp, về sau thăng Trung tá. Họ đều là những sĩ quan trọng danh dự và trách nhiệm.
Tổng Thống có trước sau 12 Sĩ quan Tùy viên. Trong số này có 5 người về sau thăng Tướng trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nên kể các Tướng Huỳnh Văn Lạc, Hồ Trung Hậu, Đề đốc Diệp Quan Thủy, Hồ Văn Kỳ Thoại, tất cả về sau đều là Tư lệnh các đại đơn vị tác chiến khắp các vùng Chiến thuật. Một vị tử trận là Đại tá Trương Hữu Đức, Thiết giáp, thăng Chuẩn tướng. Số còn lại đều lên sĩ quan cao cấp, trong số có Trung tá Nguyễn Cửu Đắc. Chỉ trừ Đại úy không quân Đỗ Thọ rất tiếc tử nạn phi cơ khi hãy còn trẻ và Đại úy Pháo Binh Lê Châu Lộc, thương nghị sĩ VNCH (69-75).
Tùy nhu cầu công việc và chương trình hành động của Tổng Thống, Sĩ quan Tùy viên giữ vai trò từ nhỏ như lo bút viết giấy tờ, đến việc quan trọng hơn như mời đón và cập nhật sổ diện kiến từ cấp Bộ trưởng Chánh phủ, Đại biểu Vùng Chiến Thuật, Tổng Tham Mưu Trưởng và các Tư lệnh, Tỉnh trưởng đến Giám đốc các Nha sở Trung ương, các nhà Bác học, Giáo sư, Thân hào nhân sĩ v.v.. Một trong những vai trò quan trọng khác thuộc lãnh vực nghi lễ, liên hệ đến việc mời đón, đưa tiễn các khách ngoại quốc (đại sứ, tướng lãnh v.v…) . Hằng năm bàn giao công vụ đôi ba lần cho các vị tướng lãnh được Tổng Thống chỉ định làm Sĩ Quan Tùy viên Tổng Thống trong những dịp đại lễ, như Quốc Khánh hay công du quốc ngoại. Những ngày như vậy lại cực hơn vì phải phò tá sát cánh từng phút đàn anh Sĩ quan tùy viên mang sao này.
Nhìn kỹ quanh vòng các cộng sự viên tiếp cận trong hay ngoài khuôn viên Phủ Tổng Thống, ta thấy có đủ thành phần Trung Nam Bắc, hầu hết theo đạo Ông Bà hay đạo Phật. Thí dụ Tiến sĩ Tôn Thất Thiện (còn sống ngoài cửu tuần) là một Phật tử thuần thành, một rường cột của Đại học Vạn Hạnh sau này. Ông Đổng lý Quách Tòng Đức là một trong rất ít Đốc Phủ Sứ từ trào Pháp thuộc, được nể vì và kính trọng có phần trội hơn Phó Tổng Thống Nguyễn Ngọc Thơ về tài đức và liêm sỉ. Thân phụ Ông Đổng lý là người Việt gốc Hoa, nói tiếng Việt chưa thông, chủ một tiệm bách hóa nhỏ tại chợ Cà Mau, được Tổng Thống ghé thăm một lần.
Về đời sống hằng ngày.
Tổng Thống có lối sống đơn giản, thanh đạm của một nhà nho Việt Nam. Giường ngủ đặt ngay trong phòng làm việc. Phía sau ghế bành và bàn tròn dùng làm việc và ăn uống, kê một cái giường rộng lối một mét, sạp nẹp gỗ, lót chiếu bông để ngủ. Khi nào “thân thể bất an” mới cho trải thêm một miếng nệm bông gòn mỏng.
Ngoài giờ làm việc, Tổng Thống mặc áo dài thâm, đi dép. Lúc làm việc mà không có tiếp khách, Tổng Thống cũng mặc áo dài đen, xem chừng như thoải mái hơn. Bình thường mặc âu phục, áo chemise dài tay, thắt cà vạt đậm mầu, khi có khách thì khoác áo bành tô vào. Lúc tiếp khách ngoại quốc thì chải chuốt hơn với bộ đồ “sat kinh” trắng hay quốc phục áo dài gấm khăn đống đen. Đi thăm viếng bên ngoài hay kinh lý toàn quốc thì mặc đồ tây mỏng, đội nón nỉ và xách gậy, có khi mang giầy ống lội bùn.
Mỗi ngày của Tổng Thống thường khởi sự bằng một Thánh lễ lúc trời chưa sáng, do các linh mục tuyên úy hay bạn hữu dâng. Chấm dứt một ngày dài mệt nhọc bằng quì gối cầu nguyện âm thầm bên giường (đôi khi cả giờ, hai cánh tay dang rộng). Cửa đóng kín, sĩ quan tùy viên hay hầu cận cần gì lắm mới ra vào.
Sau thánh lễ, đọc nhiều sách, tạp chí, duyệt báo (Anh, Pháp và Việt ngữ, đôi khi Hán văn). Kế dùng lót lòng, thường là cháo trắng với dưa món, uống một tô trà nổi bọt. Một đôi lần sĩ quan tùy viên được bảo :”Nè mi ăn coi, ngon lắm”. (Sĩ quan tùy viên dạ dạ cám ơn, nhưng bụng thì đòi ăn hàng ngoài Thanh Thế dễ nuốt hơn nhiều).
Sĩ quan tùy viên nhắc thay y phục theo sự cố vấn của Nha Nghi lễ. Tiếp theo là một chuỗi công việc không ngừng tới một hai giờ trưa: thường khởi đầu là Bác sĩ Tín thăm hỏi sức khỏe của Tổng thống, kế đến là Ông Bí thư hay Ông Chánh Văn Phòng Đặc Biệt, các Ông trong Văn Phòng Đổng Lý, Văn Phòng Tổng Thư Ký, Sĩ quan Tham Mưu Biệt bộ, các vị thuộc Nha Nghi lễ, Nha Báo Chí và Việt Nam Thông Tấn xã. Chấm dứt phần này vào khoảng 9 giờ sáng. Trong vòng đầu này, Tổng Thống chỉ thị Sĩ quan Tùy viên mời hay nhắc các vị trong Hội Đồng Chính phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu, các Tư lệnh Vùng, Sư Đoàn hay Tỉnh trưởng cần gập. Sĩ quan tùy viên cũng trình Tổng Thống các vị thẩm quyền Trung Ương hay địa phương muốn diện kiến trình việc và nhắc Tổng Thống chương trình hội kiến với các Đại sứ, khách ngoại quốc theo như Nha Nghi lễ đệ trình.
Ít thấy Tổng Thống ăn trưa trước 1 giờ. Có khi ăn trễ vào lúc 3 giờ. Thường cơm trưa thanh đạm, nhiều khi chỉ đôi ba cái bắp còn non, và tô trà Huế. Hầu cận đóng cửa phòng lối nửa tiếng đến một giờ, rồi làm việc lại. Bưổi chiều thường dùng để suy tư, động não chiều sâu, chiến lược, có khi một mình. Đôi khi với những cộng sự viên xa gần được mời gọi riệng.
Không có giờ giấc ấn định cho một ngày dài làm việc. Khi có người trong thân tộc tới thăm nhất là Đức Cha Ngô Đình Thục từ Vĩnh Long lên hay sau này từ Huế vào, thì Tổng Thống nghỉ sớm hơn một chút, vui vẻ viếng thăm, dùng cơm v.v.. Những lúc có các cháu chạy từ phía Ông Bà Cố Vấn sang thăm , thì cười vui, trẻ trung hẳn lại. Cơm chiều nhiều món ăn hơn, nhưng những món ăn quí vẫn là các món ăn Huế quen thuộc mà “ngoài nhà” gởi vào. Không uống rươu nhưng hút thuốc Melia thì hơi nhiều.
Buổi tối tiếp tục duyệt hồ sơ một mình, đôi khi cho mời những học giả, chuyên gia tham khảo về những vấn đề Tổng Thống lưu tâm cách riêng. Lúc xây cất lại Dinh Độc Lập và các tỉnh quận lỵ mới trên các mật khu địch và vùng hẻo lánh, Tổng Thống thường cho mời Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bàn thảo về kiến trúc và thiết kế đô thị đến quá nửa đêm. Tổng Thống trực tiếp chỉ đạo việc thiết định phối trí phòng ốc Dinh Độc Lập với sự cố vấn của Kiến trúc sư lừng danh thế giới này.
Đến đây phải nhắc đến Ông Ẩn, có thể gọi là “người nội trợ” đã theo phò tá Tổng Thống từ khi làm quan. Rất trung thành, khiêm tốn, hy sinh, kín đáo giúp Tổng Thống sinh sống hằng ngày. Dưới bếp thì có “bà bếp già” lo nấu ăn, trang trải $50 mỗi ngày cho phần ẩm thực của Tổng Thống, Ông Ẩn, Ông Bằng một sĩ quan hầu cận khác cũng rất trung kiên. Khi cần may mặc, Ông Ẩn hay Ông Bằng cho mời Ông Chua, chủ tiệm may âu phục ngoài phố vào đo cắt.
Về giải trí
Phần lớn thì giờ của Tổng Thống là để làm việc. Giải trí rất ít với những thú tao nhã quen thuộc. Đọc sách xem các tuần san Pháp, Anh, và Việt ngữ, rất thích tập san chuyên về máy ảnh, hình ảnh như Photography. Tổng Thống rất thích máy ảnh và kỹ thuật chụp ảnh. Ở đây phải nhắc tới Ông Hà Di, một người Việt gốc Hoa có thể kể là nhiếp ảnh viên chính thức của Phủ Tổng Thống. Tổng Thống cũng rất thích kiến trúc nên thích nói chuyên với Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ.
Một thú giải trí khác là trồng tỉa hoa hồng. Mỗi lần lên nghỉ ở dinh số 2 Đà Lạt, thường để cả giờ chăm sóc các hàng hoa hồng. Cỡi ngưa đi quanh đồi núi cũng là một thú vui nữa. Sĩ quan tùy viên cỡi ngựa theo Cụ có Đại tá Thiết giáp Trương Hữu Đức, sau tử trận tại mặt trận giải tỏa An Lộc truy thăng Chuẩn tướng và Đại úy Pháo binh Lê Châu Lộc. Đôi chiều nhàn rảnh rỗi một chút, thì xuống thăm ngựa dưới chuồng phía cổng Nguyễn Du. Sĩ quan tùy viên phải nhớ bỏ vội vào túi vải cục đường để khi Tổng Thống chìa bàn tay ra phía sau ngoắc ngoắc xin đường cho các con ngựa, thì trao ngay vào tay một hai cục đường. Các con ngựa xem chừng biết rõ Tổng Thống, nên thân mật kê mũi vào sát mặt Tổng Thống thở mạnh, đôi bên xem chừng thích thú lắm.
Khi đi ngang dẫy nhà nhân viên phục dịch công xa và đoàn mô tô hộ tống, Tổng Thống không quên thăm hỏi bằng những lời thân thương gọi vợ con của họ là “thím và các cháu”. Các bà vợ trong trại gia binh đều nhắc nhở một cách thích thú thân tình chuyện Tổng Thống gọi các bà là “các thím”. Trung úy Nhan, tài xế cho tất cả các cuộc xê dịch và lễ lạc rất được lòng tin cậy của Tổng Thống, có căn nhà ở luôn tại đây.
Về Kinh lý
Tổng Thống thích thăm viếng đột ngột xã ấp, đồn bót hẻo lánh, trại gia binh, phường xóm , chợ búa, đền chùa để tìm hiểu tình hình, gần gũi dân chúng và binh sĩ. Có lẽ trong cả nước và cả Quân đội không có ai biết nhiều nơi, nhiều chốn bằng Tổng Thống. Từ núi rừng Cao nguyên xuống các vùng cận sơn, ven biển Nam Hải ra tận Cù lao Ré hay Côn đảo, vùng mật khu miền Đông xuống tận vùng mật khu miền Tây, từ Cà Mau, Bến Tre, Hậu Nghĩa, Phước Long, Phước Thành, Quảng Đức, Bến Giàng, A Sao, A Lưới.. Bạn có biết Măng Bút ở đâu không?. Tổng Thống đã đáp xuống đó trong một ngày mưa âm u bằng phi cơ caribou do Trung tá Sang lái. Phi công phải bay lượn vòng quanh hơn nửa giờ chờ có một chỗ trống giữa đám mây đen để chui đầu đáp: thành công nhưng bánh trước máy bay chỉ còn cách đầu phi đạo (là hố núi) lối mười thước, lún sâu xuống bùn. Cũng tại vì Tổng Thống nhứt định phải thăm tiền đồn đó cho được. Thiếu tướng Khánh đến trước bằng một phi cơ L19, may mắn cũng không sao, nhưng bánh lái máy bay gẫy lìa. Tổng Thống đã xin lỗi vì tất cả mọi người trên máy bay đã ói mửa, ngoại trừ phi hành đoàn, Tổng Thống và Sĩ quan Tùy viên vẫn như thường.
Nhắc lại chuyện đi kinh lý, Đại úy tùy viên Lê Châu Lộc có một lời thú như sau: Những chuyến xuất hành khỏi Dinh Độc Lập gần như hằng tuần, đa phần cuối tuần, đã nhiều lần khiến Anh phát bệnh, tự hỏi có thể phục vụ dài lâu được không. Không lấy làm lạ một số các sĩ quan tùy viên trước đã xin trở về đơn vị sớm vì hao mòn (burnt out). Hai lần, sau năm thứ nhất và sau năm thứ hai, Anh Lê châu Lộc xin trở về đơn vị, hai lần bị “gội xà phòng” rất kỹ. Nhưng vào những năm chót của Tổng Thống càng thấy tình hình khó khăn càng thương Ông Cụ, nên chấp nhận tiếp tục gian lao gọi là noi gương chút ít.
Thật ra không phải tất cả các chuyến kinh lý đều cực như chuyến ăn lễ Giáng Sinh ở Đầm Dơi, ghế bố xếp căng ra trên nền ngập nước bùn lõm bõm. Những chuyến về Huế, thăm Cố đô, thăm Bà Cụ Cố, thăm Phú Cam thật thư thả vui vẻ. Sau khi theo Tổng Thống lên lầu ọp ẹp, vào phòng ngủ đầy mùi mốc, để gởi cái cặp, Sĩ quan tùy viên được Cụ khuyến khích đi thăm thú Huế. Phần Cụ thì thẳng xuống nhà ngang lợp mái tranh dầy, thăm viếng Mẹ, cơ hồ như quên hết mình là ai, quên mọi ưu tư phiền muộn, hỏi han như người con nhỏ.
Vài mẩu chuyện khó quên.
Chuyên người lính quì gối. Trong một chuyến kinh lý miền Trung, khi duyệt qua hàng rào dân chúng, có hàng lính đứng trước, Tổng Thống đang bước sải nhanh tay cầm nón vẫy chào dân chúng đang hoan nghênh Tổng Thống, bỗng dừng lại: một binh sĩ lớn tuổi qùi gối xuống để chào Tổng Thống khi bước ngang qua. Tổng Thống lùi lại một bước, đỡ anh lính dậy và nói lớn vào tai anh :”Làm lính không có qùi, chỉ đứng nghiêm chào kiểu lính”. Vỗ nhẹ đầu Anh lính rồi tiếp tục đi.
Chuyện đi thăm Thầy để cám ơn. Vào đầu năm 1962, sau cuộc bầu cử Tổng Thống nhiệm kỳ II thành công. Một hôm Tổng Thống dậy sớm chỉ thị Sĩ quan Tùy viên Lê Châu Lộc đưa Cụ xuống Chùa để cám ơn Quí vị cao tăng tu sĩ Phật giáo đã ủng hộ Cụ trong kỳ bầu cử vừa qua. Chỉ thị “cuộc đi thăm phải đơn sơ, thân tình và trước giờ thành phố thức dậy đễ tránh kẹt xe tội dân chúng.” “Mình đi một xe”. “Thưa ai lái”. “Thì mi lái, khỏi hộ tống rườm rà”. “Thưa Cụ Không nên, phải có an ninh tối thiểu, theo qui luật điều hành ấn định”. “Cha sao mà khó vậy-Thôi được đi lo ngay”. ”Thưa Cụ phải cho Quí Thầy hay để chuản bị, ít ra là nửa giờ trước”. “Ừ nhớ xin các Thầy hãy tự nhiên, đừng lo ngại, vui hơn”. Đoàn xe ngắn nhất, êm ái nhất: một xe cảnh sát Đô Thành dẫn đầu không đèn chớp, không còi hụ. Trung úy Nhan lái xe Tổng Thống có Sĩ quan Tùy viên ngồi bên. Và xe cận vệ đoạn hậu. Đến nơi thấy các Thầy còn đang lăng xăng sắp hàng hai bên ngoài vào, Tổng Thống hơi ái ngại, nhưng rồi dấn bước, vẫy nón chào hai hàng Tăng Ni. Bỗng có một tăng ni trẻ bước ra :”Kính Chào Tổng Thống”.”À thầy về rồi à”. “Dạ, mới mấy hôm nay, chưa kịp vào cám ơn Tổng Thống”. “Không sao, tôi biết học hành xong hết rồi mà,. Khi tiện nhờ Ông Sĩ quan đây đưa vào thăm tôi”. Sau đó mới biết tu sĩ này là Đại Đức Thích Quảng Liên, được Tổng Thống gởi đi học ở Michigan State University Hoa Kỳ, thành đạt, sau mở Trung Học Bồ Đề ở Cầu Ông Lãnh.
Sau khi Tổng Thống dùng xong trà với các Thầy và bầy tỏ lòng cảm ơn đối với các Thầy và Phật tử, một vị Thượng Tọa bỗng đứng lên thưa lớn ”Kính thưa Tổng Thống, anh em chúng tôi có một chuyện buồn Tổng Thống”. Sửng sốt, Tổng Thống nói :”Cám ơn Thầy nói thẳng, xin cho tôi biết chuyện chi”. “Kính thưa Tổng Thống, anh em chúng tôi vừa được tin bên Colombo cho hay Tổng Thống Việt Nam Cộng Hòa có gởi tặng Đức Đạt Lại Lạt Ma một số tiền lớn là 10000 mỹ kim. Sao Tổng Thống không cho anh em chúng tôi biết để chia vui?”. Hơi bối rối một chút, Tổng Thống ngẩng đầu lên nói :”Dạ, tôi nghĩ đó chỉ là bổn phận mình phải làm, không nên nói ra. Đức Đạt Lại Lạt Ma vừa rời Tây Tạng lưu vong, bôn ba cực khổ ở Nepal và miền Bắc Ấn Độ. Tôi được tin rất thương xót, nên sẵn có số tiền vừa nhận được của Viện Magsaysay thưởng cho một vị lãnh đạo xuất sắc trong năm của miền Á Châu Tụ Do, tôi vội vã gởi Ngài để chi dùng khi gặp nạn. Bổn phận thôi. Vả chăng Ngài là đấng lãnh đạo tinh thần sáng chói ớ Á Châu, chỉ có sức mạnh hữu thần chống lại độc tài vô thần, xứng đáng cho ta ngưỡng mộ noi gương và hỗ trợ”.
Chuyện lá cờ. Hôm đó Tổng Thống đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Khi phi cơ đáp xuống phi trường thì đã có đông đảo dân chúng đứng nghênh đón, dọc dài hai bên khán đài, cạnh phi đạo. Phi cơ taxi chậm vào bãi đậu thì bỗng nhiên Tổng Thống hỏi Sĩ quan Tùy viên ngồi xéo phía sau “Anh có thấy gì không?”. Thưa dân chúng đông và có cờ”. “Cờ gì vậy?”. Thì ra nhìn lại mới nhận ra cờ vàng trắng của Vatican, không có mấy cờ Việt Nam. Tổng Thống nện gậy xuống sàn phi cơ và ra lệnh trở về :”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”. Trung tá Sang vội bước xuống cản ngăn. Sĩ quan tùy viên :”Thưa Cụ có thể đồng bào già trẻ lớn bé đã đợi chờ Cụ từ hồi 3 giờ khuya, bây giờ Cụ bỏ về thì họ sẽ buồn biết mấy”. Hạ hỏa tức khắc, máy bay vào chổ đậu, cửa mở, Thiếu tá Tỉnh trưởng (tên Nhựt?) bước lên chịu lỗi và xin Cụ cho nửa giờ để thu vén lại. Nửa giờ sau, cờ xí Việt Nam Cộng Hòa phất phới bay theo gió lộng Đồng Tháp, Tổng Thống bước xuống đi dài theo tường dân chúng, hớn hở và vui vẻ. Cả ngày thăm viếng, không biết mệt, chiều về hầu như quên hẳn chuyện buổi sáng.
Ngày nọ đi qua đường Võ Tánh Phú Nhuận, Tổng Thống thấy trước một trụ sở nhỏ có treo một lá cờ quốc gia phai mầu và rách. Bèn ra dấu cho Thiếu tá Nguyễn Đức Xích tỉnh trưởng theo về dinh Gia Long. Tội nghiệp Thiếu tá Tỉnh Trưởng bị xát xà bông mấy phút dài, để luôn nhớ giá trị thiêng liêng của quốc kỳ và bổn phận dậy dân kính trọng.
Lần thứ ba, Tổng Thống đọc tuần san Pháp (nếu không lầm tờ “Le courrier du Việt Nam” do nhà báo Lefevre chủ biên), lật trang chót có hình Phật Đài lớn đẹp. “Anh có thấy lá cờ quốc gia nào ngoài cờ Phật Giáo không?”. Quả thật không thấy cờ quốc gia. Tổng Thống có vẻ chua chat “Mình khuyến khích xây Phật Đài to lớn để thế giới qua lại ngoài khơi nhận thức giá trị tâm linh của dân tộc Việt Nam, thế mà không thấy một lá cờ quốc gia biểu tượng Việt Nam, nước này là nước nào đây?”. Rồi lấy một miếng bristol trắng cở 10X15 Tổng Thống viết ngay bằng bút chì mỡ đỏ chị thị như sau “….bất câu tôn giáo nào, khi treo cờ tôn giáo phải treo cờ quốc gia, theo đúng nghị định Bộ Nội Vụ đã ban hành…………”. “Anh trao cho Ông Đổng Lý để gởi văn thơ nhắc nhở rộng rãi”. Sau đó không lâu xảy ra vụ cờ Phật Giáo Huế, vụ nổ ở Đài Phát Thanh và đưa đến cuộc phản loạn của một số tướng lãnh tham tiền ngày 1 tháng 11 năm 1963 mà hậu qủa vẫn còn dai dẳng đến nay. Anh Lê Châu Lộc nhớ mãi chỉ thị này nhờ cụm từ khá đặc biệt “bất câu là tôn giáo nào”, cách nói hơi lạ thuở xưa, khác với cách nói của Anh “bất kỳ là tôn giáo nào”.
***
Trên đây là những mẩu truyện thật về Tổng Thống Ngô Đình Diệm do Pháo thủ Lê Châu Lộc, Sĩ Quan Tùy Viên của Tổng Thống kể theo những gì mắt thấy, tai nghe. Người viết ghi lại để những ai quan tâm tìm hiểu về Tổng Thống Diệm có tài liệu đọc thêm hoặc tùy nghi xử dụng.
Anh Lộc
Cám ơn Anh đã chia sẻ những điều mắt thấy tai nghe lúc Anh là Sĩ quan Tùy viên của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Đọc những trang giấy này cũng đã giúp chúng tôi xét lại nhiều vấn đề. Lúc nào Anh cũng giữ đúng tư cách của người Pháo Thủ đại diện cho binh chủng có gần một trăm ngàn người phục vụ dưới cờ: binh chủng Pháo Binh.
Chúng tôi hãnh diện vì Anh.
 



Saturday, October 31, 2020

Hello I thought you might be interested in supporting this GoFundMe,


 Hello

I thought you might be interested in supporting this GoFundMe,  

https://www.gofundme.com/f/funeral-service-for-hau-due-vu-quang-thieu?utm_source=customer&utm_medium=email&utm_campaign=p_cp+share-sheet.

Even a small donation could help Hoa Pham reach their fundraising goal. And if you can't make a donation, it would be great if you could share the fundraiser to help spread the word.

Thanks for taking a look!

Sent from my iPhone

Wednesday, October 28, 2020

Tình Nghĩa - NLG KBC 4822 “Trồng cây gì hái trái đó!”

Sáng nay cả nhóm cùng đến NT QĐBH thắp nhang. Giữa chừng trời đổ mưa lớn, ai cũng tiếc số nhang vừa mới thắp chưa kịp cháy hết. (Vì loại nhang nhóm thắp là loại nhang lớn dài 7 tấc, cháy được cỡ 6-7 giờ đường kính 1cm)
Tuần trước vì ảnh hưởng thời tiết nên không đến được với anh em. Hôm nay, dù mưa ai trong nhóm cũng ráng nán lại chờ trời tạnh để vào thắp cho hết số nhang đem theo. Tôi cũng thấy buồn thương, xót xa trong khung cảnh nghĩa trang u buồn, yên lặng, những nấm mồ rêu xanh ướt đẫm nằm bơ vơ, cô tịch sau cơn mưa, có đốm sáng nhỏ lập loè của những nén nhang.
Thắp nhang xong thì chúng tôi lại mồi 10 gói thuốc, đem tới cắm từng chùm mộ phần mời các vị tử sĩ về hưởng chung, cũng như thuở xưa năm nào trời mưa lạnh, mấy anh em lại trùm chung tấm poncho chia nhau từng điếu thuốc để sưởi ấm.
Tôi khấn nguyện thầm trong lòng các vị anh linh tử sĩ sớm tiêu diêu về miền Niết Bàn Cực Lạc.
Tôi cũng xin nói một ít về việc bão lụt miền Trung. Có nhiều người bạn hỏi tôi sao không nhập nhóm với những người đi cứu trợ mà vẫn còn ở lại Sài Gòn. 
Tôi nói: Các bạn ơi, giai đoạn này tình nghĩa đồng bào nhiều nơi thể hiện tấm lòng tương thân, tương trợ trong cơn hoạn nạn của miền Trung. Tôi và nhóm nhang khói, cúng kiếng trong nghĩa trang và lo một phần nhỏ vật chất trao đến người bệnh tật, đạp xích lô ở Sài Gòn. Quan niệm của tôi là phải chia sẻ chan hoà, đâu còn điều kiện để đi xa.
Tôi xin kể về những lần đi cứu trợ dân tôi Miền Tây sông nước năm 1994.
Trận lụt năm đó khá lớn, nặng nhất là tỉnh Đồng Tháp, Tiền Giang. Anh em chúng tôi một số kinh doanh sản xuất góp lại làm trong điều kiện khả năng của nhóm. Đi được 4 chuyến đến tỉnh Đồng Tháp, 2 chuyến đến tỉnh Tiền Giang. 
Chân thành tôi kể, lúc nhóm tôi đi có liên lạc trước với Hội chữ thập đỏ của tỉnh Đồng Tháp.  Khi xuống đến nơi phát quà cứu trợ được những người có trách nhiệm rất nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện từ phương tiện chở hàng đến công việc hướng dẫn cho nhóm trao tận tay đồng bào, nói cho chúng tôi biết rõ vùng nào bị thiệt hại nặng/ nhẹ thế nào để tuỳ chúng tôi quyết định đi đến vùng đó. Thậm chí họ còn chu đáo lo cho nhóm chỗ ở, bữa ăn. Nhưng nhóm tôi từ chối vì nghĩ mình đến trao quà mà còn khiến họ phải tốn kém chi phí cho nhóm. 
Tôi nghĩ đó là tình nghĩa, trách nhiệm của người đứng đầu tỉnh đối với người dân gặp nạn lũ lụt khó khăn, cũng như họ quý trọng tấm chân tình của các mạnh thường quân đến giúp những gia đình dân trong cơn hoạn nạn.
Lúc ra xe về Sài Gòn ai cũng quý mến và thán phục lương tâm, đạo đức của những người có trách nhiệm tỉnh Đồng Tháp. Sự tử tế, ân cần của họ cũng một phần nào đó giúp người dân tỉnh được giúp đỡ nhiều hơn. Sau đó chúng tôi có quay lại 4 lần để tiếp tục mang những phần quà, số tiền mặt cứu trợ đến với đồng bào tỉnh Đồng Tháp.
Tôi có theo dõi tình hình cứu trợ hiện nay trên mạng xã hội, tôi thấy những nhóm cứu trợ Miền Trung tốn kém phần chi phí phương tiện phụ quá nhiều. Đó là lý do những nhóm hội đi đến vùng ngập lụt gặp khó khăn về kinh phí ngoài dự trù.
Hiện nay dịch bệnh kinh tế khó khăn, nhưng đồng bào trong và ngoài nước dù nghèo hay giàu đều hướng ánh mắt, tấm lòng về miền Trung, dân tình nơi đây đang khốn khó, hoạn nạn. Kẻ ít người nhiều san sẻ với người dân trong cảnh màn trời chiếu đất, đâu ai nỡ ngồi nhìn đồng bào ruột thịt trong cơn bĩ cực hoạn nạn.
Tôi mong các vị có trách nhiệm hãy giúp đỡ tạo phương tiện dễ dàng để những món quà, đồng tiền tình nghĩa được trao đến tận tay những người thật sự đang cần sự giúp đỡ.
Còn nói qua những người có danh tiếng uy tín đứng ra kêu gọi quyên góp chẳng hạn như cô Thuỷ Tiên, MC Đại Nghĩa. Tại sao cô/ cậu này được sự tín nhiệm, kêu gọi thời gian ngắn mà số tiền ủng hộ lên tới cả trăm tỉ?
Những người khắp nơi gởi tiền về giúp dân họ có tấm lòng, họ chọn những cô cậu có đạo đức, lương tâm và tư cách. Chứ không ai đem đồng tiền mồ hôi công sức của mình đi bỏ biển.
Các cô/ cậu ấy sẵn sàng dấn thân đi làm một cách thực tế. Còn nói về những nghệ sĩ khác, tôi biết họ cũng ủng hộ nhiều chương trình từ thiện chứ không riêng gì Miền Trung, nhưng họ làm trong âm thầm. Vì đó cũng là tiền cá nhân của họ.
Đôi khi trong công việc ai làm cũng có khi sơ suất, nhưng đừng vì những thiếu sót nhỏ đó mà gạt bỏ công sức của họ và làm nản lòng những người đã có tấm lòng từ tâm.
Như tôi lúc trao quà các anh em bệnh tật, xích lô số tiền ít ỏi, không bao nhiêu nhưng mình làm với tình thương lương tâm, làm thật mà cũng có những người bình luận thiếu hiểu biết nói tôi đăng hình ảnh 20 NĂM về trước. Nếu như tôi thiếu kinh nghiệm sống, không thực tế ngưng không làm nữa thì phần thiệt thòi vẫn là những người khổ sở, thiếu thốn, bất hạnh kia.
Tôi mong cô Thuỷ Tiên hay các nghệ sĩ, các MTQ hãy vững niềm tin trước những lời đàm tếu, những thị phi. Xem như đây là những thử thách tấm lòng đạo đức, quyết tâm của các cô cậu có danh phận trên con đường làm việc thiện nguyện. Khi làm với lương tâm chân chính thì các cô cậu sẽ luôn được mọi người ủng hộ. 

 
        “Trồng cây gì hái trái đó!”

 Sài Gòn, 25/10/2020
    NLG, KBC 4822

Saturday, October 24, 2020

Đời Y Sĩ Trong Cuộc Chiến Tương Tàn (25) - Nguyễn Duy Cung -

 TÌNH TRẠNG RÁC

Tình trạng vệ sinh trên đảo lúc nào cũng là mối ưu tư lớn cho Ban Điều Hành trại tỵ nạn Pulau Bidong.  Lúc đầu đảo tỵ nạn PB được Cao ủy LHQ bảo trợ, chỉ dự trù thâu nhận 4. 500 thuyền nhân mà thôi.  Không ngờ đến cuối năm 1978 con số thuyền nhân tăng lên gấp ba lần.  và kể từ tháng 4 năm 1979, với số tàu vượt biển ồ ạt tới đảo, dân số càng lúc càng cao, có khi tăng vọt trên 46. 000 người.  Diện tích để ở thì nhỏ, người đến đảo mỗi lúc mỗi đông, mang theo càng nhiều rác rến.  Không có đủ phương tiện để nhanh chóng giải quyết, rác từ trong nhà cứ vì vậy tuôn ra bên ngoài mỗi lúc mỗi nhiều, đưa đến tình trạng vệ sinh tổng quát trên đảo càng ngày càng kém, rác rến tràn ngập khắp nơi, gây ô nhiễm môi trường.  Thanh niên trên các tàu đến đảo còn đông, nhiệt tình, thích hoạt động, nhưng không có phương tiện cơ giới nặng để cho họ đào hầm chôn rác, hay tàu bè để chuyên chở rác ra bỏ ngoài khơi xa …

Chính quyền Mã Lai không hài lòng về vấn đề này, họ cho biết là so với các trại tị nạn khác trên đất Mã Lai thì trại tỵ nạn Pulau Bidong là dơ nhất, các phái đoàn Ngoại quốc đến đảo làm việc giúp người tị nạn cảm thấy khó chịu vì những đống rác khổng lồ, hôi hám to bằng căn nhà, trên bờ biển khu G được xem như mặt tiền của đảo, trên đường mòn khu A, khu E.  lại thêm nạn chuột ban đêm quấy nhiễu.  Chuột từ các triền đồi đổ xuống, chuột từ dưới lỗ ngách chui lên, chạy rần rật khắp nơi, kêu la chí chóe, đào hang, cào vách, cắn rách quần áo bệnh nhân, ngay cả sách vở của cô Lady Burton, Quản lý nhà thương (xem chương kế tiếp về chuột trên đảo Bidong).

Cao ủy Gentiloni, cao ủy John Moore, cao ủy Lee không vừa ý.  Cơ quan Hồng thập tự Mã Lai MRCS ra lệnh ngưng các chuyến đi định cư vô hạn định, đến khi nào tình trạng vệ sinh các khu và bờ biển được khả quan hơn, các công trình thoát thủy được hoàn tất, các lòng mương được vét, và các đống rác khổng lồ được dẹp đi.  Cao ủy trưởng Ali Mohamed cũng đồng ý, không cho tàu Black Gold cập bến đưa người được phép đi định cư sang đất liền.  Vì vậy tàu Black Gold từ hải cảng Terengganu xa xôi đến đảo phải trở về không.  Đồng bào nóng lòng ngồi nhịn đói, phơi nắng suốt ngày trên cầu tàu, nhưng cuối cùng phải lục tục khăn gói trở về nhà.  Chính quyền Mã Lai ra thông cáo rõ ràng, cương quyết và cứng rắn: “Không giữ sạch đảo, không được đi định cư.  Đảo P.  Bidong không nhận thêm người tỵ nạn. Tàu vượt biển đến Mã Lai sẽ bị kéo ra khơi”.

Vấn đề rác đã đến hồi căng thẳng gây trở ngại lớn cho việc định cư ở nước thứ ba của tất cả thuyền nhân trên đảo.

Có nhiều đồng bào đến bàn bạc với BĐH trại.  Chúng tôi thẳng thắn trao đổi quan điểm cùng nhau.  Từ chối Cộng Sản, vượt biển nguy nan đến đây để tìm Tự Do, tất cả thuyền nhân trên đảo đều giống như nhau.  Chúng ta đã cố gắng tổ chức để cùng chung sống, hòa hợp và nâng đỡ lẫn nhau.  BĐH trại do đồng bào bầu lên cũng chỉ là những người tự nguyện, đã cố gắng làm trách nhiệm của mình, nhưng nay đứng trước hoàn cảnh khó khăn, sống chết, theo như thông cáo của Chính quyền Mã Lai, BĐH cảm thấy bất lực nếu không có được sự tiếp tay chặt chẽ, nhiệt tình của tất cả đồng bào để tìm cách giải quyết vấn đề vệ sinh cho thỏa đáng.  Đoạn đường chúng ta đang đi có chiều hướng tốt, nhưng chưa kết thúc suôn sẻ, mà còn có thể gặp nhiều khó khăn bất ngờ, nếu chúng ta sai lầm trong nhận định.  Đến khi nào sang định cư được ở một Đệ tam Quốc gia thì mới thật sự yên tâm.  Chớ giờ phút nào còn trên đảo nhỏ này, chung quanh chỉ có nước biển bao vây và lính Đặc nhiệm canh giữ, thì chúng ta cũng giống như những người tù bị giam lỏng.  Hoàn cảnh đáng buồn nhưng cần phải can đảm nhìn sự thật, để xác định rõ ràng vị trí của mình, và để cùng nhau giải quyết những vấn đề khó khăn …

Cao ủy LHQ bảo trợ cho trại tị nạn, dù có lòng ưu ái, muốn giúp thuyền nhân đến cùng, nhưng họ cũng chỉ là những người khách quí mà thôi.  Chính quyền Mã Lai mới thật sự là người chủ nhà, có quyền quyết định tối hậu, muốn cho ở thì ở, muốn cho đi thì đi..  Tôi nhắc lại tình trạng một chiếc tàu vượt biển đến được đất liền Terengganu vào tháng 3 năm 1979, nhưng liền bị kéo ngược ra khơi, gặp sóng to đánh chìm ngoài cửa sông, không còn người nào sống sót.  

Tôi cũng từng được xem một tài liệu mật của bộ Nội vụ Mã Lai để biết thêm Mã Lai là một Quốc gia chống Cộng sản triệt để, còn VN bây giờ là một nước Cộng Sản, tàu vượt biển chở thuyền nhân từ VN sang đây ít nhiều đều có thành phần CS trà trộn đi theo, làm tập thể người tị nạn chân chính bị nghi ngờ oan uổng.  Chưa kể có nhiều người đã vội quên đi giai đoạn khó khăn lúc tàu bị lạc hướng, lênh đênh nhiều ngày trên biển động mênh mông, sóng gió, đói khát triền miên.  Vừa được danh sách đi định cư, đã để cho con em quăng những lon đồ hộp dư thừa do cao ủy trợ cấp vào đống lửa đang cháy làm pháo nổ chơi, không biết rằng dân nghèo Mã Lai cũng đói khổ, thèm thuồng có được những lon thực phẩm ngon miệng, đắt tiền như vậy cho gia đình …

(Theo một tài liệu mật của bộ nội vụ mã Lai do ông De Silva* qua đảo cho biết, thì chính quyền Mã Lai muốn đuổi hết thuyền nhân VN ra biển, vì cho rằng thuyền nhân xuất phát từ một nước Cộng Sản trong khi Mã Lai là một nước chống Cộng triệt để), vì vậy thuyền nhân cần phải hợp sức lại để tạo dựng uy tín, tạo dựng cảm tình tốt đối với dân chúng Mã Lai ngõ hầu Chính quyền Mã Lai từ bỏ ý định xô đuổi thuyền nhân ra khỏi Bidong. )

* Ông De Silva phó chủ tịch hội MRCS tức Hội trăng lưỡi liềm đỏ - Hội Hồng thập tự Mã Lai có một thời gian làm Đại diện cho Mã Lai tại VN.  Ông quen khá thân với BS Phan Quang Đán, Phỏ Thủ Tướng VNCH và Thượng nghị sĩ Nguyễn văn Ngãi, Tổng trưởng Bộ Nông nghiệp.  Biết tôi có thời gian làm việc với BS Đán và DB Ngài trong Quốc hội lập hiến, ông có cảm tình nên có chuyện gì liên quan đến thuyền nhân trên đảo Bidong, ông đều cho tôi biết.

Dù sao cho đến giờ phút này, Chính quyền Mã lai vẫn còn nhân đạo, cho chúng ta tá túc và cho Cao ủy tị nạn LHQ từ đất liền đến đảo để giúp cho thuyền nhân đi định cư.  Tuy nhiên vì uy tín và thể diện của Quốc gia đối với Quốc tế, khi có phái đoàn Ngoại quốc đến thăm viếng đảo, họ muốn chúng ta giữ gìn đảo cho sạch.  Ký giả Ngoại quốc đã chê bai người tị nạn không biết giữ vệ sinh, có thể sống trong đống rác.  Nhận xét này có hơi quá đáng, phần đông chúng ta cũng ý thức được vấn đề kém vệ sinh ảnh hưởng đến sức khoẻ và đời sống như thế nào, nhưng vì không có phương tiện cơ giới để giải quyết tận gốc vấn đề rác mà thôi

Về phần chúng ta, kế hoạch chúng ta có sẵn.  Phương tiện tuy có thiếu, nhưng nếu chúng ta khéo léo động viên, sử dụng khối nhân lực hiện có, chúng ta có thể cải thiện điều kiện vệ sinh trên toàn đảo trong một thời gian ngắn..  Điều chính yếu là chúng ta phải có ý chí mạnh và có quyết tâm cao, phải có sự cố gắng đóng góp của mọi người, của mọi gia đình, cũng nghĩ đến thể diện và danh dự chung của người tỵ nạn Việt Nam, ngõ hầu có được sự yểm trợ của Chính quyền mã Lai.  Chúng ta phải chung sức, động viên lẫn nhau, nhiệt tình trong công tác làm sạch đảo và xem đó như một quyền lợi chung trong hiện tại của chúng ta, đồng thời là một bổn phận của chúng ta để giúp đỡ người còn đến sau nữa.  Thấy tình trạng đảo khả quan, có thể Chính quyền Mã Lai sẽ tiếp tục cho thuyền nhân đến đảo.

Được sự hỗ trợ mạnh mẽ của mọi người, sau một phiên họp rộng rãi gồm các khu, các khối, các ban, BĐH trại tung ra một chiến dịch” :Giải quyết rác, làm sạch đảo”, kêu gọi mọi gia đình lo vệ sinh trong nhà mình và tiếp tay lối xóm làm vệ sinh trong khu vực.  Khối thanh niên tăng cường nhân lực làm công tác trọn ngày thay vì nửa ngày như trước đây.  Bảy khu tập trung cuốc xẻng, chuẩn bị thêm giỏ đựng rác, trung tâm sinh ngữ và các trường tổ chức giáo dục thanh niên từ 8 đến 14 tuổi tham gia công tác vệ sinh chung.  Khối Trật tự phối hợp với 7 khu thành lập bản kiểm soát và đôn đốc có lịch trình.

Trong thời gian làm Phó trưởng trại cho Linh mục Triêu, tôi có dịp hướng dẫn phái đoàn Ngoại quốc đến thăm đảo, đứng gần những đống rác khu G, để nói chuyện về vệ sinh và có lúc tôi đã khôi hài đề nghị dùng rác để làm đường nối liền đảo với đất liền, cho người đi định cư, nếu không có phương tiện xe ủi đất để đào hố sâu lấp rác hay tàu nhỏ để mỗi ngày chở rác ra đổ ngoài khơi.  Không biết có phải nhờ sự trình bày này hay không mà sau đó, cuối cùng đảo nhận được một sà lan bằng sắt khá lớn, dùng để vận chuyển rác ra đổ ngoài biển.

Khối thông tin giữ vai trò đầu não, đã làm việc nhiệt tình, liên tục từ sáng đến chiều tối, vừa phổ biến nhạc vui theo lời yêu cầu của dân chúng, vừa nhắc nhở làm vệ sinh trong nhà, trong khu vực, quét dọn sạch sẽ, gom rác, lon thực phẩm đập dẹp, các chất phóng uế hàng ngày bỏ trong bao nylon riêng được cấp phát đầy đủ cho từng gia đình.  Mỗi sáng sớm, mọi người đem rác của mình xuống chất đống trong những khoảnh đất dành riêng cho từng khu gần cầu Jetty để được ban vệ sinh sau đó chuyển xuống sà lan kéo ra khơi trước khi mặt trời mọc.

Còn những núi rác ứ đọng trên bờ biển khu G, tôi kêu gọi thanh niên trong ban Nhân lực đóng cọc gỗ ra xa bờ, cào rác ra trộn với cát làm sân vận động bóng chuyền và sân vũ cầu.

Toàn thể đồng bào trên đảo nô nức làm việc có tổ chức, có kỷ luật, với sự đóng góp nhiệt thành của các em thiếu niên học sinh hồn nhiên, xuống đường tiếp tay với người lớn, vừa lượm rác rến, lon, chén muỗng, nĩa, bỏ vào giỏ, vừa nhảy múa theo nhịp trống kích động, điêu luyện của đoàn múa lân gia đình bác Lộc, vừa ca bài “Ta hốt rác”.  Thanh niên tập trung đào mương thoát thủy khu G-E-C-A, gần hai chiếc tàu sắt.  Phụ nữ thì lo làm sạch sẽ nhà thương, tiếp tế thức ăn, nước uống cho bệnh nhân, cho các em học sinh và cho những người đang lao động ngoài đường.  Đồ hộp còn dư của những gia đình sắp rời đảo được gom hết lại trong một nhà kho, để dành cho những người mới đến đảo ban đêm.

Sau một tuần lễ tận lực làm việc, vệ sinh tổng quan trong 7 khu ABCDEFG rất khả quan, nhất là khu vực bờ biển, cầu tàu, phi trường trực thăng, đồi tôn giáo, chợ chồm hổm, chung quanh nhà thương.  Thông tin vẫn thường xuyên liên lạc với các khu, các khối để tường trình kết quả cho đồng bào.  Những gia đình đã có giấy đi định cư mà đã hết lòng tham dự vào công tác làm vệ sinh, được loan tin trên đài, với lời cảm ơn của BĐH trại và của cao ủy tị nạn.  Nhiều người khác, thanh niên, thanh nữ, học sinh, các gia đình gương mẫu cũng được tuyên dương, khuyến khích.

Ngày 9 tháng Giêng năm 1980, phái đoàn Úc Đại Lợi do Thủ tướng Peter Falconer cầm đầu đến đảo với ông W. J.  Gibbons; đồng thời có phái đoàn của Tổng thống Hoa Kỳ Carter, do Đặc sứ Victor Palmier hướng dẫn, cũng đến với ông Chatman, phối hợp viên và các ông Swiers, Schoeffer, Hancock, Brown.  Có phóng viên báo chí chụp hình..  Các phái đoàn đã đi một vòng thăm đảo trước khi nhóm họp ở Hội trường.  Tối đến, dưới cơn mưa dông, phái đoàn cũng lên khu D, khu F để xem đời sống chen chúc khổ cực của đồng bào.  Nhiều gia đình đông người sống chịu đựng cả năm trời trên những tấm phản nhỏ bằng ván ép, cột nhà bằng cây rừng ọp ẹp, nóc lợp bao đường.  Nhà không cửa nẻo, gió luồng, mưa tạt.

Trong buổi họp, có nhiều vấn đề quan trọng được nêu lên, liên quan đến thời gian đi định cư của thuyền nhân.  Để chuẩn bị cho cuộc sống trên đảo được thích hợp, vấn đề chuột bọ, bệnh tật.  Nếu có thêm người tị nạn, phải dự trù vật liệu, xây cất thêm nhà tiền chế.  Phái đoàn Hoa Kỳ cũng cho biết về chính sách định cư, sẽ chuyển bớt thuyền nhân tị nạn quá đông trên đảo Bidong sang trại tạm cư LHQ bên Phi Luật Tân.  Ngày giờ chưa quyết định.  Có thể vào khoảng cuối tháng Giêng này.

Những ngày kế tiếp có phái đoàn 52 Nghị sĩ và Dân biểu Mã Lai đến bằng trực thăng, họp tại Hội trường.  Ông Chỉ huy trưởng Lực lượng Đặc nhiệm giới thiệu quan khách, tôi thuyết trình về tổ chức, về đời sống của thuyền nhân trên đảo.  Tôi cám ơn Quốc hội và Chánh quyền Mã Lai.  Thấy tấm bảng tròn, biểu tượng của thuyền nhân P.  Bidong màu xanh da trời, hình tay lái, bốn phương tám hướng có tạc bản đồ nước VN hình chữ S, với chiếc tàu vượt biển nhỏ ở giữa, phái đoàn muốn xin làm vật lưu niệm.  Có những mẫu nhỏ do Gia đình bác Hoàng văn Lộc thực hiện sẵn, BĐH ký tặng.

Tướng Mansor, Chỉ huy trưởng Task Force Mã Lai bất thần đến thăm trại bằng tàu gắn máy nhỏ, ông cũng thấy có nhiều tiến bộ trên phương diện an ninh và vệ sinh toàn đảo, từ bờ biển lên đến phi trường, đồi tôn giáo khu C, nhà thương, trường học.

Ông J.  Hart, Quản trị viên Hành chánh, đi một vòng đảo gặp tôi trước cửa nhà thương Sick Bay cũng gật đầu cười vừa ý về sự sạch sẽ của đảo.  Ông Hart là người nghiện thuốc nặng, tuần rồi ông ra đứng ở đầu cầu Jetty quăng ống điếu cũ xuống biển, tuyên bố sẽ từ bỏ không hút thuốc nữa, nhưng có lẽ mùi thơm của thuốc đã làm cho ông ghiền không chịu nổi, và ông khoe với tôi là ông đã sang Kuala Lumpur tìm mua ống điếu mới.  Ông có vẽ vui khi thấy sự ngăn nắp trật tự trên đảo đã ổn định.

Tàu Black Gold đến đảo vào lúc 9 giờ tối, cập sát vào sà lan, và lần này chở những người đã được giấy đi định cư.  Như thường lệ, tôi xuống tận bến tàu đưa tiễn và cầu chúc thượng lộ bình an.  Đồng bào mặc thêm bên ngoài áo phao màu cam.  Trên cầu Jetty và trên sà lan, người tiễn đưa đông nghẹt.

Tàu rời bến đã xa.  Tôi nhìn theo vẫn còn thấy những bàn tay giơ lên cao như vẫy chào hòn đảo nhỏ thân thương đã in sâu vào tâm khảm họ biết bao nhiêu kỷ niệm vui buồn.  Đó cũng là nơi dừng chân đầu tiên trên bước đường đi tìm tự do, dầu có gian nan khổ cực nhưng họ vẫn sống có niềm tin hơn là ở lại với chế độ CS tù đày tăm tối.  

 

Trên bãi cát hoang vu, một thuyền nhân đang âm thầm làm lại  cuộc đời từ những gì đổ nát...

                       

CHUỘT TRÊN ĐẢO BIDONG

Chuột bụng vàng, bụng trắng, đuôi ngắn, đuôi dài

Sau Tết Canh thân 1980, BĐH trại tổ chức tiếp đón phái đoàn Y Tế Mã Lai đến đảo nghiên cứu về các bệnh truyền nhiễm.

Khối Thông tin kêu gọi trên loa những người bị lên cơn ớn lạnh bất thường hãy đến phòng ngoại chẩn bệnh viện để được khám bệnh, thử máu vì nghi ngờ bị Sốt rét.  Một phòng khám bệnh khác cũng được thiết lập để giúp những người bị lao phổi, ho ra đờm ra máu.  Đến phần thuyết trình hấp dẫn của bác sĩ, về nạn chuột hay quấy phá, có vài ký giả cũng muốn được chụp hình chuột ban đêm, nhưng đến khi nghe nói đến trường hợp một bệnh nhân cùi tê bại, bị chuột gặm mất một ngón chân trong cơn mê ngủ, thì họ rụt cổ e ngại. .

Vào đầu tháng ba năm 1980, tổ chức Y Tế Quốc tế gởi một chuyên gia phụ trách loài gặm nhấm đến Bidong, nghiên cứu về tình trạng chuột trên đảo.

Theo bác sĩ Lim Boo Liat, chuột sanh sản từ 6 đến 8 lần trong một năm và mỗi lần chuột mẹ sanh từ 4 đến 8 con.  Như vậy tính bổ đồng trung bình, một cặp chuột có thể sanh sản 2. 100. 000 con sau một năm.

Chuột thích ăn ngon, thích ăn thịt quay, thịt nướng!.

Bác sĩ Lim Boo Liat đúng là một tay nhà nghề.  Bác sĩ cân đo cẩn thận con chuột chết từ đầu chí đuôi, kể cả lỗ tai, cẳng chân nhỏ xíu, gắp từng con bọ chét trong mình chuột, để dành thử nghiệm bệnh ban Sốt (Scrub typhus), nghiên cứu từ hòn dái con chuột đực, đếm từng bào thai nhỏ trong tử cung con chuột cái.

Theo phúc trình của Bác sĩ Lim, trên Bidong có ba loại chuột:

A- Có 90% thuộc loại chuột nhà, dễ nhận ra với cái ức màu vàng và cái đuôi dài hơn thân mình.  Đuôi dài giúp cho chuột giữ được thăng bằng khi trèo trên các vách bằng “cạc tông”.  Loại chuột này tìm thấy ở Sài Gòn và ở trên đất liền Terengganu, khiến người ta không biết xuất xứ thật sự của chuột trên đảo Bidong, là chuột đã trốn chạy Cộng Sản Việt Nam theo tàu vượt biển sang đây, hay là chuột trên đất liền Terengganu đã theo tàu chở vật liệu, thực phẩm từ Terengganu sang đảo cho người tị nạn, hoặc giả cả hai!.  Mặc dù chuột nhà Bidong có kích thước chiều dài bằng chuột Sài Gòn hay chuột Terengganu, nhưng sức nặng của chúng lại gấp đôi.  Bác sĩ Lim vừa nói, vừa lật bụng con chuột lên chỉ vào lớp mỡ bọc chung quanh tim con chuột và ông kết luận: “Đây là vấn đề chính yếu của chuột Bidong, thường bị bệnh đau tim do béo phệ mà ra”.

B- Có 8% chuột ở Bidong là chuột bản xứ, thuộc loại chuột đồng, chuột rừng với đặc điểm bụng trắng, đuôi ngắn hơn thân mình.

C- Còn lại 2% có tên là chuột Hải cảng, chuột Na uy (gọi là Rattus Norvegicus).  Giống chuột di trú này đã theo tàu Norwegian đi định cư trên mười thế kỷ nay.  Chuột Hải cảng có thân mình dài hơn chuột nhà và chuột rừng nhưng vì có cái đuôi ngắn hơn thân mình, nên chuột Hải cảng không thể trèo cao mà chỉ chạy lủi nhủi trên mặt đất.  Trên mình chuột Bidong cũng ít thấy có dấu sẹo, chứng tỏ chúng ít khi tranh chấp, cấu xé nhau và Bác sĩ Lim đã nhướng chân mày cười, khẳng định: “Ở trên đảo Bidong, thức ăn có đầy đủ dư thừa!”.  Tôi đã góp ý cùng ông: “Chỗ nào người ta có dư ăn thì chuột mới mập tròn được như vậy, còn chuột trong các trại tù sĩ quan cải tạo bắt được chỉ còn có da và xương”. Mấy anh em tù nhìn nhau thông cảm nhớ lại thời gian đau khổ này.  Đồng bào các nơi cũng tích cực đóng góp, đưa sáng kiến về cách lập bẫy, đặt máy bắt chuột.

Một ban chấm thi được thành lập gồm có Cao ủy Niels, Kỹ sư Paul và ông Jim Hart-Quản trị viên đảo.  Chiến dịch diệt chuột bắt đầu từ 8 tháng 2 và chấm dứt ngày 28 tháng 2 năm 1980, kéo dài hơn 2 tuần lễ.  Kết quả, tổng cộng bắt và diệt được gần 15. 000 con chuột lớn nhỏ, trong toàn 7 khu A-B-C-D-E-F-G.  Giải thưởng được Cao ủy trao tặng cho hai em trai và một em gái đã đóng góp, diệt được trên 700 con chuột.

Chuột trên đảo Bidong quá nhiều.  Mặt trời vừa lặn, là đã thấy chuột không biết từ đâu xuất hiện, chạy nhảy khắp nơi, trên những con đường mòn đầy rác rến, lủi nhủi ngoài sân, đào hang, khoét vách, vô cả trong nhà thương, cắn phá, rượt nhau kêu la chí chóe.

Khối Y Tế lo ngại vấn đề bệnh truyền nhiễm do chuột.  Chỉ cần có một con bọ chét nhỏ li ti mang vi trùng Dịch hạch trong bao tử chuột chết, là toàn thể chuột trên đảo sẽ chết hàng loạt và bệnh truyền nhiễm Dịch hạch sẽ tràn lan nhanh chóng qua người.  Số dân sống chen chúc 40. 000 trên đảo nhỏ không thấm thía vào đâu.  Trong quá khứ vào thời kỳ sơ khai trên thế giới, nạn Dịch đen đã giết hàng bao nhiêu triệu người từ Á sang Âu.  Cũng may là kết quả thử nghiệm của Bác sĩ Lim Boo bình thường, không có gì đáng lo ngại.  Chỉ lo tìm cách diệt bớt chuột thôi.

Tôi nhớ lại thời gian ở trên tỉnh Phước Long-Bà Rá, vào năm 1968, có lần đi khám bệnh cho đồng bào trong ấp thượng Bunard, trên đường đi Đồng Xoài, bị Dịch hạch, vừa bước vào căn nhà sàn, dài, thấp, tối om, tôi phải vội vã bước lui, vạt áo blouse trắng của tôi đang mặc vụt đổi màu, dính đầy những con bọ chét nhỏ như những hạt mè đen …

 

SÂN BAY TRỰC THĂNG TRÊN ĐỒI KHU F

Bán đảo Mã Lai và miền Nam Việt Nam có nhiều điểm giống nhau về thời tiết: Từ tháng 9, tháng 10 trở đi, gặp gió mùa Đông Bắc, biển bắt đầu có những lượn sóng to.  Tháng 12 trở đi, được thật sự xem như trong mùa biển động, sức gió thổi mạnh có khi lên đến 120-130 cây số một giờ, thập phần nguy hiểm cho tàu bè loại nhỏ

Dự trù cho những ngày biển động, không sử dụng tàu để chở bệnh nhân cấp cứu từ Bidong qua Terengganu, xa trên 30 cây số, chúng tôi có ý nghĩ thành lập một sân bay trực thăng dã chiến trên đảo.

Được sự thỏa thuận của ban Quản trị, chúng tôi bắt tay làm việc.  Địa điểm được chọn là đỉnh đồi khu F, lý tưởng vì không cao lắm và lại gần trung tâm, nằm phía trên nghĩa trang của những người đến đảo đầu tiên.  Cơ giới nặng không có, vật liệu làm đường cũng không, nhưng với ý chí cương quyết thực hiện cho bằng được sân bay trực thăng để di chuyển bệnh nhân khi cần, với mươi cái cuốc, cái xẻng thô sơ, nhóm thanh niên thiện chí đã nỗ lực làm việc bất kể trời mưa gió.  Cuối cùng đã biến đổi thành một sân nhỏ bằng phẳng, diện tích xấp xỉ một sân đánh bóng rổ.

Tàu Black Gold chở vỉ sắt PSP có đục lỗ, ngang 50 phân, dài trên 2 thước đến cầu Jetty.  Thanh niên khỏe mạnh được huy động nhiều hơn, chia nhau từng toán 6-8 người.  Mỗi toán khiêng một tấm vỉ sắt, đi theo con đường đất gồ ghề đầy hang lỗ, từ bến tàu đến khu D, lên đồi khu F, qua những chiếc cầu bằng cây rừng nhỏ hẹp.  Đường dài, lên dốc khó khăn.  Nhóm thanh niên khiêng nặng nề đi chậm chạp giống như những đàn kiến tha lá cây trong rừng Phi Châu.  Trời mưa trơn trợt, vấn đề chuyển vận càng khó khăn, phải mất nhiều ngày mới khiêng hết những tấm vĩ sắt lên chất đống trên đồi.  Việc khiêng những vỉ sắt nặng lên đồi đã khó, mà việc sắp xếp ráp nối những vĩ sắt lại với nhau cho ăn khớp để lót cho ngay ngắn trên mặt đất lại còn khó khăn hơn.  Tôi không khiêng vỉ sắt nhưng đi theo dưới cơn mưa để yểm trợ tinh thần.  Trước kia, trong trại tù Trảng Lớn, mới vô đầu, anh em sĩ quan cũng bị bắt đi khiêng những vĩ sắt nặng nề như vầy về làm hội trường.  Vì ăn uống thiếu thốn, cơ thể suy nhược, đi đứng không vững, trợt chân sụp lỗ, vài người đã bị vỉ sắt cọ quẹt, đè lên người bị thương.

Sau hơn một tuần lễ cực nhọc, việc làm hoàn tất mỹ mãn.  Các vĩ sắt được ráp nối thẳng thớm, bằng phẳng.  Tuy không làm lễ khánh thành cũng không cắt băng khai mạc.  Nhưng phi trường vừa xong, đã có nhiều chiếc trực thăng đưa phái đoàn Ngoại quốc đến thăm đảo.  Phi cơ không dùng sân bay trên chiếc tàu cũ kỹ của đệ nhị thế chiến Black Gold biến cải mà đáp nhẹ nhàng xuống phi đạo giữa tiếng vỗ tay chào đón vang dậy của đồng bào trên đảo.  Mọi người cảm thấy hả lòng với kỳ công này

Ban Trật tự phải làm việc nhiều vì vừa canh gác phi trường vừa đi theo mở đường, hộ tống phái đoàn, xuống hội trường, chờ đợi phái đoàn thăm viếng xong lại đưa tiễn trở lên phi trường.

Trong thời gian thành lập sân bay thì tàu lle de Lumière của BS không biên giới Bernard Kouchner đã tiếp tục ra đi tìm vớt người trên biển Đông.  Tuy nhiên nhờ có nhà thương Sick Bay đã hoàn tất tốt, và với những dụng cụ y khoa đầy đủ do BS Kouchner để lại, và của đoàn Y tế Đức, các bác sĩ chuyên môn đã hoạt động đều đặn, khả quan.  Bệnh nhân được chăm sóc tại chỗ.  Việc chuyển bệnh nhân sang đất liền Terengganu giảm đi rất nhiều.  Dân chúng tị nạn trên đảo viết thơ cho BĐH trại với lời khen tặng.  Viện Đại học Manila cũng gởi lời hỏi thăm BS Nguyễn Ngọc Giao trưởng khối Y Tế.  BĐH trại cũng nhận được thơ của BS Phan Quang Đán gởi từ đảo Virgin Hoa Kỳ cho biết có thể Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị (John Paul II) sẽ viếng thăm các trại tỵ nạn Phi Luật Tân, Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương và Hồng Kong.  Hội bảo trợ trẻ em của Thụy Điển cũng sẽ đến thăm đảo.

Lúc đầu việc thành lập phi trường trực thăng dã chiến được dự liệu để di tản bệnh nhân, nhưng suốt thời gian tôi ở trên đảo, chỉ thấy phi trường được dùng cho các phái đoàn đến 

NDC_Hoihoa001


thăm đảo được  thuận tiện hơn .  









Nguyễn Duy Cung

(Còn tiếp)

Đời Y Sĩ Trong Cuộc Chiến Tương Tàn (28) - Nguyễn Duy Cung

  

 TRỞ VỀ NGHỀ CŨ

Sang Hoa Kỳ, bác sĩ ngoại quốc nào cũng phải đi học lại.  Nhưng vùng tôi ở lại là một vùng quê, xa thành thị, không có trung tâm huấn luyện thi ECFMG, FLEX.  Gần nhất có một nhóm đồng nghiệp ở tiểu bang Oklahoma tổ chức học chung với nhau, nhưng đường xá xa xôi, tôi lại chưa có phương tiện xe cộ để di chuyển.  Trong thời gian còn ở trên đảo tị nạn Bidong, GS Wareham thuộc trường Y Khoa Loma Linda có nhắn tôi khi nào sang Hoa Kỳ thì đến gặp ông ngay.  Tôi được hân hạnh quen biết GS Wareham từ khi tôi được Bộ Y Tế VN đề cử tôi đại diện Bộ làm việc chung với GS đang hướng dẫn phái đoàn Giải phẫu tim Hoa Kỳ tại Sài Gòn vào năm 1974 và năm 1975.  Ông cho tôi địa chỉ của trung tâm Loma Linda trên Riverside, nơi ông làm việc. 

Nhưng California lại còn xa hơn Oklahoma, phải đi bằng máy bay tốn kém để đến trạm đầu, Los Angeles..  Từ đó có thể đi thẳng đến Loma Linda nằm trên Riverside, hoặc đi xe về Orange County rồi lên Loma Linda.  Tôi cũng muốn đi, ngặt vì cơ quan thiện nguyện USCC chỉ giúp được có 250 dollars một tháng cho gia đình 9 người của tôi.  Gặp vấn đề tài chánh thật khó khăn, không có đủ phương tiện để di chuyển cả gia đình qua California cùng một lúc, cũng không thể bỏ gia đình để ra đi một mình, tôi không còn cách chọn lựa nào khác hơn là ở lại Van Buren, ôm cuốn sách Y khoa Merck Manual xuất bản lần thứ 13 dày 2165 trang do hai em tôi mua cho tôi tại Little Rock để tự học lấy một mình.  Đời sống các em tôi cũng chật vật, phân nửa đã dời đi Bakersfield.

Một hôm có một người bạn thân - anh Hoàng văn Lộc - cùng đi chung tàu, sang trước, định cư tại Houston; anh có một xe van lớn, tự lái lên Van Buren giúp đưa cả gia đình tôi về thành phố Houston, một thành phố lớn nhất của tiểu bang Texas có diện tích 3 lần nước VN và cho chúng tôi ở trong một căn nhà rộng rãi, tiện nghi, anh đã mướn sẵn, nằm trên đường Victoria khu South Bell.  Như một chuyến xe đò lục tỉnh bên nhà chở đầy hành khách, xe Van của anh cũng phải tháo bớt băng sau mới có đủ chỗ chở người ngồi trên sàn xe.  Còn trên mui xe thì kềnh càng bàn ghế cũ, người lối xóm không dùng nữa, đem vất bỏ ngoài lề đường, chúng tôi lượm đem về.  Ở dưới Galveston, anh bác sĩ Nguyễn văn Tạ một bạn thân cùng lớp qua trước cũng cho tôi một cái bàn học nhỏ vừa vặn, tôi rất thích, làm bằng loại gỗ sồi rất nặng.

Về Houston, để giúp thêm vấn đề tài chánh cho gia đình, tôi đi làm công cho Utotem, một tiệm bán hàng tạp hóa, đồng thời bán xăng, mở cửa 24 trên 24 giờ, nằm sâu trong rừng, nguy hiểm, kém an ninh, thường hay bị cướp.  Trước quầy tiền lúc nào cũng có tấm bảng nhỏ đề: “Trong hộc tủ chỉ có 20 đồng thôi” viết bằng tiếng Anh.  Làm việc nhiều nhưng lương hàng tháng của tôi không được bao nhiêu, độ vài trăm Mỹ kim, vợ tôi phải quá giang xe một cô bạn quen để đi làm việc thêm trong tiệm bán thời trang hiệu Palais Royal ở địa hạt Pasadena; về nhà dạy thêm Dương cầm và làm hoa vải.  Buổi chiều nào, mượn được xe nhỏ, chúng tôi chạy rong trong rừng, nhìn những nhánh cây khô có hình dáng thon thả cắt về, kết thêm hoa đem bán trong nhà thương.

Dưới phố Houston có một trung tâm giáo dục tư tên Kaplan, chuyên dạy thi ECFMG và FLEX; trường nằm trên Freeway 55, xa nơi cư trú, phải lái xe trên xa lộ hơn một tiếng đồng hồ mới tới nơi.  Vấn đề di chuyển là hết sức quan trọng trên nước Mỹ vừa rộng vừa lớn.  Trong lúc vợ chồng tôi đang lục quảng cáo, tìm kiếm xe cũ rẻ tiền để mua, thì một anh bạn thân học lớp trên tôi, bác sĩ Chu Bá Bằng đến thăm.  Trước đây anh có làm Ngoại trú Giải phẫu tại bệnh viện Bình Dân.  Khi ra trường anh lên Cao nguyên làm Y sĩ trưởng Bệnh viện Dã chiến Kon Tum.  Sau đó đổi ra Đà Nẵng, anh thay thế tôi trong chức vụ Y sĩ trưởng khoa ngoại thuộc TYV Duy Tân.  Bác sĩ Chu Bá Bằng sang Mỹ trước tôi và đang hành nghề dưới phố Houston, anh khuyên tôi nên mua xe mới để dùng, thay vì dùng xe cũ, để tránh những trục trặc phiền toái như xe bị hư giữa đường, nhất là trên xa lộ dài, 5-6 lằn đường, tốc độ xe chạy rất nhanh 60-70 dặm một giờ rất nguy hiểm, và anh nhận ký tên chung trong giấy mua xe Oldsmobile mới đời 1980 cho tôi (đứng tên chung co-sign có nghĩa là nếu người mua xe không đủ khả năng để trả tiền trong tháng nào đó thì người đứng tên chung có bổn phận phải trả dùm). 

Chúng tôi cố gắng không để cho anh phải ở trong hoàn cảnh như vậy.  Anh BS Bằng quá tốt.  Nhờ có anh đứng tên chung mà tôi mua được chiếc xe mới để đi học.  Nơi đây tôi thành thật cám ơn anh đã giúp tôi trong bước đầu khó khăn, chật vật.  Có xe rồi nhưng chưa đi học được vì còn vấn đề học phí trong trường Kaplan quá cao 1. 200 Mỹ kim cho một khóa.  Khi rời Van Buren em gái tôi có cho 400 đồng để làm lộ phí đi đường.  Có người khuyên tôi, thử trình bày hai tờ giấy của Tòa Đại sứ Mỹ và của Cao ủy tị nạn LHQ ở Kuala Lumpur chứng nhận thời gian tôi làm Trưởng trại tị nạn P.  Bidong.  Không ngờ trường thấy tôi có tích cực đóng góp vào những công tác xã hội trên đảo tỵ nạn, nên đồng ý chỉ nhận 400 đồng và cho tôi đến học.  Bước đầu tới Mỹ tuy còn khó khăn nhưng con đường đến trường lại có nhiều thuận lợi và may mắn khiến tôi như được tăng thêm sức mạnh và ý chí khi tiếp tục nghề nghiệp Y tế của mình. 

Cách tổ chức các lớp học của trường rất hay; trường có những cuốn băng nhựa trình bày rõ ràng tất cả những điểm chánh của các bài học, các câu hỏi khúc-mắc trong các kỳ thi và các câu trả lời rõ ràng rành mạch.  Có những câu hỏi thông thường tìm thấy câu trả lời trong sách giáo khoa, nhưng cũng có câu hỏi lắt léo khó trả lời, thí dụ một câu hỏi có nhiều câu trả lời gần giống nhau, mà nếu mình không học để biết cách trả lời cho đúng thì dù mình có ôm bao nhiêu sách giáo khoa to tướng như Harrison đi nữa để học thuộc lòng, thì cũng chưa chắc đã có thể trả lời một cách chính xác được. 

Khóa sinh tự học lấy tùy theo khả năng, Giáo sư nhiều kinh nghiệm là những cuốn băng nhựa quý giá! Tôi đến sớm mượn vài cuốn băng, xong kiếm chỗ yên tĩnh ngồi nghe nghiền ngẫm.  Tôi chăm chỉ học mỗi ngày, từ sáng trường vừa mở cửa cho đến tối mịt mới trở về.  Ngày nghỉ ở nhà tôi tự giam mình trong gian phòng nhỏ, khoá cửa, vứt chìa khóa ra sân, học cho đến khuya, đều đều 12 tiếng trong một ngày.  Trong thời gian ở Houston, tôi hân hạnh gặp lại Bác sĩ Vũ Ban, một đồng viện trước kia trong Quốc Hội Lập Hiến.  Anh đến Mỹ sớm, có cơ ngơi vững vàng. . anh mời tôi cộng tác trong vấn đề Giải phẫu thẩm mỹ.  Thật là điều may mắn bất ngờ cho tôi.  Giải phẫu thẩm mỹ là một chuyên môn mà tình cờ lúc còn học Giải phẫu lồng ngực bên Nhật, tôi được hân hạnh và may mắn gặp GS Uchida, một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ nổi tiếng của Nhật, cha truyền con nối, hành nghề giải phẫu thẩm mỹ trên 25 năm.  Giáo sư Uchida đã tận tâm truyền dạy cho tôi kỹ thuật sửa mắt một mí thành hai mí cho người Á Đông và kỹ thuật độn ngực bằng túi nylon có chứa chất dẻo.  Nhờ có việc làm thêm khá ổn định nên đời sống trong gia đình tôi trở nên dễ chịu hơn.

Anh bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ, bên California thỉnh thoảng lại bay sang Houston thăm hỏi anh em.  Anh đã hết lòng giúp đỡ và khuyến khích tôi học, vì có lúc tôi cảm thấy chán nản, khi nhìn chung quanh thấy việc gì cũng có tánh cách thương mại, ngay cả trong lãnh vực Y khoa.  Đến năm 1980, khi tôi sang Bakersfield, California, ở nhà em tôi để học thi, thì không may thình lình tôi bị đau ruột dư cấp tính.  May nhờ có những người bạn thân cùng làm việc chung trong sở như cựu Phó Đô Đốc Chung Tấn Cang và cựu tướng Lê quang Lưỡng lo dùm phần hành của mình nên em rể tôi Phạm Minh Hoàng ( em ruột của Bác sĩ Phạm Minh Ngọc ở San Diego) lấy phép nghỉ hai ngày để chở tôi vượt đèo vượt núi, về Orange County, nhờ Bác sĩ Nguyễn Ngọc Kỳ giới thiệu tôi vô nhà thương UCI để mổ khẩn cấp.  Đây là lần đầu tiên tôi được hưởng Medical.  Ông bác sĩ thường trú ngoại khoa khám bệnh cho tôi ở phòng cấp cứu, trong hồ sơ bệnh lý, có ghi “bệnh nhân đã tự chẩn đoán lấy bệnh viêm ruột dư cấp tính của mình, khi cơn đau bắt đầu nổi lên ở dưới chấn thủy”.

Trong thời gian tôi nằm nhà thương, GS Warehnam trên trường Đại học Loma Linda có đến thăm và dặn khi nào tôi ra nhà thương thì đến ngay Loma Linda gặp ông.  Tôi nhớ lời ông nhưng thay vì đi ngay khi xuất viện, tôi đợi đến lúc thi FLEX xong rồi mới lên Riverside, thì GS Wareham đã đi qua Trung Đông giúp cho một trung tâm Giải phẫu lồng ngực thuộc Vương quốc Saudi Arabia.  Có lẽ ông đã có thu xếp trước khi đi nên căn dặn người kế vị là GS Jacobson thay thế ông làm trưởng bộ môn Giải phẫu lồng ngực đã đưa tôi qua gặp GS Bruce Branson, Chủ nhiệm khoa Giải phẫu của Trường Đại học Loma Linda.  Trong thời gian này, thư viện của khu Ngoại khoa có một bác sĩ trẻ người Mỹ, cũng đang chờ đợi để được phỏng vấn.  Khoa Ngoại của nhà thương chỉ lấy có một thí sinh.  Điều làm cho tôi ngạc nhiên là trong suốt thời gian hơn một tiếng đồng hồ ngồi đối diện trước bàn làm việc, trong văn phòng của GS Branson, ông không hỏi tôi một câu nào về kiến thức Y khoa Giải phẫu.  Ông chỉ tâm tình cho biết ông có chứng kiến thời gian miền Nam sụp đổ, vì ông có mặt trong bệnh viện Cơ đốc Phục lâm tọa lạc gần phi trường Tân Sơn Nhứt, ngang Bộ Tổng Tham Mưu:

“Thay vì rời bỏ đất nước trong lúc nguy ngập để ra đi, anh đã tình nguyện ở lại nhà thương để mổ và chăm sóc cho trên năm trăm thường dân bị pháo kích, anh bị bắt trong khi đang làm việc trong phòng mổ, bị đưa đi học tập cải tạo cho đến chân anh bị suy yếu vì thiếu dinh dưỡng.  Anh đã hy sinh nhiều cho xứ sở của anh, bây giờ trường Loma Linda có bổn phận giúp đỡ lại anh.  Chừng nào anh muốn vô chương trình Giải phẫu của Trung tâm Y khoa Loma Linda?”

Câu hỏi của GS Branson làm tôi vô cùng bàng hoàng, vì trước khi lên Loma Linda, tôi có gặp Bác sĩ Cao Xuân An, một người bạn thân nguyên Đổng lý văn phòng Bộ Xã Hội VNCH.  Anh sang Mỹ trước tôi.  Khi đi tù CS về chung, tôi có mổ cho con anh.  Anh biết tôi thích và có khả năng về Giải phẫu nhưng anh cũng thành thật cho tôi biết tình trạng Y tế trên nước Mỹ lúc bấy giờ.  Đồng nghiệp Việt Nam có ECFMG và FLEX còn đông và đang chờ đợi để được nhận vô thực tập trong một nhà thương được chính phủ công nhận, nhưng vấn đề xin vô đây rất khó khăn, nhất là khoa Giải phẫu.  “Tôi biết anh thích về giải phẫu nhưng tôi cũng thành thật khuyên anh hãy quên đi”. Có vài bạn đồng nghiệp, vì hoàn cảnh sinh sống khó khăn, không thể chờ đợi để được nhận vô nhà thương, nên đã tìm cách đổi nghề, chuyển sang học Chiropractor, Châm cứu, OD, v. v…

Tôi không ngờ lại được trường Loma Linda gọi phỏng vấn và chấp nhận cho tôi làm Bác sĩ thường trú Ngoại khoa một cách dễ dàng mà không hỏi qua về khả năng chuyên môn.  Trường cũng miễn cho tôi bằng ECFMG dành cho tất cả bác sĩ ngoại quốc muốn học trở lại ngành Y Khoa tại Hoa Kỳ, miễn năm Intership… Chương trình Giải phẫu của Trung tâm Loma Linda là năm năm, năm cuối cùng có phần giải phẫu trẻ em và giải phẫu lồng ngực.  Sau đó, GS Branson giới thiệu cho tôi qua nhà thờ Cơ đốc nằm trong bệnh viện, để nơi đây cho tôi mượn 2. 000 đồng thuê chỗ ở trong một cư xá lưu động gần trung tâm cho tiện việc học hành.  Thông thường muốn xin thực tập trong một nhà thương trên toàn nước Mỹ thì việc đầu tiên là phải chuẩn bị đầy đủ hồ sơ để gởi đến các trường Y Khoa mà mình lựa chọn, xong ngồi nhà chờ đợi. 

Có nơi nào gọi là phải tức tốc đi máy bay tới nơi, mướn khách sạn ở gần nhà thương, chờ đợi phỏng vấn, chẳng khác nào sĩ tử ngày xưa lều chõng ra kinh thi hội.  Ngày xưa đi bộ, băng rừng, trèo non, lội suối, phải mất một thời gian dài đôi ba tháng, hay lâu hơn, ngày nay đi máy bay, nằm ngủ một giấc là đến nơi.  Tuy nhiên việc chuẩn bị đi đến một nơi xa để được phỏng vấn thật là tốn kém.  Tôi rất lo ngại vì biết mình còn trong tình trạng quá yếu về tài chánh.  Tôi chưa dám gởi một hồ sơ đến bất cứ một nhà thương nào, ngay cả nhà thương Loma Linda.  Sau khi được GS Branson phỏng vấn, tôi chưa nhận được thư phúc đáp kết quả của trường, thì tên tôi đã được ghi trên danh sách trực gác của khoa Ngoại nhà thương Loma Linda đúng vào ngày lễ Giáng sinh năm 1984 và đồng thời tôi được lãnh tiền lương Bác sĩ thường trú ngoại khoa. 

Được làm việc trở lại trong phòng mổ của nhà thương Loma Linda, tôi rất mừng vì vừa phù hợp với khả năng của mình, mà lại vừa ít tốn kém, tuy nhiên tôi vẫn chưa tin đó là sự thật, vì qua đây trễ tràng, tôi không bao giờ dám mơ tưởng tới việc sẽ được học trở lại ngành giải phẫu trên đất Hoa Kỳ.  Lúc đầu tôi cũng còn thấy bỡ ngỡ, không phải vì vấn đề thuần túy ngôn ngữ.  Đọc sách Y khoa tiếng Pháp hay tiếng Anh đối với tôi không có vấn đề, tôi hiểu dễ dàng, vì bên nhà từ nhỏ cho tới lớn, tôi theo học chương trình Pháp; lên Sài Gòn tôi tiếp tục được học hết chương trình Y khoa Pháp.  Biết tiếng Pháp rồi chuyển sang học tiếng Anh tương đối không khó, vì cả hai đều có nguồn gốc chung là tiếng Latin.  Tôi cũng có theo lớp Anh văn trong trường Lê Văn Hai, xong cuốn L’Anglais sans peine (English without toil) và học sách dịch Chinh phụ ngâm của Đặng trần Côn bằng Anh văn dưới sự hướng dẫn của dịch giả Giáo sư Phạm Xuân Thái và nhờ bắt chước một người bạn, mỗi ngày học vài ba chữ trong từ điển Anh-Việt, nghe đài phát thanh ngoại quốc, đọc thêm sách báo tiếng Anh mà tôi có được một số vốn tiếng Anh cũng kha khá

Thời gian đi du học tại Mỹ năm 1962 trong Tổng Y viện Letterman, nhờ có dịp tiếp xúc hàng ngày với chuyên viên Y tá Mỹ khắp nơi về đây tập sự, có một cô Y tá Hoa Kỳ cấp bậc Đại úy, chuyên môn về Gây mê tặng tôi một quyển sách giáo khoa về Gây mê Hồi sức và giúp tôi trau dồi thêm Anh ngữ; mỗi ngày tôi lại có một bà giáo chuyên dạy về tiếng Mỹ cho tôi … Tại Nhật Bản năm 1969-70, tại Úc Đại Lợi và Phi Châu năm 1974 và thời gian trên đảo tỵ nạn P. Bidong năm 1979-80, làm việc gặp gỡ nhiều phái đoàn ngoại quốc nói tiếng Anh mà tôi có nhiều tiến bộ trên địa hạt Anh ngữ.  Tuy nhiên chỉ nghe giọng nói và cách phát âm của giáo sư đang giảng dạy thôi chứ chưa bao giờ có cơ hội thực hành với người ngoại quốc nói tiếng Anh.

Khi vào nhà thương Loma Linda, tiếng Anh của tôi trở nên khá hơn nhờ tiếp xúc mỗi ngày với những đồng nghiệp Điều dưỡng Mỹ, chung quanh tôi phần lớn là những người dân Hoa Kỳ thuộc Cơ Đốc giáo … Có một bác sĩ thường trú ngoại khoa gốc Hoa Kỳ, trong một buổi trực gác chung với tôi đã hỏi tôi vô đạo Cơ Đốc bao lâu rồi và đã ngạc nhiên khi biết tôi không phải là người thuộc đạo Cơ đốc mà lại được tuyển chọn vô làm Bác sĩ thường trú ngoại khoa của trường Đại học Loma Linda.  Trong nhà thương suốt ngày chỉ có cơm chay.  Muốn ăn mặn phải ra ngoài phố hoặc về dưới Santa Ana.
Tôi thầm nghĩ, đây là một phép mầu nhiệm mà Ơn trên đã ban cho tôi, khiến GS Wareham, GS Branson, GS Jacobson đã giúp cho tôi vô học lại về giải phẫu trong nhà thương Loma Linda để trở về nghề cũ {sớm hơn và tương đối dễ dàng hơn, bù đắp lại thời gian bốn năm dài tôi đã mất trong các trại tù lao động tập trung và dưới sự quản chế của công an cộng sản địa phương. 

Thêm vào đó có thời gian hơn hai năm trời sống lênh đênh trên biển cả, vượt biển tìm Tự Do và ở trên hoang đảo tỵ nạn P. Bidong. } Các Giáo sư của trường Đại học Loma Linda chỉ dựa vào kinh nghiệm chuyên môn Giải phẫu của tôi, dựa vào quá trình làm việc về giải phẫu của tôi tại quê nhà, về giấy chứng nhận của Giáo sư Norman Hoover, nguyên Đại diện Hiệp hội các bác sĩ Hoa Kỳ tại trường Đại học Y khoa Sài Gòn từ năm 1967 đến năm 1974 về thơ giới thiệu của hai vị GS cựu Khoa trưởng trường Đại học Y khoa Sài Gòn là GS Đặng Văn Chiếu và GS Đào Hữu Anh.

Lãnh lương bác sĩ thường trú ngoại khoa tháng đầu tiên được 1. 600 Mỹ kim.  Để tỏ lòng biết ơn trường Loma Linda tôi có nhã ý gởi hết số tiền đóng góp cho khu Ngoại khoa, nhưng GS Branson đã từ chối.

Tôi tập trung tất cả ngày giờ vào sự học.  sáng sớm, mới 4 giờ rưỡi, tôi đã lái xe Oldsmobile từ Orange County lên nhà thương, vô phòng dành riêng cho bác sĩ, thay quần áo nhà thương, chờ đợi theo anh bác sĩ trưởng thường trú đi thăm bệnh đã mổ hay chuẩn bị mổ, hoặc xuống khu Giải phẫu phụ Giáo sư giải phẫu hoặc sang nhà thương có liên hệ với Loma Linda như nhà thương cựu chiến binh dự thính những buổi nói chuyện về Ngoại khoa.  Khi trở về nhà thương Loma Linda, trước tiên tôi đến thăm “thư viện riêng của tôi” là cái thùng sau của chiếc xe Oldsmobile chứa đầy sách Y khoa để tham khảo thêm.  Ăn cơm trưa xong, ngày nào không có giải phẫu, tôi lên ngồi trong thư viện yên tĩnh của khu Ngoại trên tầng lầu 2 đọc sách, bên ngoài trời tối lúc nào không hay; đến chiều hết giờ làm việc, khu Giải phẫu đóng cửa, tôi lái xe trở về nhà ở Santa Ana. 

Có khi mệt mỏi, tôi tấp sát xe vô lề đường, hoặc xuống đường bên trong tìm chỗ an toàn đậu xe, ngồi sau tay lái, ngủ một giấc cho thật tỉnh rồi mới tiếp tục trở ra lại trên xa lộ.  Tôi học chăm chỉ.  GS Branson có lòng tốt muốn đào tạo tôi thành một nhân viên Giảng huấn ngoại khoa cho trung tâm.  Nhưng vì hoàn cảnh, tôi còn lo nghĩ đến gia đình ở bên này và những người thân còn ở lại bên nhà cũng như những nhân viên đã từng giúp đỡ tôi, khi tôi đi tù cải tạo về, nên tôi chỉ xin học một năm cho đúng theo điều lệ quy định, để sau đó vào ngày 6-03-85, cùng đi với Bác sĩ Vũ Quí Đài, nguyên khoa trưởng trường Đại học Y khoa Sài Gòn, lên San Francisco thi bằng hành nghề của tiểu bang California.

Trong ban giám khảo, vị Giáo sư chuyên về ngoại khoa đã hỏi tôi nhiều câu liên quan đến vấn đề đau bụng cấp tính thường xảy ra và cách điều trị.  Tôi đã trả lời đúng từng phần một từ bệnh đau ruột dư cấp tính, đến bệnh viêm túi mật, với chẩn đoán sai biệt bệnh viêm sạn đường tiểu và bệnh viêm buồng trứng.  Viêm ruột dư cấp tính phải mổ liền, còn viêm túi mật phải chuẩn bị cẩn thận bằng trụ sinh rồi mới nên mổ.  Thấy tôi trả lời được, ông hỏi lần lên bộ phận lồng ngực, về chấn thương của động mạch chủ.  Tổn thương động mạch chủ do chấn thương là một trường hợp cần phải can thiệp khẩn cấp, chẩn đoán được tổn thương bằng cách chụp hình lồng ngực để thấy trung thất bị rộng ra và dùng thuốc cản quang để chụp thấy nơi động mạch bị rách để can thiệp.  Tôi trả lời thông suốt các câu hỏi.  Thường thường sau khi hỏi xong thí sinh ra bên ngoài ngồi, chờ đợi kết quả.  Trường hợp tôi, sau khi đúc kết cuộc phỏng vấn, ông Giáo sư lại hỏi tôi thêm một câu: “Chừng nào anh định mở phòng mạch?”. Nghe câu hỏi trong lòng tôi mừng thầm vì đoán được kết quả của cuộc thi.

Bận trở về chỉ có một mình, tôi ghé thăm anh Nguyễn văn Ánh, một người bạn thân, cựu Đại tá Hải quân, xong theo đường chỉ dẫn tôi lên thăm thung lũng Yosemite nằm giữa tiểu bang California, có chiều dài 10 cây số, chiều cao 1 cây số 300 thước, với nhiều khe sâu và nhiều ngọn núi cao oai nghiêm, hùng vĩ.  Đứng dưới chân núi mát lạnh, nhìn thác nước trên cao triền miên đổ xuống qua nhiều thế kỷ, tôi cảm thấy đời tôi bắt đầu một giai đoạn mới, nhẹ nhàng, dễ thở.

Sau khi tốt nghiệp bằng hành nghề của tiểu bang California và bằng giải phẫu của trường Loma Linda, trước khi rời nhà thương Loma Linda, GS Bruce Branson chủ nhiệm khoa Giải phẫu của Trung tâm Loma Linda, yêu cầu tôi trình bày tại Hội trường lớn của Trung tâm đề tài: “Cuộc vượt thoát bằng đường biển của một bác sĩ Giải phẫu Việt Nam, nguyên Tổng Quản Đốc Trung tâm Thực tập Y khoa Gia Định-Bệnh viện Nguyễn Văn Học, kiêm chủ nhiệm khoa Giải phẫu”..

Một đề tài không liên quan gì tới ngành chuyên môn, nhưng tôi biết được chủ ý của giáo sư là muốn cho tôi có cơ hội để nói lên ý chí của mình, bởi vì có ý chí thì mới có thành quả được, tôi cố gắng sắp xếp lại câu chuyện cho mạch lạc và trình bày bằng tất cả sự thật trong trái tim mình. . Sau buổi nói chuyện, cử tọa đứng dậy vỗ tay tán thưởng, và tự động xếp một hàng dài lên bắt tay, an ủi và tỏ lòng mến trọng tôi.  Tôi được Giáo sư Branson trao cho một ngân phiếu 200 đồng tượng trưng tiền thù lao của Thuyết trình viên.

Rời trường Loma Linda tháng 9 năm 1985, qua năm sau 1986, tôi gia nhập Hội Giải phẫu Thẩm mỹ Hoa Kỳ và sáu năm sau vào năm 1992, đậu bằng Giải phẫu Thẩm mỹ Quốc tế, tôi được GS Bolivar Escobido, Chủ tịch Hội Giải phẫu Thẩm mỹ Quốc tế mời tham gia đi nói chuyện về Giải phẫu Thẩm mỹ tại Âu Châu và Nam Mỹ.  Trong đoàn còn có BS Frank Alvarez, một bác sĩ giải phẫu thẩm mỹ nhiều kinh nghiệm gốc Cuba.  Tôi phụ trách phần nói chuyện về Giải phẫu thẩm mỹ sửa mắt một mí thành 2 mí cho người Á Đông tại thủ đô Rome (Ý Đại Lợi), Barcelona (Tây Ban Nha), nơi đây tôi được tước vị Giáo sư danh dự của Hội Giải phẫu Thẩm mỹ tây Ban Nha cùng một lúc với GS Pitanguy I, chuyên gia nổi tiếng Thế giới về Giải phẫu Thẩm mỹ ngực, người gốc Brazil.  Tại thủ đô Lima Peru (nam Mỹ) bác sĩ Frank và tôi được mời giải phẫu căng da mặt cho một người trong thân tộc của GS Escobido.  Kết quả cuộc giải phẫu rất tốt.

Trở về Orange County, tôi mở phòng khám bệnh tư, hành nghề tại số 14441#2 đường Brookhurst, Garden Grove, tiểu bang California được 10 năm.  Sau đó dời về đại lộ Beach Blvd số 17672, làm việc thêm được 4 năm.  Cuối cùng trở về 13071 đường Brookhurst # 170 Garden Grove làm việc cho đến năm 2004.  Suốt thời gian hơn 15 năm hành nghề, tôi đã dùng phòng khám bệnh một phần để giúp đỡ miễn phí cho những người trước đây ở chung trong các trại tù Cộng Sản VN với tôi, những người bên đảo tị nạn Bidong mới sang, những người sống trong tiểu bang California chưa được trợ cấp Medical.

Một biến cố xảy ra trong thương trường với nhiều gian dối, bị kích xúc mạnh tôi thình lình lên cơn đau tim được Bác sĩ Loan Thị Hồ Ngô chuyên khoa nội thương tim mạch giới thiệu lên nhà thương Good Samaritan trên Los Angeles.  Nơi đây BS Gregory Louis Kay chuyên về Giải phẫu tim đã lấy tĩnh mạch ở chân trái của tôi lên làm nhịp cầu nối động mạch chủ vô tim (bypass surgery) cho tôi.  Qua năm sau tôi lại bị suy thận, một tuần ba lần đi lọc máu (Hemodialysis).  Tôi phải ngưng làm việc.  Phòng mạch tôi phải nhờ vợ và con gái tôi tốt nghiệp chuyên khoa phòng mổ tiếp tục trông nom với sự cộng tác chuyên môn của những người bạn, những bác sĩ Giải phẫu thẩm mỹ hành nghề trên Beverly Hill và ở Newport Beach.

Ngồi ôn lại suốt cuộc đời Y sĩ từ ngày mới ra trường cho đến nay, trải qua những vinh quang và tủi nhục, tôi cảm thấy lòng mình yên ổn.  Tôi đã làm tròn chức năng của một người thầy thuốc, hết lòng lo nghĩ và chăm sóc tận tình cho quân nhân ngoài tiền tuyến, cũng như tận tụy với bệnh nhân nơi hậu cứ, trong các nhà thương.  Tôi đã không quản ngại nguy hiểm ở lại sau cùng trên mặt trận Dakrotah ngoài biên thùy Tân Cảnh Kon Tum để chờ đợi thương binh còn mắc kẹt trong rừng sâu sau cuộc chiến.  Tôi đã hiến máu loại O của tôi ngoài TYV Duy Tân-Đà Nẵng để kịp thời mổ và cứu sống một thương binh bị thương nặng do một viên đạn trung liên trúng ngực, viên đạn xuyên từ đỉnh ngực bên phải qua cơ hoành, xuống bụng, làm lủng phổi, bể gan, lủng ruột.  Bệnh nhân đã có giấy khai tử của đơn vị. 

Tôi đã nhảy xuống sông Đà chảy xiết ban đêm để cứu một quân nhân Hoa Kỳ sắp chết chìm… Tôi đã lội qua sông Cà ty Phan Thiết, một vùng xôi đậu thuộc chiến khu tam giác sắt VC để chữa cho một em bé đau nặng.  Tôi đã ra ngoài hải đảo Phú Quý xa xôi cách đất liền Phan Thiết 100 cây số để chăm sóc cho ngư dân nghèo trên biển cả.  Tôi đã hai lần tình nguyện lên tận vùng rừng thiêng nước độc Phước Long-Bà rá, nguy hiểm mà từ trước đến bây giờ, chưa có một bác sĩ nào đến làm việc.  Tôi đã tình nguyện hy sinh ở lại nhà thương Nguyễn Văn Học vào giờ phút chót để mổ cho hàng trăm thường dân bị trúng đạn pháo kích của CS, để rồi bị CS bắt ngay trong phòng mổ và bị đưa đi các trại tù cho đến chân tôi bị suy yếu vì thiếu dinh dưỡng. 

Được tạm tha trở về nhà thương làm việc vì nhu cầu chuyên môn giải phẫu lồng ngực.  Tôi vẫn một lòng tận tụy cho bệnh nhân không phân biệt giai cấp, giàu nghèo, mặc dù tôi phải làm việc trong phòng mổ một thời gian dài không lương với những tủi nhục chua xót của kẻ chiến bại bị phân biệt đối xử trong chế độ CS.  Thỉnh thoảng tôi còn phải đến những nơi thật là hắc ám để trình diện, ban đêm tôi phải xách tầm vông và dây luộc ra ngồi dưới cột đèn đường Duy Tân, canh gác khu phố dưới sự giám sát của Công an.  Nhà tôi ở cũng không yên ổn, cơ quan an ninh của phường tự tiện vô lục soát bất cứ lúc nào. 

“Không có gì quý hơn độc lập- tự do”.  Mỉa mai thay câu nói này lại đặt trong chánh sách đàn áp độc tài của Cộng Sản. . Người dân không còn sự lựa chọn nào khác hơn là ra đi để thoát khỏi gông cùm đó.  Chúng tôi trân mình chịu đựng cho đến ngày vợ tôi tổ chức cho cả gia đình an toàn trốn được xuống Rạch Giá tìm đường vượt biển …Trải qua những gian nan thập tử nhất sanh trên biển cả bao la để được tới đảo và cuối cùng tới được bến bờ tự do trên đất Mỹ.  Rồi tôi cố gắng học hành để được đặc biệt thâu nhận vô trường Đại học Loma Linda, trở lại nghề nghiệp cũ làm Bác sĩ Giải phẫu Y khoa.

Cho đến ngày hôm nay, tuổi đã về chiều còn vướng phải hai chứng bệnh ngặt nghèo cùng một lúc, vừa phải mổ nối động mạch tim bị nghẽn vừa bị suy thận phải lọc máu một tuần ba lần.  Tôi không biết có phải là Ơn Trên báo động sẽ chấm dứt sứ mạng cứu người của tôi, hay đây cũng lại là một thử thách khó khăn để rồi sau khi may mắn được lành bệnh sẽ giao phó cho tôi một nhiệm vụ cứu nhân nào khác nữa?

Trước khi chấm dứt thiên Hồi ký này tôi muốn có một đôi lời tri ân:

Lúc còn nhỏ, tôi ham chơi hơn ham học, suốt ngày chạy rong trên những cánh đồng ruộng lúa mênh mông, theo những đứa trẻ chăn trâu, mồi chim, bắt cá lia thia, đá gà, bắt dế, giăng câu, v. v… Lớn lên tôi chỉ có một mớ kiến thức khiêm nhường về đồng áng, nhưng may mắn thay, được mẹ và người chị lớn thứ ba hết lòng giúp đỡ dìu dắt cho tôi tiếp tục học hành; tôi thi đậu vô trường trung học Pétrus Ký, học xong ban tú tài Pháp phần I tại trường tư thục Lê văn Hai - Huỳnh thị Ngà, ban tú tài Pháp phần II tại trường trung học Chasseloup Laubat, tốt nghiệp trường Hàng hải Việt Nam với hai bằng Sĩ quan Viễn Dương và Cận Dương thuyền trưởng, tốt nghiệp trường Y Khoa Đại học Sài Gòn với bằng Bác sĩ Y Khoa.  Luận án Tiến sĩ được Hội đồng Giám khảo Y Khoa chấm tối ưu hạng và được đề nghị một Giải thưởng luận án.

Cuộc đời của tôi đã đi qua những đoạn đường chông gai thời chinh chiến tàn khốc, đôi khi quá kinh hoàng trong bom rơi đạn nổ mịt mù, hay những lúc khiếp sợ hãi hùng trên biển cả cuồng phong bão tố, nhiều lúc tưởng chừng như không thể nào thoát được lưới tử thần, nếu không có bàn tay mầu nhiệm của Thượng Đế đã cứu vớt tôi.  Tôi có người Mẹ thân yêu đã mất cách đây trên 50 năm, lúc tôi còn trẻ.  Tuy nhiên tôi có linh cảm như mẹ tôi lúc nào cũng ở bên cạnh để che chở bảo vệ tôi và giúp cho tôi tránh khỏi những tình huống vô cùng khó khăn đen tối.

Quyển Hồi ký này tôi viết và để lại cho gia đình bé nhỏ của tôi, cho người vợ hiền tuy nhỏ tuổi hơn tôi nhiều nhưng thật đảm đang, gan dạ, một lòng chung thủy đã không bỏ tôi trong cơn hoạn nạn, thời buổi khó khăn khi tôi còn trong các trại tù tập trung Cộng Sản.  Ở nhà, vợ tôi đã thay thế tôi chăm sóc chu đáo cho cha tôi trong cơn đau tim trầm trọng, biết thu xếp việc gia đình vất vả trăm chiều, tìm kiếm tổ chức vượt biển và lo cho tôi sớm rời khỏi chốn lao tù, đưa cả gia đình xuống miền Tây Rạch Giá để dùng tàu rời khỏi VN.  Sang Hoa Kỳ, vợ tôi biết an phận chấp nhận những thiếu thốn về vật chất riêng tư cho mình, đi làm lụng cực nhọc để lo cho tôi có đầy đủ phương tiện trong việc học hành trở lại và chăm sóc chu đáo các con, các cháu.  Tôi tự thấy mình may mắn khi có một gia đình êm ấm, là điểm tựa vững vàng đã giúp tôi không gục ngã mỗi khi đau buồn thất vọng...

Nguyễn Duy Cung
Hết

*****
Link tải sách về:

Epub:


PDF:


Scanned PDF: