Saturday, September 21, 2013

TỔNG HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM



TỔNG HỘI CỰU TÙ NHÂN CHÍNH TRỊ VIỆT NAM
Federation of Associations of Former Vietnamese Political Prisoners
9262 E Valley Blvd Suite A Rosemead CA 91770
Tel: 626 278-1702
email: <tonghoi2013cuutunhanctvn@yahoo.com
ooOoo
Rosemead, ngày  20 tháng 9 năm 2013                                    Số  17  TH /VT/TPB
 BAN CHẤP HÀNH TỔNG HỘI

Kính gởi: Quý Niên Trưởng, Quý Chiến Hữu Chủ Tịch    Thành viên các Khu Hội , Phân Khu  Hội  CTNCT Việt Nam

Kính thưa Quý Chiến Hữu,
            Ban Chấp Hành LK chúng tôi xin kính chuyễn đến Quý Vị và gia đình,  và ân cần xin Quý Vị hưởng ứng,  lời kêu gọi của các CH Phan Văn Phúc, Trưởng Ban Tổ chức Đêm Gây Quỹ tại Dallas Fort Worth để giúp TPB/VNCH, và CH Nguyễn Văn Sứ , Chủ tịch Khu Hội CTNCTVN Oklahoma. Vô cùng quý giá nếu các CH và thân quyến có thể thân hành dự tiệc vào đêm nói trên, và cũng đáng trân trọng nếu Quý Vị có thể gởi chi phiếu phụ giúp công cuộc này.
            Những người tù chính trị như chúng ta, trước đây, cho dù thời gian tù đày có hơn, kém nhau, cũng là có giới hạn. Ngoại trừ những anh, em bất hạnh không có ngày về, tất cả chúng ta đều sum họp và cùng gia đình  tỵ nạn CS nơi hải ngoại, có được cuộc sống mới sung túc, và hậu duệ chúng ta cũng thành công tốt đẹp, mang lại niềm hãnh diện cho thế hệ cha ông.
            Trái lại, có thể ví anh em TPB VNCH như những người bị  tù triền miên trong nhà tù lớn  của Cộng Sản cho đến ngày lâm chung. Họ không mất cái tự do của một thân thể còn nguyên vẹn. Nhưng họ mất cái tự do cho từng chi trong thân thể. Ta đã thấy hình ảnh của những người mất cả tứ chi. Từ cái ăn, cái mặc, đến cái di chuyển,  các chiến hữu đó hoàn toàn lệ thuộc  vào người thân, nếu như thân nhân có thể vừa kiếm sống vừa lo lắng cho họ. Làm sao họ có thể ẵm bế cháu nội, cháu ngoại như chúng ta đang  làm hằng ngày, trong một nếp sống thật  hạnh phúc ?
            Của ít, lòng nhiều. Câu nói tuy đã thành thông dụng, nhưng ý ngĩa sâu xa vẫn không phai mờ. nếu được soi rọi bằng ánh sáng của từ tâm.
            Xin kính gởi lời chào trong tình chiến hữu,
                                                                                                                        TM/BCH/THCTNCTVN
                                                                                                                                  Chủ Tịch                                                                                                                                                                                                                                CTNCT Nguyễn Văn Qúi

Auburn Nên Ủng Hộ Việc Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Hỗn Hợp




Auburn Nên Ủng Hộ Việc Xây Dựng Đài Tưởng Niệm Hỗn Hợp
Đăng ngày 18 tháng 9 năm 2013 lúc 6:18 chiều
Trước hết, tôi xin tự giới thiệu. Tôi là Craig H. Mandeville, Trung Tá Lục Quân (về hưu). Không cần phải nói thêm, tôi được ân thưởng hai Anh Dũng Bội Tinh với Ngôi Sao Bạc, bốn Chiến Thương Bội Tinh, v.v… Chủ tịch tượng đài Cuộc Chiến Việt Nam ở Westminster, California. Tôi được bầu lên sau khi ông chủ tịch, người sáng lập tượng đài Frank Fry đã mất. Ông Frank là cựu Thị Trưởng, ông làm việc trong hội đồng thành phố trong thời gian phê chuẩn, cách đây gần 10 năm khi tượng đài được khánh thành vào ngày 30 tháng Tư năm 2003.
Tôi nhắc nhở thêm về Frank, một cựu chiến binh Đệ Nhị Thế Chiến. Cũng vì vai trò của ông trong hội đồng, uy tín của ông ta trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã làm công việc của chúng ta dễ dàng hơn. Tượng đài đó là ước mơ của Frank chào đón người dân miền Nam Việt Nam đến với đất nước chúng ta, cũng để bầy tỏ sự hãnh diện cho các cựu chiến binh Hoa Kỳ đã cùng chiến đấu trong việc bảo vệ Việt Nam tự do.
Tôi đã lắng nghe những cuốn băng ghi âm của hội đồng thành phố, và đọc các văn kiện. Điều đó đem lại nhiều kỷ niệm, tôi đã nghe tất cả những lời chấp thuận cũng như chống đối về việc xây dựng tượng đài. Tuy nhiên tôi chưa được nghe những điều mà chứng ta không biết 10 năm về trước.
Tôi muốn nói rằng, những lập luận chống đối mạnh mẽ nhất từ phiá hội Cựu Chiến Binh Hải Ngoại (VFW) và American Legion. Họ quay lưng về phiá các cựu chiến binh Hoa Kỳ cuộc chiến Việt Nam, cũng như chế riễu các cựu quân nhân VNCH, và hiện tại họ đang tái diễn trò đó. Những người đưa ra lập luận chống đối trong cộng đồng là những người chống lại chiến tranh khi cuộc chiến Việt Nam đang diễn ra, bây giờ họ vẫn thế.
Theo ý kiến của tôi cùng với các sự kiện. Họ đã lạm dụng lá cờ để làm giảm giá trị người Việt Nam. Một số người khác dựa vào hai chữ “Ái Quốc” không đồng ý cho một lá cờ khác tung bay trên đất nước của họ, hoặc đứng cạnh lá cờ Hoa Kỳ. Thực tế cho thấy, một cựu Thị Trưởng thành phố đã từng đứng trên quan điểm nêu trên, nhưng nay bà ta đã thay đổi chính kiến và là người ủng hộ chúng ta nồng nhiệt nhất.
Sau 4 năm tranh luận, 5 năm quyên góp, thành phố, quận lỵ đã dành cho chúng ta một khoảng đất rộng một mẫu rưỡi (1 1/2 acres). Thêm tranh luận về vấn đề thuế má, quyền sở hữu, v.v…, Hội Đồng Thành Phố cùng Ủy Ban đã làm một hợp đồng bao gồm thời gian xây cất, quyền sở hữu, và bảo trì. Cám ơn Thượng Đế, chúng ta có những vị luật sư rất tận tình.
Vấn đề lá cờ lại trồi lên nhiều lần, khi các nhóm cựu quân nhân (Hoa Kỳ), những người thực lòng ái quốc đặt câu hỏi. Tại sao hai lá cờ cao ngang nhau? Tôi đã điều nghiên biết rằng họ đã đúng. Chúng tôi đã quyết định để lá quốc kỳ Hoa Kỳ treo cao hơn trong khu đất tượng đài để cho chuyện này lắng xuống.
Lá cờ Việt Nam Tự Do (nền vàng với ba sọc đỏ) tung bay phất phới như có bàn tay phù thủy, đem lại xúc động cũng như những kỷ niệm. Công viên xây dựng tượng đài tên là Sid Goldstein, để tưởng niệm một vị anh hùng điạ phương đã được ân thưởng huy chương Ngoại Hạng (Distinguished Services Cross) trong trận chiến Triều Tiên. Theo thiển ý của tôi, nó cũng bao hàm ý nghiã các vị anh hùng của các bạn (người Việt).

Điều quan trọng cho Người Hoa Kỳ gốc Việt.
Tôi ao ước được nói chuyện với các bạn về tầm quan trọng của lá cờ Việt Nam Tự Do. Nó có giá trị trong lịch sử, quan trọng như thế nào đối với người Mỹ gốc Việt, đặc biệt đối với các cựu quân nhân QL/VNCH và gia đình họ. Cũng như đối với các cựu cố vấn, như bản thân tôi đã cùng chiến đấu bên cạnh các quân nhân VNCH.
Xin vui lòng đứng về phiá người dân miền nam Việt Nam, những người đã tranh đấu cho một quốc gia Việt Nam tự do. Họ đến đây (Hoa Kỳ) với đôi bàn tay trắng, mất tất cả, kể cả nhà cửa, quê hương của họ. Chúng ta không thể hiểu nỗi đau, niềm cảm xúc của họ, duy có một điều nhắc nhở cho họ về quê hương, một hy vọng về đất nước tự do, đó là lá cờ của họ (Việt Nam). Tôi dám cam đoan rằng, hàng ngàn người Việt cùng với thân nhân đến thăm đài tưởng niệm sẽ phấn khởi khi nhìn thấy lá cờ Việt Nam tung bay phất phới, hiên ngang bên cạnh lá cờ Hoa Kỳ. Điều này sẽ làm vơi đi những nỗi kinh hoàng, nỗi đau buồn nhớ quê hương.
Đối với các cựu chiến binh Hoa Kỳ, có thành kiến, có những kỷ niệm không tốt về cuộc chiến tranh Việt Nam. Tôi chắc chắn hiểu cảm xúc của các bạn, trong lần đầu đến Việt Nam năm 1967-1968, tôi phục vụ trong sư đoàn Nhẩy Dù 101, và đơn vị của tôi bị địch quân tràn ngập. Sau đó được biết một đơn vị thuộc Hải Quân Nam Việt Nam có nhiệm vụ làm thành phần an ninh cho chúng tôi đã để đám “bê bối” (VC) đi xuyên qua. Lẽ dĩ nhiên, tôi rời Việt Nam với một đắng cay. Tuy nhiên, năm 1972 tôi được đưa trở lại làm cố vấn cho một trung đoàn Bộ Binh VNCH. Không cần phải nói nhiều, tôi không được vui và không tin tưởng nơi họ, Tuy nhiên không không thể đánh giá một quân đội qua một, hai kỷ niệm xấu.
Dưới chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, không thấy một dấu hiệu nào về lá cờ Việt Nam Tự Do, họ chỉ muốn “xóa sổ” một hình ảnh mà họ sợ hãi nhất. Vì lá cờ đó mà chúng ta, một quốc gia đã lao vào chiến tranh. Cũng vì thế, chúng ta các cựu quân nhân của cuộc chiến Việt Nam đáng hãnh diện, đã góp phần bảo vệ một quốc gia tự do.
Điều đó đúng khi nhìn thấy hai lá cờ đứng cạnh nhau. Khi chúng ta đến thăm một đài tưởng niệm như thế, các bạn sẽ được nhắc nhở về 58000 quân nhân Hoa Kỳ, 250000 quân nhân VNCH đã anh dũng hy sinh, chiến đấu bảo vệ tự do. Đối với những ai mới đầu chống đối, sau đó trở thành những người bạn ủng hộ nhiệt tình, đài tưởng niệm đã hàn gắn vết thương lòng. Có những cựu chiến binh cùng làm việc với tôi trong hãng Boeing, không thèm nói chuyện với tôi, nhưng sau chuyến viếng thăm đài tưởng niệm, thái độ của họ đã khác hẳn.
Riêng cá nhân tôi, đài tưởng niệm chào mừng người dân miền nam Việt Nam đến được bến bờ tự do. Những người đó đã trở thành Người Hoa Kỳ Gốc Việt bầy tỏ lòng kính trọng đối với quê nhà, với tổ tiên và với những gian khổ họ đã trải qua. Hơn nữa, lá cờ cho họ niềm hy vọng, một ngày nào đó có một quốc gia Việt Nam Tự Do.

Craig H. Mandeville, LTC, U.S. Army (retired), can be reached at 714-655-6119.

 Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn và Trung Tá Craig Mandeville ( Col Hồ Ngọc Cẩn and LTC Mandeville)

 First, let me introduce myself. I am Craig H. Mandeville, Lt. Col., U.S. Army (retired). Not that it matters in this discussion, but I have two Silver Stars and four purple hearts, etc.

I hold the position as president of the Vietnam War Memorial in Westminster, Calif. I was just elected after our founder and president, Frank Fry, passed away. Frank was a former mayor and was serving on the Westminster City Council during the approval phase and just shy of 10 years after it was dedicated on April 30, 2003.
I mention Frank, a World War II veteran, because of his position on the council and because his reputation within the Vietnamese–American community made our efforts considerably easier. The memorial was Frank's dream to help welcome the South Vietnamese to our country and show the pride for those Americans who had fought side by side for a free Vietnam.
I have listened to the tapes of your City Council and read the articles. It is deja vu for me. I have heard all the arguments for and against the memorial. However, I have heard nothing that we didn't hear 10 years ago.
I might mention that the strongest arguments came from the VFW and American Legion. I was startled. They turned their backs on the returning Vietnam veterans as well as scoffed at the South Vietnamese veteran, and here they were doing it again. Those residents who presented their arguments were persons in the community who were against the war when it was going on and had not changed.
In my opinion and supported by facts, many used the flag issue to cover up their prejudice against the Vietnamese. Others had a patriotic stance that no other flag should be on our soil or fly next to the U.S. flag. In fact, the former mayor felt that way in the beginning and now she is our strongest supporter.
After four years of discussions and five years of fundraising the city/county gave us 1½ acres. Those same arguments about taxpayer land, legal rights, upkeep, etc., all had been heard. The City Council and the committee made a contract about construction timelines, ownership and maintenance. Thank goodness we had lawyers working pro-bono on our behalf.
The flag issue surfaced many times when veterans groups and well-meaning patriotic Americans questioned why the flags would be at the same height. I had to research the regulations to show them that were correct. Also, we decided to put one taller American flag over the whole park that helped squelch that issue.
The flag of Free Vietnam (yellow with three red stripes) seems to conjure up, for many, bad feeling/memories and whether it should be in a park with other memorials. Our park is called the Sid Goldstein Park in memory of a local resident who won the Distinguished Service Cross in Korea. I know it is not quite the same as yours.
Important to Vietnamese-Americans
I wish I could speak before you on the importance of the flag of free Vietnam, its meaning in history and how important it is to Vietnamese-Americans – especially veterans and their families – as well as to those advisors like myself who fought side by side with the South Vietnamese.
Please try to put yourself in the place of the South Vietnamese who not only lost their struggle for a free Vietnam, but came here with nothing and lost everything to include their home. We cannot understand how they feel, but the one thing that reminds them of their home and a hope for a free Vietnam is their flag. I can attest that thousands of Vietnamese and their families visit the memorial and they feel uplifted by the sight of their flag flying proudly next to the U.S. flag. It somewhat lessens the terrible memory of losing their country and allows history to stay alive with their families.
For those American veterans who have bad feelings and memories about the South Vietnamese, I can assure you I know the feeling. On my first tour in 1967-68, I was with the 101st Airborne and my battery was overrun. It turns out that the RVNs (ships of the Republic of Vietnam Navy) that were providing us security let the bad guys in. For sure, I left Vietnam on my first tour with a bitter taste. However, I was sent back to Vietnam in 1972 and was assigned as an advisor to a South Vietnamese infantry regiment. Needless to say, I was not happy and did not trust them. I quickly learned that I could.
One or two bad memories should not be a judge of all.
In communist Vietnam today there is no sign of the flag of South Vietnam. They want to blank out the one symbol they fear the most. That flag is why we, as a country, went to war and why we, as Vietnam veterans, are proud of what we did to help keep that a free country.
It is appropriate to see the two flags together. When we approach such a memorial you are reminded of the over 58,000 Americans, over 250,000 South Vietnamese and allies who died fighting for a free Vietnam. For those who opposed the memorial here initially, they are now our biggest supporters. It has caused healing and for many helped their issues with PTSD.
When we started this, I had veterans at the Boeing plant where I worked who wouldn't even talk to me. But after one trip to see the memorial and talk about it, their adverse feelings dissipated.
To me, it is imperative that such a memorial welcomes the South Vietnamese to our shores who are now Vietnamese Americans and show our respect for their homeland, their ancestry and the hardships they have endured. But also, that flag gives them hope for a free Vietnam one day.
Craig H. Mandeville, LTC, U.S. Army (retired), can be reached at 714-655-6119.



 LTC Craig Mandeville

Lt. Hiếu Vũ RVN Ranger with General Benjamin Ranger Airborne

Thiếu Úy Vũ Đình Hiếu sinh họat với U.S. Ranger

Notes from General Benjamin

Tướng Benjamin . Trước đây là lữ đoàn trưởng trong sư đoàn 101 Dù HK.
Ông ta làm cố vấn trưởng cho Tướng Phạm Văn Phú (SĐ1/BB) trong trận Hạ Lào năm 1971.

Wednesday, September 18, 2013

Phi Trường Đà Nẵng những ngày cuối 1975




Lúc đó đã ngoài giờ làm việc, trời rất oi bức!… Mặcdù cách đây đã 37năm, tôi vẫn còn nhớ rõ hình ảnh đại tá Thái bá Đệ, chỉ mặc độc nhất cái quần lính, mình để trần mồ hôi nhể nhại ngồi sau chiếc bàn nhỏ , đặt ở ngoài hành lang BCH không đoàn 61. Khỏang 20 người, đa số mặc đồ bay đứng nối đuôi nhau thành hàng dài, trên tay mổi người cầm tờ giấy, tôi đứng sau cùng…không nghe ai nói chuyện với ai , không khí có vẻ như sắp sửa xảy ra một biến cố lớn...

Được Tr/tá Phạm đình Anh, phi đòan trưởng 538 từ Biên hoà cho phép (nguyên PĐ về họcF-5E ). Tôi và Nguyễn-Thi lái chiếc pick-up ra Huế đón người thân . Đoạn đường chỉ có 105 km, tức khỏang 70 miles mà phải mất hai ngày hai đêm mới về lai được, không có thời gian để kể, nhưng qúy vị cũng hiểu , gian khổ và nguy hiểm tới mức nào ! Húê lúc đó đã trở thành một thành phố chết, hầu hết đã bỏ nhà cửa di tản, chỉ còn một số rất ít, vô phương ! đứng ngoài đường thành từng nhóm, nhìn theo xe chúng tôi chạy qua với ánh mắt ước ao... không thấy bóng dáng một người línhVNCH, cũng chẳng biết VC đang ở đâu?. Ngày hôm sau thì Huế mất... Xếp đặt xong chổ tạm trú cho người nhà ở ngoài phố, tôi vào ngay phi đòan. Gặp Tr/tá Lê xuân Lan tại Alert-pad . ông cho biết đã xin được một C130 chỉ ưu tiên dành cho KĐ61,khỏang 10 giờ tối hôm nay sẽ đáp xuống Đà nẵng . nhớ giử bí mật!... Tôi liền trở lại phi đoàn và nhờ văn thư đánh gấp một danh sách gồm 16 người ,rồi lập tức mang đến đây.
…Cuối cùng tới lược tôi, Đ/tá Đệ, một tay cầm tấm bìa cứng quạt, quạt. một tay cầm cây viết , ngước nhìn tôi vẫn tươi cười, nhưng ánh mắt thật buồn bả..” A! còn Lê Phiéu đây rồi..”nói xong đặt bút ký liền rồi đưa cho người lính đứng bên đóng dấu, anh này lại ăn mặc rất chỉnh tề , áo bốn túi thẳng nếp.. Tôi nhận thấy nơi Đ/tá hôm đó có cái gì lạ lạ, không giống thường ngày..hình như ông đã đoán trước, đây là lần cuối.. làm được cái gì cho đàn em là cứ làm!
Cầm tờ giấy có chử ký và khuôn dấu của Đ/T Đệ, người lớn thì kèm theo thẻ căn cước Con nít khỏi. QC cho vô cổng ngay. Khi đi ngang qua trạm gác khu trực alert-pad, Hưng trâu (A37) lên đạn “róc,róc”, tôi bận lái xe , chưa kịp trả lời thì bà xã tôi đã nhanh nhẩu “xe anh Phiếu, xe anh Phiếu”. vừa vào tới nơi tôi đã thấy đám đông khỏang hơn trăm người đã tập trung ngay trước sân khu trực alert-pad. Tôi loáng thoáng thấy Hồ Ba lúc đó cũng có mặt với một số người nhà. Không biết anh trở ra đà nẳng hồi nào?. Bà con ban đầu còn nhốn nháo, nhưng chỉ một lúc, rồi cũng được sắp xếp thứ tự dưới sự điều khiển của th/tá Hồ kim Giàu và tr/tá Lê xuân Lan, .. anh em phi đạo không biết do lệnh ai hay tự nguyện đã kéo “rúp” làm hàng rào ngăn chận người ngoài vào.
Qua khỏi mười giờ , rồi mười hai, vẫn chưa thấy động tĩnh, tr/tá Lan tiếp tục liên lạc và hứa hẹn, đám đông bắt đầu mất dần hy vọng, nhưng vẫn ngồi yên giử chổ. Mắt nhắm nghiền vì qúa mệt mỏi ...tội nghiệp cho mấy ông bà cụ gìa và đàn bà thai nghén trong đó có ba mẹ tôi, bà nội vợ, bà xã tôi đang có bầu, lạị vừa mới trải qua cuộc hành trình một ngày và một đêm đầy gian nan từ Húê vô..
phòng trực alert-pad vẫn rực sáng, máy lạnhvẫn chạy đều. xuyên qua kính cửa sổ, tôi thấy anh em biệt đôi , không biết đang chơi bài, tán dốc hay nhắp cà phê ? vẫn cười nói vui vẻ như không có chuyện gì xảy ra.. chỉ độc nhất một mình th/tá Nguyễn v Cổn, tay cầm bình nước trà và cái tách nhỏ, đi lui, đi tới nơi cái hành lang, lối vào nhỏ xíu của khu trực…thấy tôi, th/tá bước xuống và tiến lại gần , vẫn cái bình trà trên tay; nhưng lần này có hai cái tách, th/tá Cổn ra dấu đem mời ba mẹ tôi hoặc bà con ai đó. Ông không nói gì
hết, chỉ khẻ lắc đầu, nhưng tôi đã đọc được ngụ ý “chiến tranh khổ qúa phải không??”
tôi lại nhìn vào phòng trực.. chỉ trong một phạm vi nhỏ thế này, mà đã là hai thế giới…
Đến hơn một giờ sáng…vẫn chưa có dấu hiệu, đám người vẫn ngồi bất động, không ai giống ai , tuy cùng một tâm trạng, nhưng có lẽ mỗi người đang đeo đuổi một ý nghĩ riêng. Th/tá Giàu và tr/tá Lan cũng biến đi đâu mất.. tôi cũng lửng thửng tản bộ về phi đòan, dù không với mục đích gì hết.. nhưngđúng là số xui tận mạng ! Giữa đêm khuya tĩnh mịch, đèn vẫn sáng, không một bóng người, tôi bước từng bước chậm theo lối vào, lước nhìn từng tấm ảnh lớn của mổi hoa tiêu treo trên tường, tươi cười tay cầm nón bay đứng bên chiếc F-5. Tôi biết rõ, họ sẽ không bao giờ còn trở về… chỉ độc nhất mình tôi và đây cũng là lần cuối ! mắt tôi đỏ hoe theo ý nghĩ đó..
Vừa bước ra khỏi cửa, thì cái điện thoại, tôi vẫn còn nhớ số 2633 reo vang.. giọng của một ông bạn không thân lắm tên T từ bên kia đầu dây, cầu khẩn tôi gíup đỡ.. với bạn bè dù bất kỳ ai và trong hoàn cảnh nào, tôi rất nhiệt tình. Và tôi đã hứa..liền cấp tốc lái xe pick-up ra một địa chỉ ở số… đường Ng T Giang. Giữa lúc người ta đang say ngủ, tôi đấm cửa liên tục. ban đầu họ không dám mở. chỉ hé cửa sổ , thấy chiếc xe KQ và tôi mặc đồ bay, người ta mới yên lòng và tiếp tôi.. sau khi giới thiệu sơ qua, tôi đi thẳng vào vấn đề, yêu cầu trong năm phút phải quyết định, hoặc đi, bỏ lại tất cả và lên xe, hoặc ở lại. Sau khi hội ý, hình như một ông rể và một bà chị ở lại, còn tất cả lên xe trong đó có một cô sinh viên, tôi còn nhớ có cái tên rất Húê, Hương-Giang… Tới cổng phi trường, QC vẫn còn làm việc rất nghiêm chỉnh, tôi nhớ hình như phải gọi th/tá Giàu can thiệp mới được vào
Trở về lạị khu vực alert-pad thì đã gần 2giờ sáng, tình hình bấy giờ trở nên rất sôi động vì trên bầu trời chiếc C130 đang lượn vòng chuẩn bị đáp. anh em phi đạo đứng nối tay làm hang rào ngăn chận người lạ xâm nhập. thỉnh thoảng một chiếc trực thăng từ đâu
Chớp nhoáng đáp xuống, xô bỏ người thân rồi vụt bay như con chim bói cá.. còn những vị Hành khách không mời này như đã được huấn luyện trước, nhanh chóng trà trộn vào đám quân ô hợp. th/tá Giàu ra sức giử trật tự .tr/tá Lan lớn tiếng trấn an“bà con yên chí, ai cũng được đi. Tất cả đồ đạc, lớn nhỏ bỏ hết lên đây”vừa nói vừa chỉ chiếc xe pick-up, máy bay sẽ mang theo, xuống phi trường SG sẽ lấy lại”…thường ngày tôi thấy tr/tá đạo mạo, chính trực, hôm đó sao nói dối tài tình đến thế ! chính tôi cũng lầm tưởng. vừa nói xong bà con nhào tới bỏ hết đồ đạc của mình, đầy nhóckhung xe và yên chí trở về chổ củ ̣(sau đó th/tá Cổn giao chìa khóa xe cho tôivới một hàm ý nhưng tôi không hiểu và đã không nhận, đến khi ngồi tù bảy năm về.. đói khổ qúa, nhất là nhìn thấy mẹ gìa và mấy đứa con thiếu ăn cứ tưởng tượng hoài ). Chỉ duy nhất có ba tôi ngồi ở hàng đầu, ông vẫn ôm chặt cái TV 12 inches tôi mua ở Mỷ gởi về lúc du học , ông qúy lắm bỏ hết nhà cửa mang theo chỉ mình nó. Ba tôi sau này bi stroke chết tức tưởi khi đang ngồi bế cháu nội (con gái đầu lòng của tôi, sinh ra chỉ hai ngày sau khi tôi đi tù, và sáu tháng thì ông mất)
Cuối cùng chiếc C130 đã đáp xuống, đi vòng vòng một lúc rồi đưa phần đuôi vào, tình hình rất căng thẳng, tuy nhiên đám quân ô hợp vẫn ngồi yên bất động và chờ lệnh, tới lúc này tôi mới biết th/tá Giàu đã dàn xếp , người gìa, trẻ con, đặc biệt đàn bà mang thai, được ưu tiên ngồi hàng đầu, trong khi đó bà xã tôi có bầu hơn tám tháng lại ngồi đằng sau cùng, cũng lỗi tai tôi trong giờ phút quan trọng nhất lại bỏ đi.. Tôi ra dấu cho bà xã tôi đứng dậy ra khỏi hàng và dẫn đi.. được nửa chừng thì như một lệnh truyền từ hư vô . cả rừng người đồng loạt đứng dậy và cùng một lúc nhào tới. cảnh hổn loạn xảy ra tức khắc.. hoàn toàn bất khả kháng . tr/tá Lan, th/tá Giàu th/tá Cổn tất cả chỉ biết đứng nhìn như đang xem một cuốn phim thời chiến… cánh cửa sau của máy bay buộc lòng phải đưa lên lưng chừng, tới nước này tôi đành chịu thua, bỏ lại bà xã.. tôi chạy đến leo lên máy bay không phân biệt, nắm được tay ai là kéo lên , tôi nhận ra chị Xuân vợ Mai v Minh, tôi phải dùng cả hai tay và cẩn thận hơn vì chị đang có bầu .vào lúc đó hình như chỉ có mình tôi là làm công việc cứu hộ này. Kéo được khoảng mười lăm người thì máy bay rùng mình bỏ chạy như con bọ hung rực- rảy bầy kiến bu.. Ra tới gần phi đạo, lơị dụng khúc quẹo tôi nhảy xuống lăng mấy vòng, chiếc mủ “tây thi” rớt đâu mất ,máu ướt bên trán.. vẫn thây kệ ! tôi ngồi dậy nhìn theo chiếc C130 cất cánh cho đến khi mất hút trong màn đêm…Trở về lại khu alert-pad, bấygiờ như một bãi chiến trường, lác đác vài nhóm nhỏ người thua trận đang mò mẩm. đâu đó có vài tiếng khóc nấc lên tửng hồi.. anh em trực không chiến thì đã tắt đèn đi ngủ. Tư nhiên tôi thấy nhớ cái đám quân ô hợp, mới hồi nảy còn đang náo loạn…
Trọn nguyên cả một ngày hôm sau,từ sáng chotới tối. không ăn không uống. một người bạn có tình,có nghĩa. Th/úy Ngv Tiếu luôn sát cánh bên vợ chồng tôi . cùng đi trên chiếc Jeep màu xanh lam của người bạn Mỹ cố vấn phi-đoàn để lạị, chạy quanh phi đạo tìm đường thoát cho vợ chồng tôi (riêng Tiếu thì đã có F-5) có chiếc trực thăng bị hư máy thấy người ta ngồi đầy nhóc ,vợ chồng tôi với cái bụng bầu tổ bố cũng leo lên rồi leo xuống.Tiếu vẫnngồi trên xe đợi..thỉnh thoảng cũng có một hai chiếc C130 đáp xuống đi vòng quanh không dám ngừng. một chiếc C119 đảo vài vòng trên phi đạo rồi bay mất.
có một số người bị chết vì trốn trong hốc bánh đáp của Boing…chúng tôi cứ lái xe chạyvòng quanh, khi qua bên ngã phước-tường và dừng xe sát một chiếc C130 đang nổmáy ngoài phi đạo,thấy người ta đầy nhóc, không đóng cửa được tôi và Tiếu nhìnnhau lắc đầu..bỏ cuộc ! Trở về lại phòng trực alert-pad định nghỉ ngơi một lát,thì gặp th/tá Cổn. ông đưa tôi vô phòng briefing ,nói qua trong trường hợp khẩncấp..cứ việc heading 173 mà bay v.v.
Đêm thứ hai vẫn yên tĩnh, cho tới hơn nửakhuya, bọn VC bắt đầu pháo kích, càng lúc càng dữ dội, chủ tâm phá bỏ phi đạo,cắt đức đường hàng không . Lúc đó, tôi và bà xã đang ở khu cư xá Trần v Tho, ̣Giữa lúc mưa pháo và trong tranh tối, tranh sáng. từ trong nhà nhìn ra đường,tôi thấy sáu bóng người đi thất thểu,máu me tùm lum, hình như tới bước đường cùng,họ không còn biết sợ hãi gì nữa !cũng không cần kêu la.. dẫn đầu là một anh mặc đồ bay,mang lon đ/u. tôi bước racửa đưa tay ngoắc vô. Anh cho biết tên Tuấn, lái skyrider một mình về đây, tìmcách đưa gia đình đi, nhưng không quen ai cả.Tôi đưa hết mọi người vô nhà ̣, lấyxe jeep chở mình anh đi về hướng phi cảng dân sự, công nhận anh nầy giỏi thật!thấy một chiếc xe hơi của ai đậu bên lề đường, không biết bằng cách nào, chưa tớinăm phút là anh nổ máy được rồi lái chạy theo tôi về lại nhà. Có được phương tiện,anhnhư con chim sỗ lồng, ríu rít cám ơn .. khi anh đi mất, tôi mơí phác giác còn đểlaị một cô em gái khoảng19 tuổi khá xinh, không hiểu nguyên do tại sao?.và cônày cũng không bày tỏ môt ̣ phản ứng gì hết, chỉ lẻo đẻo theo vợ chồng tôi.Riêng Tuấn và những người còn lại, nhất là ông bố đang bị thương nặng, không biếtsố phận của họ sau đó đi về đâu? Chỉ biết một tin chính xác là có một A1 bị rớtngoài biển (anh Tuấn nếu còn sống hoặc qúy vị nào biết tung tích về vị đ/u màtôi rất có cảm tình này ở một trong mấy phi đòan khu trục xin L/L, cám ơn)
Đến khoảng 2 giờ sáng, tiếng đạn pháo thưadần,tôi thấy anh em F-5 lần lược cất cánh từng chiếc một..tiếng gầm rú của độngcơ phản lực vang dội cả một vùng, át cả tiếng đạn pháo kích . Tiếu đã may mắn baychiếc F-5D cất cánh từ hồi chiều, chởtheo một đ/u kỷ thuật, hình như Trần lưu Uý cũng bay cùng lúc . cũng trong đêmđó, một A37 crashed trên phi đạo,đ/u Đỗ Thạnh tử thương tại chổ . Ngay sau khichiếc F-5 cuối cùng rời phi đạo, tôi lái xe tới khu trực alert pad , chạy thẳngvô ụ đậu, tôi còn nhớ số phi cơ 273. Tr/u
Thành từtrong chổ tối, sau bức màn chống pháo kích,lớn tiếng giọng bắc kỳ năm tư“Ai!”
Nhận ratôi anh dịu giọng “tất cả bay hết rồi..chỉ còn mình hồng tiễn..mau lên! Tôi đikêu tụi nó nổ máy,VC sắp pháo nưã đó”. Tôi nhìn con tàu, rồi quay lưng nhìn bàxã với cái bụng bầu ngồi yên lặng như pho tượng trên chiếc xe jeep giữa đêmkhuya thanh vắng..
Thườngngày vợ tôi rất ủy mị, tôi nhớ lúc tiễn tôi vô biên hòa họcF-5E đã oà khóc nhưmột đứa trẻ ,đến nổi tôi phải xin tr/tá Anh trở ra. Nhưng vào lúc này, biết tôiđi sẽ không bao giờ trở về ..nàng lại hối thúc “đi!…đi anh !..anh ơi !”. tôi cứtưởng bà xã tôi yếu đuối lắm,nhưng không..nàng đã chuẩn bị cho đứa con trong bụngdù trai hay gái cái tên
“Lê anhPhiếu”khi sanh ra, nếu lúc đó tôi cất cánh…bà xả tôi đã tâm sự khi tôi mãn tù bảynăm trở về.
Và tôi đã lắc đầu..thấy vậy , Thành xẳng giọngvà dùng từ cấp bậc đối với tôi “ thôi được , vậy thì trung úy về nhà đi..” (đêmhôm sau, Thành đã chiến đấu rất anh dũng với VC và hy sinh tại chổ này, tôi sẽkể sau ). Tôi thẩn thờ như người mất hồn …thấy phòng trực alert pad, đèn còncháy sang. Tôi dừng xe bước vào..máy lạnh vẫn chạy đều,mấy ly cà phê đang uốngdở,,nước đá còn chưa tan..khoảng nửa giờ trước đây ,anh em còn sinh hoạt, bâygiờ đã ở một thế giới khác..thế giới của tự do, còn tôi thì sắp đối mặt với kẻthù khát máu…Đang miên man, bổng nghe có tiếng động nhỏ, một bóng người ngồi yênlặng trong góc tối ,đầu cúi gầm, mặt quay vô tường,tôi bước lại gần nhìn kỷ mớinhận ra đại tá Đệ, không biết đại tá lúc đó đang nghỉ gì mà hai bờ vai rung lêntừng hồi..tôi chưa kịp hỏi và ông không quay lại mà vẫn biết là tôi “người nhàđâu rồi, sao không đi.. !?” tôi không trả lời, chỉ đứng yên đưa tay chào mà nước mắt muốn rơi!....Một hình ảnh đại tá Đệvui tươi bên cạnh tr/tá Lan vừa đi vừa briefing, như đôi chim gìa dặn hướng vềchiếc F-5D cách đây chỉ mới hai tuần, đâu mất rồi!..Hôm đó, tôi hân hạnh đượcbay wingman với
hai xếplớn và không ngờ rằng, đó cũng là phi vụ cuối cùng trong cuộc đời bay bỗng củamình .Và lần gặp hôm nay, trong tình huống bi thương này cũng là lần cuối với vịđại tá mà tôi hằng kính mến…
Trời vừa sáng,tôi thu xếp vài thứ để lên đường,dự định tìm đường biển..đu sau xe jeep có hai người lính phi đạo bồng súng M16tháp tùng hồi nào mà tôi không hay. QC vẫn còn đứng gác ,mặt buồn thiu..Tới đầucầu nam-ô thì cô em gái đ/u Tuấn mà tôi chưa kịp hỏi tên, đòi xuống vì có ngườiquen ở đó. Đi thêm một đoạn, có người cho biết línhTQLC
bị bỏrơi, đã bắn chết nhiều lính KQ dưới đó. Vừa nghe xong, hai vị hộ vệ không mời củatôi biến mất, tôi cũng tấp vào lề, thay bộ xi-vinh,quần jeen xanh áo trắng,vĩnhbiệt bộ đồ bay kể từ giây phút đó. Được nửa đường thì tôi thấy Ng-Thi, lái chiếcpick-up chạy ngược chiều lên,vẫn còn mặc áo bay với cặp lon th/úy, hai bên nhìnthấy nhau, há hốc miệng nhưng xe vẫn chạy. Như vậy là không xong rồi !..tôi tìmcách quay xe lại, hơn nữa mấy đêm liên tiếp không ngủ tôi mệt lã …thôi cứ vềnhà, tới đâu thì tơí !
Bố vợ tôi là thượng sĩ biệt kích dù lâu năm,thời gian ông đội nón cối VC, trà trộn trong hang ngũ quân thù còn nhiều hơn làmặc đồ lính. Ông không chịu đi với lý do riêng,trong lúc vợ con cã thảy mườingười đi hết trong chuyến bay C130 như tôi nói ở trên.Ông ở lại.
Và ông hếtsức ngỡ ngàng,lo âu khi thấyvợ chồng tôi đậu chiếc xe jeep đi vô. Tôi ngủ thiếp đi trong căn nhà ở đường gìtôi không nhớ , nhưng ngay ở đầu phi-đạo hướng bắc..
Lúc đókhoảng11 giờ trưa, tôi nghe tiếng máy bay phản lực gầm thét..bố vợ buột miệng“nhanh thật! mới đó mà Mig21đã vô tiếp nhận”.tôi chỉ ậm ờ cho qua chuyện, nhưngmấy tháng sau khi ở trên trại tù, một ông bạn nằm bên rỉ tai “ F5..vậy có biếtNg-Thi không? Anh được phỏng vấn trên TV, người cuối cùng rời Đà-nẵng..”tôi mớibật ngữa.tới lúc đó
Thi vẫn cònkịp trở lại lấy máy bay cất cánh..và không biết có phải chiếc 273 mà tôi đã từ
chối bayhồi khuya?...
Qua ngàyhôm sau,tôi chợt có ý nghỉ tới khu Lê đình Dương ,nơi mà KQ hay ra ăn nhậu,biếtđâu có tin tức gì thêm. Vừa lên ngồi trên xe, chuẩn bị nổ máy thì có ba tên cônđồ do VC thả ra từ các trại tù, dí dao cướp chiếc xe jeep lái đi mất . tôi vào nhà mượn chiếc xe đạp.qủa đúng như tôi dự đoán, anh em tậptrung khá đông ,đa số lính phi-đạo và văn phòng,lẽ dĩ nhiên ai cũng mặc đồ thườngdân nên rất khó nhận diện, tôi có gặp Cao minh Mẫn tài xế cho phi đoàn 516 màtôi chơi thân. Rồi một người tên Thìn và một người tên là Minh người nam phi-đạoF-5,tôi không nhớ nhưng họ đến chào tôi và tự giới thiệu tên mình “xin lỗi..bâygiờ không biết phải gọi sao..?”tôi đưa đường “hai anh lớn tuổi hơn tôi mà”,sauđó chúng tôi ngồi xuống nói chuyện…ngoài đường mấy tên lính bộ đội quê mùa độinón cối, đang đi cắm những lá cờ máu.
Tôiđã khóc thật sư ̣khi nghe kể tr/úy Thành không chịu đầu hàng, anh kiếm đâu rađược áo giáp, nón sắt. tập hợp một thiểu số lính phòng thủ và phi- đạo, lậpphòng tuyến chiến đấu riêng lẽ, sau khi tận mắt chứng kiến bọnVC khát máu bắn bỏbừa bải anh em.Đa số người nam, biệt phái ra Đà-nẵng, không có người thân, ăn ởtại chổ. Họ đâu biết cong sản đã tràn ngập thành phố, nên phản ứng tự nhiên làbỏ chạy và bị bắn. có người trốn trên các ụ đậu phi cơ bị bắn rơi xuống vàThành đã hy sinh ngay tại trước sân khu trực Aler-pad…Hai mươi năm sau , khiqua được Mỷ theo diện HO, tôi rất lấy làm buồn là anh em Hồng-tiễn có vẽ hờ hửngvà hình như không ai còn nhớ được tr/úyThành, người sĩ quan kỷ thuật anh hùngmà ngày xưa thường vô phi đoàn thuyết trình về tình trạng phi cơ..
chiềuhôm đó về nhà, tôi nghe xe phóng thanh chạy rảo khắp TP đà-nẵng, hình như có tiếngnói của đại tá Báu,lâu quá tôi không nhớ nổi.kêu gọi anh em KQ đặc biệt “línhlái”vô phi trường làm việc lại sẽ được cách mạng ưu đaĩ v.v.trong số này, tôiđược biết có anh On, anh A´,Sanh v,v. sau đó đã cùng vơí Ng thành Trung dội bom TSN.Và khi trở về cũng được đưa lên núi học tập cho biết chính sách!!...riêng tôiđã tìm cách rời bỏ đà-nẵng ngay đêm đó trên một chuyến xe hàng thuê bao. Quacác trạm gác ,tôi trình thẻ căn cước dân sự và với bộ áo quần xanh trắng, bọnVC tưởng tôi sinh viên nên cho đi dễ dàng.. về đến Húê trình diện, khoảng mườingày sau thì có giấy mời tập trung cải tạo, không cần áo quần nhiều , chỉ mangtheo cây đàn ,dụng cụ thể thaov.v. học tập vui chơi cho biết chính sách, tối đaba tháng sẽ về. nhóm chúng tôi tất cả 57mạng, đa số tr/tá,th/tá. Cấp nhỏ nhấttr/u. xe đưa ra tới quãng trị rồi đi bộ,phải mất nửa ngày leo núi mơí tới nơi…nóilà ba tháng ,tôi phải nhân lên 30 lần , có người hơn 50 lần vẫn chưa thấy về . vànhiều người đã vĩnh viễn đi luôn bơỉ nhiều lý do..đúng là bọn.....
Phiếu Lê.

Tuesday, September 17, 2013

Khóa 67-74 Y Khoa Sài Gòn Tưỡng Niệm Chiến Sĩ Quốc Gia Hy Sinh







Đài tưởng niệm
các liệt sĩ Quân Lực VNCH
tại Nogent-sur-Marne Pháp Quốc

       Từ bốn năm nay, mỗi mồng 2 tháng 11 dương lịch, lễ tưởng niệm 300 000 liệt sĩ Quân đội Quốc Gia Viêt Nam và Quân Lực Viêt Nam Cộng Hoà đã hy sinh trong hai cuôc chiến Đông Dương (1951-1954) và Viêt Nam (1955-1975) đã được các cựu quân nhân và đồng bào Viêt Nam tại Pháp tổ chức trọng thể tại khu quân sự của nghiã trang thành phố Nogent-sur-Marne, phiá đông thủ đô Paris 15 phút xe hơi.

      Từ ngày Cộng sản xâm chiếm miền Nam, các nghiã trang quân đội của ta bị bỏ hoang phế hay đào sới lăng nhục.  Bỏ nước ra đi, người quân nhân nào cũng ôm cái hận là đã để lại những đồng đội đã hy sinh mà không còn được hương khói tưởng nhớ.  Phải làm lại cuộc đời từ con số không, quân số ít, lại sống tản mác chứ không đông đúc tụ lại như bên Mỹ hay bên Úc, điều kiện để xây một đài tưởng niệm tại Pháp không phải dễ dàng.  Cái mộng này ấp ủ năm này qua năm khác, cho đên ngày Quân Lực 2001, vài người mới hô hào thể nào cũng phải làm một cái gì cho các anh hùng liệt sĩ của chúng ta bị lãng quên quá lâu rồi !
      Làm gì và làm ở đâu đây?  Bên Mỹ hay bên Úc, người thì đông, tiền thì nhiều mà đất thì có thừa. Tại Pháp, bắt đầu từ năm 2001, một nhóm cụu quân nhân không quá 4-5 người đã quyết định thực hiện một đài tử sĩ, mặc dù trở ngại không it.  Paris đất chật người đông, một thươc đất la một thước vàng,.  Cộng đồng Viêt Nam thì ít người,rời rạc và phân tán.. Qua nhiều thử thách, mà vấn đề ngoại giao là chính, nhóm này đã được thành phố Nogent-sur-Marne, cho xử dụng khu nghiã trang quân sự để xây bia tưởng niệm.  Tại khu này, có chôn nhiều hài cốt lính Viêt Nam của quân đội Pháp chết hồi Đệ nhất và Đệ nhị Thế chiến.  Vì là nghiã trang của chính phủ nên có người canh gác, không sợ bị phá phách.
      Lễ tưởng niệm đầu tiên đã được cử hành trọng thể ngày 2 tháng 11 năm 2002, ngày mà nước Pháp cũng làm lễ truy điêu tất cả những quân cán chính hy sinh vì Tổ quốc.  Chính quyền sở tại, các phái đoàn cựu quân nhân Pháp cùng các cựu quân nhân Viêt Nam, đồng bào thân hữu, đã bồi hồi tưởng nhớ 300 000 liệt sĩ vị quốc vong thân.  Quốc thiều Viêt Nam đã được cử hành trước quốc thiều Pháp.  Kèn chiêu hồn tử sĩ do một người lính Phap thổi dưới trời mưa không ngớt, như trời đất khóc thương những anh hùng đã bị bỏ quên trong bấy nhiêu lâu.  Quả thật, hôm đó ai cũng cảm thấy sự linh thiêng của buổi lễ (ngày hôm trước trời tạnh ráo, ngày hôm sau trời đẹp lại, chỉ có ngày 2 tháng 11, 2002 là trời mưa, một cơn mưa đều hạt trong suốt buỏi lễ, như những giọt lệ của cả một dân tộc, lần đầu tiên sau 1975, nhớ lai những đưá con đã năm xuống).  Từ ngày đó, cờ Viêt Nam Công Hoà quanh năm tung bay trên mảnh đất này, và mỗi năm vào ngày 2 thang 11, quốc thiều hai nuớc lại được trổi lên, vòng hoa được mang tới, hương khói lại tỏa lên cùng những lời cầu khấn để những người con yêu của Tổ quốc không còn bao giờ bị bỏ quên (cổ nhân có câu : một người có thể chết đến hai lần, lần đầu khi nằm xuống, và lần thứ hai khi không còn ai nhắc đến mình nữa)
Bác sĩ Hoàng Cơ Lân
Trung Tâm Trưởng Trung tâm Điêu Hơp
Chiến sĩ VNCH tại Âu Châu

ĐÀ NẴNG NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG


Lam Hà

LTS: Lam Hà là bút hiệu của cựu Đại Uý, cựu Học Sinh TH Phan Chu Trinh Đà Nẵng, Sĩ Quan Tuỳ Viên cho Trung Tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lệnh QĐ1/QK 1 /VNCH. Bài dưới đây trích từ Nhật Ký của một Tuỳ Viên Tưởng Ngô Quang Truởng.

Hôm nay, ngày 23 tháng 10, năm 2010, tôi đi dự lễ tiễn đưa Đại Tá Đặng văn Phước về nơi an nghỉ cuối cùng. Ông là Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 51, và chính ông là người đã nhận tín hiệu cuả tôi qua cái đèn bấm và cái Samsonite, ông đã can đảm đáp xuống cột cờ BTL/HQVI Duyên Hải để cứu Trung tướng Ngô Quang Trưởng Tư Lịnh Quân Đoàn I và tôi, ra khỏi vùng nguy hiểm vào khoảng 2 giờ sáng ngày 29 tháng 3 năm 1975.
Sau đó chúng tôi ghé núi Sơn Chà bốc Chuẩn Tướng Khánh, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 Không Quân, rồi trực chỉ phi trường Non Nước để nhập cùng anh em Thủy Quân Lục chiến Việt Nam.
Tôi muốn giữ im lặng sau cuộc chiến, như bao nhiêu chiến binh chuyên nghiệp khác. Nhưng tôi không thể nào quên được bài báo của Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng đã đăng trong tuần báo Viet Tide cuả ông Vũ quang Ninh (chủ nhiệm) và cô Mai Khanh (chủ bút).
Là người học sử, hay viết sử, phải tôn trọng “sử xanh”, và là những người có phương tiện truyền thông để dẫn dắt dư luận quần chúng, xin diễn đạt vô tư, chính xác, và nhất là để cho các thế hệ con cháu biết sự thật là tại sao thế hệ cha ông phải chiến đấu và đã chiến đấu như thế nào.

Bài báo đã đăng ở trang 71 (Viet Tide số 421)
Lá thư tôi hỏi và trang báo xin đăng đã bị phớt lờ. 
Chúng tôi, những người đã tận tình phục vụ quê hương xứ sở, quên cả thân mình, cha mẹ, vợ con cùng thân bằng quyến thuộc, đã làm hết khả năng và bổn phận của người quân nhân trong cuộc chiến, rất buồn lòng khi bị đánh giá sai sự thật. 

Hôm nay, giờ này, khi tôi đang viết những dòng chữ nầy thì có nhiều người đã ra đi, có nhiều người ở lại quê nhà, và cũng có nhiều người đang chịu trăm cay nghìn đắng trong khắp bốn phương trời ở xứ người.
Trong lúc đó những ngưòi bạn cũ cũng như quân thù đã tìm cách bôi nhọ, hay đổ tội cho QLVNCH , để nhằm mục đích tự tôn vinh hay che dấu mặc cảm phản bội đồng minh.
Ba câu hỏi của tôi không được trả lời thì bây giờ tôi cũng xin được nói lên để mọi người cùng biết:
1. Khi Đà Nẵng đang cơn hấp hối, tôi đã theo sát Tư Lệnh Quân Đoàn I cho đến ngày ra khỏi nước.
2. Tương quan lực lượng đôi bên.
2a. Lực lượng quân đội Cộng Sản: 
Những lực lượng Tiền Phương Cộng Sản đang bao vây Đà Nẵng gồm :
- Các Sư đoàn 324B, Sư Đoàn 325,
- Một Trung đoàn chiến xa,
- Hai Trung Đoàn Pháo làm nỗ lực chính. 
Tất cả theo Elephant Valley tấn công phía Bắc Đà Nẵng. 
-Một nỗ lực thứ hai là Sư Đoàn 711 cùng Mặt trận 44 tiến chiếm khu Kỹ Nghệ An Hòa (quận Đức Dục) và quận Đại Lộc rồi tiến về phía Nam Đà Nẵng.
Thành phố coi như nằm giữa hai gọng kềm của địch. 
Tôi nhớ một phái đoàn dân chính gồm có các đại diện dân cử, đảng phái và thân hào nhân sĩ khoảng 10 người, trong số nầy tôi biết dân biểu Phước (cựu HS Phan Chu Trinh và chúng tôi thường gọi là Phước Lít), Giáo sư Trần ngọc Quế( giáo sư trường Phan chu Trinh và là một thành viên cuả một đoàn thể chính trị), họ đến để yêu cầu Tư Lệnh Quân Đoàn có biện pháp quân sự để Đà Nẵng không nằm chịu trận địa pháo như lòng chảo Điện Biên Phủ. 
Những đơn vị địch ở phía bắc đèo Hải Vân như 
- Các Sư Đoàn 304, SĐ 308, SĐ 320 B và SĐ 312 đang ở đâu? Có phải chúng đang ở sau lưng những nổ lưc chính không?
Đó là chưa kể những đơn vị địch ở Quân Khu II dồn lên vì QĐ II đã mất trước rồi.

2b. Lực lượng phía QĐVNCH gồm có:
- Sư Đoàn 3/BB, Sư Đoàn /TQLC trừ (vì Lữ Đoàn 147 xem như đã xoá sổ ở phía bắc đèo Hải Vân). 
- Không Quân thì tất cả máy bay phải xuôi nam theo lệnh Bộ Tổng Tham Mưu.
- Pháo binh còn vài khẩu. 
- Hải Quân chỉ có khả năng vận chuyển hạn chế.
- Sư Đoàn Dù thì đã hoàn toàn rút về Nam. 
Quân thất trận đi tìm gia đình, dân lánh nạn từ phía Bắc và phiá Nam đổ về Đà Nẵng, khoảng 1.5 triệu người. Bình thường Đà Nẵng chỉ có khoảng 300,000 dân. Người đi đứng chật đường không thể chen chân được; dĩ nhiên trong số hổn loạn nầy có cả đặc công cùng tiền sát viên pháo binh Cộng Sản..
Đến đây thì Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng cùng quí độc giả đã thấy được quân số tham chiến đôi bên.
Sơ lược những biến cố cuối cùng tại Huế và Đà Nẵng: 
- Đêm 25 tháng 3, 1975 Trung Tướng Ngô Quang Trưởng ra lệnh các lực lượng ở Huế rút về ĐN.
- Ngày 26 tháng 3 Trung Tướng Trưởng và tôi bay trực thăng dọc theo bờ biển và tôi thấy tận mắt quân dân bồng bế, gánh gồng dẫn dắt nhau di chuyển về phía Nam. Đi đầu là ĐPQ/NQ tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Kế đến là SĐ 1 rồi đến TQLC. Dân chúng thì chạy lẫn lộn trong đoàn quân và phiá sau. Đa số trong số họ là gia đình quân nhân. Trông thảm thương như cảnh Lưu Bị dắt dân Tân Dã chạy về Diễn Châu trong chuyện Tam Quốc Chí. 
Trung Tướng Trưởng muốn tôi lên tầng số để Trung Tướng nói chuyện với Đại Tá Lương, Lữ Đoàn Truởng LĐ 147. Về sau tôi được biết qua Trung Tâm hành Quân QĐI là đoàn người đến cửa Tư Hiền thì tan tác vì không qua được cửa Tư Hiền. Hải Quân và Công Binh nhận lãnh công tác đánh đắm một chiếc tàu Hải Quân làm cầu nổi như dự định trong buổi họp trước đó tại BTL/QĐI, nhưng họ đã không thực hiện được 
Thêm nữa đoàn người bị VC tác xạ và mạnh ai nấy chạy. Bộ Binh và ĐPQ/NQ về đến Đà Nẵng được khoảng 1/3; Nhưng số nầy tan hàng trong hổn loạn để lo đi tìm gia đình nên không còn kiểm soát được.
Sư Đoàn 1 coi như bị xoá sổ cùng với ĐPQ/NQ ở phía Bắc đèo Hải Vân.
Trong ngày 26 tháng 3, 1975 Lữ Đoàn 147 TQLC không bốc được nên Lữ Đoàn đã chiến đấu đến khi hết đạn. Một số tự tử và một số bị địch bắt.
Ngày 26 tháng 3, 1975 Huế xem như đã mất.
Tình hình phía Nam đèo Hải Vân cũng bi đát chẳng kém gì Huế. 
Ngày 10 tháng 3 thì hai quận Hậu Đức và Tiên Phước bị tràn ngập bởi Trung Đoàn 52 và Sư Đoàn 711 của VC.
Ngày 24 tháng 3 Tiểu Khu Quảng Tín rút chạy về Đà Nẵng, và cũng ngày nầy Tiểu khu Quảng Ngãi rút về Chu Lai. 
Ngày 26 tháng 3 Sư Đoàn 2 rút ra Cú Lao Ré. Thành phố Đà Nẵng lên cơn sốt hổn loạn. Cướp bóc đã xảy ra tại kho gạo gần thương cảng.
Sáng ngày 28 tháng 3 Tư Lệnh Quân Đoàn cho triệu tập các cấp chỉ huy để tìm biện pháp vãn hồi trật tự và tái trang bị cho những đơn vị có mặt trong thành phố. Nhưng kế hoạch không thi hành được vì không đủ quân số tác chiến, và hầu như một số lớn sĩ quan đã bỏ phòng sở để đi lo chuyện gia đình. Tôi thấy chỉ có văn phòng Tư Lệnh còn làm việc còn tất cả phòng ban trong bộ tư lệnh hầu như ngừng lại hết. 
Vào khoảng 2 chiều ngày ngày 28 tháng 3 Tiểu khu Quảng Nam xem như mất liên lạc. Trung Tướng Trưởng và Tôi chỉ bay đến chi khu Hoà Vang rồi phải trở lại BTL/QĐ. Chi Khu Hòa Vang ở sát phi trường Đà Nẵng. Như vậy QĐI chỉ còn lại Thành Phố Đà Nẵng và Phi Trường chưa bị VC chiếm mà thôi.
Lực lượng đáng kể để phòng thủ Đà Nẵng chỉ còn Sư Đoàn 3 và 3 Lữ Đoàn TQLC mà thôi
Trong suốt những tháng ngày ở Mỹ, Trung Tướng Trưởng vẫn thường gặp và đặt giả thuyết với các cấp chỉ huy thuộc quyền rằng nếu khi ấy chúng ta tử thủ Đà Nẵng thì chúng ta có giữ được không? Và việc gì sẽ xãy ra.? 
Bây giờ tôi xin chuyển câu hỏi nầy lại cho quí độc giả.

Đến đây tôi cũng xin nhắc đến Sư Đoàn 3. 
Sư Đoàn được thành lập với chủ lực là Trung Đoàn 2 cuả SĐ1 BB cùng với quân nhân đủ mọi thành phần: quân nhân văn phòng, quân phạm, hay bị trù dập và bị tống ra Sư Đoàn 3, và Sư Đoàn nầy ra trấn ải địa đầu giời tuyến. Sư Đoàn bị mang tiếng “chạy làng” khi VC ồ ạt tràn quavùng giới tuyến phi quân sự, để tấn công quân ta . Ai giỏi hơn ai để không “chạy làng”? 
Khi lực lượng Đồng Minh chưa rút đi, thì lực lượng cuả họ gồm 
- Sư Đoàn 3/ TQLC/ Hoa Kỳ 
- Thêm Trung Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ tăng phái. 
- Sư Đoàn 101 Nhảy Dù/ HK, 
- Lữ Đoàn 5 Cơ Giới.
Một tiểu đoàn cuả họ vừa tăng phái lẫn cơ hữu vào khoản 1,500 quân nhân – bằng quân số một trung đoàn chiến đấu của ta. 

Hoả lực cuả một Sư Đoàn / Hoa Kỳ chấp cả Hoả lực cuả QĐVNCH không địch nổi. Họ có hỏa lực cuả Không, Hải, Lục yểm trợ tối đa. Mất một sư đoàn là rung chuyển cả nước Mỹ. Một sư đoàn chiến đấu nhưng cả 250 triệu người yểm trợ cả phương tiện lẫn tinh thần. Ngày tôi theo Tiểu Đoàn 3/1 TQLC /Hoa Kỳ hành quân ở vùng Quảng Nam thì một hồi chánh viên nói cho biết rằng các đơn vị VC rất sợ đụng trận với Mỹ. Tôi hỏi lại anh ta: vậy chúng tôi, QLVNCH, đánh giặc dở hơn Mỹ phải vậy không thì anh ta trả lời rằng không phải vậy - Chúng tôi ít sợ các anh vì các anh bắn ít hơn nhiều, còn Mỹ thì họ bắn như mưa. Anh xem các cây trong làng, có cây nào không đầy vết đạn chằng chịt. Thế nhưng ngày tôi theo Tiểu Đoàn 2/1 TQLC / Hoa Kỳ, tăng phái cho Sư Đoàn 3 / TQLC / Hoa Kỳ, tại phía nam Cồn Thiên vẫn phải chịu trận pháo kích 61 và 82 ly cuả quân chính qui cộng sản mấy tháng trời. 

Đám quân sinh Bắc tử Nam còn dám tấn công các đơn vị Mỹ ở vùng phi quân sự như ở Cồn Thiên, Khe Sanh huống gì một Sư Đoàn tân lập như Sư Đoàn 3?
Những ngày cuối cùng cuả Đà Nẵng nếu không có Sư Đoàn 3, thì Sư Đòan / TQLC / VN không rút xuống tàu được. Sư Đoàn 3 đã bị hi sinh ngăn chận địch và không có kế hoạch bốc Sư Đoàn 3.
Tổng Thống Thiệu đã đặt câu hỏi cho Trung Tướng Trưởng là nếu rút, thì rút được bao nhiêu quân? . Ưu tiên vẫn là rút Sư Đoàn Dù, Sư Đoàn /TQLC để có lực lượng làm hơi thở cuối cùng cuả VNCH.
Lữ Đoàn I Dù còn lại sau cùng chỉ được dùng để ứng chiến nhằm nâng cao tinh thần quân dân mà không được phép xử dụng tác chiến. Sư Đoàn / TQLC cũng vậy; phải làm sao rút được về Sài Gòn. 
Khi Tư Lệnh Sư Đoàn 3 về họp lần cuối cùng đêm 28 tháng 3 tại BTL / Hải Quân/ VIDH thì chỉ được biết bất ngờ là phải rút về vùng Horse Shoe gần sông Thu Bồn mà không thấy nói di tản Sư Đoàn 3.
Phương tiện và tình thế chỉ có thể lo cho 2 Sư Đoàn tổng trừ bị mà thôi. Đến đây tôi xin trả lời nghi vấn cuả Đại Tá Phạm Bá Hoa trong “Đôi Dòng Ghi Nhớ” rằng không có quan Xịa nào khuyên đừng đánh cả. Phiá Việt cũng như Mỹ và kể cả Trung Tướng Trưởng chỉ muốn bảo toàn lực lượng để lo chuyện khác về sau, và khả năng chỉ có thể lo cho hai Sư Đoàn Tổng Trừ Bị mà thôi. Sư Đoàn 3 đã bị làm con chốt thí.
Trong quân sử chiến tranh Cao Ly: khi chí nguyện quân Cộng Sản Trung Hoa ồ ạt tấn công thì quân Mỹ và Nam Hàn phải rút về phiá Nam. Sư Đoàn 1/ TQLC/ Hoa Kỳ phải làm nút chận cho quân bạn rút lui . Sư Đoàn nầy đã chiến đấu oanh liệt; nhưng họ phải trả một giá quá đắt: hơn 800 Sĩ Quan và nhiều ngàn binh sĩ hi sinh sau khi họ tự giải cứu và rút sau cùng. 
Sư Đoàn 3 cuả chúng ta không làm được như vậy, không có quân bạn gíúp đở, để dựa lưng, trưóc mặt là địch, sau lưng là bạn. Sư Đoàn đã phải tứ bề thọ địch. 
Hơn nữa chính phủ và nhân dân cuả Sư Đoàn 1 / TQLC / Hoa Kỳ không bỏ rơi họ, trong khi các bạn (Sư Đoàn 3) hoàn toàn bị bỏ rơi. Các bạn ( Sư Đoàn 3) đã chiến đấu oanh liệt trong một hoàn cảnh nghiệt ngã. Xin đứng nghiêm kính chào các chiến hữu Sư Đoàn 3 đã nằm xuồng, hoặc đang quằn quoại đau thương tại quê hương Quảng Đà.

Giờ phút cuối cùng tại Đà Nẵng: 
"GIỜ NÀY DCT/72 LÙNG BÙNG TRÁNH PHÁO VC TRONG CẦU TẦU CỦA BẾN CẢNG TIÊN SHA"sáng sớm ngày 29 thang3/75"

Sáng sớm ngày 29 tháng 3, năm 1975 chúng tôi tiến ra bờ biển để lội lên tàu. Ngoài TQLC ra, tôi đếm BB có khoảng 13 người: Tr/T Trưởng, Tôi , Đại Tá Duệ (Tỉnh trưởng Thưà Thiên), Đại Tá Kỳ (Tỉnh Trưởng Quảng Trị), Trung Tá Tuân (Phòng 3 QĐI) và mấy người nữa tôi không nhớ tên. 

Tôi đi lòng vòng để tìm một cái phao cho TR/T Trưởng nhưng không tìm được. Các phi cơ trực thăng và Chinooks đang tiếp nhiên liệu bằng cái mũ sắt. Họ phá hai chiềc để lấy nhiên liệu đổ vào một chiếc. Đi đến đâu thì những người trên phi cơ cũng đều chĩa súng vào tôi. 
Tôi gặp thiếu tá Hiếu, người trước đây từng lái trực thăng cho Tr/T Trưởng, và ông la to,
” Đừng bắn nó, nó là bạn tao,” 
Ông hỏi: “ Mầy có đi thì lên đi với tao.”
“Không,” tôi trả lời”
Thiếu tá có cái phao nào cho tôi một cái cho Tr/T Trưởng.” 
“ không, tao không có.
Mầy có đi không?” Ông lại hỏi
” Không, tôi còn phải lo cho Tr/T Trưởng ” tôi trả lời. 
Ông chúc tôi may măn và tôi cũng chúc lại ông may mắn. 
Tôi trở lại tìm TR/T Trưởng thì thấy Thiếu Tá Phương (TQLC) đã nhường cái phao mang cho Tr/T Trưởng mặc dù Th/T Phương không biết lội. Đại Tá Trí kẹp Tr/T trưởng một bên, một bên thì Th/T Phương kẹp. Tôi vớ một khúc gỗ cuả một cái bunker cũ để làm cái phao. Một tay tôi nắm thắt lưng TR/T Trưởng để đẩy ông, một tay ôm khúc gỗ và cả ba chúng tôi dìu ông lội ra tàu.
Biển động, sóng lớn, không có cầu tàu. Nhiều lúc sóng phủ tôi bị chìm lĩm. Chúng tôi lội đến vừa lút đầu thì lên được tàu. 
Sau khi lên đến nơi thì TR/T Truởng mê sảng và tôi cũng ngất đi một khoảng thời gian dài vì một phần đói, một phần uống nhiều nước mặn khi sóng phủ, một phần vì quá mệt. 
Theo Trung Uý Bình, Hạm Phó LST 404, thì Tr/T Trưởng đã nói trong lúc mê sảng:
”Bây giờ Tổng Thống biểu tôi phải làm gì?”
“Làm như vậy thì làm sao tôi nói với các Tướng dưới quyền tôi được.”
Khi tàu đang lênh đênh ngoài khơi Đà Nẵng thì chúng tôi nhận được lệnh Tổng Thống Thiệu phải tái chiếm ĐN.
“Bây giờ tôi đi với ai và lấy gì để tái chiếm.” 
Tr/T Trưởng nói một mình và ông ra lịnh cho HạmTrưởng đưa ông và TQLC xuôi Nam. 
Trên đường xuôi Nam, tôi và Chuẩn Tướng Khánh , mỗi bữa hai người chia nhau nửa muỗng cơm và nữa muỗng nước của anh em hải quân nhịn miệng để dành cho. Chúng tôi không có thực phẩm và nước uống. Theo anh em HQ cho biết tàu vừa xong công tác và trên đường về bến thì nhận được lệnh quay trở ra Đà Nẵng vận chuyển QĐ I nên không có tái tiếp tế
Về đến Saì Gòn thì Tr/T Trưởng đã kiệt lực nên được đưa vào Tổng Y Viện Cộng Hoà. Vài ngày sau ông tỉnh táo lại và đã khóc khi tôi đứng bên giường bệnh cuả ông, và ông đã than thở rằng: “Nhờ trời giúp tôi với Hòa mới vào được tới đây.”

Còn nhiều chi tiết nhưng bài báo giới hạn. Một ngày nào thuân tiện tôi sẽ viết nhiều hơn. Trước khi tạm chấm dứt bài nầy tôi xin thưa rằng trong sách “Tâm Tư Tổng Thống Thiệu” cuả Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng vừa mới phát hành có đề cập đến Sư Đoàn 1 tự động tan hàng ở Huế là không đúng. Đối với Tr/T Trưởng một đôi khi một đaị đội BB do một Thiếu Úy chỉ huy đang chạm địch ông cũng đáp xuống xem xét và tôi đã toát mồ hôi hột vì sợ không bảo vệ được ông. Chuyện một đại đơn vị cấp Sư Đoàn tự động giải tán mà Tr/Tướng Trưởng không biết, thì không thể nào có thể xảy ra được. Chuyện lệnh lạc tiền hậu bất nhất cuả Tổng Thống Thiệu thì có và đúng “solid 100%”. Tôi còn vài tài liệu để chứng minh điều này.

Ngày tháng qua đi, qua đi…Mọi sự rồi cũng chẳng còn gì cả. Tổng Thống Thiệu đã ra đi, Đại Tướng Viên đã ra đi, vị tướng tài ba và đức độ Tr/T Ngô Quang Trưởng ngày nào của lòng tôi kính mến cũng đã ra người thiên cổ. Các niên trưởng cuả tôi như Chuẩn Tướng Khánh, Đ/T Duệ, Đ/T Phước cũng đã ra đi, và rồi chúng tôi cũng sẽ mờ dần theo năm tháng…Nếu có còn chăng là đôi dòng lịch sử vây xin tôn trọng “sử xanh” và đừng bẻ cong ngòi bút vì bất cứ lý do nào.
Biết thì nói rằng biết, không biết thì nói rằng không biết.” Nếu dẫn chứng cho lập luận cuả mình thì xin nêu rõ xuất xứ (foot notes). Xin đừng nói rằng nghe người nầy, người kia nói, là vô căn cớ.
Tiến Sĩ Lê Mạnh Hùng và Tiến Sĩ Nguyễn Tiến Hưng đã làm buồn lòng những người đã ra đi và những kẻ còn ở lại. Chúng tôi đã từ bỏ tất cả kể cả gia đình thân yêu để làm hết sức mình cho tổ quốc, cho quân đội và cho lý tưởng.
Quân đội nào cũng có một vài cấp chỉ huy hèn mọn, khi địch chưa đến đã bỏ chạy. Quân Đoàn I cũng không ra ngoài cái thông lệ tầm thường đó; nhưng không phải tất cả cấp chỉ huy đều hèn nhát bỏ chạy về đến Sài Gòn trong lúc còn 100,000 quân còn ở lại chiến đấu tại Đà Nẵng.
Tôi là một cá nhân nhỏ bé tầm thường nhưng may mắn còn sống sót sau biến cố 1975. Ở một góc độ nhỏ bé nào đó tôi đã thấy, đã nghe và đã chịu đựng những điều đã xảy ra vì vậy tôi phải nói cho những người không còn nói được nữa, hay họ không bao giờ muốn nói.

Hà Lam
California, đầu thu 2010
Lam Hà
1791 Deere Ave
Irvine, Ca 92608

Kính gởi:

Ông Vũ Quang Ninh, Chủ Nhiệm Tuần Báo VIỆT TIDE
Cô Mai Khanh, Chủ Bút Tuần Báo VIỆT TIDE

Kính thưa ông chủ nhiệm và cô chủ bút nhân đọc mục Tản Mạn Lịch Sử (scaned dưới đây) tôi nhận thấy không đúng với sự kiện lịch sử vì tôi là một cựu quân nhân QLVNCH có tham dự cuộc triệt thoái bi tráng nấy. Để trả lại sự thật cho lịch sử xin ông và cô cho đăng lá thư nầy lên quí tuần báo. 
Xin trân trọng cám ơn ông và cô
Kính thưa ông Lê Mạnh Hùng:

Khi đọc bài báo bên cạnh tôi xin hỏi ông:
1. Khi Đà Nẵng đang cơn hấp hối thì ông đang ở đâu?
2. Làm sao ông biết được quân số chiến đấu cuả hai bên?
3. Nếu như ông dựa vào tài liệu để viết xin ông vui long cho biết xuất xứ (foot notes) để tác giả chịu trách nhiệm trước lịch sử

Tôi chờ đợi ông trả lời trên VIỆT TIDE hoặc công báo để mọi người cùng sáng tỏ

Figure 1: Email tôi gởi cho tuần báo Viet Tide