Thursday, February 11, 2021

Trận Khe Sanh 1968

Trận Khe Sanh 1968 - phần 1

Hành Quân Lam Sơn 207A (Pegasus ) từ 1/4 đến 12/4/1968

Căn cứ Khe Sanh một tiền đồn đèo heo hút gió ở vùng cực Bắc của Việt Nam Cộng Hòa, tọa lạc trên một trảng cao của ngọn núi cao nhất vùng Đông Trị trong dảy Trường Sơn, cạnh sông Rào Quan, một chi nhánh của Sông Quảng Trị, bao quanh bởi núi đồi và cây rừng trùng điệp. Phía Bắc và Tây Bắc có 4 ngọn đồi án ngữ là 881 Bắc, 861, 558 và 881 Nam. Các ngọn đồi này được dùng như là các tiền đồn để bảo vệ căn cứ cũng như quan sát để xác định các vị trí pháo và phòng không của địch.

Khe Sanh chỉ cách biên giới Lào-Việt chừng 6 miles (10 km) trên con đường số 9 chạy theo hướng Đông-Tây nối liền Đông Hà thuộc tỉnh Quảng Trị, ngang qua Cam Lộ, Cà Lu, xuyên qua biên giới Lào-Việt tới tận Savannakhet bên Lào. Căn cứ Khe Sanh cách vùng Phi Quân Sự 14 miles (23 km) về phía Nam.


Bản đồ vùng Khe Sanh của Trần Đổ Cẩm

Trận Khe Sanh 1968 - phần 2

Khi xưa, vì thuộc địa Lào nằm trong đất liền nên người Pháp xây dựng đường số 9 để thông thương ra vùng bờ biển Việt Nam. Trong cuộc chiến Việt Nam, đường số 9 là trục lộ chiến lược quan trọng được Cộng quân xử dụng để xâm nhập người và vũ khí từ bên Lào vào các tỉnh cực bắc Việt Nam Cộng Hòa.

Về phương diện hành chánh, Khe Sanh thuộc quận Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị với quận đường đặt gần làng Khe Sanh. Về mặt quân sự, Chi Khu Hướng Hóa do một Đại Úy chỉ huy, gồm chừng một đại đội Địa Phương Quân (ÐPQ) và Nghĩa Quân (NQ) cùng một số cảnh sát. Thông thường có thêm một Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 2, Sư Đoàn 1 Bộ Binh tăng phái hoạt động trong vùng cùng một Pháo Đội 105 ly với 2 khẩu đặt tại sân bay Khe Sanh và 2 khẩu đặt tại Làng Vei.

Sau này, vì tình hình an ninh không đuợc khả quan nên Quận Hướng Hóa được di chuyển về vùng Cùa gần căn cứ Mai Lộc.

Về dân cư, vì là vùng đồi núi hoang dã, khí hậu khắc nghiệt nên chỉ có chừng trên ngàn người Việt cư ngụ, đa số là thân nhân và gia đình nhân viên, binh sĩ phục vụ tại chi khu Hướng Hóa. Sắc tộc thiểu số Bru đông hơn, tổng cộng chừng 50,000 người sống rải rác trên các đồi, núí dọc biên giới Lào, nhưng qui tụ khá đông đảo tại hai làng Khe Sanh và Làng Vei dọc đường số 9. Cũng như những sắc dân thiểu số khác như Rhadê, Hrê v.v... tại miền Trung và Bắc Việt Nam, giống Bru thuộc chủng loại Mã Lai- Polynesia nên đen đúa và khá lực lưỡng.

Tuy đường số 9 chỉ là một trục giao thông nhỏ, coi như bị bỏ hoang từ lâu, nhưng khu vực này lại là một chiến trường quan trọng, nơi xảy ra nhiều trận đánh lớn. Lý do vì con đường này dẫn sang Lào, giao tiếp với đường mòn HCM, lại nằm trong vùng đồi nuí hiểm trở nên rất thuận tiện cho quân Bắc Việt đưa người và vũ khí xâm nhập các tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên. Để ngăn chận đối phương, người Mỹ đã lập hàng rào điện tử McNamara theo hình vòng cung dọc theo mặt Bắc đường số 9, hướng Đông kéo dài từ Cửa Việt tới Khe Sanh gần biên giới Lào.

Như vậy, Khe Sanh là điểm cực Tây của hàng rào Mc Namara nằm trong phần đất Việt Nam, giữ nhiệm vụ thu thập tin tức tình báo kỹ thuật và chiến lược của quân lực Mỹ nhắm vào các hoạt động di chuyển, xâm nhập của các đại đoàn chính quy CSBV cơ động sát vùng Bắc Vĩ Tuyến 17 và phía Tây biên giới Việt Lào cũng như trên lãnh thổ Lào. Thủy quân lục chiến Mỹ có 3 Tiểu đoàn thuộc Trung Đoàn 26 đóng quân trong căn cứ Khe Sanh . Đó là các Tiểu Đoàn 1, 2, 3 và Tiểu Đoàn 13 Cơ giới cùng một đơn vị Tình Báo chiến lược.


Trận Khe Sanh 1968 - phần 3

Năm 1968 Khe Sanh trở thành một địa danh nổi tiếng được nhắc nhở đến nhiều nhất. Đó là thời điểm của Trận Chiến Tết Mậu Thân khi Việt Cộng khởi đầu chiến dịch tổng tấn công trên toàn lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòạ. Trong chiến dịch này, 20,000 bộ đội Bắc Việt đã được huy động để bao vây 6,000 Thủy Quân Lục Chiến HK cùng Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân VNCH. Nhưng Khe Sanh đã chẳng thất thủ.

Trận chiến kéo dài 77 ngày và Cộng quân hứng chịu hơn 10,000 tổn thất. Ngày 19/1/1968 Một đơn vị TQLC Mỹ tảo thanh vùng đồi 881 Bắc đã đụng độ dữ dội với cộng quân. Chiều ngày hôm sau một Trung Úy CSBV tên Lã Thanh Tòng, Đại đội trưởng pháo đội 14 phòng không thuộc trung đoàn 95/SĐ325 về đầu thú, và tiết lộ kế hoạch tấn công căn cứ Khe Sanh. Trung Úy Tòng cho biết đêm nay Bắc quân sẽ mở cuộc tấn công lên các ngọn Đồi 861 và 881-Bắc. Ngoài ra, người tù binh cũng tiết lộ rằng hai sư đoàn 304 và 325C của Bắc Việt đã vạch sẵn kế hoạch đánh chiếm căn cứ Khe Sanh.

Ngày 20/1/1968 đúng như lời tiết lộ của Trung Úy Tòng, nửa đêm hôm đó sau nửa giờ pháo kích, lực lượng CSBV khoảng 300 cán binh xung phong lên đồị tấn công vào căn cứ. Nhưng lực lượng trú phòng Đại Đội K/3/26 đã chuẩn bị sẵn sàng tác chiến phản công. Trận đánh kéo dài đến 5 giờ 30 sáng, Cộng quân rút lui để lại 47 xác. Phía bên Đại Đội K/3/26 có một binh sỉ TQLC bị tử thương.

Sáng ngày 21/1/1968, căn cứ bị pháo dữ dội hằng ngàn quả đạn, kho bom dự trử bị nổ tung, nhiều phi cơ trực thăng bị hư hại, phi đạo ở Khe Sanh với chiều dài 3,900 feet (1,188 m) bị cày xới lung tung, rút ngắn lại chỉ còn 2,000 feet (609 m) đài kiểm lưu bất khiển dụng, nhiều dụng cụ quan trắc khí tượng bị hư hỏng...Tình hình trở nên vô cùng nghiêm trọng.

Ngày 22 tháng 1/1968, trước tình hình nguy ngập. Tiểu Đoàn 1/9 TQLC Hoa Kỳ được trực thăng vận đến tăng viện cho Khe Sanh. Đây là một đơn vị thuộc Trung Đoàn 9 đã nổi danh trong trận đánh tại Côn Thiện (Cồn Tiên) gần vùng phi quân sự vào năm 1967 vừa qua

Ngày 25/1/1968 Thiếu Tướng J.J.Tolson, Tư lệnh Sư Đoàn 1 KBKV, bắt đầu soạn thảo kế hoạch chuẩn bị một cuộc hành quân để giải tỏa căn cứ Khe Sanh.

Ngày 27/1/1968 Tiểu Đoàn 37BĐQ-VNCH, được không vận đến để tăng viện thành 5 Tiểu đoàn họp thành lực lượng phòng thủ căn cứ. TĐT/TĐ37BĐQ là Đại Úy Hoàng Phổ. Như vậy, ngoài 6,000 TQLC Hoa Kỳ và một Tiểu Đoàn thiện chiến Biệt Động Quân Việt Nam, Khe Sanh lại được phòng thủ bởi hỏa lực pháo binh gồm một pháo đội súng cối 106 ly, 3 pháo đội đại bác 105 ly, và một pháo đội đại bác 155 lỵ. Về thiết giáp, Khe Sanh có 5 xe tăng loại M-48 và 2 chi đội chiến xa M-50 Ontos với 6 khẩu đại bác 106 ly trên mỗi chiếc. Về hỏa lực yểm trợ quanh vùng, Khe Sanh nằm trong tầm tác xạ hỏa yểm của 4 pháo đội đại bác 175 ly từ căn cứ Rock Pile và 3 pháo đội 175 ly từ căn cứ Carroll.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 4

Trong khi đó tin tức tình báo ghi nhận lực lượng Cộng Sản cũng hùng hậu không kém hiện diện chung quanh Khe Sanh. Có ít nhất 3 sư đoàn và thêm một số đơn vị biệt lập hỗ trợ khác. Các đơn vị Cộng Sản được ghi nhận như sau:

- SĐ325 CSBV đang hiện diện quanh quẩn tại phía Bắc đồi 881 Bắc.
- SĐ304 từ Lào cũng đã xâm nhập vào VN và hiện đang có mặt tại phía Tây-Nam của Khe Sanh.
- Một Trung Đoàn của SĐ324CSBV cũng được phát giác tại khu phi quân sự cách Khe Sanh chừng 24 km về hướng Tây Bắc.
- SĐ320CSBV đang ở phía Bắc căn cứ hỏa lực Rock Pile, cũng có thể tiếp ứng cho mặt trận Khe Sanh.
- Ngoài ra, Cộng Sản còn huy động thêm một đơn vị Thiết Giáp với chiến xa T-54 cùng hai Trung đoàn 68 và 164 Pháo Binh.

Theo ước tính của các cơ quan tình báo liên quân Việt-Mỹ, quân số tham chiến của Cộng quân tại chiến trường Khe Sanh vào lúc đó đã lên đến khoảng 50 ngàn quân, trong đó 4/5 là lực lượng chính quy CSBV.


Bản đồ khu giới tuyến và QL 9 của Trần Đổ Cẩm

Ngày 30 tháng 1 Cộng Sản mở chiến dịch "Tổng Công Kích - Tổng Khởi Nghĩa" trên toàn lãnh thổ Nam Việt Nam. Có tất cả 25 tỉnh lỵ và thị trấn trong số 44 Tỉnh của VNCH bị tấn công, trong đó có Huế và Saigon là hai thành phố xảy ra những vụ đụng độ lớn nhất.

Từ ngày 5/2/1968 ( mồng 7 Tết) Cộng quân bắt đầu liên tục pháo kích, tấn công bằng bộ binh và bao vây quanh vòng đai căn cứ chiến lược Khe Sanh. Địch quân đã phối trí rất nhiều vị trí phòng không xung quanh căn cứ và các dàn pháo 130 ly đặt sâu trong các sườn núi từ phía biên giới Lào, cách Khe Sanh khoảng 20 cây số, y hệt như chiến thuật sử dụng tại Điện Biên Phủ năm 1954. Nhưng lực lượng trú phòng đã phản công chống trả quyết liệt gây nhiều tổn thất cho địch quân.

Đêm 6 tháng 2/1968, Quân CS Bắc Việt sử dụng một biệt đội chiến xa thuộc Trung Đoàn 202 chiến xa gổm 12 chiếc PT 76 có bộ binh tùng thiết và Trung đoàn 101 D chủ lực tấn công vào trại Lực lượng Đặc biệt tại Làng Vei, cách Khe Sanh 6 miles (10 km) về hướng Tâỵ. Trại này do Trung ta' Schungel chỉ huy gồm 1 phân đội Lực lượng Đặc biệt Hoa Kỳ 24 người và khoảng 400 Dân sự Chiến đấu (Biệt kích quân biên phòng) phần lớn là dân thiểu số miền núi tỉnh Quảng Trị.

Ngày hôm sau, 7/1/1968, trại này bị tràn ngập bởi lực lượng Cộng quân, một số đông binh sĩ và cố vấn do Trung ta' Schungel chỉ huy phải rút về Khe Sanh.

Ngày 9/2/1968 một Tiểu đoàn CSBV thuộc Trung Đoàn 101D của Sư Đoàn 325 tấn công đồi 64 do Đại Đội A/1/9 TQLC trấn giữ. Các vị trí phòng thủ trên đồi bị Bắc quân tràn ngập. Không chút chậm trễ, các khẩu đại bác quanh vùng đều nhắm hướng đồi 64 và tác xạ. Một lực lượng TQLC khác được gởi đến tiếp viện. Trong 3 tiếng đồng hồ máu lửa này, có 200 bộ đội Bắc Việt chết và 26 binh sĩ Hoa Kỳ tử thương.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 5

Sau trận đánh ở Đồi 64 nầy, quân Bắc Việt tạm ngưng các hoạt động để bổ sung quân số. Chiến trường lắng dịu trong hai tuần. Ngày 11 tháng 2, Cộng quân gia tăng pháo kích vào phi đạo, việc tiếp tế cho quân trú phòng đã gặp khó khăn. Các vận tải cơ C-130 đáp xuống phi đạo trở thành mục tiêu của các họng pháo Cộng quân nhắm vào, hai phi cơ vận tải C-130 đáp xuống Khe Sanh, một chiếc bị nổ tung vì trúng đạn pháo kích bốc cháy trên phi đạo 6 nhân viên phi hành đoàn bị tử thương. Chiếc thứ hai cũng bị hư hỏng và được gấp rút sửa chữa rồi bay "khập khễnh" về phi trường Đà Nẵng.

Ngày 21/2/1968 khoảng 1 Đại đội cộng quân tấn công vào phòng tuyến của Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân tại khu vực hướng Đông căn cứ Khe Sanh. Nhưng các binh sĩ Mũ Nâu VNCH đã vững vàng cố thủ. Đợt tấn công của đối phương đã bị Biệt Động Quân bẻ gảỵ

Hai ngày sau 23/2/1968, quân CSBV tập trung pháo binh để phục hận. Một nghìn ba trăm (1,300) quả đạn đủ loại đã được bắn vào Khe Sanh. Trận địa pháo 8 tiếng đồng hồ này đã làm nổ tung một kho tồn trữ đạn trong căn cứ, gây thiệt mạng cho 10 quân nhân Hoa Kỳ và 51 người khác bị thương.

Khoảng 9.30 giờ đêm 29/2/1968, một Tiểu đoàn Cộng quân (thuộc Sư Đoàn 304 CSBV) đánh thẳng vào mặt Đông của Khe Sanh. Đây là khu vực trách nhiệm của TĐ37 Biệt Động Quân VNCH. Sau một màn pháo kích dọn đường, và ba lần biển-người xung phong, CSBV cũng không phá được phòng tuyến thép. Đêm hôm đó, các binh sĩ Biệt Động Quân bình tĩnh chiến đấụ Họ đợi đối phương xung phong đến thật gần rồi mới khai hỏạ. Tiểu Đoàn 37 Biệt Động Quân đã chống trã mãnh liệt. Kinh nghiệm chiến đấu và sự gan dạ của họ chính là một trong các yếu tố quan trọng giúp đẩy lui cả 3 lần xung phong của Bắc quân.


Ngày hôm sau, kiểm điểm tình hình chiến trận họ đếm được 70 xác chết địch quân trên trận địạ Sau nhiều ngày thảo luận tình hình chiến sự, sau cùng Tướng Westmoreland chấp thuận kế hoạch hành quân giải vây Khe Sanh. Hành quân mang tên Pegasus ( có tài liệu viết là Pagasus) về phía Mỹ và về phía VNCH nằm trong kế hoạch Hành Quân Lam Sơn 207A. Cả hai cuộc hành quân đặt dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tướng J.J. Tolson. Lực lượng tham dự hành quân gồm có :

1/ Lữ Đoàn 1 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá J.F. Stannard.
2/ Lử Đoàn 2 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá J.C. Mc Donough.
3/ Lữ Đoàn 3 KBKV với Lữ Đoàn Trưởng là Đại Tá H.S.Campbell.
4/ Trung Đoàn 26 TQLC với Trung Đoàn Trưởng là Đại Tá D.E. Lownds
5/ Trung đoàn 1 TQLC.
6/ Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù –VNCH trách nhiệm khu vực phía Bắc quốc lộ 9 và phía Tây căn cứ Khe Sanh gồm 3 Tiểu Đoàn dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Nguyễn Khoa Nam.
- Tiểu Đoàn 3 ND – TĐT là Thiếu Tá Trần Quốc Lịch.
- Tiểu Đoàn 6 ND – TĐT là Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước.
- Tiểu Đoàn 8 ND – TĐT là Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ.

Bộ Tư Lệnh hành quân đóng tại căn cứ Stud gần Cà Lu. Quân số tham chiến lên đến khoảng 20,000 người với sự yểm trợ bởi 300 trực thăng, 148 khẩu pháo binh.

Ngày 25/3/1968 Thiết Đoàn 1/9 KBKV dưới quyền chỉ huy của Trung Tá R.W.Diller sử dụng trực thăng trinh sát dọc theo QL 9 hướng về Khe Sanh để thu thập tin tức về địch quân, xác định các vị trí bải đáp trực thăng đồng thời tiêu diệt các ổ phòng không của địch.

Sáng ngày30/3/1968, SĐ3TQLC Mỹ phối họp với SĐ1BB-VNCH hành quân nghi binh tại vùng Côn Thiện và Gio Linh. Lực lượng của Mỹ hơp thành lực lượng đặc nhiệm Kilo trong khi cánh quân SĐ1BB-VNCH nằm trong kế hoạch Lam Sơn 203. Cuộc hành quân chấm dứt lúc trưa ngày 1/5/1968. chỉ có những cuộc chạm súng lẻ tẻ không đáng kể.

Ngày 1/4/1968 cuộc hành quân chính thức khai diển. Hai Tiểu Đoàn 2/1 và 1/3 TQLC Mỹ từ Cà- Lu tiến dọc hai bên đường QL9 hướng về Khe Sanh để bảo vệ cho TĐ11Công Binh tu sửa lại con đường nầy. Trong khi đó 3 Tiểu Đoàn thuộc Lữ Đoàn 3KBKV được trực thăng vận đổ xuống các bải đáp phía trước cách Khe Sanh khoảng 5 dậm.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 6

Ngày 2/4/1968 liên tiếp 2 ngày, hai Lữ đoàn 2 và 1 KBKV được thả xuống phía Nam căn cứ Khe Sanh và đường số 9 tảo thanh quanh khu vực đồn điền của người Pháp khi xưa.

Sau khi được thả xuống bải đáp, TĐ1/5KBKV hướng về mục tiêu đồn Pháp cũ, đã đụng độ với một Tiểu Đoàn cộng quân đang cố thủ tại đây,TĐ1/5KBKV bị thiệt hại nặng, Trung Tá Runkle Tiểu Đoàn Trưởng bị tử thương. TĐ2/5KBKV được lịnh vào thay thế nhưng cộng quân đã rút lui.

Trong khi đó, các đơn vị phòng thủ bên trong căn cứ Khe Sanh, TĐ1/9TQLC cũng bắt đầu tấn công ra về phía Nam để chiếm lại ngọn đồi 471 theo chiến thuật gộng kềm, ép đơn vị Tiểu Đoàn 7 Trung Đoàn 66 địch quân vào giửa. Cộng quân cố thoát ra khỏi vòng vây nhưng với hoả lực hùng hậu của các đơn vị tham chiến, Công quân phải rút chạy và bỏ lại chiến trường 148 xác.

Ngày 4/4/1968 Các Tiểu Đoàn 3, 6 và 8 Nhảy Dù thuộc LĐ3ND-VNCH được thả xuống khu vực LZ Snake phía Tây và Tây Nam căn cứ Khe Sanh. (bên ngoài và phía sau vị trí của địch quân đang bao vây căn cứ.) để chận đường lui binh của địch.

Tiểu Đoàn 3 Dù của Thiếu Tá Trần Quốc Lịch được trực thăng vận phía Tây Nam của đồi 471,

Tiểu Đoàn 6 Dù của Thiếu Tá Trương Vĩnh Phước được thả về phía Bắc của TĐ3ND. Tiểu Đoàn 8 Dù của Thiếu Tá Nguyễn Văn Thọ cùng với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn và một pháo đội 105 ly được thả về khu vực phía Bắc Làng Khe Sanh .

Vừa được thả vào buổi chiều, thiết lập xong các công sự phòng thủ thì TĐ8ND cùng với Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn bị địch quân tấn công phủ đầu vào buổi tối vì chúng nghĩ rằng đây là một đơn vị của Hoa Kỳ. Bị chống trả mãnh liệt, địch phải tháo lui. Trong trận này, Tham Mưu Trưởng Chiến Đoàn là Thiếu Tá Bùi Văn Thạch, cùng khóa 3 Thủ Đức với Trung Tá Nam, tử trận.

Ngày 6/4/1968 các đơn vi KBKV đã bắt tay được với TQLC bên trong căn cứ tại đồi 471.Sau đó TĐ 1/9 TQLC bắt đầu càn quét khu vực chung quanh căn cứ khởi đi từ ngọn đồi 552 rồi đến đồi 681. không gặp một kháng cự nào của địch.

Trận Khe Sanh 1968 - phần 7

Cùng lúc đó về mặt Bắc, TĐ2/26TQLC cũng tiến ra ngọn đồi 558. Mủi tiến quân nầy gập sự chống trả mạnh mẽ của công quân; trận chiến phải mất hết 2 ngày mới bứng hết các ổ kháng cự.

Ngày 7/4/1968 trong khi tiến về Khe Sanh dọc theo QL9, TĐ2/7KBKV đã chạm địch mạnh tại địa điểm chỉ cách Khe Sanh chừng 2 dậm. Để 3 Đại Đội cầm chân địch quân ở mặt trận chính, Đại Đội thứ tư lòn ra sau bọc hậu, mới đánh bật được Cộng quân ra khỏi các công sự phòng thủ.

Cũng trong ngày nầy các Tiểu Đoàn Nhảy Dù Việt Nam đã chạm địch, Sau khi TĐ3ND và TĐ6ND đáp xuống vị trí ổn định, Trung Tá Nam Chiến Đoàn Trưởng cho lệnh các đơn vị mở rộng đội hình tác chiến dàn hàng ngang tiến vào phía căn cứ.

Khi biết có đơn vị Nhảy Dù VN tăng cường, binh sỉ TQLC bên trong căn cứ lên tinh thần nên khi lực lượng Nhảy Dù chạm địch, bên trong căn cứ cũng bắn ra dữ dội. Do đó địch quân bị kẹt giữa hai lằn đạn, vì quá gần trong khoảng cách không quá 200m, biết không thể tiến cũng không thể thoát được, địch quân gọi pháo tác xạ vào ngay lên đội hình của chúng nên bị chết rất nhiều, một số bị bắt sống, bên ta cũng bị tổn thương khá cao. Đại Đội 33 Nhảy Dù bị tổn thất nặng nhất: Đại Úy Nguyễn Đức Cần, ĐĐT cùng 2 Chuẩn Úy Trung Đội Trưởng bị tử thương . Một Thiếu Úy Trung Đội Trưởng bị thương. chỉ còn một Trung Đội Trưởng là Thiếu Úy Trương Văn Dũng không bị thương tích.

Bị dồn ép và không chịu nổi bị tấn công từ nhiều phía, địch quân bắt buộc phải bỏ chạy. Sau đó Lực lượng Nhảy Dù trở lại hành quân giải tỏa Làng Vei lúc này vẫn do một tiểu đoàn CSBV chiếm đóng, còn dân chúng thì đã di tản ra khỏi vùng.

Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù, tương đối còn nguyên vẹn, được lệnh chuyển hướng về phía Nam để án ngữ sườn phía Bắc của Làng Vei trong khi đó một lực lượng của Sư Đoàn 101 Hoa Kỳ tiến từ hướng Đông.

Ngay hôm đó, Truyền Tin Tiểu Đoàn 3 Dù dò tần số địch biết được địch đang tăng viện thêm hai tiểu đoàn, một tiểu đoàn chận đánh Tiểu Đoàn 6 Dù còn tiểu đoàn kia hỗ trợ cho Làng Vei, liền báo cáo về Bộ Chỉ Huy Chiến Đoàn.

Tiểu Đoàn 6 Dù được lệnh dừng quân chuyển qua đội hình phòng thủ. Chưa kịp đào công sự chiến đấu thì TĐ6ND đã bị địch xung phong. Tiểu đoàn 3 Dù bắn yểm trợ khoảng 100 đạn súng cối trên hướng tiến quân của địch. TĐ6ND nhờ chuẩn bị trước nên phản công quyết liệt, địch phải rút lui trước sự chống trả của các chiến sĩ Dù. Bác Sĩ Nghiêm Sĩ Tuấn, Y Sĩ Trưởng của Tiểu Đoàn 6 Dù tử thương.

Các lực lượng Hoa Kỳ sau đó đã sử dụng tối đa ưu thế của không quân chiến thuật oanh kích các tiểu đoàn địch khiến họ phải rút về biên giới Lào.

Sau cuộc hành quân Pegasus nầy, các đơn vị của Cộng Sản Bắc Việt đang được điều động đến khu vực Khe Sanh phải bỏ dở ý định tấn công vì không muốn làm mồi cho hỏa lực Không Quân và Hải Quân Hoa Kỳ do đó áp lực địch vào căn cứ Khe Sanh giảm đi và thế là giấc mơ tạo dựng một chiến thắng quân sự như kiểu Điện Biên Phủ của Võ Nguyên Giáp để eo sèo đòi hỏi Mỹ và VNCH nhượng bộ kể như không thành. Các binh đoàn dưới quyền chỉ huy của ông bị mất từ 10 đến 13,000 bộ độị. Nhiều đơn vị bị xóa tên dưới hỏa lực hùng hậu của pháo binh và không yểm.

Ngày 8/4/1968 Căn cứ Khe Sanh hoàn toàn được giải toả sau 77 ngày bị cộng quân vây hảm , các đơn vị tham chiến tung quân càn quét các khu vực xung quanh, chỉ một vài cuộc đụng độ lẻ tẻ quanh ngọn đồi 881 Bắc.

Tổng kết về cuộc hành quân Pagasus thiệt hại về phía đồng minh 41 Bộ Binh Mỹ, 51 TQLC Mỹ và 33 quân nhân VNCH bị tử trận và 667 M ỹ 187 Việt bị thương, đổi lại 1304 quân CSBV bỏ xác tại trận và 23 tù binh (chưa kể số thiệt hại vì pháo đài B52 và Pháo binh tác xạ)

Trận Khe Sanh 1968 - phần 8

Cuộc hành quân Lam Sơn 207 A chính thức kết thúc vào ngày 15/4/1968 Lữ Đoàn 3ND được đưa về Huế để tham dự một cuộc hành quân mới ‘Lam Sơn 216’ chiếm lại thung lủng A Shau.


Thiếu Tướng Dư Quốc Đống Tư Lệnh Sư Đoàn Nhảy Dù đang gắn huy chương cho Trung Tá Nguyễn Khoa Nam, Chiến Đòan Trưởng LĐ3ND

Sau này, có người nhận xét cho rằng tướng Giáp muốn dụ Hoa Kỳ dồn quân vào Khe Sanh để quân Cộng Sản có thể rãnh tay tấn công các vùng khác. Người khác lại cho rằng ông Giáp bao vây Khe Sanh với lý do muốn tạo dựng một chiến thắng như Điện Biên để buộc Hoa Kỳ phải nhượng bộ. Trong khi đó, một số tài liệu chiến sử Hoa Kỳ lại nghĩ rằng tướng Westmoreland đã "tương kế tựu kế." Ông mong Cộng quân sẽ tập trung nhiều binh đoàn gần Khe Sanh để ông có thể dùng hỏa lực pháo binh và phi cơ tiêu diệt.

Nhưng lịch sử đã đổi chiều không phải của Điện Biên Phủ 14 năm về trước. Năm 1968, Hoa Kỳ có đầy đủ phương tiện để phòng thủ, yểm trợ, và tiếp tế Khe Sanh trong 77 ngày, hoặc lâu dài hơn nếu cần thiết. Phía bên kia, Cộng quân đã không chiếm nổi Khe Sanh, mà lại còn bị thiệt mất từ 10 đến 13,000 bộ đội. Đó là chưa kể thiệt hại trên các phương diện khác như quân cụ, chiến thuật, cùng hàng ngàn thương binh.

Tài liệu tham khảo:

- Trận chiến Tết Mậu Thân 1968 của Phạm Văn Sơn trên trang nhà History of the Viet Nam War.
- Chiến tranh Việt Nam toàn tập của Tiến Sĩ Nguyẽn Đức Phương, nxb Làng Văn 2001.
- Một Cánh Hoa Dù của Trương Dưởng. Tác giả xb 1998
- The War in The Northern Provinces 1966-1968 by Lieutenant General Willard Pearson Dept of The Army Washington, D.C., 1975
- Phỏng vấn trực tiếp các chiến hữu trong SĐND.
- Khe Sanh 77 ngày trong năm 1968 của Phạm Cường Lể trên trang nhà History of the VN War.

Đại Úy Võ Trung Tín
Tiểu Đoàn Truyền Tin SĐND – 714-856-9202

Đại Úy Nguyễn Hữu Viên
Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù – 714-897-1435

Còn đêm nào vui bằng đêm Ba Mươi?

“’Tân Què’ có thăm nuôi. Lên trình diện quản giáo gấp!”

Ðang loay hoay với bản tự kiểm về tội lén đưa đồ ăn vào cô-nết cho ‘Huy Ðiêu khắc gia’, Tân giật nẩy mình khi bị bố già Khối trưởng Thạch “Sùng” gọi đến tên tục của mình. Như một phản ứng tự nhiên, Tân, chưa cần nhìn về hướng viên khối trưởng đang đứng, trả lời ngay:

“Thôi đi bố già! Coi chừng lại lộn tên với thằng ‘Tân Heo’ như năm ngoái nữa!”

Năm ngoái, Tân đã bị gọi giật từ ngoài rẫy về vì có thăm nuôi “đột xuất,” sau đó mới vỡ lẽ ra là thằng “Tân Heo” có ông dượng, từ ngoài Bắc vào, tới thăm để “động viên” tinh thần học tập của nó. Ðược bạn bè gán cho cái mỹ danh là “Tân Heo” vì Tân này là chuyên viên nuôi heo trong trại. Các ngành nghề chuyên môn như chăn nuôi và trồng tỉa rất được anh em “cải tạo” ưa chuộng vì tương đối vừa đỡ tốn sức lao động lại vừa “có ăn” hơn các ngành làm rẫy hay “lên non đẵn gỗ trên rừng.” Còn “Tân Què” thì dĩ nhiên là chân phải đi cà xẹo hay cà thọt gì đó rồi. Một mảnh đạn pháo trong Trận An Lộc đã làm vỡ nát nhượng chân trái của Tân, suýt làm anh què luôn.

Nhưng lần này, cứ nghe cái giọng khẳng định của viên khối trưởng đầu bạc, có lẽ không có vụ lộn tên được nữa:

“Ðúng là ‘Tân Què’ chớ còn ai nữa! Chính thân nhân của cậu đòi phải gặp cho bằng được ‘Tân Què’ ở An Lộc mà! Bộ cậu sợ không dám nhận mình là dân ‘Bình Long Anh Dũng’ nữa sao?”

Thấy sự thể cũng hơi lạ, nhưng để cho chắc ăn, Tân gặng hỏi:

“Mà cụ biết người tới thăm tôi là ai không? Tôi là ‘con bà phước’ mà, làm gì có ai thăm?”

“Moa’ không rõ. Cậu cứ lên hỏi thẳng quản giáo thì biết ngay chớ gì!”

Viên khối trưởng chỉ nói vậy rồi bỏ đi. Tân lật đật thu gom giấy, bút trên cái bàn gỗ “dã chiến,” bỏ xuống phía dưới chiếc chiếu nằm. Cái tên Thạch “Sùng” của viên khối trưởng đứng tuổi này cũng có lý do hiện hữu của nó: Thạch có tánh hay tiếc của – nhứt là cơm rơi – và thường dễ nổi sùng với anh em, mặc dù “bố già” là người được coi như tốt bụng nhứt trong đám tù nhân khốn đốn tại Trại Xuân Lộc này, tất cả đều là những sĩ quan trong quân đội và cảnh sát Việt Nam Cộng Hòa trước đây, mà sau “giải phóng” đã bị nhà cầm quyền cộng sản bắt đưa vào các trại “tập trung cải tạo.”

Tân xỏ chân vào quần, khoác lẹ chiếc áo sơ-mi máng trên cây đinh nơi cột tre, rồi bước ra ngoài. Thằng Chinh, tay vừa ở cô-nếch ba tháng ra vì nhận giấy tờ giả từ ngoài đưa vào để mưu toan trốn trại, đoán già, đoán non:

“Không chừng con bồ nhí nơi quán Thu Sương tới thăm đó mậy! Cho tao gởi lời thăm con Bích, em nó, nghe!”

Không đáp lời Chinh, Tân lặng lẽ rảo bước lên văn phòng viên quản giáo ở cuối dãy nhà thuộc khu cán bộ công an. Không khí chiều Ba Mươi Tết thiệt êm ả trên toàn trại, và có lẽ đây là lần đầu tiên Tân cảm nhận điều này nơi đây. Gần như cả năm, chẳng mấy khi cái trại cải tạo nơi vùng đất đỏ hoe này có được một buổi chiều im ắng như thế này, kể cả ngày Chủ Nhật là ngày toàn trại được nghỉ lao động. Suốt thời gian được chuyển về trại, Tân chỉ thấy sinh hoạt của trại cứ xoay quanh chuyện tập họp đi lao động, tranh nhau tắm rửa, tranh nhau lấy cơm, tập trung xét đồ, và ngồi đồng kiểm điểm…

Viên quản giáo, mới ngó thấy Tân thập thò trước cửa văn phòng, đã nhoài người ra chào đón:

“Anh Tân đấy à? Anh có thăm nuôi đột xuất đấy. Anh theo tôi ra ngoài đó ngay kẻo hết giờ. Sướng nhé, đồ ăn coi bộ nhiều lắm, kỳ này tha hồ ăn Tết to!”

Hơi ngạc nhiên trước thái độ thân thiện bất ngờ của viên quản giáo, Tân cố lấy vẻ lễ phép, đáp:

“Thiệt sự tôi đâu có biết ai đâu mà mong đồ ít, đồ nhiều, cán bộ! Nhưng mà ai vậy? Cán bộ cũng biết là từ hai năm nay tôi chẳng có ai là thân nhân đến thăm.”

“Cần gì biết. Cứ ra ngoài rồi sẽ rõ. Mà coi bộ cô ấy xinh lắm đó! Nhớ nếu có ‘con nạp xưởng’ thì để dành lại cho tôi và anh em một ít nhé. Ngày Xuân lai rai ấy mà!”

Tân suýt bật cười thành tiếng trước thái độ thân tình, săn đón bất ngờ đầy dụng ý của viên quản giáo. Chả bù với những lần kiểm soát chỉ tiêu sản xuất trong ngày, gương mặt anh ta tuy non choẹt nhưng vì khó đăm đăm nên nom già cỗi, coi dễ ghét lắm.

“Thôi kệ, tha cho mầy!” Tân nghĩ bụng. Cái gọi là “con nạp xưởng” thiệt ra chỉ là mấy cây lạp xưởng của Ba Tàu Chợ Lớn mà hễ lần nào Tân ăn vào thì cũng thấy bụng óc ách khó tiêu, nhưng không hiểu sao tại Miền Bắc Xã Hội Chủ Nghĩa lại không sản xuất nổi, để cho mấy anh cán bộ trại anh nào cũng mê, cũng ghiền cái món mới lạ này.

Viên quản giáo đẩy Tân vào nhà khách cải tạo, liếc xéo vào người khách đến thăm một cái trước khi bỏ đi, không quên dặn với:

“Hai mươi phút thôi nhé, anh Tân! Tôi đã bảo cán bộ vũ trang rồi. Tôi đặc biệt gia hạn cho anh thêm năm phút nữa đó. Nhớ vụ kia giùm tôi…”

Giây phút này, Tân không còn lo để ý tới cán bộ quản giáo hay cán bộ vũ trang gì nữa cả. Kể ra thì làm quản giáo, trực tiếp coi anh em cải tạo như Mẫn đây, vẫn được xem là oai hơn làm cán bộ vũ trang mà nhiệm vụ chỉ là xách súng đi bảo vệ an ninh trại và bắn bỏ bọn trốn trại để theo phe phản động bên ngoài.

Liếc nhanh về phía chiếc bàn gỗ dài nơi nhà khách, Tân chợt thấy khuôn mặt lạ hoắc của một thiếu nữ, với đôi mắt sáng long lanh đang chăm chú nhìn về phía anh. Cả chiếc áo bà ba màu hồng phấn điểm hoa và cái quần xá-xị đen của cô gái cũng không giúp ích gì thêm cho ký ức của Tân. Cố lục lọi trí nhớ hồi lâu, Tân đành chịu, không biết người con gái đó là ai.

“Anh Tân! Anh Tân! Thủy đây nè, Thủy ở An Lộc đó, bộ anh hổng nhớ em sao?” Người con gái đứng bật dậy, lớn tiếng gọi khi vừa thấy Tân bước đến gần cửa nhà khách.

Sau một thoáng bàng hoàng, Tân mới chợt nhớ ra…

Dĩ vãng như một cuốn phim quay nhanh qua tâm trí Tân. Thủy chính là cô bé mười lăm tuổi mà Tân đã cứu được từ trong đống gạch vụn, tôn cháy khi dãy nhà của Thủy và đồng bào tị nạn từ Lộc Ninh dồn về bị trúng đạn pháo 130 ly ngay giữa cuộc tiến công của quân cộng sản vào An Lộc. Lúc đó, đơn vị của Tân là Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân dưới quyền của Trung Tá Biết đang đánh vùi với Cộng quân ngay tại phía ngoài Chi khu An Lộc, đánh liên tục cả mấy tuần lễ liền. Ðạn hết, lương thực cũng hết và người thì đã hao hụt quá nửa mà Tân và đồng đội vẫn không ra khỏi được vòng vây của quân địch. Ðã thế, quân tấn công lại tập trung đủ loại pháo nặng, nhẹ các cỡ bắn vào thị xã như mưa, với dã tâm san bằng mục tiêu thành bình địa, không kể gì tới tánh mạng và tài sản của dân lành vô tội. Có ngày, họ đã bắn hơn 10 ngàn quả đạn pháo vào thị trấn nhỏ bé này, một thị trấn mà, từ trên máy bay nhìn xuống, chẳng thấy có một lợi thế phòng thủ nào đáng kể, vì ba bên, bốn bề của nó đều bỏ ngỏ, trải ra như tấm lòng rộng mở của những người em gái An Lộc thuộc lớp đàn chị của Thủy.

Thủy ngày xưa là vậy đó. Nhưng hôm nay đây, dáng dấp, giọng nói và gương mặt của người thiếu nữ đang đứng trước mặt Tân xem ra hết sức xa lạ với những gì mà Tân đã thấy, đã nghe và đã biết về người con gái ấy ở An Lộc hơn tám năm về trước. Ðó là một cô bé đáng thương, mặt mũi loang vết máu, tay chân trầy trụa, đang run lẩy bẩy trên tay Tân. Mẹ và em trai của cô bé, tuy chẳng bị thương tích gì đáng kể, nhưng đều đầy vẻ kinh hoàng, kêu khóc liên hồi trong nỗi sợ hãi cùng cực của những nạn nhân vừa mới được cứu khỏi cảnh bị chôn vùi giữa căn nhà đổ nát của mình.

Cô gái rời khỏi chiếc băng ghế dài, chạy tới nắm lấy tay Tân:

“Trời ơi, anh Tân! Sao anh dạo này ốm mà đen quá vậy? Ngày xưa lúc ai cũng khốn đốn vì bị Việt Cộng bao vây cả tháng, tuy bữa đói, bữa no nhưng anh đâu đến nỗi?”

Vừa nói, cô gái vừa lấy tay quệt nước mắt. Tân sững sờ trước tình huống bất ngờ:

“Không dè Thủy mau lớn quá. Lại đẹp hơn hồi nhỏ, làm anh nhận không ra. Nhưng làm sao em biết là anh đang ở đây mà tới thăm? Mà làm sao em xin phép đi thăm anh được, trong khi em chẳng có liên hệ họ hàng gần xa gì với anh?”

Tân vừa định ngồi xuống bên cạnh người con gái ở phía bên này chiếc bàn, nhưng sực nhớ tới quy định của của trại cấm anh em cải tạo không được ngồi kế bên khách, anh đành ngồi xuống nơi ghế phía đối diện với cô gái.

Thủy với tay lấy một trái quýt từ nơi một trong ba cái giỏ xách lớn và nặng trĩu mà có lẽ cô đã khá vất vả mới mang được vào trại từ bến xe lam cách đó cả cây số vào một buổi trưa nắng đổ như thế này. Ðưa tay chỉ mấy cái giỏ xách trên bàn, cô gái nói với Tân:

“Tất cả ba cái xách này là đồ của anh. Em tích lũy, gom góp của hợp tác xã cả tháng trời mới có đủ thứ cho anh đó! Anh nhớ ăn dè sẻn một chút, chớ ít ra cũng phải ba tháng sau em mới hy vọng lên thăm lại anh đó!”

Tân cố khách sáo:

“Lặn lội lên thăm anh là đã quý hóa lắm rồi, em bày vẽ làm gì cho tốn tiền mà lại nặng nhọc nữa? Mà em phải cho anh biết làm sao em có được phép tới thăm anh ngay vào chiều Ba Mươi Tết này chớ?”

Ðưa cho Tân mấy múi quýt đã lột sẵn, Thủy vừa cười vừa nói:

“Thiệt ra em hổng có xin phép từ địa phương của anh ở Sài Gòn, mà xin phép ngay từ trại này nè! Ông Tuân, trại phó sản xuất, tuần nào cũng ghé thăm dì em. Ổng đang dê dì em kịch liệt đó anh! Em nhờ dì em nói thẳng với ổng là em muốn đi thăm nuôi anh của em đang học trong trại dưới quyền ổng. Em khai là em cô cậu của anh. Dì Minh là người mà anh nói chuyện cả buổi lúc toán cưa củi của anh bị trở ngại xe cộ rồi được công an võ trang cho đi ăn uống gần bến xe đó… Anh còn nhớ hông? Dì Minh rất cảm động vì câu chuyện anh kể về đời lính của anh ngày xưa, nhứt là những ngày Liên Ðoàn 3 Biệt Ðộng Quân đánh trận An Lộc, sống chết với dân An Lộc, với tụi em.”

Tân mới nuốt xong mấy múi quýt ngọt lịm qua cổ thì đã được Thủy tiếp cho hai múi khác.

“À! Anh nhớ ra rồi! Ủa, bà Minh là dì của em hả? Dì ruột hay dì trong họ?” Tân thắc mắc.

“Bả chỉ là dì họ thôi. Mà bả thương em lắm, anh Tân ơi! Một phần vì bả thấy em lanh lợi, giúp ích cho bả nhiều trong chuyện buôn bán, phần khác bả thấy em thiệt thà, ngay thẳng, không tham như mấy đứa khác cũng là cháu của bả. Bả có nói phải chi bả biết người trong câu chuyện anh kể là em thì bả đã cho anh biết ngay rằng bả là dì của em rồi. Hồi em còn nhỏ thì bả buôn bán đâu trên Sài Gòn, chỉ tiếp xúc với họ hàng em khi người nhà có công việc đi Sài Gòn, ghé ngủ tạm tại nhà bả một đôi hôm rồi đi.”

“Em mau lớn và xinh quá, anh thiệt không ngờ!” Tân nói, lòng vẫn e rằng người con gái đối diện sẽ ngượng ngùng vì lời khen mà Tân cứ lặp đi, lặp lại đó. Phải biết rằng gì chớ về “tâm lý bạn gái” thì Tân rất rành, mặc dù anh vốn là dân tác chiến Biệt Ðộng Quân thứ dữ.

“Thiệt vậy hả anh?” Thủy hỏi lại với vẻ ngây thơ pha lẫn đôi chút sung sướng. “Mà nghe nói vợ anh đã đi vượt biên rồi hả? Chỉ hiện tới đâu vậy, anh Tân?”

Vết thương lòng bỗng dưng lại bị khơi dậy. Nhưng Tân cảm thấy cần phải nói thiệt cho Thủy -người mà từ trước tới nay anh vẫn coi như em gái mình – để cho cô gái biết rõ, kẻo che giấu hoài sau này lại phải mất công cải chính:

“Sự thực không phải vậy đâu, Thủy!”

“Vậy chớ sự thực là sao, hả anh?”

Thủy giục.

“Vợ anh đã bỏ anh đi lấy chồng khác rồi! Lấy một thượng úy Cộng Sản trong phường của bả. Tại anh lỡ khoe với anh em trong trại rằng vợ mình rất chung thủy, nên chẳng dám cho ai biết sự thực, mà chỉ khai là bả đã vượt biên rồi, vì anh biết những người đồng bạn của anh tại đây đều ở tù ‘mút chỉ cà tha,’ chẳng ai đủ khả năng ra ngoài mà kiểm chứng cho rõ thiệt, hư.”

“Trời đất ơi! Thiệt là buồn quá, hả anh Tân? Em không ngờ thời này người ta hay ăn ở bất nghĩa đến như vậy. À, em quên hỏi thử anh và chị đã có mấy đứa con với nhau rồi? Bây giờ con cái ra sao?”

“May mà chỉ có một đứa con gái, năm nay mới lên mười. Vợ anh đã gởi nó về bên ngoại nuôi giùm, lâu lâu mới về thăm mà thôi. Bên ngoại nó được cái là rất cưng con nhỏ và cũng còn thương anh lắm. Mỗi năm vài lần, bên vợ anh vẫn gởi quà thăm nuôi cho anh trên này. Có điều là chẳng có ai tới thăm anh từ dạo Thắm bỏ anh mà thôi”…

Thủy chưa kịp bình luận gì về những tiết lộ mới này, thì Tân đã tiếp nối câu chuyện:

“Anh cũng không trách gì bả. Gặp cảnh đời thay đổi thì dù ông to, bà lớn cũng phải đổi thay để sống còn, huống hồ chi vợ anh cũng chỉ là một người phụ nữ tầm thường. Ai còn lạ gì…”

Tân vừa nói tới đó thì chợt thấy người công an vũ trang hồi nãy, mặc đồng phục vàng lợt, đeo súng AK, lấp ló ngoài cửa sổ. Thiệt ra, nhiệm vụ của anh ta cũng chỉ là để canh chừng xem anh em cải tạo được thăm có ta thán chế độ tù tội hay phát ngôn điều gì phản động, và khách thăm có lén lút đưa vào trại tài liệu nào nguy hại cho “an ninh tổ quốc” hay không mà thôi.

Thấy người công an đã bỏ đi vì không phát hiện hay nghe ngóng được điều gì hệ trọng, Tân nhích người tới gần Thủy hơn:

“Ai còn lạ gì chủ trương ‘tài sản ngụy, ta chiếm; vợ con ngụy, ta lấy’ của Ðảng Cộng Sản Việt Nam đối với gia đình sĩ quan, viên chức thuộc chế độ cũ bị đưa đi tập trung học tập cải tạo trong những ngày đầu Sài Gòn ‘giải phóng’? Anh lại thấy thà Thắm làm vậy còn hơn là tiếp tục lừa dối nhau. Trại này có một anh tên là Út. Tháng nào ảnh cũng nhận được thơ vợ viết vào thăm, kể lể, tâm tình thiệt là tình sâu, nghĩa nặng; thậm chí bà vợ còn làm thơ ca ngợi mối tình chung thủy của họ trong hoàn cảnh ‘loan phượng lìa đôi nữa’. Nhưng khi người anh em bạn cột chèo của ảnh được thả về thì mới vỡ lẽ ra rằng chị ta đang có mang với một tay công an phường nào đó, mà tay này thì lại vợ con đùm đề cả rồi, mới ác chớ! Thiệt là tình đời ngày nay đã đổi thay đến hết biết rồi, Thủy ơi!”

Thủy còn đang ngẩn người ra chưa kịp nói gì để an ủi Tân trong cơn xúc cảm, tủi buồn thì đã nghe có tiếng của người công an vũ trang hồi nãy nói với vào, giọng “Bắc kỳ 75” đặc sệt:

“Anh gì đó, chỉ còn có ba phút thôi nà anh phải về trại đấy! Còn cô Thùy hay Thủy gì đó nữa, khẩn trương nên nhé, thu gọn tâm tình nại mà về nhà, để nần tới nại được phép vào thăm nữa chứ!”

Thủy nắm lấy tay Tân:

“Cán bộ trại chưa chi đã hối về rồi đó! Ðể em bàn giao mấy món đồ ăn cho anh cho kịp giờ…”

Thủy vừa nói vừa soạn sành mấy cái giỏ xách:

“Ðây là mấy món mặn cho anh ăn dài dài nè: ruốc xào sả, ớt kiểu người Trung, mắm khô quẹt mẹ em làm – tuy mặn, nhưng ngon lắm – cá khô sặt, muối sả, tôm khô, thịt heo kho trứng vịt, và cả mắm tôm chua em mới làm hôm qua cho anh nữa! Trong cái xách đen đen này có đủ các thứ gia vị như tiêu, hành, ớt, tỏi, và nhứt là bột ngọt – cái bịch nylông có chữ ‘mì chính’ đó nghe anh! Cái túi lớn nhứt thì có mấy món hơi sang sang một chút để anh đãi bạn bè: mè xửng Huế nè, đường Cu-ba nè, lạp xưởng nè, đậu phộng nè. Dưới đáy xách là ba ký nếp hạng nhứt mà Dì Minh biểu gởi cho anh đó!”

“Trời đất ơi! Sao em biết trong này anh cần mấy thứ này mà mua sắm quá ‘đạt yêu cầu’ như vậy? Về cho anh gởi lời cám ơn dì Minh thiệt nhiều, nghe em!”

Với tay cầm lấy cái thẩu nhựa đựng mắm khô quẹt, Tân nói với Thủy:

“Cái món khô quẹt này để anh nhờ người lén đem cho anh Huy một ít, vì ảnh mê lắm. Tội nghiệp! Ảnh là một điêu khắc gia nổi tiếng của mình ngày xưa, chỉ vì mới đây ảnh tạc tượng ‘Bác Hồ’ mũi hơi khoằm và nhọn như mũi két nên bị ghép vào tội phản động, bị đem giam cô-nếch gần ba tháng nay. Tuần trước, anh đi lao động về có lén thẩy cho ảnh hai miếng đường, nhưng rủi bị cán bộ tuần tra phát hiện nên sáng nay phải ngồi làm kiểm điểm, mới suy nghĩ cách chạy tội thì nghe kêu có em lên thăm nuôi nên lại bỏ đó…”

Tân lôi mấy xâu lạp xưởng ra khỏi mớ đồ ăn:

“Chỉ có cái món lạp xưởng là không hạp với anh lắm thôi, nhưng đám công an, cán bộ thì lại khoái ghê lắm. Họ gọi là ‘con nạp xưởng’ đó em! Ðể anh mang vào hối lộ cho họ đặng lấy lòng, phòng khi hữu sự cũng thường tai qua, nạn khỏi lắm. Thủy ơi! Anh thiệt mang ơn em biết mấy! Ðã hơn hai năm rồi, kể từ khi vợ anh bỏ đi, chẳng có một mống nào tới thăm anh hết. Mẹ anh thì đã mù lòa, con anh thì còn quá nhỏ, anh đành giấu biệt địa chỉ sau lần chuyển trại tới đây, chớ đâu có nỡ lòng nào bắt họ phải đi thăm mình?”

Tân nắm lấy đôi bàn tay thon và đẹp của Thủy. Người con gái đứng yên hồi lâu, chẳng nói gì, không biết có phải vì muốn chìu ý Tân hay là vì chính cô gái cũng muốn hưởng trọn cái phút giây êm ái đó, tay trong tay với người mà ngày xưa cô bé vừa cảm phục, vừa biết ơn mà cũng vừa thương mến nhưng không đời nào dám ngỏ. Tân vừa định nói lời từ biệt với Thủy, thì người công an vũ trang đã bước vào nhà khách, khẩu AK-47 chế tạo tại Tiệp Khắc kè kè bên hông:

“Thôi, xong rồi. Anh, chị niệu mà về nẹ nẹ đi nhé! Nể nồi cán bộ quản giáo tôi đã gia hạn cho cả năm phút rồi đấy!”

Người cán bộ vũ trang này, Tân hơi ngờ ngợ, có lẽ cũng chính là anh chàng áo vàng ác ôn đã giọng cho thằng Chinh ba cái báng súng đau “thấu trời xanh” khi hắn bị giải giao vào biệt giam trong cái thùng sắt vuông vức gọi là cô-nếch mà ngày xưa lính Mỹ vẫn dùng để chứa hàng hóa và quân dụng. Vì cấu trúc bằng sắt và bốn bề kín mít như bưng, thời tiết bên trong cô-nếch chỉ có hai mùa: Ban đêm là mùa Ðông lạnh như Bắc cực và ban ngày là mùa Hè nóng như thiêu đốt của sa mạc Sahara!

Không để cho kẻ giam giữ mình phải nặng lời, Tân vội vã choàng tay qua vai, ôm nhẹ Thủy một cái. Cái tật “lợi dụng thời cơ” này của Tân nay, dẫu sao, cũng đã giảm bớt một nửa rồi so với ngày xưa, có lẽ cũng vì Tân còn mang nặng mặc cảm của kẻ chiến bại.

Người con gái, lộ vẻ thẹn thùng, đứng im lặng trong vòng tay Tân giây lát trước khi dịu dàng đẩy nhẹ Tân ra:

“Thôi, anh lo về nghỉ ngơi sớm đi, hết giờ thăm rồi! Em mừng hết sức vì đã được gặp lại anh hôm nay,” cô gái nói qua làn nước mắt rơm rớm. “Ðã biết anh vẫn còn sống nơi đây thì, bằng cách này hay cách khác, em cũng sẽ lo lắng, thăm nuôi anh. Gia đình em không bao giờ quên ơn cứu mạng của anh, của mấy người lính Biệt Ðộng Quân như anh trong cuộc chiến… À quên, anh Tân ơi, em còn gởi cho anh cái này…”

Thủy vội vã nhét vào chiếc túi quần bên hông của Tân một gói gì nho nhỏ nhưng khá cộm. Nghi đó là tiền, Tân vội chối từ:

“Gì chớ tiền thì anh không nhận đâu nhé, Thủy! Thơ cũng không được nữa, vì sẽ bị quản giáo xét trước khi về phòng.”

“Anh yên tâm, cái đó là của mẹ em chớ không phải của em đâu. Nhưng anh phải giấu nó chỗ nào đi nếu thấy không tiện lắm, nghe anh Tân! À, tí nữa em quên mất. Anh Tân có bao giờ nghĩ rằng trong cái rủi nhiều khi cũng có cái may? Biết đâu nhờ chị Thắm bỏ anh mà người khác mới có cơ hội được lo cho anh?” Thủy không nhìn thẳng vào mắt Tân mà gần như là nhìn xuống đất trong câu nói sau cùng này, trước khi gặt đầu ra dấu từ biệt Tân rồi bước đi.

Ðứng lặng yên giây lát cạnh ba cái giỏ xách đồ ăn mà Thủy mới trao cho, Tân đưa mắt nhìn theo cô gái đang chậm rãi quay gót ra phía trước cổng trại. Một cảm giác nửa vui, nửa buồn xâm chiếm lấy tâm hồn anh… Khi cái vẫy tay sau cùng của Thủy đã khuất sau cánh cổng lớn, Tân mới biết rằng mình đành phải tạm giã từ một niềm hạnh phúc tuy mới vừa ló dạng nhưng lại mang nhiều hứa hẹn tương lai.

“Anh Tân có bao giờ nghĩ rằng trong cái rủi nhiều khi cũng có cái may?” Lời nói của Thủy như vẫn còn vang vọng đâu đây trong tâm trí Tân trên đường từ nhà khách trở về trại, với mấy giỏ xách đồ ăn thăm nuôi trên tay.

Ðối với Tân, đêm Ba Mươi năm nay cũng chính là phút giây khởi đầu của những mộng ước tương lai trong một cuộc đời tưởng đã héo tàn nay bỗng dưng lại đơm hoa, kết trái. Trong khi bạn bè cùng phòng ai cũng hớn hở, cười vui vì được Tân chia sớt chút quà thăm nuôi bất ngờ để cùng đón giao thừa, thì tận nơi đáy lòng Tân lại đang rộn ràng những tình cảm thương yêu vừa chớm nở, y như một nụ mai vàng e ấp, âm thầm nhưng mãnh liệt, bung cánh chào đón Xuân sang.

ST

Monday, February 8, 2021

Xuân xưa và Người Lính Việt Nam Cộng Hòa - Hàn Giang Trần Lệ Tuyền

Ngày xưa, hơn hai mươi năm sống dưới Chính thể Việt Nam Cộng Hòa, với những hy sinh vô bờ bến của Người Lính trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật. Giờ đây, dẫu đã xa, đã mất, nhưng những hình ảnh ấy không bao giờ xóa nhòa trong tâm khảm của những người Việt Nam yêu nước chân chính.

Những mùa Xuân xưa, với những hình ảnh cũ sẽ mãi mãi còn lưu lại, khi thế hệ của chúng ta không còn nữa, thì các thế hệ tương lai, có thể trăm ngàn năm nữa, sẽ còn biết đến những hình ảnh oai hùng, cao đẹp và không kém phần lãng mạn của Người Lính Việt Nam Cộng Hòa.

Không chỉ hôm nay, mà mãi mãi, hậu thế, khi nhìn lại những tấm Thiệp Xuân, không mang hình ảnh sắt máu trong những “tấm thiệp” tuyên truyền như của Cộng sản, mà thật đúng với ý nghĩa, chứng tỏ tình Quân Dân với những lời chúc lành trong dịp đầu Xuân:

 

 

 

  Ngày ấy, để Bảo Quốc An Dân, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa chỉ biết cầm súng để bảo vệ Quê Hương, bảo vệ đồng bào, dẫu mùa Xuân tới, đêm đêm vẫn ghì chặt tay súng trên các tiền đồn xa xôi, địa đầu giới tuyến, đối diện với giặc thù xâm lăng, để hậu phương được an bình đón mừng ngày Tết, riêng Người Lính vẫn ngồi trên vọng canh, trong Phiên Gác Đêm Xuân:

 

Đón Giao Thừa một phiên gác đêm

Chào xuân đến súng xa vang rền

Xác hoa tàn rơi trên báng súng

Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi


Bấy nhiêu tình là bao nước sông

Trời thương nhớ cũng vương mây hồng

Trách chi người đem thân giúp nước

Đôi lần nhớ bâng khuâng, gượng cười hái hoa Xuân


Ngồi ngắm mấy nóc chòi tranh

Mơ rằng đây mái nhà tranh

Mà ước chiếc bánh ngày Xuân

Cùng hương khói vương niềm thuơng


Ước mong nhiều đời không bấy nhiêu

Vì mơ ước trắng như mây chiều

Tủi duyên người năm năm tháng tháng

Mong chờ ánh xuân sang, ngờ đâu đêm cứ đi


Chốn biên thùy này Xuân tới chi ?

Tình lính chiến khác chi bao người

Nếu xuân về tang thương khắp lối

Thương này khó cho vơi, thì đừng đến xuân ơi !

Hoặc Đồn vắng chiều Xuân:

Đầu Xuân năm đó anh ra đi

Mùa Xuân này đến anh chưa về

Những hôm vừa xong phiên gác chiều

Ven rừng kín hoa mai vàng

Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ.

Mùa hoa năm đó ta chung đôi

Mùa hoa này nữa xa nhau rồi

Nhớ đêm hành quân thân ướt mềm

Băng giòng sông loang trăng đầy

Lòng muốn vớt ánh trăng thề viết tên em.

Đồn anh đóng ven rừng mai

Nếu mai không nở, anh đâu biết Xuân về hay chưa?

Chờ em một cánh thư xuân, nhớ thương gom đầy

Cho chiến sĩ vui miền xa xôi…

Hẹn em khi khắp nơi yên vui

Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình

Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai

Nhẹ rớt trên vai gầy, hồn chơi vơi

Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang.

Ngoài ra, khi nhắc lại những mùa Xuân xưa, người viết muốn cho hậu thế còn biết rằng, Thủ Đô Sài Gòn Hoa Lệ, Hòn ngọc Viễn Đông, vào những mùa Xuân của thập niên 1960, nếu Người Lính Việt Nam Cộng Hòa không bị bắt buộc phải buông súng, thì ngày nay đất nước Việt Nam đã văn minh, tiến bộ, cường thịnh gấp muôn lần, mà chỉ có những kẻ kém hiểu biết mới cho rằng, “ngày nay đất nước giàu hơn xưa”. Và đây là một trong những hình ảnh của Chợ Hoa Nguyễn Huệ như Shop bông Liên Hoa kiosk số 1 đường Nguyễn Huệ, Sài Gòn:

Và trong thời chiến chinh ác liệt ấy, Người Lính cũng đã băn khoăn, khi ngày đêm gối súng, nằm sương, nhớ về người vợ, người yêu trẻ, qua ca khúc: Để trả lời một câu hỏi:

Một nửa ba năm anh yêu tình áo giầy quân nhân

Đường xuôi quân ghé lại đôi lần

Bao nhiêu âu lo có hôm đã hỏi người yêu bé bỏng hay mơ, Anh vắng nhà

hoài em có nhớ?

Trả lời anh yêu không gian còn bước thời gian đi

Một ngàn đêm nhớ nhiều mơ nhiều

Mưa khuya giăng tơ gió khuya hững hờ

Đèn khuya hiu hắt ngọn tương tư

Đôi lúc buồn vì anh vắng nhà.

Tình nước lòng trai! Anh hiên ngang đối diện mặt trời

Chân qua chốn nào, thương chất lên cao

Đã yêu lính trẻ, ngày về ai tiếc gì.

Từ bàn tay tiên nắn nón từng nét gửi cho anh

Để anh vui bước đường quân hành

Môi em đang xinh mắt em vẫn tình

Màu xanh vẽ nổi đôi tim ghi dấu ngày đầu ta biết mình!…

Cũng trong những năm tháng dài sống trong khói lửa của chiến tranh, có những người trai trẻ, đã bị Việt cộng  bắt, hoặc vì nhiều lý do đã bị lôi cuốn vào con đường cầm súng cho Cộng sản. Họ đã bỏ lại Mẹ già, vợ con thơ dại sống trong hãi hùng, chờ đợi, qua những bài Tân Cổ Giao Duyên, với nỗi niềm của người vợ trẻ đêm đêm trông chờ người chồng yêu quý sớm rời bỏ hàng ngũ Cộng sản, để quay về với Chính Nghĩa Quốc Gia, mà người viết chỉ nhớ  được một phần trong những lần đi công tác Đoàn Dân Sự Vụ như sau:

 

“Cây phượng vĩ đầu thôn mùa khỏi lửa

Vẫn âm thầm trút lá cạnh bờ ao

Nhớ năm xưa, ta ngỡ mới hôm nào

Ta còn bắt bướm hái hoa ngoài xóm cũ…

Mấy cánh hoa rơi như đón mừng người lữ thứ… trở về đây với đồng ruộng đón Xuân… về…

Trăng lên cao gió lộng tứ bề, giữa đêm Xuân ta nghe lòng thấm thía, quãng đường mòn sương ướt nhịp cầu tre…

Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát

Ánh trăng thanh chiếu qua làng xơ xác

Chiêu hồn quê bao khúc ca yêu đời

Anh hãy về đây sau bao ngày bão tố, cảnh của trời khua muôn màu vạn sắc, mến yêu hơn đất nước quê nhà. Tiếng ai hát ru con nghe tha thiết đậm đà.

Vài hàng gửi anh trìu mến, vừa rồi làng có truyền tin, nói rằng nước non đang mong, đi Quân Dịch là thương nói giống…

Ôi nghe Quê Hương xưa tình yêu vẫn nặng, vẫn êm đềm như những ngày thơ. Con sông vắng, bóng dừa in đáy nước, lũy tre xanh xào xạc dưới nắng đồng quê. Nhớ năm xưa cũng dưới ánh trăng thề, ta mơ đón Xuân về trên bến cũ...

  

 Chiều chiều vợ dại, con thơ

Nhìn mây đỉnh núi bơ vơ nỗi lòng

Sống chi cái cảnh hãi hùng

Giam thân nơi chốn núi rừng quạnh hiu

Bao cơn mưa gió tiêu điều

Tuổi Xuân rồi cũng xế chiều anh ơi!

Về đây họp mặt vui cười

Bao lời ân ái, bao lời sắt son

Nước non nay buổi huy hoàng

Ai xui cách biệt lỡ làng đôi ta

Nhớ chăng những buổi trăng tà

Xăm xăm trên quãng đường xa tự tình

Bây giờ vò võ năm canh

Anh theo Việt cộng, anh đành bỏ em!

Trăng khuya soi sáng bên rèm

Anh ơi! trở lại chung niềm yêu thương

Xưa kia lạc bước, lầm đường

Nay anh tỉnh ngộ từ phương xa về

Anh ơi! Ghi nhớ lời thề

Làng quê mong đợi anh về; Anh ơi!

 

Theo chi Việt cộng mà theo

Cho tay vấy máu, mạng treo tơ mành

Làm cho đất nước điêu linh,

Hỡi anh Việt cộng quên tình nước non”.

Những  bài ca, những lời thơ trích ở trên, đã từng được các anh chị em Tâm Lý Chiến cất cao tiếng hát, hoặc ngâm nga giữa chốn hoang vu của núi rừng, bên các Trại Biên Phòng, cũng đã khiến cho những người chồng ở bên kia chiến tuyến phải nhớ thương về người vợ trẻ, con thơ, nên họ đã từ bỏ hàng ngũ Cộng sản, trở về với Chính Nghĩa Quốc Gia. Sau đó, họ đã làm việc tại Bộ Công Dân Vụ, hoặc các Trung Tâm Chiều Hồi sau này. Họ đã được sống chung hòa ái với đồng bào tại miền Nam, cho đến sau ngày 30/04/1975, khi đất nước Việt Nam Cộng Hòa bị bức tử, thì họ đã bị Việt cộng bắt xử bắn, gán cho “tội phản bội”. Có người đã bị bỏ tù trên dưới 10 năm. Sau khi ra tù, họ đã sang Mỹ theo thành phần Cựu Tù Nhân Chính Trị Việt Nam Cộng Hòa.

Riêng Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, thì đau đởn và uất hận thay, vì sau hơn hai mươi năm, Người Lính đã chấp nhận mọi gian nguy, đem máu xương, để bảo vệ từng tấc đất của Quê Hương, để rồi cuối cùng  phải bị bức tử!

Và ngày tang thương, vong quốc ấy, đã có một số Dân-Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa, đành phải rời bỏ Quê Hương, và đau đớn nhất vẫn là những người đem cả gia đình, vợ, con liều chết ra đi trên những con thuyền vượt biển, lâm vào cảnh đói, khát, lạnh lẽo. Và trong số đó, có những thiếu phụ, thiếu nữ và nhiều em bé gái, đã bị rơi vào tay của hải tặc Thái Lan, đã bị chúng hành hạ dưới những bàn tay tàn bạo cho đến chết, có những bé gái, chỉ kiệt sức, nhưng chưa chết, vẫn bị bọn hải tặc quăng xác xuống biển, để làm mồi sống cho cá. Họ đã vĩnh viễn ra đi. Thảm cảnh này ai có biết chăng, hay chỉ có chính nạn nhân mới thấu được những đau đớn tột cùng này. Bởi vì: “Đoạn trường ai có qua cầu mới hay!”

Tuy nhiên, cũng có những người, dù không lâm vào hoàn cảnh đau thương trên, nhưng họ cũng tha thiết với Quê Hương như Ông Hoàng Ngọc Ẩn, ông được di tản sang đất Mỹ; sau đó ông đã viết lên những dòng thơ và đã được Nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ Nhạc, giữ nguyên văn của bài thơ: Rừng lá thay chưa:

Xuân xưa mình chung đôi bóng

Xuân này mình ngóng trông nhau

Hun hút phương trời vô vọng

Nhớ thương bạc trắng mái đầu

 

Em có về qua lối cũ

Phố phường chừ đã đổi thay

Thương em nửa đời hoang phế

Thương ta trọn kiếp lưu đầy!

Quả đúng như vậy, vì giờ đây, ai kia có đành quên những ngày tháng sống trong chế độ của bạo quyền Cộng sản, nên đã quay về qua lối cũ, thì có thấy chăng, phố phường chừ đã đổi thay?!

Có thấy “em nửa đời hoang phế”. Và có thấy những mảnh đời bất hạnh đã và đang “trọn kiếp lưu đày”?!

“Kiếp lưu đày” không phải chỉ những con dân của đất nước Việt Nam Cộng Hòa đã và đang sống đời Vong Quốc nơi hải ngoại, mà ngay cả những người còn ở lại cũng bị “lưu đày” trên chính Quê Hương, chỉ vì họ từng cầm súng chiến đấu chống quân xâm lăng Cộng sản Bắc Việt.

Tạm kết

Một mùa Xuân nữa lại về trên đất tạm dung, ở những vùng đất xa xôi, lạnh lẽo, nhìn những bông tuyết rơi qua khung cửa, người ta nói là “tuyết trắng đẹp”. Đúng là tuyết có đẹp và tuyết luôn luôn trắng. Trắng như những vành khăn tang đã chít lên mái đầu xanh, khi những bộ xương của các nạn nhân của Việt cộng đã được quật lên từ những hố, hầm tập thể trong cuộc thảm sát Tết Mậu Thân, 1968. Và trắng như những vành khăn tang của những người vợ trẻ, con thơ của những người Lính, dù đã chết, nhưng khẩu súng vẫn còn nguyên vẹn trên tay - Những người Lính đã xuôi tay, nằm trơ trọi vào thời điểm trước và sau ngày 30/04/1975. Và tuyết cũng trắng như những vành khăn tang của những người vợ, người con của các vị là Quân-Cán-Chính Việt Nam Cộng Hòa, đã bị xử bắn nơi núi rừng hoang lạnh, bị đánh đập, hành hạ, bỏ đói cho tới chết, trong lúc đôi chân vẫn còn trong đôi cùm sắt giữa mùa Xuân, trong phòng biệt giam, tối tăm, lạnh lẽo ở trong các nhà tù “cải tạo”!

Thế nhưng, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa, dẫu chết đi, chết trong nhà tù, chết trong những thảm cảnh, đau đớn, bi thương; Song những hình ảnh oai hùng như tác giả Nguyễn Quân đã viết:

“Từ 1970 đến nay vẫn chưa nước nào hay quân đội nào dám chủ động tấn công Trung cộng, chỉ có Việt Nam Cộng Hòa là quốc gia duy nhất dám đánh Trung cộng vào năm 1974. Thời điểm nổ ra trận hải chiến bảo vệ Hoàng Sa, để bảo vệ chủ quyền của Tổ Quốc thì Việt Nam Cộng Hòa là bên chủ động và khai hỏa tấn công truớc vào các chiến hạm của Trung cộng!”

Quả đúng như vậy, Người Lính Việt Nam Cộng Hòa đã khai hỏa, nhắm và bắn thẳng vào quân hung tàn, xâm lăng Trung cộng, kẻ thù truyền kiếp của dân Tộc trong trận Hải Chiến Hoàng Sa, 1974.

Người Lính Việt Nam Cộng Hòa với những chiến công lừng lẫy, qua những trận chiến trên khắp Bốn Vùng Chiến Thuật, đã khiến cho quân thù phải bạt vía, kinh hồn vẫn ngời sáng, vẫn sống! Sống mãi cùng sông núi. Sống trong lòng của người dân Việt Nam biết yêu Quê Hương. Và dẫu cho đến ngàn sau, trang Sử Xanh của nước Việt Nam vẫn đời đời ghi khắc!

Xuân Tân Sửu 2021

Hàn Giang Trần Lệ Tuyền