Sunday, February 7, 2021

Giọt nước mắt của lính - dht -

LTS: Đây là một chuyện thật, không có một chút nào hư cấu, chúng tôi là một người lính tác chiến, chiêm nghiệm, có một sự huyền bí mà không giải thích được trong việc trùng phùng giữa cha con sau 40 năm, người SQ/BĐQ hoàn toàn không biết mình đã có một đứa con, TCDV chỉ hiệu đính các lỗi “hỏi ngã”, còn giữ nguyên toàn bộ lời kể của người trong cuộc.
TCDV cho đăng câu chuyện hi hữu này, để riêng tặng cô Hoàng Mai, chủ Snack-Bar tại mũi Nhà Bè các năm 1969, 1970 và các bạn Mũ Nâu đã từng đóng quân nơi này.
Germany, 12.03.2016
– Điều Hợp Viên DĐ Ngôn Ngữ Việt,
– Chủ Nhiệm TCDV.

LÝ TRUNG TÍN (TĐ51/LĐ6BĐQ/QLVNCH)

Đây là chuyện thật của người bạn học cũ của tôi và người lính Biệt Động Quân VNCH, sau 40 năm thất lạc nhau vì chiến tranh, một bất ngờ duyên trời đã cho anh chị gặp lại nhau, và tôi được nghe anh chị kể cho tôi về một phần đời của họ đầy vui, buồn, sợ hãi, chán chường của một người con gái đẹp đã vì hoàn cảnh mà ra nông nỗi ấy, của một người trai thời loạn thất chí, vì không làm tròn trọng trách đối với núi sông. Hôm được anh chị mời đến nhà chơi, qua một tách trà sen Huế (anh chị và tôi đều gốc Huế), anh nhìn vợ, âu yếm bảo:

- Em kể lại chuyện tình mình cho Mousti ( nick của tôi ) nghe đi, anh nghĩ Mousti sẽ thích chuyện tình đẹp của mình, đẹp như một cổ tích...và chị bắt đầu kể, anh ngồi nghe, lâu lâu thêm vào một vài chi tiết..
Anh nhìn tôi, tay vuốt tóc chị, nói với tôi:
- Cánh Hoa Thời Loạn. Xong quay lại nói với chị:
Anh phải đem em về lại Huế ngày nào đó nhé cưng.
Hạnh phúc thật là nhỏ bé mà đồng thời cũng thật lớn vô cùng.
Gặp nhau chỉ có một giờ
tình yêu bất tận chẳng ngờ tái sinh...(Thơ của anh)
*
Tôi mất anh đã hơn 40 năm rồi, ngày mà quê hương còn rền vang tiếng súng, tiếng đại bác.. của những trận chiến ác liệt như Pleime, Đồng Xoài, Bình Giả...
Lúc đó tôi còn là một người đàn bà 25 tuổi, mở một quán rượu gần đồn lính, thời bấy giờ không biết làm gì để nuôi cuộc sống còn của mình, cha mẹ chết, có người yêu đi lính cũng đã gục ngã trên chiến trường, nhà cửa tiêu tan vì chiến tranh, buồn quá, nhân có con bạn học cũ hoàn cảnh gần như tôi, nhưng nó còn đau hơn tôi là chồng nó bỏ gia đình đi tập kết ra Bắc, bỏ lại vợ con nheo nhóc buôn thúng bán bưng sống qua ngày. Hai đứa tôi, nhìn vẫn còn mặn mà lắm, ngày còn đi học là hai hoa khôi của Gia Long. Bây giờ nghĩ lại thời gian đẹp này chỉ còn trong hoài niệm. Tôi bây giờ đau đớn nói ra, mình đã là một cô gái giang hồ, nôm na là gái điếm. Khách của Vân và tôi gần như là lính, vì thành phố tôi đang ở gần một trại lính. Vân rủ tôi mở quán rượu ở đây vì vậy, lính là những người không có tương lai, sống chết không biết ngày nào nên họ ăn chơi bạt mạng, hễ cuối tháng lãnh lương ra là đến quán nhậu, rượu chè, gái... họ sống như vậy, lao mình vào những ly rượu mạnh hay những cuộc truy hoan để quên nỗi sợ những tiếng súng, những tiếng đại bác, những hầm chông cọc nhọn đang chờ, quên đi tử thần đang rình đâu đó.. Cũng may là Vân và tôi không còn gia đình, nếu không tôi không biết phải ăn nói làm sao với cha mẹ mình về cái nghề tôi đang làm! Lúc mới đầu chưa quen với nghề này, tôi ghét lắm những bàn tay vô tình để lên không đúng chỗ trên thân tôi, hay tiếng đùa giỡn quá trớn của những anh lính uống say, khi tôi đi ngang qua bàn, víu vai tôi xuống, ôm mặt tôi đặt chiếc hôn nặc nồng mùi rượu... có lúc tôi chán nản, muốn bỏ nghề đi tìm một nghề khác dù không đủ tiền nuôi mình, nhưng sau đó, ngày qua ngày, tháng qua tháng rồi cũng bắt đầu quen. Tuy vậy nhiều khi nhì Vân ngả ngớn với mọi người, ăn mặc hở hang, lắm lúc nó ngồi luôn trên chân khách, ỏn ẻn như muốn làm tình luôn ngay tại chỗ. Tôi nhìn những cử chỉ ấy, rồi thấy tởm cho chính mình luôn. Có những chàng lính trẻ khuôn mặt còn non, có thể nặn ra sữa được, phần đông là học sinh bị rớt Tú Tài, đến tuổi phải đăng lính thì nhiều lắm là cỡ tuổi em trai út mình thôi, vậy mà phải chịu đựng khói thuốc trong căn phòng bẩn không mấy sạch, vì làm gì có thời gian để thay đổi chiếu, chăn, nhiều đêm phải tiếp vài người khách là gần trắng đêm rồi, vì họ cho rằng tiền trao cháo múc, có những lần tôi gọi là xáp lá cà vì sự hùng hục không chút dịu dàng, sao cho thoả mãn sinh lý là được, không tình cảm trong đó, chính tôi, tôi cũng chẳng muốn có tình cảm, tôi tuy là một gái điếm nhưng tôi vẫn trọng phần hồn mình, chuyện làm tình với bất cứ ai chỉ là chuyện kiếm cơm mỗi ngày, không ăn thua gì đến trái tim mình cả, quan niệm tôi là vậy. Tôi cũng không bao giờ hy vọng hay ước mong ngày nào đó sẽ có một người sẽ đến yêu tôi và đưa tôi ra khỏi chốn bùn nhơ này. Rồi ngày tháng vẫn trôi qua, cuộc đời của Vân và tôi vẫn vậy, vẫn nhịn nhục chiều chuộng những người đàn ông thoáng qua đời chúng tôi trong vài giờ ngắn ngủi rồi ra đi, không để lại chút gì luyến tiếc. Tiền trao cháo múc mà! Rất hiếm những lần truy hoan có người nhìn tôi âu yếm, hay cử chỉ dịu dàng, chỉ có vừa mới chưa kịp cổi đồ là mình đã như con vật bị lên bàn mổ vậy, hùng hục, hùng hục, đúng như nghĩa của chữ này vậy, xong rồi, nằm thở dốc, hút điếu thuốc, mặc lại quần áo và mở cửa bước ra, không một lời chào hay một cái ngoắc tay từ giã.... Toán lính này đi, toán lính khác đến, không có gì thay đổi trong cuộc sống, không biết Vân nghĩ thế nào, phần tôi, tôi nhầy nhụa thêm như mình đang lội trong vũng bùn cuộc đời vậy.
Vậy mà, một hôm anh đến, anh vừa đổi đến đơn vị này; hôm ấy là ngày phép của anh, anh theo đồng bạn đến quán, gọi một chai martell thứ nặng nhất, mắc nhất uống với nhau. Con Vân đi ngang bàn, ngả ngớn với bạn anh, vuốt tóc anh, anh để tự nhiên cho Vân làm, chỉ mỉm cười chào lịch sự. Bàn anh gọi thức nhậu, Vân lo tán tỉnh với bạn anh, nó ngoắc tay nhờ tôi làm giùm. Tôi mang mấy dĩa đồ nhậu đến bàn anh, tôi thấy ánh mắt anh đậu lại trên mắt tôi một khắc, mỉm cười cám ơn; cả bàn gom tiền lại trả, anh móc túi cho riêng tôi một số tiền khá, anh cầm tay tôi, mở tay tôi ra, đặt tiền vào đó và đóng tay tôi lại, rồi thôi.
Chiều ấy, anh nói với Vân muốn tôi tiếp anh, tôi bằng lòng, đưa anh lên phòng. Trong lúc anh ngồi trên ghế, tôi lấy drap và áo gối mới thay, vì chăn chiếu cũ đã có nhiều người nằm trên ấy, mùi thuôc lá, mùi đàn ông, những dấu vết vàng vàng của những lần làm tình trước dơ dáy.
Không hiểu vì sao tôi lại đối với anh đặc biệt như vậy, tôi cũng tự đang hỏi mình. Anh có một khuôn mặt thật... tôi không biết tả ra sao, cái nhìn ấm áp khi anh nhìn tôi. Sửa soạn giường gối sạch sẽ, tôi như bình thường, mời anh lại giường, tôi đứng cởi đồ trước mặt anh, xong tôi dìu anh nằm dài xuống, và từ từ cởi quần áo cho anh, anh để yên cho tôi làm, xong tôi ngồi xuống giường, nằm xuống cạnh anh, anh dang tay anh ra cho tôi đặt đầu lên, xong quay lại vuốt tóc tôi, hôn lên môi tôi dịu dàng, làm tôi hụt hẫng, bất ngờ trước những cử chỉ trìu mến ấy, rồi anh bắt đầu cuộc chơi. Tôi thú nhận là lần đầu tiên từ ngày tôi làm điếm, tôi có cảm tưởng như tôi là người con gái còn trinh được người yêu yêu mình lần đầu, có một rung động không tên chuyền vào tôi, tôi đáp trả lại anh, tôi không gọi lần này là cuộc truy hoan của một người đàn ông và cô gái điếm. Xong cuộc, anh lấy tấm khăn để trên bàn lau cho tôi và anh, xong anh bảo tôi nằm yên đó, anh chồm dậy lấy bao Capstan châm lửa hút, chợt anh nghe tôi ho, anh dập tắt ngay điếu thuốc chưa kịp hút.
- Tôi làm em ho? Em không chịu được khóí thuốc?
Tôi giật mình xin lỗi nói không phải vì khói thuốc mà ho mà tại tôi có cái tật từ nhỏ là nhạy cảm, và lúc nào bị xúc động là tôi ho. Nghe tôi trả lời, anh ôm đầu tôi lại gần và hôn tôi như anh đang hôn người tình của anh vậy. Rồi hứng lên, anh lại đưa tôi vào cuộc chơi thứ nhì.
Sau lần yêu này, anh đặt đầu anh giữa hai vú tôi, hôn lên đó, và hai vai anh bỗng rung lên, anh khóc nức như đứa trẻ làm tôi sửng sốt. Tôi ôm đầu anh, trìu mến, hỏi anh nguyên do nhưng anh không muốn trả lời...
Anh và tôi nằm yên như vậy một lúc lâu, tôi không còn nghe anh khóc nữa, tôi nhìn anh, anh đang ngủ trên ngực trần tôi. Tôi lấy tay gỡ nhẹ đầu anh, đặt đầu anh lên gối, nhìn anh ngủ, lòng tôi chùng xuống, một tình cảm mới mẻ hiện ra trong tôi không có tên.
Tôi đứng dậy đi tắm và trước khi xuống quán, tôi nhìn anh ngủ, tôi cúi xuống đặt lên môi anh một chiếc hôn hình như có thương yêu trong đó, tôi cũng không hiểu luôn cử chỉ này tại vì sao nữa! Từ ngày hành nghề, tôi luôn tránh nếu có thể những chiếc hôn môi, cái cảm giác lợm giọng hôi nồng nặc thuốc lá và rượu làm tôi muốn ói, nhiều khi khách hôn mình, tôi muốn đấm vào mặt khách một cái, đạp cái thân thể trần truồng xuống đất và chồm dậy mặc nhanh áo quần, chạy trốn như vừa gặp phải ma. Vậy mà chính tôi lại hôn anh.
Tôi xuống quán xem Vân có cần đến tôi không, nhưng tối nay ít khách nên Vân để cho tôi yên.
Tôi xuống bếp làm vài món ăn đem lên phòng, anh đã tỉnh, vẫn nằm yên trong tư thế con nhộng,trên môi một nụ cười hóm hỉnh, nhìn tôi như nói:
- Em thẹn thấy anh trần truồng phải không? Tôi cười nhẹ không trả lời, trả lời sao bây giờ trong hoàn cảnh tôi, một cô gái điếm mà lại mắc cỡ đứng trước người đàn ông trần truồng như gái nhà lành!
Tôi nói anh đi tắm rồi ra ăn cơm với tôi. Trong lúc anh tắm, tôi lại giường, nằm xuống úp mặt lên gối, ngửi mùi tóc anh và mùi mồ hôi anh còn thoảng trên đó, có chút gì thật dễ thương khó quên!
Xong buổi cơm chiều, hai đứa cởi hết đồ, ôm nhau nằm trên giường, chợt nghe anh thở dài, tôi hỏi anh tại sao và anh chưa hề hỏi cho biết tên tôi cũng như tôi chưa biết tên anh, anh nói:
- Anh với em, mình không có tương lai, mai anh đi rồi, biết sống chết ra sao, và em cũng vậy, ngày anh may mắn còn sống trở về, chắc gì mình còn gặp lại nhau, thì thôi nếu em có chút tình cảm cho anh thì cứ giữ vậy làm kỷ niệm, anh không hề xem em là cô gái giang hồ, chỉ xem em là người con gái bất hạnh của cuộc đời trong chiến tranh mà thôi.
À, mà đây, vừa nói anh vừa tháo ở cổ anh sợi dây chuyền vàng có miếng mề đay nhỏ bằng vàng hình trái tim, có khắc số quân của anh. Tôi ngơ ngác, giương mắt nhìn anh:
- Đó là quà cuối cùng của Mẹ anh cho anh trước khi bà mất trong Tết Mậu Thân Huế, bà cho thợ vàng khắc số quân của anh khi lỡ anh chết trận, có trên cổ anh vừa tấm thẻ bài lính và số quân này, như vậy chắc ăn hơn, bà nghĩ vậy. Bây giờ anh gửi tặng em, giữ lấy như quà cưới, vì hôm nay anh không ngờ trước một sự gặp gỡ dễ thương và đáng nhớ như vầy, xem như hôm nay là ngày cưới anh và em, và đêm nay là đêm động phòng của mình. Anh cảm nhận được tình cảm em qua mấy lần yêu nhau chiều nay, em đã đặt tình cảm em trong đó; anh hiểu rõ lắm, vì trước đây, anh cũng đã sống trong trụy lạc, mê đắm trong thuốc lá, trong rượu, cùng gái điếm với những đêm truy hoan nhưng thú thật em, chỉ vì lâu ngày thèm khát đàn bà, với em hôm nay, anh không thèm khát chuyện xác thịt, lúc đầu anh cũng nghĩ sẽ như những cuộc truy hoan với những cô gái giang hồ khác (trong cuộc nói chuyện, anh vẫn tránh chữ gái điếm, và tôi thầm cảm ơn, sự tế nhị này của anh.) nhưng hôm nay thì không, anh có cảm tưởng người đang nằm bên anh là người yêu của anh.
Anh xem em như người bạn đời của anh dù chỉ gặp nhau trong một đêm, và cuộc tình ngắn ngủi này sẽ theo anh suốt dọc quãng đường anh đi tiếp. Tôi tháo chiếc nhẫn bạc kỷ niệm sinh nhật 18 tuổi của mình, đeo vào ngón tay út anh.
Tôi tắt đèn, và hai đứa lại lao vào những trận yêu bỏng cháy đầy tình cảm...

1. CHÚT QUÀ GỬI EM

Liên tiếp tuần sau đó, tôi gặp lại người lính không tên này ngày chủ nhật. Anh đến quán cùng với vài người bạn lính khác, các anh và anh, nhất là anh vẫn oai hùng trong bộ quân phục với áo hoa rừng và chiếc mũ nâu, cũng vẫn khuôn mặt dễ mến mà từ tuần trước khi anh ra về, tôi ra điều kiện với Vân, nếu Vân còn muốn tôi giúp Vân trông nom quán tiếp Vân, tôi sẽ không tiếp khách nữa. Vì hình như tôi vẫn đợi anh đến, tình cảm tôi hình như có sư đổi thay, và hình như tôi có linh tính là cuộc đời tôi đang đến một ngã rẽ khác.

Anh ngồi chơi với bạn, uống một chai bia lạnh hiệu 33, trong không khí đầy khói thuốc lá, mùi rượu, những mẩu chuyện lính đầy tính chất gái giang hồ, và sexe; tôi lén để ý anh, anh chỉ ngồi cười nghe bạn, không hoà đồng vào với bạn, Vân lăng xăng ôm cổ người này đến người khác, bằng lòng cho khách hôn hít, sờ soạng...

Tôi đứng yên sau quầy rượu, giả vờ lau ly, cốc... Anh quay lại nhìn tôi, mỉm cười chào nhẹ bằng một nụ cười thật hiền và dễ thương. Anh làm hiệu cho tôi đến gần anh, anh đứng dậy kéo ghế cho tôi ngồi cạnh. Nhiều bận mấy đồng đội anh định giở trò ờm ờ, những cử chỉ như đối với Vân, anh đưa tay như bảo họ stop, và lạ lùng nhất là họ nghe anh răm rắp, tôi nghĩ trong toán lính này, anh là huynh trưởng của họ, vai vế lớn hơn.

Sau đó, chiều lại, mấy người lính kia đứng dậy đi về trại, anh ngồi lại quán, hỏi Vân với tôi có thể cho anh ăn cơm chiều ở đây không, Vân cười nhìn tôi, ý là cô nàng hiểu anh muốn gì.

Vân đứng dậy dọn ly cốc và vỏ chai không trên bàn, đem đổ tàn thuốc, đưa mắt cho tôi như bảo: Mày lo cho chàng đi. Mâm cơm chiều này tự tay tôi nấu, ngon hay vì cảm tình anh dành cho tôi mà anh thấy ngon?

Chiều nay anh uống hơi nhiều một chút, rồi ngà ngà say, Vân và tôi không để anh về một mình, giữ anh lại cho anh ngủ lại đây.

Sáng hôm sau, khi anh ấy dậy, tôi pha nước cho anh tắm, bưng điểm tâm lên phòng cho anh vì tôi muốn hưởng trọn với anh ấy những giờ phút cuối trước khi anh ấy trở về đơn vị.

Anh kéo ghế sát lại, bảo tôi ngồi cạnh anh, một tay anh cầm cốc café, tay kia anh ôm ngang người tôi, tôi cảm nhận được hơi nóng từ thân thể anh thấm vào người tôi, lòng tôi nhũn ra, nước mắt muốn ứa nhưng không dám vì sợ anh buồn biết tôi đang buồn.

Anh ôm tôi chặt trong vòng tay mạnh mẽ của anh, chặt nhưng trìu mến chứ không như lũ khách tôi thường gặp.

Rồi cũng phải đến giờ xa nhau. Anh cầm tay tôi, quàng cổ tôi đi xuống cầu thang, tôi không để ý đến bao thuốc Capstan anh quên trên bàn. Xuống quán, anh hôn má Vân từ giã, và hôn tôi nồng nàn, môi tôi và anh như bị gắn chặt bởi một thứ keo đặc biệt mà thiên hạ gọi là keo sơn. Vân hỏi anh bao giờ anh ghé ngang, anh chỉ cười, đưa tay lắc lắc như nói không biết được, rồi anh đi. Tôi nhìn theo bóng anh, tim tôi muốn ngất đi vì thương nhớ.

Tôi bỏ Vân một mình vì sớm quá, quán chưa đông, tôi lên phòng, đóng cửa định ngồi khóc cho đã, chợt nhìn thấy trên bàn gói Capstan anh quên, nhưng tôi biết anh xa rồi nên thôi. Tôi mở gói thuốc xem còn thuốc nhiều hay không, chợt tôi khựng lại; trong bao thuốc có một bao giấy gói, tôi mở ra xem: một photo anh ngày còn sinh viên chắc, vì trẻ lắm, một số tiền và một lá thư ngắn có theo một bài thơ.

- Em giữ hộ anh nhé khoản tiền lương tháng này anh vừa lãnh, vì lúc này anh chưa cần đến, và anh tặng em hình chụp ngày anh vừa 17 tuổi như một kỷ niệm. Em giữ số lương anh đến khi nào gặp lại anh em hãy đưa trả anh, còn nếu rủi không gặp nữa, em cứ giữ lấy phòng thân vì không ai biết ngày mai như thế nào với chiến tranh,

2. GỬI EM CHÚT QUÀ

(Bài thơ này anh viết trong đêm khi em ngủ ngon giấc bên cạnh, anh ngồi dậy viết vội tặng em.)

mai lên nớ bao giờ gặp lại
ta biết em trong phút si cuồng
thằng lính trận thấy lòng ấm lại
tình của mình dù chỉ một đêm....

mai lên nớ thèm môi nào ngọt
phút hiến dâng như cả đời mình
ta bỗng chốc thành thằng ngu độn
chín bệ vàng hoàng hậu nương nương

mai lên nớ say cùng chiến trận
dòng chữ ghi ân hận chút tình
bao giấy thuốc thơm tình lính trận
gửi cho người tấc dạ trung trinh

mai lên nớ nhớ thân thể nóng
em rướn người vào bóng trăng tan.....

Người lính không tên...

*
Trước khi anh đi, Anh hỏi tôi có tấm hình nào không? Tôi mở tủ, tìm được một tấm hình mặc áo dài trắng có gắn huy hiệu bông mai của trường Gia Long, hình này tôi giữ kỹ vì để nhớ thời gian mình còn là một nữ sinh trong trắng chưa vướng bụi đời. Tôi đưa cho anh, anh bảo như vậy những khi nhớ tôi anh sẽ nhìn cho nhớ mặt tôi vì hình lúc 10 năm về trước và tôi bây giờ không khác nhau bao nhiêu, tôi ngồi thừ trước hình anh... nước mắt chan hoà..

Sáng hôm sau, anh dậy sớm trở về trại vì đã hết phép. Anh hôn tôi nồng nàn, từ giã Vân và tôi. Tôi nhìn theo anh...hình như tôi vừa mất một cái gì thật thương qúi...

3. GIỌT NƯỚC MẮT BIẾT ĐAU
Quán Vân và tôi bây giờ khách thật đông, ngoài trại lính bên cạnh, tấp nập khách thương di chuyển hàng ngang thành phố, thêm gia đình vợ con lình cũng lên đây để thăm viếng chồng, anh, em trai cho tiện. Quán bây giờ không còn là ổ gái giang hồ mà là quán café và quán ăn. Vân cũng chán cái nghề mà thiên hạ vẫn gọi là nhơ nhớp và đê tiện. Vân trở về với đời sống bình thường, ngày ngày lo công việc rót rượu và các thức uống, mướn thêm người để tiếp khách, phần tôi vì tôi giỏi về nấu ăn nên Vân để trọng trách này cho tôi đảm đương.
Cuộc đời tôi không ngờ lại có sự thay đổi bất ngờ không tính trước, vì vài tháng sau, tôi đang thái rau cải, bỗng cơn buồn nôn thúc tôi chạy vào nhà sau ói, và tắt kinh: tôi mang thai với người lính không biết tên.
Tôi nửa mừng nửa lo, mừng là tôi sẽ lên chức mẹ, nhận ra tôi đã yêu thương anh ta vô cùng và tôi muốn giữ cái bào thai này như một kỷ niệm đẹp của đời mình, lo là không biết rồi đây cái thai lớn lên, rồi tôi sẽ làm gì và đi đâu, tôi kể cho Vân nghe, tôi muốn bỏ quán đi về quê quán để sinh nở nhưng Vân cản lại, Vân bảo thứ nhất là tôi mang thai, không chồng lại mang tiếng đồ gái chửa hoang, thứ hai tôi lấy gì để sống và nuôi cháu bé,
Vân bảo tôi hãy ở lại với Vân, nó rất tốt với tôi, thương tôi như ruột thịt, ở lại đây, dù sao tôi vẫn sống qua ngày được, tôi mềm lòng, cảm ơn Vân và tiếp tục công việc của mình.

Đêm đêm trước khi ngủ, tôi vẫn lấy hình người lính không biết tên ra nhìn, nhớ anh ấy như nhớ người tình hay người chồng của mình. Nhiều khi tôi nghĩ dại, lỡ anh chết ở chiến trường, chắc tôi khóc đến giọt nước mắt cuối cùng, và vui là biết bây giờ tôi còn thêm một kỷ niệm sống với anh sau mấy đêm thương yêu nhau thật như hai người tình.
Ngày tháng cứ theo nhau trôi qua, cuộc sống tạm ở quán Vân và tôi cũng đắp đổi qua ngày. Bây giờ tôi đã sinh nở xong, cháu bé trai ra đời trong tình thương của tôi và Vân. Tôi đặt tên cho cháu là Việt Nam, gọi Vân là dì Vân giùm cho cháu bé. Mỗi lần tôi ngồi cho con bú, tôi nhớ anh ấy kinh khủng, không biết bây giờ tiểu đoàn của anh đã trôi nổi ở chiến trường nào.
Quán chúng tôi bây giờ rất đông đảo, tấp nập đủ hạng khách, nhất là lính. Nhưng lúc này tôi cảm nhận hình như có gì không yên ổn lắm; trên gương mặt của những đám lính đến uống nước ở quán, lúc này có vẻ lo âu, tôi nghe lóm ở họ những tiếng di chuyển, thuyên chuyển, nào những địa danh như Đồng Xoài, Bình Giả...Pleime.
Tiếng máy bay trực thăng rền trên đầu, ngoài đường cái những xe tăng, xe cứu thương, xe jeep, từng đoàn convoi chở đầy lính không biết đi đâu... và càng ngày càng nghe tiếng súng, tiếng đại bác, tiếng bom gần lại. Tôi đâm lo, tôi nói với Vân, Vân cũng nghĩ như tôi, thấy tương lại bấp bênh quá.
Trong toán lính còn đóng ở đơn vị cạnh quán, có một người mặt mày thật chân hậu, dễ mến, xem ra hình như rất cảm nàng Vân và nàng ta cũng vậy, Vân đối với anh ta rất đặc biệt. Thấy anh mặc áo hoa rừng, trên vai có mang chữ V, tôi hỏi nhỏ một người lính bạn anh, anh ấy trả lời, ah, Hậu nó mang lon trung sĩ mà chữ nghĩa lính gọi là cánh gà đó chị.

Một trưa quán ít khách, tôi ngồi ru cháu bé ngủ ở nhà sau, để cho Vân và Hậu (anh ta tên là Nghĩa Hậu) nguyên buổi trưa. Lúc Hậu trở về đơn vị, Vân gọi tôi tâm tình, Vân thổ lộ với tôi là hai anh chị mết nhau lắm, và Hậu bảo Vân, Hậu muốn cùng Vân thành vợ chồng ngày Hậu mãn lính. Vân bằng lòng chờ đợi anh. Vân thú hết với Hậu về đời Vân, nhưng Hậu bảo Hậu không nề hà dĩ vãng của nàng, Hậu bảo Vân và tôi là hai sắc hoa trong thời loạn. Vân rất vui và cảm động tấm lòng độ lượng của Hậu, Vân nói nhưng làm sao anh giới thiệu Vân với gia đình của Hậu ở Đà Lạt lần tới khi anh được nghỉ phép vài ngày, Hậu trả lời không cần phải nói rõ Hậu gặp Vân ở đâu, hơn nữa, anh lớn rồi và anh là lính cuộc đời nay sống mai chết nên anh muốn cho Vân hưởng hạnh phúc cùng anh cho dù vài tháng, vài ngày, vài giây....Vân hứa sẽ lấy Hậu làm chồng và sau đó sẽ gửi quán lại cho tôi trông nom.
Tuần sau đó, Vân bảo tôi Vân sẽ về thăm người dì ruột ở Quảng Trị và hôm rồi sẽ trở về với tôi trông coi quán và chờ Hậu về. Nhưng Vân sẽ không bao giờ về với mẹ con tôi nữa. Chuyến xe đò trong đó có Vân đã trúng mìn, tất cả xe đều chết hết.
Thế là tôi lại bơ vơ thêm lần nữa, mất người bạn thiết, lạc người lính không biết tên mà tôi đã đem lòng yêu thương, tôi khóc hết nước mắt. Hậu cũng đi rồi, không biết phải ra chiến trường nào! Nhiều lúc nghe tiếng súng và đại bác gầm trong đêm, tôi ước có viên đạn lạc nào đó lấy luôn sự sống của tôi cho rồi, nhưng khi tôi nghe tiếng khóc con thơ bên cạnh, tôi sực tỉnh cơn ác mộng. Tôi đã tự hứa với mình là tôi sẽ nuôi cháu cho thành người vì tôi vẫn có hy vọng có thể ngày nào đó mẹ con tôi sẽ gặp lại người xưa.
Tôi vẫn tiếp tục ngày ngày cho quán, nhưng rồi cũng bối rối quá vì hình như có cái gì đó không ổn. Ngoài đường bây giờ từng đoàn người tay nải, tay bế tay bồng chạy, mà chạy đi đâu, không hỏi ai được, rồi thêm vào đó xe chở lính đầy đường, máy bay trực thăng bay rền trời, tôi cũng đâm hoảng, lúc này không còn thấy lính đến uống nước nữa.
...
Cuối tháng Tư 75.
Đang hoang mang chưa biết phải làm gì thì ngay sáng hôm đó, Hậu không biết từ đâu chạy bay vào quán, réo tôi bảo thu xếp vài thứ cần thiết cho cháu bé, bảo hai cô gái giúp quán cũng vậy, tôi đang còn tần ngần không biết đem gì bỏ gì thì Hậu hét to lên bỏ hết, bỏ hết, mau lên, xong Hậu bồng thằng Nam, một tay nắm tay tôi dắt ra cửa, hai cô gái một cô dùng dằng không chịu đi vì em ấy còn mẹ già và em trai nhỏ, bảo chúng tôi cứ đi, để quán lại em lo tiếp.
Hậu bồng Nam ra xe, trao cháu cho người lính ngồi trên xe, đẩy tôi và cô gái tên Uyên lên xe rồi nhảy phóc lên chỗ tay lái, cho xe chạy thẳng. Trên đường bây giờ thiên hạ như tổ ong vỡ, vừa chạy vừa gào vừa khóc, không còn biết chạy hướng nào nữa. Chiếc xe jeep Hậu phải lách tránh vừa người, vừa  convoy lính, phải tay lái cừ lắm mới không đụng ai và cán ai, có nhiều người muốn níu xe lại xin cho quá giang, như Hậu không ngừng, thì giờ khẩn cấp quá rồi. Tôi như con ngáo, hỏi Hậu là thế nào, mới hay là miền Nam đã mất vào tay cộng sản, và chúng tôi đang tìm đường thoát.
Tội thằng Nam, chắc nó cũng cảm được gì đó không an, nó ngồi êm rơ trong lòng người lính. Xe chạy như vậy không biết đã bao lâu và hướng nào vì đi từ sáng sớm tinh mơ, giờ đã tối thui. Hậu bảo chúng tôi là sắp đến Vũng Tàu. Tôi và cô gái cũng không dám hỏi thêm.

Sau cùng, tôi nhận ra bãi biển Vũng Tàu với những hàng dừa như ngái ngủ bây giờ bị dựng đầu dậy bởi tiếng khóc, tiếng réo, tiếng cầu cứu loạn xà ngầu của đám người chạy loạn cũng đang tìm cách thoát ra khơi bằng đủ cách. Vì Hậu hình như đã tính toán sẵn trước nên khi vừa đến Bãi Trước, anh hối mọi người theo anh chạy xuống mé biển, ở đấy đã có sẵn một chiếc tàu quân sự nhỏ đang chờ chúng tôi, anh để người lính bạn nhảy lên tàu trước, đưa Nam cho anh ta, xong đến cô gái, đến tôi và Hậu cuối cùng, chiếc tàu nhổ neo chạy vọt ra khơi.
Chiếc tàu chúng tôi chạy ra xa, và tiếng máy hình như vừa ngừng lại, trước mắt là một chiếc tàu lớn của binh chủng Mỹ vì có treo cờ Mỹ. Chiếc tàu dừng hẳn lại, trên tàu Mỹ, có mấy người lính Mỹ thả xuống một cái thang bằng dây. Hậu bảo người lính bạn leo lên, Hậu buộc cháu Nam trên lưng anh ta, xong Hậu đỡ tôi leo lên sau, rồi đến phiên cô gái và Hậu.
Thường ngày, leo thang bằng dây như vậy thật là khó khăn, nhưng hôm nay, sự lo lắng và sợ hãi đã làm cho tôi như mọc cánh, leo thật dễ dàng.
Lên đến tàu rồi, thấy Hậu lăng xăng nói chuyện với mấy người lính Mỹ anh gặp. Trong lúc đó tôi nhìn quanh, chiếc tàu lớn này chở có lẽ đến 5, 6 ngàn người vừa lính Mỹ, vừa quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, vừa đám người tị nạn như tôi, vợ con quân nhân...những người đầy may mắn chạy thoát đặc biệt như vầy.
Qua khỏi cơn kinh hoàng, bất chợt tôi vừa nhận ra mình sẽ rời xa mãi Việt Nam thân yêu, tôi quay lại nhìn về phía Vũng Tàu, xa lắm nên tôi không còn thấy và nghe tiếng đám người chạy loạn, chỉ thấy lửa; toàn lửa đỏ cả một góc trời và đám khói đen nghịt bốc cao, Vũng Tàu vừa bị đốt. Tôi thở dài, thế là quê hương thân yêu tôi đã bỏ lại sau lưng mình!
Tôi tìm anh lính để cám ơn anh đã lo cho Nam, tôi tìm Hậu để muốn nói một lời nào đó, và để hỏi Hậu về tin tức mình sẽ đi về đâu...Hậu thấy tôi đến gần, anh nhìn tôi, nở một nụ cười đón tôi nhưng thật buồn, rồi thôi, hai chúng tôi đứng bên nhau không nói thêm gì nữa, tôi thấy mắt Hậu nhìn về phia tôi cũng vừa nhìn lúc nãy, đôi mắt anh chứa một nỗi buồn kín đáo, trầm lặng, tôi biết anh đang nghĩ đến quê hương vừa bỏ mất, đến Vân, tình yêu đầu đời của anh nay chỉ còn là một hoài niệm khó quên, hình ảnh của những mảnh thịt da tan tác đó đây, nhầy nhụa máu cùng đất đỏ cao nguyên của Vân, của những người lính đồng đội của anh đã nằm xuống, của những người dân chết vì một viên đạn, một mảnh bom vô tình rơi trúng trên một quãng đường nào đó của quốc lộ...

4 - GIỌT NƯỚC MẮT TRỞ HỒNG LONG LANH
( Tiếp theo giọt nước mắt biết đau )
Trên chiếc Hàng Không Mẫu Hạm Hoa Kỳ chở dân tị nạn chúng tôi bây giờ bớt người, vì đến đảo Subic Bay, có khu trục hạm khác đang đậu chờ để chia bớt số dân di tản chia làm hai ra, dân trên tàu chúng tôi thấy tàu kia tản bớt còn ít người nên ùn ùn xuống bớt tàu nầy qua bên tàu kia. Không biết là chiến hạm này sẽ đi Canada hay Úc thì tôi không rõ lắm.

Thấy bớt được người, Hậu bảo anh bạn lính, Uyên và tôi cứ ở lại đây vì Hậu bảo tàu này chắc sẽ qua thẳng đảo Guam.
Tôi mở ngoặc nói về người Mỹ một chút, những ngày trên tàu, hầu hết lính Mỹ đối với đám dân tị nạn chúng tôi rất tốt, chúng tôi mỗi ngày vẫn nhận được 3 bữa ăn có cơm chỉ khổ là họ không biết biết nấu kiểu Việt Nam, nhiều nước quá nên cơm nhão, nhưng dù sao khi đói ăn gì vẫn thấy ngon, đồ ăn toàn là đồ hộp như thịt hộp...các cháu bé thì được phát thêm sữa bột Mỹ...Tôi cám ơn những người Mỹ đã đón nhận chúng tôi với nỗi thông cảm sâu sắc tình người.
Vì bớt người nên chúng tôi không còn nằm như cá mòi sắp lớp nữa, Hậu tìm được cho bọn con gái chúng tôi một chỗ trên boong, thoải mái. Những người lính Mỹ đem cho chúng tôi mỗi người một tấm nệm bằng cao su,một tấm mền.vừa ấm cũng vừa êm nên cũng đỡ khổ cho tấm lưng gầy, mấy hôm nay bị cong vì nằm hụt chỗ.
Đêm nay, đêm bình yên đầu tiên tôi nhìn thấy trăng, bao ngày lênh đênh trên biển, sự lo âu và đau buồn vì cớ cái chuyện rời bỏ quê hương đang bị dày xéo bởi chế độ khắc nghiệt độc tài sau chiến tranh. Nhớ cái chết thảm thương tội nghiệp của Vân, tôi như người ngồi trên lửa và mắt tôi như mù đi. Đêm nay ngồi ôm cho bé Nam ngủ, tôi ngồi cạnh Hậu, Sang – anh lính chưa quen và Uyên, tôi chợt thấy trên nền trời đêm xanh trong, có mặt trăng và những ngôi sao lấp lánh, chợt tôi nhớ đến 4 câu thơ của người lính không biết tên đọc cho tôi nghe lúc anh nằm cạnh, anh vuốt tóc tôi âu yếm:

Giữa khuya tay gối đợi chờ
em đi vào giấc mơ đời lênh đênh
trăng vào xiêm áo nhẹ tênh
oằn thân ngà ngọc cong vênh cội nguồn....


mắt tôi chợt ướt, tôi lắc đầu cho quên đi kỷ niệm, vì giờ này đâu còn là lúc để nhớ mà chỉ lo ngay ngáy ngày mai mình và con sẽ ra sao, tương lai sẽ đi về đâu...
Lênh đênh trên biển như vậy, sau 11 ngày, thì chiến hạm đến hải phận của đảo Guam. Trước khi cho chúng tôi sang những chiếc tàu nhỏ của tuần dương hạm để vào đảo, họ phát cho chúng tôi ít quần áo, các người đàn ông mỗi người một chiếc sơ mi chim cò kiểu người Phi Luật Tân .
Bỗng tôi nghe có tiếng thét từ trên boong cao, tôi đưa cháu Nam cho Uyên, đưa mắt tìm Hậu nhưng không thấy, tôi chạy vội leo lên boong, thấy Hậu và một nhóm người đang nhìn xuống biển, tôi vội vàng chạy đến tìm Hậu, đưa mắt hỏi. Chỉ nghe Hậu thở dài và đám người kia phần nhiều là quân nhân VNCH, mặt họ thật buồn.
Hậu kể cho tôi nghe câu chuyện từ đâu có tiếng thét nhói tim người nghe lúc nãy: Lúc mọi người được phát cho quần áo, chiếc áo sơ mi chim cò kiểu Phi Luật Tân vẫn mặc. Như mọi người quân nhân khác, Hậu cầm chiếc áo trong tay, tần ngàn không biết nên cởi bộ quân phục đang bận trên người để thay, chợt Hậu thấy đằng xa một anh quân nhân cầm trên tay chiếc áo, vẻ mặt như đang nghĩ ngợi một điều gì quan trọng, có lẽ anh ta đang đối diện với một sự thật tàn nhẫn không thể chối bỏ hay quên được: Đó là danh dự tổ quốc, lý tưởng của người làm trai đã hy sinh cả cuộc đời, tuổi trẻ, gia đình để bảo vệ miền đất tự do của anh đã mất hết. Trong một khắc ngắn, như đã quyết định, anh leo lên bờ boong tàu, lao mình xuống biển mà sóng đã nuốt chửng mất hút thân anh trong biển mênh mông trong lúc Hậu chưa kịp làm một cử chỉ gì để giữ anh lại! Vậy là bao nhiêu chí lớn trong một khắc ngắn đã chìm theo những bọt sóng vô tình....Hậu nắm tay tôi, ngậm ngùi cho hoàn cảnh của những người cầm súng không giữ được quê hương! Hậu nghĩ trong đầu, khi cầm chiếc áo chim cò anh vừa nhận được, anh cảm thấy lòng anh rất thẹn, thẹn vì anh thấy mình thật bất lực, anh là một quân nhân của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, trong tay anh cầm súng cùng với anh em chiến hữu cố chiến đấu đến phút cuối cùng, vậy mà không làm tròn được sứ mạng của người trai lúc quê hương đang gặp nguy biến, không ngăn chận được kẻ thù, anh cũng đã nghĩ đến chỉ có cái chết mới có thể xin tạ lỗi cùng quê hương, nên anh rất hiểu tâm trạng người quân nhân vừa đã nhảy xuống biển tự vẫn vừa rồi.
Tôi nhìn Hậu, thấy sự xót xa trong mắt Hậu, tôi vội bấu chặt lấy cánh tay Hậu:
- Hậu, Hậu đừng làm vậy, đã không có ích gì mà còn làm cho Vân dưới suối vàng buồn thêm, và còn những người còn sống, đồng bạn Hậu, mẹ con chị còn cần đến Hậu.

Vào đến đảo, chúng tôi cũng được đón tiếp đàng hoàng. Mỗi gia đình được chia cho một căn lều vải. Chúng tôi là những người gần như đầu tiên đến đảo, được đối đãi rất tốt. Mỗi ngày nhận được 3 khẩu phần. Cuộc sống trên đảo cũng tạm qua ngày trong lúc chờ đợi Uỷ Ban Liên Hiệp Quốc quyết định cho tương lai của những người di tản.
Trên đảo có một văn phòng đại diện Liên Hiệp Quốc, họ cần những người biết tiếng Pháp, tiếng Anh để làm thông dịch viên. Hậu và tôi tình nguyện vào làm vì chúng tôi nói thạo 3 thứ tiếng.
Sau đó thấy Hậu độc thân, họ hỏi anh muốn đi đâu và có thân nhân ở đâu, Hậu bảo anh đã liên lạc được với vợ chồng em gái anh ở Mỹ và chịu bảo trợ cho anh, và anh đã được đồng ý cho đi Hoa Kỳ. Sau đó đến tôi, thấy tôi thạo tiếng Anh, và có con nhỏ, họ bảo tôi được quyền ưu tiên chọn xứ, và sau đó do sự bảo trợ của nhà thờ, họ tìm được cho tôi một gia đình hai vợ chồng người Mỹ cao tuổi đang cần một người giúp việc nhà, họ liên lạc với gia đình này và tôi được nhận.
Cuộc đời mẹ con tôi đến một ngã rẽ may mắn, nhiều khi nghĩ lại, tôi cũng tự hỏi có phải tôi đẻ bọc điều không, hay định mệnh do Trời Phật xếp đặt.
Ông bà Mỹ đối với mẹ con tôi như người nhà. Ngoài những giờ làm việc, bà chủ cho tôi theo học lớp tiếng Anh cho người ngoại quốc, vì dù tôi thạo tiếng Anh, nhưng ở Mỹ họ nói mau quá khó nghe vì nuốt chữ. Và vì chợ búa, món ăn tôi chưa thạo việc lắm, chỉ có cái vui là ông bà rất thích đồ ăn Việt nên mê những món tôi nấu.
Ở đây có nhiều hội từ thiện các nhà thờ, thường cho mẹ con tôi quần áo …có mặc rồi nhưng chưa cũ lắm, cháu Nam thì ban ngày được đi mẫu giáo, tóm lại, cuộc đời tôi không đến nỗi nổi trôi lắm nếu hai ông bà Mỹ không mất đi. Từ đó, tôi lại phải lo tìm việc khác để làm nuôi con.
Tôi nhờ nhà thờ tìm cho tôi chỗ làm, và tôi được nhận vào nấu ăn cho một nhà hàng Việt, với sự dành giụm, mấy năm sau tôi mua được một căn nhà nhỏ đủ cho mẹ con tôi ở. Tôi tiếp tục như vậy và nuôi con cho đến lúc nó ra đại học. Bây Giờ Nam đã là một luật sư. Nó tìm được chỗ làm tốt cùng với một luật sư người Mỹ gốc Việt.
Hiên nay tôi đã ngoài lục tuần. Tôi vẫn sống độc thân nuôi con, dù có rất nhiều người thương và xin cưới tôi. Trong tim tôi, bao giờ cũng chỉ có một hình bóng duy nhất của người lính không biết tên mà tôi vẫn xem anh như chồng mình. Tôi cứ cầu nguyện Trời Phật cho tôi gặp lại anh ấy dù chỉ một lần là đủ mãn nguyện rồi. Nam từ nhỏ vẫn hỏi cha nó đâu, tôi giải thích cho con cha nó là một người lính trước đây của binh chủng Biệt Động Quân Việt Nam Cộng Hoà.
40 năm sau
.......
Buổi tối hôm đó, tôi đi dự đám cưới con của bạn, tôi không thể nào ngờ là mình đã gặp lại người xưa. Anh đưa tôi về nhà, tôi mời anh hôm sau đến chơi và để cho anh biết một chuyện mà anh không bao giờ ngờ đến.
Trong một bữa tiệc cưới con trai bạn, tôi đi dự hôm đó, mặc chiếc áo dài tím như thời còn là học trò nhưng hở cổ, thân người vẫn mỏng mảnh, và nhìn chung sắc diện cũng còn dễ coi, chưa bị thời gian hằn những nếp nhăn mặc dù đời tôi quá ê chề lúc trẻ. Trên cổ trắng ngần của mình, sợi dây chuyền người lính không biết tên đã tặng vẫn nằm yên cùng chỗ khi người ấy đeo vào cho tôi. Tôi đang đứng nói chuyện với mẹ cô dâu, chợt thấy có một người đàn ông tóc hơi hoa râm nhìn tôi chăm chú, tôi cố nghĩ tìm xem có quen không, thì người ấy đã đi về phía tôi, nhìn đăm đăm vào khoảng cổ trần của tôi:
- Xin lỗi bà về tội tôi đường đột sắp hỏi một câu, nếu có gì thấy thất lễ, mong bà lượng thứ cho. Chưa kịp trả lời bằng lòng hay không, ông ta tiếp theo:
- Xin lỗi bà, làm sao bà có sợi dây chuyền này?

Bất giác tôi nhìn tay ông ta đang cầm cốc rượu, một chiếc nhẫn bạc quen thuộc trên ngón tay út, cả hai người, ông ta và tôi đánh rơi hai cốc rượu xuống đất cùng một lần theo sau hai tiếng như thoát ra từ ngực mỗi người:

- Anh

- Em...

Anh đưa tôi về nhà, tôi mời anh hôm sau đến chơi và để cho anh biết một chuyện mà anh không bao giờ ngờ đến.
Hôm ấy tôi làm một bữa cơm thật giản dị nhưng để hết thương yêu vào những món mà ngày anh đến quán Vân tôi đã tự tay nấu cho anh và nhân thể tôi gọi Nam đến ăn cơm nhưng chưa cho con biết vì sao, tôi căn dặn con là phải đến. Hôm nay tôi cũng sửa soạn làm đẹp một chút và nhìn gương, tôi rất tự hào mình vẫn còn những nét xưa.
Nghe chuông cửa reo, tôi vội vàng ra mở cửa, thấy anh ôm trên tay một bó hồng đỏ và chào tôi bằng một nụ cười thật tươi, tôi sững hết một phút, ban ngày nhìn rõ, nụ cười đó của anh vẫn dành cho tôi những ngày ngắn ngủi thương yêu nhau ngày xưa. Anh đưa cho tôi bó hồng, anh bảo có 40 đoá hoa, tôi hỏi tại sao lại 40 đoá hoa?

- Vì đã 40 năm anh chưa gặp lại em. Và mỗi một đoá hồng là một năm tròn anh nhớ em đó em.
Nước mắt tôi ứa ra vì cảm động. Tối qua ở tiệc cưới, anh bảo anh vẫn ở một mình đến bây giờ vì cũng thầm mong ngày nào đó gặp lại tôi.
Tôi mời anh vào nhà, mời anh vào salon, mời anh ngồi ở chiếc ghế bành một chỗ bên tay trái tôi, tôi mở chai champagne, rót vào hai cốc, mời anh uống rượu khai vị. Anh nắm tay bảo tôi ngồi xuống cạnh anh, anh ôm tôi hôn nồng nàn như đêm đầu tiên mới gặp.
Qua hết những phút cảm xúc, tôi đứng dậy, đi lại bàn viết, mở hộc tủ lâu nay tôi vẫn khoá, tôi lấy bao thuốc lá Capstan cũ đưa cho anh, anh ngạc nhiên nhìn tôi, tôi ra dấu cho anh mở đi.
Anh cầm bao thuốc, mở ra, anh như sững lại: trong bao thuốc anh để lại trên bàn khi anh trở về đơn vị còn y nguyên số tiền lương tháng cuối cùng anh để lại cho tôi, tấm ảnh cũ của anh và bài thơ anh viết vội tặng tôi trước khi anh lên đường. Anh lặng người đi mấy phút, xong anh kéo tôi lại, dang tay ôm trọn tôi trong vòng tay anh.
- Sao em lại để dành số tiền này vậy?
- Vì đó thuộc về những kỷ niệm ít oi anh để lại cho em trước khi anh đi.
- Anh bảo em nếu em cần thì tiêu, không thì ngày gặp lại, em trả lại anh cũng được
- ???
- Vì em không phải cần đến số tiền đó nên...
Ngay lúc ấy, cửa nhà mở, cháu Nam bước vào, thấy anh, nó khựng lại một giây, xong bước lại gần, đứng cụp hai chân với nhau và đưa tay phải lên trán chào anh theo kiểu nhà binh.Thấy anh bỡ ngỡ, Nam lên tiếng trước:
- Con chào Ba, rồi đến gần hôn anh trên má.
Anh ngạc nhiên nhìn Nam rồi nhìn tôi, tôi chưa kịp lên tiếng thì Nam đã giành nói:
- Thưa, con biết là Ba, vì khi con vừa bước vào phòng khách, thấy Ba ngồi trên chiếc ghế mà Mẹ con không mời ai ngồi trên ấy, kể cả bạn bè của Mẹ hay ngay cả chú Hậu, vì Mẹ con vẫn nói với con là người đàn ông nào bước vào nhà và được Mẹ con mời ngồi vào chiếc ghế này sẽ là cha của con mà thôi, vì vậy mà con biết là Ba.
Anh nhìn tôi, tôi hiểu ra, tôi nói :
- Mấy tháng sau khi anh đi, em đã có thai, và đây là con trai chúng mình đấy anh, con tên là Nam, Nguyễn Việt Nam, em khai họ mẹ vì không biết anh tên gì và họ gì, anh cười thật tươi:
- Anh là Cường, Nguyễn Việt Cường.
- Còn em là Trầm Hương, anh trả lời hộ tôi, vì phía trong chiếc nhẫn em tặng anh đêm đó, anh đọc thấy tên em khắc trong nhẫn : Tôn Nữ Trầm Hương, rồi ôm tôi âu yếm...Hạnh Phúc thật bất ngờ còn đến với những người bạc hạnh như tôi.
đht

Friday, February 5, 2021

Đây là một câu chuyện có thật, xảy ra trong thế chiến thứ hai, một câu chuyện đầy tình người, đáng cho chúng ta đọc và suy ngẩm.

Trung uý Charlie Brown 21 tuổi, trưởng phi cơ chiếc B17F Flying Fortress tên phi cơ (Ye Olde Pub) thuộc phi đoàn 527th United States Army Air Force (USAA) đồn trú tại Kimbolton England
Ngày 20 tháng 12 năm 1943. Trung uý Charlie Brown cất cánh từ Kimbolton cùng phi hành đoàn 10 người, trong một phi vụ đánh bom khu kỷ nghệ gần thành phố Bremen Đức Quốc, thành phố được bảo vệ dầy đặc phòng không và 250 chiến đấu cơ gồm Bf 109, Fw 190 và GJ 11.
Trên vòm trời Bremen chiếc B17 của Charlie Brown bį phòng không của Đức bắn gần gãy lìa đuôi, mủi phi cơ bị hư hại nặng, phi cụ không còn hoạt động, điện, thủy điều hoàn toàn hư hỏng. Ba trong bốn động cơ không còn hoạt động được. Sau đó chiếc B17 bị các chiến đấu cơ Đức vây quanh, bắn nát như tổ ong, chiếc phi cơ B17 mất cao độ chúi xuống, trong lúc hỗn loạn không còn phi cụ, phi cơ lạc hướng bay sâu vào nội địa nước Đức. Trung uý Charlie Brown hồi tưởng: Phi cơ trong tình trạng tuyệt vọng nhưng anh không thể ra lệnh cho phi hành đoàn nhảy dù được, vì trên tàu còn 4 phi hành đoàn bị thương, một rất nặng, nên anh quyết định bay tiếp cho đến khi nào không còn bay được, anh sẽ đáp ép buộc, và tất cả phải chịu chung số phận với con tàu.
Anh Franz Stigler, người phi công lái chiếc Bf 109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức Quốc) từng hạ 27 phi cơ của đồng minh, đang tiếp tế nhiên liệu, nạp đạn cho phi cơ dưới đất, được lệnh cất cánh khẩn cấp, bắn hạ chiếc B17, đang lảo đảo bay trong không gian vô định.
Trung uý Charlie hồi tưởng: tôi phải vất vã lắm mới kéo được con tàu trở lại bình phi, thì lù lù bên trái của tôi một chiếc Bf109 của Đức kèm sát cánh
Trong giây phút kinh hoàng, tôi nhắm mắt lại, hy vọng đây chỉ là giấc mơ. Khi mở mắt ra chiếc Bf109 vẫn còn đó, và người phi công ra lệnh cho tôi phải đáp ép buộc xuống phi trường Đức, hay phi trường nước trung lập Sweden, tôi không đồng ý. Cuối cùng tôi thấy người phi công lái chiếc Bf109 bay nhanh phía trước, lắc cánh ra hiệu cho tôi theo, không còn lựa chọn tôi bay theo, độ hơn một giờ sau tôi nhìn thấy biển Bắc. Chiếc phi cơ Bf109 bay chậm lại song song với tôi, đưa tay chào, rồi lắc cánh nhẹ vài cái, dấu hiệu tạm biệt của người phi công, rồi mất dạng trong sương chiều.
Như một phép lạ, anh Charlie Brown bay được 250 miles(400 km) qua biển Bắc. Sau cùng đáp ép buộc xuống phi trường của hoàng gia Anh ở Seething, nơi đồn trú của phi đoàn 440th bomber group, chỉ có một người chết, còn tất cả những người bị thương đều được cứu. Sau đó tất cả phi hành đoàn báo cáo với sỉ quan chỉ huy ở đây, họ được chỉ thị giữ kín chuyện này, vì nói ra sự thật có vẽ phản tuyên truyền, vì không thể có một phi công Đức nào hào hùng và độ lượng với kẻ thù như vậy
Sau chiến tranh Charlie Brown ở lại phục vụ trong không lực Hoa Kỳ cho đến năm 1972 giải ngũ với cấp bậc trung tá sống tại Florida
Câu chuyện không chấm dứt ở đây. Trở về lại quê hương, anh Charlie Brown viết rất nhiều thư để mong tìm ra tông tích người phi công Đức đã không cướp đi mạng sống của cả phi hành đoàn chiếc B17 của anh. Tìm một người phi công sau một cuộc chiến tranh tàn khốc, không tên họ, chỉ có một câu chuyện, đâu phải dể tìm. Không nản lòng anh vẫn tiếp tục. Cuối cùng vào năm 1989, sau 46 năm tìm kiếm, anh Charlie Brown đã tìm ra được người phi công bí mật, lái chiếc Bf109. Một anh hùng không chiến của không lực Luftwaffe (Đức) cũng là một thiên thần độ lượng trên vòm trời Bremen vào những ngày cận giáng sinh năm 1943. Đó là anh Franz Stigler
Sau khi chiến tranh chấm dứt anh Franz Stigler di dân sang sống ở Vancouver Canada. Trong bức thư đầu tiên anh Franz Stigler viết cho Charlie Brown “suốt bao nhiêu năm dài tôi luôn tự hỏi, không biết chiếc B17 đó có đưa phi hành đoàn về đáp an toàn hay không”
Họ gặp nhau sau 46 năm tìm kiếm diễn ra rất cảm động. Anh Franz Stigler hồi tưởng: tôi được lệnh cất cánh rượt đuổi bắn hạ chiếc B17, tống ga đuổi kịp, thì tàu của tôi báo hiệu máy đã nóng vượt bực, tôi đến từ phía sau quan sát chiếc B17. Một cảnh tượng thật tang thương, phần đuôi của con tàu gần như tan nát, một lổ hổng lớn có thể nhìn từ đuôi cho đến cockpit, người xạ thủ tail gun turret nằm chết đong đưa, nửa trong nửa ngoài trên pháo tháp. Tôi bay lên quan sát bên thân tàu, cả một vùng thân đầy lổ đạn to lớn, tôi có thể thấy cả phi hành đoàn bị thương nằm la liệt bên trong, người trưởng phi cơ đang vật lộn với con tàu mong giữ được bình phi, tôi ra hiệu cho anh ta theo tôi đáp xuống một căn cứ gần đó, để cứu những phi hành đoàn bị thương, anh ta nhìn tôi chăm chăm rồi nhè nhẹ lắc đầu, tôi không có can đảm giết những người anh hùng không còn vũ khí để tự vệ, tôi là một người phi công hào hùng, tôi chém giết để bảo vệ quê hương tôi, nhưng không hề có thù hận, khi còn chiến đấu ở Bắc Phi, người chỉ huy của tôi đã nói, nếu tụi mầy bắn một người phi công đã nhảy dù ra khỏi phi cơ, đó là một hành động tồi tệ, tao sẽ là người bắn rơi tụi mầy, trong trường hợp nầy cũng vậy, chiếc B17 nầy không còn tự vệ được, tôi phải để cho họ có một cơ hội, ngày mai tôi sẽ bắn họ khi họ ngang ngửa với tôi. Biết là không thể thuyết phục được người trưởng phi cơ B17 tôi bay ra phía trước lắc cánh, tôi cũng mừng khi thấy anh đã bay theo tôi, hướng dẫn chiếc B17 độ một giờ sau thì tôi thấy biển Bắc, tôi bay chậm lại song song, chào anh ta rồi quay trở về đáp, dĩ nhiên là tôi phải báo cáo với cấp trên, là tôi đã bắn hạ chiếc B17 trên biển.
Anh Charlie Brown và Anh Franz Stigler trở nên đôi bạn thân, họ đã gặp lại nhau nhiều lần, sau đó họ đã được không lực Hoa Kỳ bạn tặng những huy chương cao quý
Anh Charlie Brown mất ngày 24 tháng 11 năm 2008.
Anh Franz Stigler mất ngày 22 tháng 3 năm 2008 . Những người anh hùng trên một đất nước anh hùng, dù thắng hay bại vẫn được coi trọng,”luận anh hùng không dựa theo thành bại”.Người Nhật người Đức, sau khi bại trận vẫn được người Mỹ kính trọng. Còn Việt nam mình thế nào? Những người lính miền nam bại trận được đối xử ra sao? nếu không có người Mỹ và thế giới tạo áp lực, chắc chắn người Nga, Trung Cộng đã để cho Cộng Sản việt nam giết chết hết hai triệu Quân Cán Chính của miền Nam trong tù, mà họ gọi là trại cải tạo, giống như họ đã làm ở Tiệp khắc, Ba Lan, và ngay tại Liên bang sô-viết !!!
Xuân Thi FB

Wednesday, February 3, 2021

Thư Ngỏ của Tập Thể Chến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại, Về việc lá Cờ Vàng chính nghĩa của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại đã hiện diện trong cuộc biểu tình tại thủ đô Washington, DC,

 

 Thư ngỏ của Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại

Kính gửi,
Quý bậc trưởng thượng, quý thân hào nhân sĩ đồng hương tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại,
Quý niên trưởng, quý chiến hữu, thân hữu, chiến sĩ VNCH và gia đình cùng các hậu duệ,


Kính thưa quý vị, quý chiến hữu,

Sau thời gian tìm hiểu về việc lá Cờ Vàng chính nghĩa của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản tại hải ngoại đã hiện diện trong cuộc biểu tình tại thủ đô Washington, DC, và các ý kiến liên quan đến cuộc xâm nhập của một số phần tử gây biến động tại điện Capitol, trụ sở của Quốc Hội Hoa Kỳ,
ngày 6 Tháng Giêng.

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại có những nhận định được cập nhật như sau:

1-Sự việc một số đông người Mỹ gốc Việt mang theo lá Cờ Vàng của người Việt tị nạn Cộng Sản đến từ nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ tham gia cuộc biểu tình ngày 6 Tháng Giêng, 2021 tại thủ đô Washington, DC, là điều chính đáng.
Đây là quyền bày tỏ quan điểm lập trường của mình trong sự ôn hòa, hợp pháp hiến định cho phép.

2-Tin tức ghi nhận được cho đến nay không thấy có bất cứ người nào cầm Cờ Vàng của người Mỹ gốc Việt hiện diện trong cuộc biểu tình đã xông vào bên trong tòa nhà Quốc Hội một cách bất hợp pháp.
Do đó, cáo buộc những đồng hương đã tham gia vào cuộc biểu tình là tham gia bạo loạn trong tòa nhà Quốc Hội Hoa Kỳ là những quy chụp vô căn cứ. Trong khi hầu như tất cả những phần tử tham gia vào việc quấy phá bên trong tòa nhà Quốc Hội đã được nhận diện, bị bắt giữ không thấy có một người Việt cầm Cờ Vàng nào!

3-Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại tôn trọng các chính kiến khác biệt trong cộng đồng nhưng nghiêm khắc lên án việc lợi dụng hành động quậy phá trong tòa nhà Quốc Hội của một số phần tử quá khích không phải người Việt để tấn công, bôi bác lá Cờ Vàng cùng sự tham gia của những đồng hương hiện diện trong cuộc biểu tình ngày 6 Tháng Giêng, 2021, một cách ôn hòa. Việc này chỉ đưa đến tình trạng chia rẽ, tạo cơ hội cho CSVN lợi dụng để đánh phá chúng ta, làm suy yếu đi tinh thần đoàn kết keo sơn gắn bó cùng chung mục tiêu tranh đấu giải thể chế độ Cộng Sản giành lại tự do, dân chủ và nhân quyền cho hơn 90 triệu người dân Việt Nam tại quốc nội.

Trong công tác đấu tranh chung, đừng bao giờ quên Việt Cộng và tay sai luôn tìm đủ mọi cách để gây chia rẽ, ly gián trong hàng ngũ người Việt quốc gia, nhằm đạt được mục đích của chúng là xuyên tạc, bôi bác làm giảm giá trị và biểu tượng của lá Cờ Vàng mà biết bao chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đã cùng các chiến hữu của mình chiến đấu, hy sinh xương máu để quyết bảo vệ biểu tượng cho chính nghĩa của tiền nhân để lại, tiêu biểu cho tinh thần quốc gia dân tộc của miền Nam tự do, biểu tượng cho thể chế Việt Nam Cộng Hòa.
Chính lá Cờ Vàng thiêng liêng mà hiện nay đã được nhiều thành phố và tiểu bang tại Hoa Kỳ công nhận là lá cờ di sản của người Việt tị nạn Cộng Sản, cũng như tại một số quốc gia tự do trên thế giới.

Với biểu tượng cao quý này, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại sẽ không để cho ai được quyền bôi bác và xúc phạm đến.
Từ các nhận định trên, chúng tôi cho rằng chúng ta khi đi biểu tình mang theo lá Cờ Vàng thiêng liêng đã tuân theo luật pháp cho phép là điều cần thiết và đáng hãnh diện.

Người Mỹ gốc Việt đã nêu gương tốt khi tham gia các cuộc biểu tình có mục tiêu chính đáng nhằm tranh đấu cho sự tự do, công bằng, dân chủ,… biểu hiện sự nhiệt tình qua các hành động chừng mực, thu phục được sự tôn trọng và quý mến từ các sắc dân khác, và cũng là cơ hội để cho các sắc dân khác biết rõ được nguồn gốc lá Cờ Vàng của chính thể VNCH trước kia đã từng là tiền đồn của thế giới tự do với nhiệm vụ ngăn chặn sự bành trướng của chủ nghĩa Cộng Sản Quốc Tế và biểu tượng của người Việt tị nạn Cộng Sản ngày nay.

Một số nhỏ hội đoàn và một nhóm người, theo phe đảng đã khai thác, xuyên tạc, nhập nhằng giữa sự kiện của nhóm người quá khích xông vào điện Capitol gây hỗn loạn với đám đông biểu tình ôn hòa của những người Mỹ gốc Việt từ các tiểu bang cùng về hòa nhập chung với cả triệu công dân Hoa Kỳ khác đòi hỏi công lý và sự trong sáng minh bạch theo như tinh thần dân chủ và Hiến Pháp cho phép.

Sự thiên vị có tính cách phe nhóm với các buổi hội luận một chiều của một số cơ sở truyền thông và bản lên tiếng của một số cá nhân dù mang danh nhiều học vị cao trong xã hội nhưng không nắm vững vấn để, vội vàng với thiên kiến đã đưa ra những kết luận sai lạc, không đúng với ý nghĩa của việc thực sự muốn bảo vệ lá Cờ Vàng mà họ rêu rao. Hành động này không có tính cách xây dựng, đoàn kết mà đã đào sâu sự chia rẽ, vô tình làm cái cớ để cho những người thiên Cộng và CSVN có dịp khai thác.

Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại hoan nghênh sự tham gia tích cực của các chiến hữu và đồng hương vào các sinh hoạt xã hội, chính trị trong khuôn khổ luật định để góp phần vào việc xây dựng để bảo vệ sự tự do, dân chủ, nhân quyền trên quê hương thứ hai này.
Sau một năm với nhiều biến động gây ra cho cả thế giới đều bị suy sụp về kinh tế, thiệt hại về nhân mạng, giao thông quốc tế và quốc nội bị hạn chế ảnh hưởng sâu đậm bởi đại dịch COVID-19 xuất phát từ tỉnh Wuhan của Trung Quốc chưa biết đến bao giờ mới dập tắt được.

Trước thềm năm Tân Sửu 2021 sắp đến với niềm hy vọng mới, Tập Thể Chiến Sĩ VNCH Hải Ngoại kính chúc quý vị và gia đình được dồi dào sức khỏe an toàn vượt qua được trận đại dịch. Cầu chúc mọi sự an lành, vui vẻ, may mắn cùng vạn sự như ý trong năm Tân Sửu.

Trân trọng

Little Saigon, California, Hoa Kỳ ngày 31 Tháng Giêng, 2021

TM Tập Thể Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Hòa Hải Ngoại
Chủ tịch Hội Đồng Tư Vấn: Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Khắc Bình
Chủ tịch Hội Đồng Đại Diện: KQ Nguyễn Văn Ức
Chủ tịch Hội Đồng Điều Hành: Bác Sĩ Phạm Đức Vượng
Chủ tịch Hội Đồng Giám Sát: C/H Hoàng Trọng Đức (Đ.D.)

Wednesday, January 6, 2021

Maryland: Tang lễ Mũ Đỏ Bác Sĩ Bùi Cao Đẳng 08/05/2012 - Tuyết Mai

Mũ Đỏ Bác sĩ Bùi Cao Đẳng, Pháp danh Nguyên Bình ngoài khả năng chữa bệnh cho bệnh nhân, Bác sĩ còn là một người có tâm hồn nghệ sĩ, trình diễn rất truyền cảm những bản nhạc tình, nhất là nhạc về người lính Mũ Đỏ như “Người Ở Lại Charlie”, “Anh Không Chết Đâu Em”… trong những chương trình ca nhạc cộng đồng. Bác sĩ Bùi Cao Đẳng đã vĩnh viễn ra đi lúc 12 giờ 18 phút trưa ngày 30 Tháng 4, 2012 tại Silver Spring, MD. Tang lễ được cử hành rất trang nghiêm với lễ phủ kỳ lúc 6:30 chiều ngày 4 Tháng 5, 2012 tại Nhà Quàn Francis J. Collins Funeral Home ở Silver Spring, MD.
Hiện diện trong buổi lễ viếng thăm và phủ cờ có rất nhiều quân nhân Mũ Đỏ và quân nhân các quân binh chủng khác trong quân phục, và khoảng một trăm bạn bè thân hữu của gia đình Bác sĩ Đẳng.
Được biết, Mũ Đỏ Bác sĩ Bùi Cao Đẳng sinh ra và lớn lên ở Làng Vĩnh Trinh, Quận Duy Xuyên, tình Quảng Nam, trong một gia đình Nho Giáo. Ngay từ thuở nhỏ, ông đã là người thông minh, hiếu học. Năm 19 tuổi ông đã thi đổ vào Đại Học Y Khoa Huế và sau bảy năm ông đã đậu Thủ Khoa với văn bằng tốt nghiệp Bác sĩ Y Khoa. Sau khi đổ đạt, ông cũng như bao nhiêu thanh niên khác đứng lên đáp lời sông núi. Bác sĩ Bùi Cao Đẳng đã gia nhập Quân Lực VNCH và chọn phục vụ ở Binh chủng Nhảy Dù. Đơn vị tác chiến đầu tiên trong đời binh nghiệp của ông là Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù.
Ở binh chủng thiện chiến này, BS Đẳng đã nối gót các bậc đàn anh như Bác sĩ Võ Đạm, Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù. Y sĩ Mũ Đỏ Đoàn Văn Bá Tiểu Đoàn 7 Nhảy Dù. Bác sĩ Đẳng đã góp mặt chiến đấu ở khắp các chiến trường Miền Nam và vùng giới tuyến. Trong trận chiến, BS Đẳng luôn làm tròn thiên chức “Lương y như từ mẫu“ đối với các bạn đồng đội của mình. BS Đẳng và phụ cấp luôn có mặt ở tuyến đầu để kịp thời cứu chữa săn sóc, băng bó vết thuơng an toàn, trước khi các thương binh được tản thương về hậu tuyến.
Trong một lần hăng say phục vụ trên một chiến trừơng khốc liệt ở Long Khánh, BS Đẳng đã bị thuơng vì đạn pháo của địch, nhưng đã từ chối di tản. BS Đẳng ở lại đơn vị đến giờ phút sau cùng. Sau tháng Tư, 1975, sau một năm bị giam cầm trong trại tù Cộng Sản, BS Đẳng đựợc thả ra và được điều động về làm việc ở Bệnh Viện Hùng Vương, Chợ Lớn. Nhưng không chấp nhận làm việc với Cộng sản, BS Đẳng và cùng gia đình vượt biên, và sau hai năm BS Đẳng đã lấy lại bằng hành nghề bác sĩ tại Đại Học Maryland.
Là một bác sĩ tận tâm, BS Đẳng đã để lại cho các bịnh nhân của ông niềm tin và hy vọng mỗi khi đến khám bệnh, biết bao nhiêu thân chủ đã dành nhiều cảm tình mỗi khi nhắc nhở đên ông. Tuy nhiên BS Đẳng cũng không khỏi đau lòng thuơng tiếc mỗi khi một thân chủ của mình phải ra di, dù ông đã tận tình chữa trị. Những tháng ngày sau cùng, thay vì dùng thời gian còn lại cho mình và gia đình, BS Đẳng vẫn chống lại cơn đau đang hoành hành để tiếp tục chữa trị cho bệnh nhân của ông .
Tâm sự cuối đời, BS Đẳng mong một ngày nào đó, ông sẽ trở về làng cũ để khám bịnh và phát thuốc miễn phí tận tay cho những ngừơi già yếu bịnh tật mà một thời ông đã lớn lên với những kỷ niệm ấu thơ. Rất tiếc giấc mộng này BS Đẳng không kịp thực hiện. Hôm nay trong kiếp luân hồi bệnh tử, con người rồi cũng phải ra đi, trở về với cát bụi. Nhưng ở tuổi 66 BS Đẳng đã an giấc, ra đi về cõi vĩnh hằng, để lại biết bao tiếc thương cho đồng đội, cho gia đình và thân hữu

Bác sĩ Võ Đạm, xúc động ứa lệ, ông nói biết phát biểu gì đây? BS Đạm kể lại những kỷ niệm cùng phục vụ, đi chơi, văn nghệ, hát hò với nhau. Bs Đạm nói, BS Đẳng có một đam mê là ca hát, có thể thuộc cả trăm bài hát trong một tháng và hát không ngừng, không nghỉ. Tạo hóa đã an bài, hôm nay chúng ta mất một nguời thân, một người bạn. Sau đó Bác sĩ Võ Đạm hát bài “Nghìn Trùng Xa Cách” để gởi tặng BS Đẳng. Dược sĩ Trần Kim Long, đại diện BS Trần Văn Sáng, Chủ Tịch Hội Y Sĩ Miền Đông Bắc HK và Hội Không Quân Miền Đông Bắc HK và cá nhân ông chia buồn cùng gia đình BS Đẳng và cầu chúc hương linh Bs Đẳng được sớm tiêu diêu miền cực lạc. Trong danh sách các hội đoàn phân ưu có Hội Người Việt Cao Niên Maryland, Tổng Hội Nha Kỹ Thuật Bộ TTM/QLVNCH, Hội Cựu Sinh Viên Sĩ QuanThủ Đức, Hội Cảnh Sát Quốc Gia Đông Bắc HK…
Nhóm phủ cờ được hướng dẫn bởi Mũ Đỏ Nguyễn Văn Mùi, Chi Hội Trưởng Chi Hội Mũ Đỏ vùng Hoa Thịnh Đốn và Phụ cân, cùng sáu cựu quân nhân trong Gia Đình Mũ Đò. Lá cờ vàng thân yêu mà một thời BS Đẳng đã cùng đồng đội chiến đấu để gìn giữ, được các anh em Mủ Đỏ trải rộng ra và trang trọng phủ lên quan tài của Trung Úy Y sĩ Trưỏng Tiểu Đoàn 1 Nhảy Dù Bùi Cao Đẳng, trong tiếng nhạc truy điệu vô cùng cảm động. Con Trai của BS Đẳng nói, nếu có mặt ba của cậu ở đây, thì chắc là ba sẽ rất hãnh diện.
Sau đó Hiền thê của Bác sĩ Bùi Cao Đẳng là Bà Bùi Kim Hạnh đã đại diện cho tang quyến nói một vài lời cảm tạ quý Thầy ở các chùa Giác Duyên, Chùa Giác Hoàng, các ban hộ niệm. Bà Hạnh cảm ơn sự giúp đỡ đặc biệt của Gia Đình Mũ Đỏ Vùng HTĐ và Phụ cận, Hội Quảng Đà và Liên Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH /HTĐ và phụ cận và rất nhiều bạn bè thân hữu.
Sau cùng là lời cảm tạ của anh cả của Bác sĩ Bùi Cao Đẳng và phát biểu của các thân hữu. Lễ thu cờ được tổ chức vào lúc 10:30 sáng ngày 6 Tháng 5, 2012. Lễ an táng lúc 11 giờ sáng tại Nghĩa trang Parklawn Memorial Park &Menorah Gardens ở Rockville, MD.
Mũ đỏ Bác sĩ Bùi Cao Đẳng đã vĩnh viễn ra đi, nhưng những tình cảm mến thuơng cũng như tiếng hát của Bác sĩ Đẳng như vẫn còn vang vọng trong tâm tư đồng đội và thân hữu "Anh không chết đâu em, anh chỉ về với mẹ mong con…”
(Hình ảnh trong: www.youtube.com/tuyetmai45)
Tuyết Mai

Saturday, January 2, 2021

Cáo Phó Ông Dominica-Augustino Nguyễn Văn Ngàn

Cáo Phó
Gia đình chúng tôi vô cùng thương tiếc báo tin cùng tất cả qúy binh chủng
thuộc QLVNCH, hội đòan cùng toàn thể thân bằng quyến thuộc, và bằng hữu:
Chồng, Cha, Ông của chúng tôi là:
Ông Dominico-Augustino NGUYỄN VĂN NGÀN
- Nguyên Tổng Giám Đốc biệt phái phụ trách an ninh và bảo vệ cho Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, cho các đài phát thanh như Mẹ Việt Nam, Gươm Thiêng Ái Quốc, Tiếng Nói Tự Do.
- Nguyên Tham Mưu Trưởng Liên Đoàn Danh Dự Phủ Tổng Thống.
- Nguyên Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn Yểm Trợ Liên Đoàn Danh Dự Phủ Tổng Thống.
- Nguyên Sĩ Quan Cao Cấp đặc nhiệm huấn luyện và liên lạc Sở Công Tác, Nha Kỹ Thuật QLVNCH thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I.
- Nguyên Tiểu Đoàn trưởng Tiểu Đoàn 2 (Quyết Thắng) Trung Đoàn 48 Sư Đoàn 18 QLVNCH.
- Nguyên Đại Đội Trưởng Đại Đội 84 Tiểu Đoàn 8 Lữ Đoàn Dù QLVNCH.
- Nguyên Trung Đội Trưởng thuộc Đại Đội Súng Cối Lữ Đoàn Dù QLVNCH.
- Nguyên Trung Đội Trưởng Pháo Đội 401
- Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, khóa 11 Phạm Công Quân
Sinh ngày 27 tháng Giêng năm 1930 tại Sài Gòn, Việt Nam
Đã được Chúa Mẹ gọi ra đi trong an bình, và an nghĩ trong tay Chúa
Lúc 10 giờ sáng Thứ Hai, ngày 28 tháng 12 năm 2020 tại Santa Rosa, California, Hoa Kỳ
Hưởng Thọ 91 tuổi
CHƯƠNG TRÌNH TANG LỄ
Thánh lễ An Táng được cữ hành tại Cathedral of St. Eugene
2323 Montgomery Drive, Santa Rosa, CA 95405
Thứ Năm, ngày 7 tháng Giêng năm 2021, lúc 12 giờ trưa.
Sau Thánh lễ, linh cửu sẽ được an táng cùng ngày tại:
Santa Rosa Memorial Park
1900 Franklin Avenue
Santa Rosa, CA 95404
TANG GIA ĐỒNG KÍNH BÁO
Vợ: Bà Nguyễn Thị Hường, Các con và các cháu
CÁO PHÓ NÀY THAY CHO THIỆP BÁO TANG
XIN VUI LÒNG MIỄN VÒNG HOA VÀ PHÚNG ĐIẾU
VÌ TÌNH HÌNH DỊCH BỆNH VÀ THEO LỜI CỦA THÂN PHỤ, VÀ THỪA LỆNH THÂN MẪU CỦA CHÚNG TÔI,
TANG LỄ SẼ ĐƯỢC CỬ HÀNH ĐƠN GIẢN VÀ XIN MIỄN THĂM VIẾNG.
GIA ĐÌNH CHÚNG TÔI XIN CẢM TẠ VÀ LUÔN TRI ÂN NHỮNG LỜI CẦU
NGUYỆN CỦA QÚY VỊ.
Xin liên lạc: Nguyễn Công Sơn - ĐT: 707-490-7348
Nguyễn Thanh Lâm - ĐT: 510-396-2198

 

Tuesday, December 8, 2020

NHỮNG GÌ CÒN LẠI. (Ns Tuấn Khanh viết về nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông).

Trong đám tang của Chris Kyle, tay bắn tỉa lừng danh nhất nước Mỹ, qua đời năm 2015 ở Texas, người ta nhìn thấy chiếc xe tang đi qua một đoạn đường dài hơn 300 cây số mà suốt hai bên đường, luôn có người dân đứng vẫy cờ hoặc nghiêm chào tiễn biệt.
Đó là một hình ảnh xúc động hiếm có về cái chết của một con người. Chris Kyle làngười lính SEAL được ca ngợi như một thiên thần hộ mạng vì đã cứu cả trăm đồng đội của mình trên chiến trường Trung Đông nhờ tài bắn tỉa. Anh giải ngũ, trở về nhà và sau đó chết như một người lính.
Rằm tháng Giêng Mậu Tuất, tức ngày 2/3/2018 tại Sài Gòn, đám tang của nhạc sĩ, đại tá Nguyễn Văn Đông cũng xuất hiện một cảnh tượng xúc động tương tự.
Khi lễ di quan diễn ra, nhiều người đàn ông mặc thường phục, không ai bảo ai, đã bất ngờ đưa tay lên chào theo kiểu nhà binh. Thấp thoáng trong những hàng khác, cũng có những cá nhân im lặng đưa tay chào, không cần hiệu lệnh. Hầu hết đó là những cựu thiếu sinh quân VNCH cùng trường với ông, và những người khác là cựu quân nhân đã chào tiễn biệt ngài đại tá Chánh Văn phòng của Tổng Tham mưu Phó quân lực Việt Nam Cộng Hòa về nơi an nghỉ cuối cùng.
Hàng người đứng chào theo kiểu nhà binh trước đám tang của nhạc sĩ – đại tá Nguyễn Văn Đông, đem lại niềm xúc động lạ thường, tương tự như hình ảnh tiễn xe tang của Chris Kyle.
Nhưng có lẽ còn đặc biệt hơn với câu chuyện Việt Nam, khi mọi thứ về con người và hệ thống của chính quyền miền Nam bị săn lùng, giam giữ và hủy diệt nhiều năm, nhưng vẫn ẩn khuất đâu đó, rồi bất ngờ hiển lộ.
Nhưng ngoài âm nhạc, vẫn còn đôi chuyện về đại tá Nguyễn Văn Đông chưa được nói hết. Bài viết này là những gì còn lại, chưa kể, sau cuộc tiễn đưa đó.
Đọc tiểu sử cá nhân sau năm 1975, người ta chỉ biết ngắn gọn rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đi trại tù của Nhà nước Bắc Việt trong 10 năm, và sau đó không đi Mỹ theo diện H.O (Humanitarian Operation). Đó là một chiến dịch nhân đạo do tổng thống Mỹ Ronald Reagan bật đèn xanh nhằm giải thoát hàng trăm ngàn quân nhân cựu quân nhân VNCH bị đưa đi tù, dưới danh nghĩa cải tạo (Special Release Reeducation Center Detainee Resettlement Program).
Mọi thứ về đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông, lâu nay vẫn được mô tả thoáng qua, y như cách mà báo chí Nhà nước đưa tin ông mất. Ấy vậy mà vài ngày sau đám tang, nhiều tờ báo vẫn còn bị khiển trách vì đã có thái độ trân trọng thái quá với một “sĩ quan ngụy”.
Năm 1975, ngay sau khi đại tá Nguyễn Văn Đông ra trình diện, dù được chính quyền quân quản tuyên bố là chỉ đi “học tập tư tưởng mới” trong vài tháng. Thế nhưng, sự thật sau đó là 10 năm dài tù đày ở trại Suối Máu, Biên Hòa. Cho đến sau năm 1980 thì đưa về Chí Hòa. Đại tá Nguyễn Văn Đông được trả về nhà vào năm 1985 để được chết ở nhà, theo "chính sách khoan hồng của cách mạng".
Bà Nguyệt Thu, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể rằng khi chia tay ông 10 năm trước, bà vẫn còn nhớ hình dáng một người đàn ông gầy nhưng khỏe mạnh, để rồi khi nhận lại ông, thì lúc đó gần như chỉ là một cái xác, chỉ còn thoi thóp.
Bà Nguyệt Thu, vợ của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông kể lại rằng gia đình lúc đó chỉ còn đợi ngày để chôn ông, vì ông mang quá nhiều căn bệnh cũng như thuốc men lại quá đắt đỏ và khan hiếm vào thời đó.
Rồi nhiều năm sau, ông sống lại như một kỳ tích, khỏe mạnh. Hai người im lặng sống trong căn nhà nhỏ chỉ có đôi vợ chồng già, không con cái, không nhiều sinh hoạt với xã hội.
Bà Nguyệt Thư nói rằng cho đến nhiều năm sau khi ông được thả về, bà vẫn còn khả năng sinh con nhưng ông không còn có thể. Vì vậy hai người đã chọn sống cô đơn cùng nhau đến ngày chung cuộc.
Lời của bà kể như tiếng chuông chùa xa xăm về một nỗi đau không lời.
Về với ông được 2 năm, thì bà bị chia cắt với đại tá bởi 10 năm tù không hề tòa án, cũng như không hề có lời giải thích. Khi được trả về nhà, thì ông đã như một phế nhân.
Bà nói rằng không muốn sinh con vì ông quá yếu. Nhưng cũng có thể bà không muốn có một đứa con, bởi cuộc sống như ác mộng mà bà và ông trải qua, nếu có đơm hoa kết trái thì chắc cũng không thể có được lúc tỏa hương.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông bị đưa đến trại Suối Máu ngay sau khi trình diện.
Thực tế là trại này tên là trại Tân Hiệp, Biên Hòa, từng là nơi giam giữ các binh sĩ Bắc Việt chờ trao trả theo các thỏa ước. Tên Suối Máu là do các tù nhân sau năm 1975 gọi thành quen, mặc dù bị quản giáo cấm. Bởi năm 1968, cuộc đột kích thất bại ở cứ điểm này, mà dân trong vùng mô tả máu dân thường và của hai bên Nam Bắc chảy như suối, từ đó mà thành tên.
Trại Suối Máu giam giữ khoảng 5.000 người, chia làm năm trại theo ký hiệu K. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông ở K5.
Chỉ một năm ở trại này, do điều kiện giam giữ và ăn uống khắc nghiệt, không chỉ đại tá Nguyễn Văn Đông mang bệnh, mà rất nhiều người cũng đổ ra đủ thứ bệnh từ nội khoa đến ngoại khoa. Mà thuốc thì chủ yếu là một loại dược phẩm dân tộc được bào chế ở miền bắc có tên là Xuyên Tâm Liên. Bệnh gì cũng uống một loại ấy.
Nhà văn Hà Thúc Sinh, tác giả của tác phẩm Đại Học Máu, đã kể rằng nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì bị mang bệnh ghẻ nhầy nhụa kỳ lạ, khiến cả mảng lưng của ông lở loét. Đã vậy nhiều chứng bệnh khác như đau bao tử, thấp khớp, huyết áp… ập tới hành hạ ông liên tục nhiều năm.
Vào lúc thập tử nhất sinh, anh em khiêng lên trạm xá được ít bữa thì y tá ở đó đuổi về. Lý do là ở bệnh xá không có thuốc điều trị, cũng như cho về thì khỏi mang trách nhiệm.
Nhà văn Hà Thúc Sinh viết rằng mấy người bạn của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông khiêng ông ra hố nước để tắm lại sau nhiều ngày nằm liệt, như một cách giúp duy nhất mà họ có thể. Nhưng do phải đi lao động nên mọi người chỉ kịp nhìn thấy ông Nguyễn Văn Đông nằm sấp trên mặt đất, chứ không còn đứng nổi, cố múc nước rồi nằm quơ quào cố tắm rửa một mình như vậy.
Nói về sáng tác trong giai đoạn đó, đại tá Nguyễn Văn Đông đã cố giữ lại cảm hứng của mình trong những năm đầu bị tù, vì nghĩ rằng cùng lắm 2-3 năm gì đó sẽ ra.
Nhưng rồi dần dần mọi thứ thui chột theo sức khỏe và niềm hy vọng.
Ngay lúc bệnh đã nặng, nhưng phát hiện tù nhân Đỗ Văn Phúc là em họ của ca sĩ Duy Khánh cũng bị tù chung trại, ông đã vui đến mức sáng tác lại. Cảm mến giọng hát của người này mà nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông viết riêng một bài hát để tặng, có tựa đề là “Sài Gòn trong trái tim tôi”. Tác phẩm này, giờ chắc đã tuyệt bút, chỉ còn được nhắc lại với đôi ba câu với những ai từng nghe qua như “Sài Gòn tiếc nuối không thôi, Hà Nội héo hắt răng môi, cho nhớ thương vời vợi. Ôi, Sài gòn trong trái tim tôi…”
Năm 1985, khi khiêng ông về nhà, bà Nguyệt Thu nói rằng không nghĩ ông sống qua được năm đó.
Sự tuyệt vọng tràn ngập đến mức khi nhận được hồ sơ ghi danh đi chương trình H.O ngay trong nhóm đầu, ông đã từ chối vì muốn được chết trên quê hương mình. Bà cũng thuận theo ý ông.
Ấy vậy mà với sự chăm sóc nhẫn nại và yêu thương của người vợ hiền, nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông đã chậm chạp sống lại một lần nữa, cho đến ngày buộc phải chia tay trần thế.
Khác với cuộc đưa tiễn người lính Chris Kyle, buổi chia tay nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông không có nhiều người khóc. Chỉ có những cánh tay đưa lên, im lặng chào đưa tiễn ông. Động tác rất quen thuộc khiến những người xa lạ nhau như gần lại.
Có điều gì đó dâng lên trong suy nghĩ, đầy xúc động.
Quả là có những triều đại nguy nga lộng lẫy, nhưng mọi thứ đã không còn. Nhưng cũng có những chế độ đã mất nhưng con người và tinh thần quốc gia thì còn sống mãi.
 












Monday, December 7, 2020

Nguyễn Văn Đông Là Chính Sách Thất Bại Của Việt Cộng - Nguyễn Thành Trí

Chúng ta sẽ soi sáng một góc tối cuộc đời, một tâm sự u uất của Đại Tá Nguyễn Văn Đông đến chết vẫn kiên trì chịu đựng để nói rõ “chính sách thất bại của Việt Cộng”. Quả thật Nguyễn Văn Đông là chính sách thất bại của cộng sản Việt Nam. Chúng ta không nói đến sự nghiệp âm nhạc của nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông vì ông ta hiển nhiên là một cây cổ thụ trong khu vườn văn nghệ Việt Nam Cộng Hoà muôn màu sắc nhân bản thắm tươi. Ở đây chúng ta nói đến Đại Tá Nguyễn Văn Đông vào ngày 30/4/1975 là Chánh Văn Phòng Khối An Ninh Lãnh Thổ của Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Mặc dù có nhiều cơ hội tốt, an toàn trong buổi chiều ngày 28/4/1975 Đại Tá Nguyễn Văn Đông có thể đi cùng với Đại Tướng Viên, Chuẩn Tướng Thọ. Hay trọn ngày 29/4/1975 tại Bộ Tổng Tham Mưu có thể đi với Trung Tướng Khuyên, Trung Tướng Minh; hơn nữa, khi Tướng Kỳ đáp trực thăng xuống sân Tổng Tham Mưu để đón Tướng Trưởng, Đại Tá Nguyễn Văn Đông cũng có thể đi với Tướng Trưởng, hoặc tới Toà Đại Sứ Mỹ vì Đại Tá Nguyễn Văn Đông Chánh Văn Phòng khối An Ninh Lãnh Thổ không xa lạ gì với nhân viên CIA, MACV, DAO Tùy Viên Quốc Phòng ở Toà Đại Sứ nên họ dễ dàng cho Đại Tá Nguyễn Văn Đông độc thân di tản.
Tại sao một sĩ quan cao cấp đủ tiêu chuẩn của Mỹ, nói thông thạo tiếng Pháp tiếng Anh, độc thân không vướng bận gia đình, rất nổi tiếng trong giới ca nhạc sĩ Sài Gòn và thính giả miền nam trước năm 1975 và các chương trình văn nghệ của người Việt hải ngoại sau năm 1975 lại quyết định không định cư ở nước Mỹ tự do mà ở lại Việt Nam độc tài cộng sản? Nếu viện dẫn lý do sức khoẻ yếu kém sau 10 năm lao tù nên thân thể có nhiều bệnh như đau bao tử, áp huyết cao, thấp khớp nặng, thoái hoá khớp xương; những chứng bệnh này càng có yêu cầu đi Mỹ trị bệnh hơn là ở lại Việt Nam để chờ chết rồi được chôn cất nơi quê nhà. Kể từ khi được thả năm 1985 cho đến ngày 26/2/2018 Đại Tá Nguyễn Văn Đông chết vì vỡ mạch máu là 33 năm 57 ngày. cộng sản Việt Nam không cấp 2 thước đất nghĩa trang thì lấy đâu ra chỗ chôn cất; thế là phải thiêu xác Nguyễn Văn Đông, không có một nấm mộ để sau này thăm viếng Nguyễn Văn Đông.
 
Vào năm 1956, có lẽ cái bắt tay lần đầu tiên giữa Đại Tá Dương Văn Minh và Trung Úy Nguyễn Văn Đông trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu ở Đồng Tháp Mười đã trở thành định mệnh của Nguyễn Văn Đông sau này. Có sợi dây vô hình ràng buộc đàn anh Thiếu Sinh Quân của Nguyễn Văn Đông lúc đó là Trung Tá Nguyễn Hữu Hạnh dưới quyền chỉ huy của Đại Tá Dương Văn Minh. Cả ba người, Dương Văn Minh sanh ở Mỹ Tho, Nguyễn Hữu Hạnh sanh ở Mỹ Tho, Nguyễn Văn Đông sanh ở Tây Ninh đều là người miền Nam và được giáo dục ở trường Pháp. Năm 1949 Nguyễn Hữu Hạnh tốt nghiệp trường Võ Bị Cape Saint Jacques, ba năm sau 1952 Nguyễn Văn Đông cũng tốt nghiệp trường này. Ba người có duyên tiền định với nhau khi họ gặp nhau trong chiến dịch Thoại Ngọc Hầu.
Xem xét lập trường chính trị của Nguyễn Văn Đông thì phía cộng sản Việt Nam thấy Nguyễn Văn Đông là thành phần tốt có tinh thần dân tộc, không có nợ máu với Việt cộng, cụ thể những lời nhạc nói rõ lập trường dân tộc thuần túy của Nguyễn Văn Đông như nội dung bản nhạc “Anh” hay lời “người Việt càng thương nhau hơn”. Trong bản nhạc “Anh”, Nguyễn Văn Đông đã sớm bày tỏ nhân sinh quan của mình chống lại khuynh hướng vọng ngoại, khuynh hướng của người Việt ham thích sống ở nước ngoài sung sướng bản thân, mặc kệ quê hương Việt Nam nghèo khổ. Nguyễn Văn Đông nói rõ lập trường dân tộc thuần túy của mình và kêu gọi người Việt ở hai miền Bắc-Nam thương yêu đoàn kết để thống nhất đất nước. Khi phía Việt Nam Cộng Hoà đã cấm phổ biến hai bản nhạc của Nguyễn Văn Đông vì phản chiến, ban binh vận của cộng sản Việt Nam càng muốn lôi kéo Nguyễn Văn Đông về phía Việt cộng.
Còn phía Việt Nam Cộng Hoà chỉ thấy Nguyễn Văn Đông là một sĩ quan an phận không tranh đua với ai, một nhạc sĩ ca ngợi người lính Việt Nam Cộng Hoà có nhiều ca khúc nổi tiếng, nhưng vào năm 1961 Bộ Thông Tin Việt Nam Cộng Hoà cấm phổ biến hai bản nhạc “Chiều Mưa Biên Giới và Mấy Dậm Sơn Khê” vì lý do nội dung phản chiến; là quân nhân Đại Tá Nguyễn Văn Đông vào năm 1964 được tặng thưởng Bảo Quốc Huân Chương, huy chương cao quý nhất nước Việt Nam Cộng Hoà. Tại sao với tài năng của Nguyễn Văn Đông như thế mà chưa từng phục vụ trong ngành Tâm Lý Chiến hay Chiến Tranh Chính Trị? Nếu được ở ngành Chiến Tranh Chính Trị có lẽ Nguyễn Văn Đông đã thăng quan tiến chức nhiều hơn.
Sau mười năm bị cộng sản Việt Nam giam cầm ở trại cải tạo Suối Máu và khám Chí Hoà, Đại Tá Nguyễn Văn Đông được thả vào năm 1985. Tại sao các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà cấp Tá và cấp Tướng đều bị tù cải tạo ở miền bắc, còn Đại Tá Nguyễn Văn Đông bị tù ở khám Chí Hoà, Sài Gòn miền nam? cộng sản Việt Nam có âm mưu gì khi giam cầm Nguyễn Văn Đông ở khám Chí Hoà? Sau đó trong suốt thời gian được trả tự do, Đại Tá Nguyễn Văn Đông đã không vượt biên, khi Chương Trình Ra Đi Có Trật Tự được Mỹ và cộng sản Việt Nam đồng ý thực hiện thì hầu hết sĩ quan, hạ sĩ quan, công chức Việt Nam Cộng Hoà đã bị tù cải tạo trên ba năm đều đủ điều kiện nộp đơn xin đi Mỹ; nhưng Đại Tá Nguyễn Văn Đông không xin đi.
Suốt 33 năm 57 ngày Nguyễn Văn Đông đã sống thầm lặng, mai danh ẩn tích ngay tại Sài Gòn, chịu đựng cực khổ của một người nghèo lao động thành thị. Nguyễn Văn Đông hoàn toàn nghỉ sáng tác nhạc. Nguyễn Văn Đông không sáng tác nhạc nữa mà cũng không xin đi định cư nước ngoài mặc dù trong người có bệnh. Nguyễn Văn Đông ngấm ngầm muốn dùng cả sinh mệnh của mình ở lại Sài Gòn cho tới chết để mạnh mẽ chứng minh sự thất bại của cộng sản Việt Nam trong chính sách quốc gia hoà giải, dân tộc hoà hợp thực sự. Nguyễn Văn Đông đúng là chính sách thất bại của Việt cộng.
Lịch sử chân chính luôn tôn trọng sự thật. Sự thật là cứu cánh của lịch sử chân chính. Quan điểm lịch sử của cộng sản Việt Nam là sửa đổi lịch sử bằng một thứ lịch sử dối trá bịp bợm có nhiều huyền thoại cộng sản, mà huyền thoại là những chuyện không có thật. Những chuyện có thật rất nhiều trong lịch sử chiến tranh Việt Nam sau khi ký kết Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 thí dụ điển hình là chuyện Tổng Thống Trần Văn Hương đã chấp thuận cho Không Quân Việt Nam Cộng Hoà ném bom CBU-55, bom BLU-82 tại Xuân Lộc vào những ngày cuối tháng 4/1975 làm thiệt hại nặng Bộ Chỉ Huy Sư Đoàn 341 cộng sản bắc Việt. Điều này chứng minh rằng Không Quân Việt Nam Cộng Hoà cũng như các quân binh chủng tác chiến khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà vào thời gian đó vẫn còn rất mạnh. Trong ngày 29/4/1975 chuyện ông Thủ Tướng Một Ngày Vũ Văn Mẫu ra lệnh cho tất cả người Mỹ đi khỏi nước Việt Nam Cộng Hoà trong thời hạn một ngày, chứ không phải do sức tấn công mãnh liệt của bộ đội cộng sản bắc Việt làm cho quân Mỹ bị thua trận phải tháo chạy; thực tế là suốt trong ngày 29/4/1975 các đơn vị cộng sản bắc Việt và lính địa phương Việt cộng miền Nam đã cố tránh động chạm tới người Mỹ vì sợ Mỹ đánh trả, chuyện ném bom ở Xuân Lộc đã khiến cộng sản bắc Việt khiếp sợ Mỹ trả đũa đích đáng.
Ông Thủ Tướng Một Ngày Vũ Văn Mẫu yêu cầu người Mỹ đi khỏi nước Việt Nam Cộng Hoà để người Việt Nam gồm có Việt Nam Cộng Hoà và Việt cộng miền Nam tự giải quyết vấn đề chính trị với nhau căn cứ theo Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973. Chính vì lý do đó người Mỹ mới đi khỏi miền nam Việt Nam trong thời hạn 24 giờ và hoàn toàn tôn trọng chủ quyền quốc gia Việt Nam Cộng Hoà. Ông Vũ Văn Mẫu đã giữ im lặng chịu sự nhục nhã cho tới chết. Về phía cộng sản Việt Nam cũng không dám nhắc tới ông Vũ Văn Mẫu, vì nhắc tới ông Mẫu là vỡ ra chuyện có thật ông Mẫu đã yêu cầu người Mỹ đi trong thời hạn một ngày, chứ không phải những tướng tá cộng sản bắc Việt hành quân quá giỏi nên người Mỹ phải cuốn cờ tháo chạy.
Trong nổ lực tìm giải pháp chính trị đem lại hoà bình cho miền Nam Việt Nam đã nảy sinh thành phần thứ ba có khuynh hướng dân tộc thuần túy, trung lập, không cộng sản, không quốc gia, làm trung gian hoà giải giữa hai phe lâm chiến Quốc-Cộng. Luật sư Vũ Văn Mẫu là người dẫn đầu Lực Lượng Thứ Ba với lập trường dân tộc thuần túy như Đại Tướng Dương Văn Minh, Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Đại Tá Nguyễn Văn Đông. Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh nổi tiếng là một “Tướng Tư Lệnh Thận Trọng” vì không muốn giết hại thường dân Việt Nam vô tội.
Tâm lý của các sĩ quan được Pháp đào tạo, thân Pháp, không thích Mỹ. Nên khi có giải pháp chính trị Dương Văn Minh-Vũ Văn Mẫu do Đại Sứ Pháp đề xướng đã có rất đông các sĩ quan được Pháp đào tạo hưởng ứng để thực thi Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973 mà hai năm trước đó Tổng Thống Thiệu nhất định không thi hành. Vì tình nghĩa Thiếu Sinh Quân nên Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Văn Đông đã quen biết nhau từ năm 1956, là cựu sinh viên sĩ quan trường Cape Saint Jacques, cùng có tinh thần dân tộc thuần túy, yêu nước, yêu người Việt Nam, thân Pháp không thân Mỹ, với những đặc điểm đó có lẽ Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh đã lôi kéo, hứa hẹn một chức vụ ở bộ Tổng Tham Mưu để Đại Tá Nguyễn Văn Đông ở lại.
Trước tình hình Tổng Thống Thiệu đã làm mất Vùng I , Vùng II về phía cộng sản bắc Việt khiến cho các đơn vị ở miền Trung bị rối loạn hàng ngũ, tinh thần chiến đấu của lính Việt Nam Cộng Hoà bị sa sút. Trong hai ngày 27, 28/4/1975 tất cả Tướng lãnh bộ Tổng Tham Mưu đã ra đi; sự việc xảy ra như vậy, nên tân Tổng Thống Dương Văn Minh phải bổ nhiệm những cựu Tướng lãnh đảm nhận trách nhiệm ở bộ tổng tham mưu như cựu Trung Tướng Vĩnh Lộc giữ chức Tổng Tham Mưu Trưởng, cựu Trung Tướng Nguyễn Hữu Có giữ chức Tổng Tham Mưu Phó, cựu Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng. Nhưng Trung Tướng Vĩnh Lộc vài giờ sau đó cũng ra đi, nên Chuẩn Tướng Nguyễn Hữu Hạnh lên thay Tướng Vĩnh Lộc làm Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà.
Vì Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đã yêu cầu người Mỹ đi khỏi nước Việt Nam Cộng Hoà là để hai bên miền Nam gồm có Việt Nam Cộng Hoà và Chánh Phù Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam thương lượng hoà bình với nhau căn cứ trên Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973. Trong ngày 29/4/1975 khi người Mỹ đã đi hết, có nghĩa là cộng sản bắc Việt không sợ người Mỹ phản ứng bằng quân sự như vụ ném bom CBU, BLU ở Xuân Lộc thì ngày kế tiếp cộng sản bắc Việt ép buộc Tổng Thống Dương Văn Minh đầu hàng với lời hăm doạ tấn công làm cho Sài Gòn chìm ngập máu lửa. Cộng sản bắc Việt đã lường gạt hai ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu về chuyện yêu cầu người Mỹ đi khỏi nước Việt Nam Cộng Hoà trong thời hạn 24 giờ để người Việt Nam tự giải quyết vấn đề chính trị với nhau căn cứ trên hiệp định hoà bình, và đánh đòn tâm lý vào Dương Văn Minh, Vũ Văn Mẫu bằng đe doạ tắm máu dân Sài Gòn.
Hiện nay Nguyễn Hữu Hạnh đã 92 tuổi ở tại Tiền Giang, Mỹ Tho quê hương của Nguyễn Hữu Hạnh. Sau ngày 30/4/1975 Nguyễn Hữu Hạnh không bị Việt cộng bắt tù cải tạo và được Việt cộng cho làm Ủy viên trung ương Mặt Trận Tổ Quốc với tư cách nhân sĩ yêu nước từ năm 1975 tới nay. Cộng sản Việt Nam đã lường gạt Nguyễn Hữu Hạnh là Việt cộng hoà giải quốc gia, hoà hợp dân tộc trong khi đó có rất nhiều quân nhân công chức Việt Nam Cộng Hoà bị bắt tù cải tạo nhiều năm. Sau 43 năm Nguyễn Hữu Hạnh còn nói tới hoà giải hoà hợp với người Việt hải ngoại. Nguyễn Hữu Hạnh đang sống ở Việt Nam nên Nguyễn Hữu Hạnh có lẽ không dám nói lên sự thật, hay lẽ nào Nguyễn Hữu Hạnh không biết cộng sản Việt Nam không có hoà giải hoà hợp thực sự. Những ngày cuối đời của Nguyễn Hữu Hạnh hãy mạnh dạn nói lên sự thật; sự thật rõ ràng là cộng sản Việt Nam không thành tâm thiện chí để thực hiện chính sách quốc gia Việt Nam hoà giải, các dân tộc đang sinh sống tại Việt Nam hoà hợp thực sự.
Có bằng chứng rõ ràng là cộng sản Việt Nam đã và đang đàn áp, bắt giam những người đối lập chính trị, bất đồng chính kiến với cộng sản, vì họ yêu nước chống Tàu cộng. Cộng sản Việt Nam phải hoà giải với những người Việt trong nước bất đồng chính kiến với cộng sản. Cộng sản Việt Nam phải chấp nhận có đối lập chính trị ở trong nước Việt Nam. Vì lý lẽ đó, Nguyễn Hữu Hạnh nhất định phải đọc toàn bộ văn bản Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973, nhất là Chương IV Điều 9, 10, 11, 12, 13, 14 và Chương V Điều 15 để rõ sự gian xảo, lường gạt của cộng sản Việt Nam. Nguyễn Hữu Hạnh phải thấy Nguyễn Văn Đông đã mạnh mẽ chứng minh rằng cộng sản Việt Nam thất bại trong chính sách quốc gia hoà giải, dân tộc hoà hợp ở Việt Nam, và Nguyễn Hữu Hạnh nên mạnh dạn nói lên việc này vì lòng tự trọng của chính Nguyễn Hữu Hạnh.
Vào lúc 9 giờ rưởi sáng ngày 30/4/1975 Tổng Thống Việt Nam Cộng Hoà Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn, “Đường lối của chúng tôi là hoà giải và hoà hợp dân tộc…” Việt Nam Cộng Hoà và Chánh PCMLTCHMNViệt Nam thương lượng hoà bình với nhau. Nhưng cộng sản bắc Việt đã lật lọng cưỡng chiếm nước Việt Nam Cộng Hoà và loại bỏ Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam, một trong số nhiều người trong Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hoà Miền Nam Việt Nam bất mãn cộng sản bắc Việt là Bác Sĩ Trương Như Tảng rời bỏ Việt Nam đi Pháp. Riêng bà Ngoại Trưởng Nguyễn Thị Bình đã nói khi còn ở Paris, “Miền Nam Việt Nam sẽ độc lập, trung lập trong 10 năm, thời gian này chờ hiệp thương thống nhất hai miền Nam-Bắc Việt Nam”; vì câu nói này mà những năm sau 1976 bà không được cộng sản bắc Việt coi trọng mặc dù cho bà chức Phó Chủ Tịch Quốc Hội, có hình thức không có thực chất. Rất rõ ràng cộng sản bắc Việt không tôn trọng hiệp định hoà bình, không muốn quốc gia Việt Nam toàn quốc hoà giải, các dân tộc sinh sống tại Việt Nam được hoà hợp theo tinh thần của Hiệp Định Hoà Bình Paris 1973.
Thời gian gần đây cộng sản Việt Nam còn mượn cái miệng của Nguyễn Hữu Hạnh để nói hoà giải quốc gia, hoà hợp dân tộc trong khi cộng sản Việt Nam lợi dụng chiêu bài này để tiếp tục lường gạt người Việt Nam. Nguyễn Hữu Hạnh đúng là một lịch sử dối trá của cộng sản Việt Nam. Chúng ta hãy nghe chính miệng Nguyễn Hữu Hạnh nói về ngày 29, 30/4/1975 như sau, “Hồi ấy tôi 52 tuổi, không hiểu chuyện đời thế nào, chỉ nói, cứ vô đây, tôi giao Sài Gòn - Chợ Lớn cho mấy anh”. Với một người biết nói tiếng Pháp, có bằng Tú Tài Pháp, tốt nghiệp trường sĩ quan Cape Saint Jacques năm 1949, từng đi Mỹ học khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn 4, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 2, mà bây giờ lại có thể nói “hồi ấy (năm 1975) tôi 52 tuổi, không hiểu chuyện đời thế nào…”, cộng sản Việt Nam đã thành công tẩy não Nguyễn Hữu Hạnh hay đã bịt miệng Nguyễn Hữu Hạnh không cho nói sự thật để Việt cộng có thể sửa đổi lịch sử cho đúng với sự lường gạt lịch sử của Việt cộng, hay chính Nguyễn Hữu Hạnh đã khôn khéo dùng “đảo-ngữ-nói-xỏ-xiêng-chưởi-rủa-chính-mình” (?)
Bây giờ Nguyễn Hữu Hạnh chỉ nói được câu, “hồi ấy tôi 52 tuổi, không hiểu chuyện đời thế nào…” đúng là một “tướng già giả nai ngây thơ” hay “tướng già quá dại” bị cộng sản Việt Nam lường gạt mà không biết. Nguyễn Hữu Hạnh đã hơn 90 tuổi vẫn không biết “quốc gia hoà giải không phải chỉ vỏn vẹn gồm có người Việt theo lập trường cộng sản với người Việt theo lập trường quốc gia, mà còn có những người Việt theo lập trường chính trị khác, họ bất đồng chính kiến với cả cộng sản lẫn quốc gia. Trường hợp Nguyễn Văn Đông có lập trường dân tộc thuần túy, đã bị cộng sản Việt Nam cầm tù 10 năm. Hiện nay ở trong nước Việt Nam có rất đông người Việt Nam có lập trường dân tộc thuần túy đang bị cộng sản Việt Nam giam cầm.
 
Quả thật Nguyễn Văn Đông cho tới chết vẫn ở lại Việt Nam không đi định cư ở Mỹ, ở Pháp một cách đường hoàng chính thức cho dù chính phủ Pháp và chính phủ Mỹ đã nhiều lần trân trọng gởi thơ mời; Nguyễn Văn Đông đã mạnh mẽ nói rõ Nguyễn Văn Đông không theo Mỹ theo Pháp. Một người có tinh thần dân tộc thuần túy, nhân bản, không vọng ngoại, không nuôi lòng hận thù, không nợ máu với Việt cộng, và yêu quê hương Việt Nam chân thành; thế mà cộng sản Việt Nam cầm tù Nguyễn Văn Đông 10 năm. Việc cầm tù Nguyễn Văn Đông 10 năm đúng là chính sách thất bại của cộng sản Việt Nam./-
Nguyễn Thành Trí
Sài Gòn ngày 26/3/2018 một tháng sau khi Nguyễn Văn Đông vĩnh biệt chúng ta.