Saturday, June 13, 2020

Trận Pleime năm 1974 (kỳ 6)

Kỳ trước: Sáng 28 Tháng 7 những trận tiền pháo hậu xung ngất trời nhưng Pleime vẫn trơ trơ  mà địch thì chết như rạ, phải ngưng để kéo xác.  Trưa 29 Tháng 7 Đại tá Chỉ Huy trưởng BĐQ QK 2 đạp chân xuống trại thăm thuộc cấp của mình giữa tiếng phòng không của địch nổ vang.

Nhiều kỳ – kỳ 6
Tôi chạy ra sân kéo Ðại tá Tất vào hầm chỉ huy nằm trong trung tâm trại. Tôi tóm tắt cho người chỉ huy biết tình hình mấy ngày qua.
Lúc đó trong hầm hành quân còn có mặt ông Trung úy Trần Dân Chủ, sĩ quan hành quân của tiểu đoàn.
Ông Chủ xuất thân khóa 22 Thủ Ðức, tuy đeo lon trung úy nhưng thực ra còn là cấp thiếu úy. Ông ta bị gián đoạn công vụ một thời gian vì bị Cộng Quân bắt giam từ tháng 5 năm 1969 tới cuối năm 1973 mới được trao đổi tù binh.
Khi bị địch bắt ông Chủ mới mang cấp bậc thiếu úy vừa tròn một năm.
Tôi đề nghị Ðại tá Tất cố gắng hợp thức hóa cái lon trung úy cho ông Chủ để sau trận này, tôi có thể chạy lon đại úy cho ông ta. Ðại tá Tất hứa sau khi trở về Pleiku ông sẽ thỏa mãn lời yêu cầu của tôi.
Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng ghé tai tôi nói nhỏ,
Kỳ này chắc chắn ông thầy sẽ thêm một mai bạc! Nhớ đãi tụi em một chầu nhe! Hai tháng trước có vài thằng Ðặc Công mò về Căn cứ 333, hai bên bắn nhau đì đẹt. Chỉ có mấy thằng Việt-Cộng chết mà Trường An đã đề nghị cho ông tiểu đoàn trưởng lên trung tá rồi đó!
Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng và Thiếu úy Trần Văn Phước đều xuất thân từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2. Hai sĩ quan này chập chững vào chiến trận dưới bàn tay dìu dắt của Thái Sơn Vương Mộng Long. Vì thế mà gặp nhau bất cứ ở đâu họ đều gọi tôi là “Ông thầy” thay vì gọi tôi với cấp bực.
Tôi nghĩ rằng, một chiến binh, khi nhận nhiệm vụ ít người hy vọng được thăng chức lên cấp, mà chỉ mong hoàn thành trách nhiệm là mừng rồi.
Ngay cả tới cái mạng của mình mà không biết có giữ được không thì mong gì tới những thứ phù du khác.
Cứ nhìn vào chuyện xảy ra gần đây thôi. Tôi và Thiếu tá Nguyễn Ngọc Di Trưởng Phòng An-Ninh Quân-Ðội Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 cùng ra đơn vị một ngày. Ông Di lên Dak Pek, tôi vào Pleime. Nay Dak Pek đã thất thủ, Thiếu tá Di chết rồi, còn tôi thì đang bị vây.
Tôi nói với chú Hùng,
– Cứ chờ đi! Không biết anh có được lên lon hay lại theo chân ông Di cũng chưa biết chừng!
Ðại tá Tất tỏ ý muốn tôi dẫn ông đi quan sát một vòng quanh trại, nhưng tôi thấy điều này có thể gây nguy hiểm đến tánh mạng của ông nên tôi không cho ông thực hiện chuyện này.
Ông Tất nói cấp trên đã lên kế hoạch tiếp cứu Pleime rồi, ông khuyên tôi gắng kiên tâm “Tử thủ”.
Tôi không rõ Tướng Nguyễn Văn Toàn có cho ông Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 biết rằng tôi được phép rút chạy sau ba ngày cố thủ và một tuần “đánh trận giả” hay không, nên tôi chỉ trả lời ông Tất rằng tôi sẽ cố gắng.
Một giờ sau, tôi hướng dẫn chiếc trực thăng núp theo triền Bắc núi Chư Gô đáp ngay cổng Nam Pleime bốc hai thầy trò ông Ðại tá, có sáu thương binh được đi theo. Chiếc phi cơ mở hết tốc độ bay thẳng hướng Tây, bay một mạch, tít mù xa, rồi mới quẹo về hướng Phú Nhơn.
Noel 1973 Pleiku.Thiếu tá Vương Mộng Long (em rể) Chuẩn úy Đinh Văn Thọ (anh vợ) và 2 con của VML.
o O o
Công đồn đả viện …
Hầu như ba ngày đầu tôi chỉ bận rộn với chuyện gom góp quân thất lạc và chống đỡ những đợt tấn công từ hướng Bắc.
Ðêm 31 tháng 7 địch đẩy hai khẩu 75 ly không giựt lên đỉnh dốc nhắm bắn vào trại. Sau bốn năm trái 75 ly thì cái câu lạc bộ tan hoang, vách ván, mái tôn bay tung toé.
Tôi chưa gọi được điện thoại cho khẩu 105 ly cổng Bắc thì anh lính Thượng đã giựt cò bắn đi hai quả Beehive. Chắc xạ thủ của hai khẩu đội 75 ly chết hết rồi, nên không còn trái 75 ly nào bay vào nữa.
Suốt đêm 31 tháng 7 cho tới sáng 1 tháng 8 phi cơ Hỏa Long liên tục thả hỏa châu và bắn cận phòng vùng một cây số Bắc Pleime.
Tôi cũng được thông báo hai Box 1×1 km đánh bom tập trung trong vùng hướng Tây làng Plei Xome đã được một đoàn oanh tạc cơ A 37 thực hiện trong đêm qua. Những Box bom 1×1 km này có thể coi như những Box B52 Mini do Không Quân Việt-Nam mới sáng chế ra. Nếu địch tập trung đông trên một diện tích hẹp mà bị một Box này thì thiệt hại không phải là nhỏ.
Ngày 1 tháng 8 năm 1974 Trung tá Hoàng Kim Thanh thông báo cho tôi biết rằng, Trung Ðoàn 41 của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh đang gửi Tiểu Ðoàn 3/41 vào khu vực Bắc của núi lửa.
Tôi có ba người anh vợ đều là sĩ quan, hai ông anh đầu chết rồi, ông anh thứ ba thì đang phục vụ trong Tiểu Ðoàn 3/41, nên tôi xin tần số của tiểu đoàn này để hỏi tin tức.
Tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn 3/41 là Thiếu tá Phan Ðình Thành, khóa 22 Ðà Lạt.
Tôi nói với Thành,
Trong đơn vị của Thành có ông anh vợ của tôi.Tên anh ấy là Ðinh Văn Thọ, cấp bậc chuẩn úy. Thành cho tôi gửi lời thăm anh ấy, nhắn với anh ấy rằng tôi vẫn bình yên.
Tôi vừa dứt lời thì Thành đã nhanh nhảu,
– Ủa! Chuẩn úy Thọ là anh vợ của niên trưởng hả? Trung đội của ông ấy đi đầu, nhưng mất liên lạc hai ngày rồi!
Sau này ông Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ tức là ông anh thứ ba của vợ tôi về nhà kể lại: Trung đội của ông ấy tổng cộng có 11 người, Chuẩn úy Ðinh Văn Thọ là trung đội phó, trung đội trưởng là một chuẩn úy ra trường Thủ Ðức trước ông một khóa. Dưới quyền hai vị chuẩn úy là một ông trung sĩ và tám ông lính. Họ được lệnh mở đường tiến vào Pleime, nhưng mới rời bộ chỉ huy tiểu đoàn chưa được hai trăm mét thì đụng đầu một đơn vị địch rất đông. Trung đội này chạy lạc vào một làng Thượng đã bỏ hoang. Họ rủ nhau chui vào khu vườn cây um tùm để ẩn núp. Mấy ngày sau toán này lợi dụng đêm tối lần mò ra Quốc lộ 14 tới quận lỵ Phú Nhơn trình diện.
Sau chiến tranh, ông chuẩn úy anh vợ tôi cũng bị tù cải tạo, nhưng thời gian ở tù của ông ấy chưa tới 3 năm. Ông không đủ điều kiện đi Mỹ định cư theo diện H.O nên đành về quê Ban Mê Thuột, trồng tiêu, nuôi gà.
Nay ở tuổi gần thất thập, ông vẫn chưa quên cái lần ông ra trận đem quân vào Pleime cứu thằng em rể.
Có thể nói, thời gian từ 27 tháng 7 năm 1974 tới 10 tháng 8 năm 1974 là giai đoạn “Công đồn đả viện” của địch.
Tôi không biết các cánh quân của Trung Ðoàn 41 đi được bao xa, nhưng đoạn đường từ ngã ba làng Plei Xome tới vùng Bắc Pleime thì hoàn toàn do địch kiểm soát.
Tôi nghe nói, sau khi Trung Ðoàn 41 Bộ Binh thất bại phải rút ra ngoài, thì tiếp đó một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã được gửi vào vùng, nhưng đơn vị này mới qua khỏi Căn cứ 711 đã bị chặn lại.
Tôi còn biết thêm một chuyện đau lòng, đó là cái chết của ba anh viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2.
Toán này nhận lệnh vào thám sát lấy tin tức vùng núi lửa Chư Mréa. Khi trở về họ đã bị ngộ nhận vì họ mặc quân phục Việt-Cộng trang bị AK 47. Họ bị quân bạn bắn chết ngay ngoài vòng rào vào ngày thu quân.
Trước khi vào Pleime, tôi là “Anh Hai” của họ. Giữa năm 1971 tôi đã bay tới 12 căn cứ Biên Phòng của Quân Khu 2 tuyển dụng họ về Pleiku, đích thân huấn luyện cho họ thành những viễn thám viên lành nghề.
Tôi đã từng bốc thả họ nhiều lần để do thám các mật khu, khai thác những mục tiêu B52 vừa oanh kích, hoặc thi hành những cuộc phục kích bắt tù binh trên Ðường Mòn Hồ Chí Minh; đáng ghi nhớ nhất là lần nhảy xuống đánh mìn phá hủy cây cầu ngầm N 24 bắc qua sông Sé San.
Ðầu năm 1974 tôi còn nhảy toán theo họ xuống vùng địch để thu thập tin tức yểm trợ cho cuộc hành quân tái chiếm căn cứ Lệ-Minh.
Lần này họ vào vùng với mục đích thám sát lộ trình dự trù cho các đơn vị sẽ vào cứu “Anh Hai” của họ, và họ đã chết một cách oan uổng.
Ðêm đó, trong một căn hầm giữa sân trại Pleime, hai cựu trưởng toán viễn thám của Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 là Binh 1 Yang và Hạ sĩ Nguyễn Ba đã thấy “Anh Hai”  rơi nước mắt.
Tiền đồn Chư Hô bị bao vây tới ngày thứ năm thì hết lương thực. Tôi không còn quân để tiếp viện và tiếp tế cho tiền đồn này, nên cho lệnh trung đội trên Chư Hô nửa đêm tụt xuống đồi, rút về cổng Nam. Ðêm 2 tháng 8 tôi cũng cho lệnh trung đội đóng trên Cao điểm 509 rút lui. Chỉ một ngày sau hai cao điểm này đã trở thành nơi đặt súng 12.7 ly và 57 ly của Cộng-Quân.
Coi như tôi không còn cánh quân nào hoạt động xa, ngoại trừ những toán tuần tra sát vòng rào Nam và Tây. Hai hướng Ðông và Bắc bị bỏ ngỏ, chỉ kiểm soát bằng hỏa lực đại liên và cối 60 ly.
Tính từ ngày đầu bị cô lập tới 10 tháng 8 đã có hơn một chục lần xung phong của địch bị đẩy lui, hàng trăm cán binh Bắc-Việt đã bị giết.
Hàng ngày, cứ chờ cho trời vừa tối, chúng tôi mới lục tục leo lên mặt đất thay quần áo và kiếm đồ ăn. Trời tối thì tiền sát viên của địch nằm trên đỉnh 509 không còn nhìn thấy doanh trại của chúng tôi nữa.
Một hôm tôi chưa thay xong bộ quần áo ướt thì được Trung sĩ Hoàn, Hạ sĩ quan Ban 3 thông báo,
– Trình Thái Sơn, có Hai Lẻ Chín muốn gặp!
Trong trung tâm hành quân có tiếng Ðại tá Từ Vấn oang oang qua loa khuếch âm,
– Thái Sơn có mặt chưa? Ðây là Hai Lẻ Chín! Trả lời!
– Thái Sơn nghe!
– Này! Tình hình hôm nay ra sao? Có còn chịu nổi không thì cho anh biết đi!
– Ðêm qua tụi nó xung phong hai ba đợt nhưng bị tụi tôi đánh văng ra ngoài! Xác tụi nó vắt đầy trên dây kẽm gai! Bangalore đã đục thủng 6 lớp rào, nhưng Hai Lẻ Chín cứ yên tâm, tôi sẽ đập bể đầu chúng nó!
(Bangalore: Ống kim loại chứa thuốc nổ dùng để phá hàng rào.)
Giọng nói của ông liên đoàn trưởng tỏ ra vô cùng lo lắng,
– Trời đất! Có sao không? Tụi nó đánh thủng 6 lớp rào rồi à! Vậy chứ Pleime có tổng cộng là bao nhiêu lớp rào?
Tôi chột dạ á khẩu! Tần số mà tôi và ông Từ Vấn đang nói chuyện là của máy PRC 25.
Thời gian này không tần số nào là không bị địch nghe lóm. Ông Vấn hỏi tôi tổng cộng có bao nhiêu lớp rào, nếu tôi trả lời ông ta, thì có khác nào tôi đã trực tiếp báo cáo cho Tư Lệnh Sư đoàn 320A rằng còn bao nhiêu lớp rào nữa thì cán binh của Ðại tá Kim Tuấn (Cộng Sản) có thể ném bộc phá vào hầm chỉ huy của tôi?
Tôi vội đánh trống lảng,
– Mưa liên miên, lạnh quá, nếu có thể được thì Hai Lẻ Chín thả cho tụi tôi vài bao thuốc lá nhé! 
– Ừ! Mấy hôm nay trời lạnh thật đấy! Ðể mai anh bay vào thả cho chú vài bao!
May quá! Ông liên đoàn trưởng quên câu hỏi Pleime có tổng cộng bao nhiêu lớp rào rồi! Chỉ có hai người biết Pleime có bao nhiêu lớp rào, đó là tôi và Ðại tá Phạm Duy Tất.
Ngày Căn cứ 711 thất thủ, địch đã lấy được sơ đồ phòng thủ Trại Pleime, trên đó có bản vẽ 6 lớp hàng rào và bãi mìn chống người do Công-Binh Hoa-Kỳ thiết trí.
Tôi giấu nhẹm chuyện này, không báo cáo với quân đoàn.
Hai ngày sau khi tái chiếm Căn cứ 711, tôi đã khẩn cấp xin Ðại tá Tất cho hai GMC chở kẽm gai cọc sắt vào Pleime.
Ðằng đẵng cả tháng trường, chúng tôi cấp tốc âm thầm thiết trí một hệ thống phòng thủ thứ nhì cho Trại Pleime, dựng thêm 6 lớp rào kẽm gai mới, gài thêm mìn bẫy, giống y hệt sơ đồ hệ thống phòng thủ cũ.
Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt được tôi giao phó đảm trách công việc này.
Thiếu úy Việt là người chỉ huy xây dựng 6 lớp rào mới, nhưng chú Việt không biết có bao nhiêu lớp rào cũ; các quân nhân khác lại càng mù tịt về chuyện này.
Như thế là, từ tháng 6 năm 1974, quanh đồn Plei-Me, có hai hệ thống hàng rào phòng thủ; hệ thống mới nằm bên ngoài và cách hệ thống cũ một khoảng đất trống rộng hai mươi mét gài đầy mìn và lựu đạn. Nếu địch tấn công đồn này, với tin tức khai thác từ sơ đồ phòng thủ cũ, chúng sẽ bị hố nặng.
Khi hoàn tất việc rào giậu, tôi báo riêng cho Ðại tá Tất biết, và đề nghị ông kín tiếng. Biết đâu sau này địch quân sẽ đánh Pleime, chúng sẽ bị mình đánh lừa.
Quả nhiên địch đã mắc bẫy! Chúng tiến vào đồn theo đường phá của Bangalore, tới khu đất trống thì tưởng trước mặt mình, sau những bụi lau sậy là nhà cửa, lô cốt, nên nhắm mắt xung phong, đâu ngờ lại gặp 6 lớp kẽm gai nữa của hệ thống phòng thủ cũ, chúng đang ngỡ ngàng thì từng tràng đạn đại liên đã nổ giòn, khiến chúng chết đè lên nhau.
Hôm sau trời mưa. Trên trời cao là chiếc C&C của Ðại tá Từ Vấn. Vừa nghe tiếng “Bạch! Bạch! Bạch!”  trên mây, phòng không 37 ly và 12.7 ly của địch đã bắt đầu đua nhau nhả đạn.
Có tiếng ông phi công người Thượng (hay người Miên) rè rè trong máy,
– Thái Sơn chuẩn bị nhận tiếp tế! Bạn cho biết vô hướng nào an toàn nhứt?
– Vòng xa ra biên giới, vào từ hướng Tây, ra hướng Ðông! Nhớ bay sát đất!
– Okay!
Mấy phút sau, bất thình lình hai chiếc trực thăng nổ “Bình! Bình! Bình!…”  ngừng lại chừng năm hay sáu giây đồng hồ trên không, hai anh cơ phi vội vã đạp xuống mấy thùng đồ tiếp tế.
Sau đó như con cá heo lật mình, hai chiếc tàu nghiêng cánh nép sát chân Chư Gô vun vút thoát về hướng Ðông.
Khẩu 81 ly của trại vội vàng phóng đi hai quả đạn nhằm khóa họng hai khẩu 12.7 ly của địch trên tiền đồn Chư Hô. Hai khẩu phòng không này đang bắn với theo đuôi hai cái trực thăng.
Tôi gửi lời cám ơn các phi công,
– Lạc Long đây Thái Sơn! Cám ơn bạn đã liều mình vào tiếp tế!
Ðáp lại, tôi nghe, cùng với tiếng động cơ “È! È! È!”  là tiếng của ông phi công,
– Ố là la! Cám ơn gì nữa! Bị bắn què chân rồi nè!
Ðại tá Vấn còn bay trên trời, nhưng tôi không nghe ông nói gì thêm thì chắc là đoàn trực thăng đã an toàn rời vùng rồi.
Tôi vui vô cùng vì thấy chuyến tiếp tế đã hoàn tất.
Một bao đồ tiếp tế đánh sập hầm của Thiếu úy Phạm Văn Thủy. Một bao khác rơi giữa sân cờ. Nhiều bao và thùng giấy rơi trên lô cốt, vắt trên hàng rào.
Vài người lính nhào ra giành giựt nhau những đồ vật vừa được thả xuống khiến cho Trung úy Song và Thiếu úy Phước phải rút súng bắn chỉ thiên để chặn đứng tình trạng “hôi của” đang diễn ra. Ở đâu có sự đói kém, thì ở đó xuất hiện những đồ vô loại.
Hai tên vô loại bị điệu tới trước mặt tôi, tôi định sút cho mỗi đứa một cú đá, nhưng kịp ngừng. Tôi ôn tồn,
– Về chỗ đi! Ít nhiều gì thì anh em cũng phải chờ chia nhau. Chia nhau một cách đồng đều! Nghe rõ chưa?
Chúng tôi moi tung những bao tải vừa thả xuống, chỉ có những thùng đạn M16, M 60, điện trì, gạo sấy, cá khô, và mìn Claymore; tuyệt nhiên không có hai thứ cần thiết là rượu cồn, bông băng và cũng chẳng tìm thấy bao thuốc lá nào cả. Hình như hai thùng lớn đựng đồ nhẹ đã bay ra khỏi rào rơi trên bờ suối Lé.

Trận Pleime năm 1974 (kỳ 5)

Kỳ trước: Đang giằng co với lệnh buộc đi cứu binh của Đại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng LĐ 24 BĐQ, và tình hình cấp bách, địch đang tấn công vào trại Pleime, Thiếu tá Long quyết định dẫn quân về giữ đồn, vì đó là trách nhiệm chính của ông.
Vương Mộng Long huấn luyện đơn vị
Nhiều kỳ – kỳ 5
Trước khi ra quân, tôi đã dự trù một hỏa tập rào cản dài một cây số hướng Tây, Tỉnh lộ tên là “Sầm Mi 1” để đề phòng viện quân địch ào lên. Tôi khẩn cấp gọi Sầm Mi,
– Sầm Mi! Ðây Thái Sơn! Gọi chú Như ưu tiên cho anh hai chục tràng hỗn tạp trên Sầm Mi 1! Mau lên!”
Sau đó, tôi để lại Ðại Ðội 2/82 đánh trì hoãn cho tôi và Ðại Ðội 3/82 băng rừng rút lui. Cuộc rút quân này gấp rút tới nỗi tôi phải cho lệnh ưu tiên di tản thương binh, bỏ lại tất cả những đồng đội tử trận, vứt bỏ tất cả vũ khí nặng và chiến lợi phẩm.
Tôi đã yêu cầu hỏa tập Sầm Mi 1 bắn hơi trễ, nên khi tôi về tới cổng trại cũng là lúc địch reo hò xung phong tràn ngập tiền đồn Bắc, sáu khinh binh đóng chốt trên đồi không biết sống chết ra sao.
Ðại đội 3/82 vừa bố trí thành một vòng cánh cung dưới chân tiền đồn đã sớm trở thành mục tiêu cho hai khẩu 12.7 ly của địch từ trên đồi bắn xuống.Tôi và Ðại Ðội 3/82 vội tụt xuống trấn thủ con dốc trước cổng Bắc. Toán gác cổng đã mở hé hai cánh cửa cho anh em theo nhau luồn vào trại.
Xuống tới bờ dốc là có vị trí ẩn núp, tôi khẩn cấp cho lệnh khẩu 105 ly của Trung úy Như bắn ngay mười tràng hỗn tạp trên tiền đồn Bắc, hai khẩu 12.7 ly của địch mới chịu im.
Lúc này Ðại Ðội 2/82 của Trung úy Anh bị địch cô lập trên đoạn đường một cây số Bắc Pleime.
Trời đã xế chiều, tôi nói với Trung úy Anh rằng tôi sẽ cho quân bạn bắn tối đa về hướng Bắc nhưng bắn lên trời, còn quân của Ðại Ðội 2/82 thì cứ vừa chạy về hướng trại, vừa liên tục tác xạ, tới sát rào Bắc sẽ có quân bạn tiếp đón.
Súng nổ liên hồi trong khoảng thời gian nửa tiếng đồng hồ. Thiếu úy Trần Văn Phước là người chỉ huy lực lượng trấn thủ cổng Bắc báo cho tôi hay Ðại Ðội 2/82 còn được 22 quân nhân vừa nhập trại. Trung úy Nguyễn Hữu Anh và Chuẩn úy Lê Văn Phước còn tụt lại đằng sau, họ đang tìm cách đi bọc về hướng suối rồi tiến về cổng Nam.
[Có tác giả khi viết về trận Pleime 1974 đã ghi là Ðại Ðội 2/81 chỉ còn 22 người chạy về trại. Ðiều này sai, đây là Ðại Ðội 2/82 không phải Ðại Ðội 2/81. Vì ngày 28 tháng 7 Ðại Ðội 2/81 mới được không vận vào Pleime.]
Tôi ngồi bên máy truyền tin trực chờ tiếng nói của Trung úy Anh và Chuẩn úy Phước suốt đêm nhưng không thấy động tĩnh. Ba ngày sau hai vị sĩ quan này cùng năm người lính lội bộ tới Chi Khu Phú Nhơn trình diện, cái máy truyền tin của họ đã bị chìm khi qua suối Lé (Ia Glaé).
Lúc này, kể cả một tiểu đội canh gác cố định trên Pháo đài 2 thì quân số của Ðại Ðội 2/82 chỉ còn trên dưới 30 người, lại không có sĩ quan, nên tôi giao số quân nhân này tăng cường cho Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt.
Thế là tiền đồn Pleime bị cô lập kể từ tối 27 tháng 7 năm 1974.
Ðêm 27 tháng 7 có hai chiếc máy bay võ trang Hỏa Long bay trên vùng Bắc Pleime, nhưng máy bay chỉ thả hỏa châu, mà không bắn, vì họ sợ bắn lầm quân bạn còn thất lạc trong rừng. Vô tình, hỏa châu của ta lại soi đường cho địch xung phong!
Dưới ánh sáng hỏa châu, Việt-Cộng xông lên ngời ngời!  Ba lần biển người ào xuống cái dốc cổng Bắc, cùng những tiếng thét “Xung phong! Xung phong!” đều tắc nghẽn ngay sau khi khẩu 105 ly cổng Bắc phóng ra liên tiếp hai trái Beehive.
Suốt đêm đó khẩu 105 ly của Trung úy Như phải làm việc liên tục, bắn từng đợt trên ngã ba tiền đồn Bắc với những trái đạn nổ cao để ngăn địch.
Hôm sau, đọc bản tin tổng kết tình hình 24 giờ qua của liên đoàn, tôi được biết, trưa 27 tháng 7 Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân đã bị Việt-Cộng chặt đầu, Thiếu tá Trần Văn Ngọc đã bị Việt-Cộng bắt sống. Không ngờ chỉ trong khoảng thời gian vài giờ đồng hồ giao chiến mà một tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân đã bị Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đánh tan.
Mặt khác, một tin A 2 ghi nhận rằng đơn vị địch chận đánh Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân là Trung Ðoàn 64 của Sư Ðoàn 320A, còn đơn vị Cộng-Sản giữ nhiệm vụ tấn công Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là Trung Ðoàn 48/320A.
Tin A 2 còn cho biết ngay sau khi đánh tan Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân thì E 64/320A sẽ thay thế E 48/320A liên tục tấn công Pleime cho tới khi chiếm được căn cứ biên phòng này. Tiểu Ðoàn D20 Trinh Sát của Sư Ðoàn 320A và một tiểu đoàn phòng không sẽ giữ nhiệm vụ chặn viện binh Việt-Nam Cộng-Hòa trên đoạn đường từ núi Chư Mréa tới ngã ba làng Plei Xome.
Trung Ðoàn 48 của Sư Ðoàn 320A vì bị tổn thất khá nặng nên bị chuyển sang vùng Ðông Pleime, giữ nhiệm vụ săn bắt những quân nhân thoát chạy từ Pleime ra Quốc lộ 14, đồng thời chặn đánh bất cứ đơn vị nào xuất phát từ quận lỵ Phú Nhơn tiến vào tiếp cứu cho Pleime.
Mờ sáng 28 tháng 7 địch mở màn trận mưa pháo chưa từng thấy trên nóc trại. Hàng ngàn quả đạn đã rơi khắp nơi, trong rào, ngoài rào, trên sân bay, dưới suối. Hầu như địch bắn mà không cần biết đạn sẽ rơi xuống chỗ nào!
Khoảng tám giờ sáng từ hướng Bắc và Tây có hai chiếc loa phát đi lời kêu gọi Biệt Ðộng Quân mau buông súng đầu hàng.
Hai cái loa cứ oang oang lặp đi, lặp lại bốn tiếng, “Hàng sống! Chống chết!”
Tiếng loa trộn lẫn tiếng súng của hai phe đang bắn nhau làm cho người nghe ù cả tai.
Rồi từ đỉnh đồi hướng Bắc, một đoàn quân chính quy Bắc Việt, vừa bắn vừa hô “Xung phong” lao xuống con dốc dẫn vào vườn rau. Ði sau đoàn quân này là một tên cán binh rất cao lớn vai vác lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam thật to.
Cách đánh ồ ạt vũ bão này là sở trường đặc biệt chỉ thấy ở Trung Ðoàn 64 Sư Ðoàn 320A.
Lúc này tôi ngồi trong ụ súng 105 ly cổng Bắc.
Tôi hét,
-Beehive!
Anh xạ thủ người Thượng nhanh tay giựt cò.
“Ðoàng!”
Ðạn ra khỏi nòng, tiếp đó là một tiếng “Í! Ách!’ có lẽ là tiếng đầu đạn kích hỏa để phun hàng ngàn mũi tên sắt bay xa.
“Ðoàng!”
Viên thứ hai tiếp liền theo viên thứ nhất. Khói từ nòng súng còn khét lẹt, tôi và anh lính Thượng đã vội tụt xuống giao thông hào.
Khẩu đội 105 ly cổng Bắc có bốn người, nhưng trong ụ súng lúc nào cũng có mặt một người thôi. Ðó là một anh hạ sĩ người Thượng nhanh như cheo. Mới thấy anh ta giựt cò, “Ðoàng!” họng súng vừa phà khói trắng, thoắt cái, anh ta đã biến mất dưới giao thông hào.
Thấy anh chàng này ẩn hiện nhanh như con chuột nhắt, tôi bèn đặt tên cho hắn ta là “Con chuột Cổng Bắc ” Muốn ra lệnh bắn, tôi chỉ cần hô “Con chuột!” thế là có một viên đạn chống biển người bay đi.
Phụ lực với “Con chuột Cổng Bắc” lúc nào cũng có hai khẩu đại liên 30 trong lô cốt cổng Bắc và Pháo đài số 1 siết cò liên tục, chỉ một hướng cố định, đường đạn bắn giao nhau. Ðịch chết đè lên nhau, chết trước khi kịp quay đầu chạy.
Từ hố cá nhân bên ụ súng đại bác 105 ly cổng Bắc, tôi nhìn thấy địch nằm chết như xếp cá sát nhau, chân chúng nằm trên dốc, đầu chúng hướng về phía cuối dốc, như đang theo nhau trôi xuống vườn rau trước cổng trại.
Tới trưa 28 tháng 7 tôi được lệnh ngừng mọi hoạt động pháo binh để dành không gian cho một đoàn trực thăng chuyển vận viện binh.
Lúc đó giao tranh còn đang diễn ra từng đợt nơi cổng Bắc. Tôi phải giao quyền chỉ huy tuyến phòng thủ Bắc cho Thiếu úy Phạm Ðại Việt rồi theo giao thông hào để ra phi trường đón những người đồng đội đến tăng cường cho mình.
Phòng không địch đan lưới trên không, nhưng không thể ngăn những chiếc trực thăng của Phi đoàn 229 bay sát đất, thả Ðại đội 2 của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân xuống phi đạo Pleime.
Ði theo đoàn quân này có Thiếu tá Trương Hoàng Phi Trưởng Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/ Quân Khu 2 và hai quân nhân của Tiểu Ðoàn 82 là Trung sĩ Nguyễn Phượng Hoàng và Thiếu úy Lý Ngọc Châu.
Hai thầy trò chú Châu nghe nói Pleime đánh lớn nên nóng lòng, theo chân đoàn quân cứu viện để vào chiến đấu sát cánh với ông tiểu đoàn trưởng.
Từ đầu năm 1966 Binh nhì Nguyễn Phượng Hoàng đã theo tôi vào, ra trăm trận, cho tới đầu năm 1974 chú Hoàng đã là trung sĩ, tôi mới sắp xếp được một vị trí bán tác chiến để chú Hoàng làm việc ở hậu cứ tiểu đoàn coi như đền bù công lao cho một người trải qua gần mười năm làm người lính đi đầu.
Còn Thiếu úy Lý Ngọc Châu là người đã có sự vụ lệnh theo học khóa Tâm Lý Chiến ở trường Chiến-Tranh Chính-Trị  Ðà-Lạt. Thiếu úy Châu đang chờ phương tiện đi học, nếu đem chú ấy vào đây thì chắc chắn sẽ bị loại khỏi lớp. Ðó là chưa kể tới yếu tố tâm lý, dị đoan, xưa nay những quân nhân đã có tên đi phép, hoặc thuyên chuyển, hay thụ huấn mà cứ chần chờ ở đơn vị cũ thường bị chết bất đắc kỳ tử.
Ngay lúc chú Châu và chú Hoàng vừa đạp chân xuống đất, tôi đã nẹt,
– Hai thằng này lên tàu về Pleiku mau!
Hai người đàn em nghe tôi quát tháo thì sợ quá, vội vàng nhảy lên trực thăng ngay.
Những quân nhân tăng phái của Ðại đội 2/81 nhanh chóng bố trí hai bên phi đạo với vị thế sẵn sàng chiến đấu.
Hợp đoàn chuyển quân cất cánh, trên sân bay còn lại một mình Thiếu tá Trương Hoàng Phi đầu đội bê rê, lưng đeo súng Colt, chân đi đôi giầy Sault bóng loáng, đứng bên cái giường bố bằng nhôm mới toanh của quân đội Mỹ.
Thiếu tá Phi ra trận mà không đem ba lô, nón sắt, lương khô, poncho, mền võng, mà chỉ vác theo cái giường bố nylon gọng nhôm, như người đi nghỉ mát ở bờ biển Vũng Tàu.
Ông Phi chạy tới trình diện tôi và cho tôi hay rằng, Ðại tá chỉ huy trưởng muốn ông ta xuống Pleime để phụ tá cho tôi theo dõi tình hình địch rồi báo cáo về cho Bộ Chỉ Huy ở Pleiku.
Tôi không giấu nổi sự ngạc nhiên: Tôi có một Ðại úy thâm niên là tiểu đoàn phó, có một Thiếu úy tốt nghiệp trường Quân Báo Cây Mai làm sĩ quan Ban 2, cá nhân tôi là một sĩ quan gạo cội của ngành Tình Báo thì một ông Thiếu tá trưởng phòng 2 của Bộ Chỉ Huy có mặt ở Pleime này sẽ giúp ích gì cho tôi?
Không cần suy nghĩ tìm hiểu vì lý do gì ông Phi bị gửi vào đây, tôi nói với ông,
– Tôi cho phép anh theo chuyến bay kế tiếp trở về Pleiku ngay. Nếu Trường An có hỏi tại sao, thì anh cứ nói rằng tôi ra lệnh cho anh làm như vậy.
Thiếu tá Phi trợn tròn hai mắt nhìn tôi,
– Ủa! Thiếu tá cho phép tôi về Pleiku ư? Nếu tôi về thì có bị Ðại tá quở phạt không?
Tôi hất hàm đáp gọn,
– Ði đi! Tôi cho anh đi đó! Ðừng sợ!
Sau đó tôi lo phân phối nhiệm vụ bố quân cho số người vừa đạp đất của Ðại đội 2/81 nên quên khuấy chuyện ở hay đi của Thiếu tá Phi. Tới tối thì chú Phước báo cho tôi hay ông Phi đã leo lên chiếc trực thăng đầu tiên của đợt đổ quân thứ nhì. Ông Phi nhờ chú Phước gửi lời cám ơn của ông ấy tới tôi.
Ông Phi ra đi quá vội vàng, bỏ quên cái giường bố Mỹ gọng nhôm trên sân bay. Sau này tôi không biết ông Phi thuyên chuyển đi đơn vị nào, và làm công việc gì.
Khi việc vận chuyển đại đội tăng viện chấm dứt, hợp đoàn trực thăng đã khuất dạng, thì Thiếu úy Việt báo cho tôi biết địch vừa ngưng bắn nơi cổng Bắc.
Tôi chợt nghĩ ra, mặt Tây đang bỏ trống, nếu địch bỏ cổng Bắc, đánh vào cổng Nam thì bãi đáp sẽ bị đặt trong tình trạng nguy ngập, muốn gọi Ðại đội 4/82 ra ứng chiến cũng mất mười phút, chi bằng đem hết 18 anh viễn thám ra chận địch là nhanh nhứt.
Hai toán của Mom Sol và Yang đang đi theo tôi, nên bị chỉ định ưu tiên làm công tác ngăn địch. Năm phút sau 4 toán còn lại đã có mặt trên phi đạo.
Tôi đã biết địch chuyển quân theo hướng Bắc Nam, nên cho lệnh ba khẩu đại liên 30 từ các pháo đài hướng Tây cứ liên tục tác xạ ngăn địch.
Ðại đội 2 của Tiểu Ðoàn 81 vào tới trong vòng rào thì giao tranh mới bắt đầu nơi cuối phi trường, hướng Tây.
Sáu toán viễn thám bắn nhau với địch chỉ chừng mười phút thì địch rút chạy, bỏ lại năm sáu cái xác cán binh trên đường lui.
Ðại đội 2/81 Biệt Ðộng Quân có quân số gần bảy chục người, do Trung úy Nguyễn Văn Song chỉ huy.
Trước khi thuyên chuyển ra Tiểu Ðoàn 11 Biệt Ðộng Quân rồi sang Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân thì Trung úy Nguyễn Văn Song đã làm việc chung với tôi một thời gian ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2, do đó lệnh tôi truyền ra, chú Song thi hành không khó khăn gì.
Tôi giao cho Ðại đội 2/81 trấn giữ đoạn giao thông hào hướng chính Tây, kéo dài từ sân cờ tới cổng Nam. Căn lều của Trung úy Song chỉ cách lều chỉ huy của tôi chừng mười mét. Vị trí này là cố định không thay đổi suốt thời gian Pleime bị vây hãm.
Khu vực trách nhiệm của Ðại Ðội 2/81 hoàn toàn trống trải, không có các ngõ ngách giao thông hào và dây kẽm gai dích dắc, nên dù mới tới đây, binh sĩ của đại đội này sẽ không sợ bị lạc đường.
Trong lúc Ðại đội 2/81 lo đào công sự phòng thủ thì Binh Nhứt Yang khệ nệ ôm về cho tôi năm chiếc ba lô mới tịch thu được của Việt-Cộng.
Giấy tờ lưu trên tài liệu tịch thu cho ta biết đơn vị đánh nhau với chúng tôi sáng 28 tháng 7 là Tiểu Ðoàn K9 trực thuộc Trung Ðoàn E 64 của Sư Ðoàn 320A.
Năm 1972, khi xâm nhập lãnh thổ Cao Nguyên Vùng 2 của Việt-Nam Cộng-Hòa thì Sư Ðoàn F 320A Cộng-Sản có 3 trung đoàn bộ chiến là E 48, E 52 và E 64.
Trung Ðoàn E 48 có 3 tiểu đoàn đánh số K1, K2, K3; Trung Ðoàn E 52 có 3 tiểu đoàn đánh số K4, K5, K6; Trung Ðoàn 64 có 3 tiểu đoàn đánh số K7, K8, K9.
Sau đó, Trung Ðoàn E 52 đã di chuyển về Bình-Ðịnh, bổ sung cho Sư Ðoàn F3 Sao Vàng của Quân Khu 5. Từ ấy Sư Ðoàn F 320A chỉ còn 2 trung đoàn bộ chiến là E 64 và E 48.
Có lẽ Ban Trận Liệt của Phòng 2 Quân Khu 2 đã đọc sai tin tức khai thác tài liệu do Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân gửi về, nên có sự ngộ nhận, cho rằng Trung Ðoàn E 9 của Cộng-Sản đã hiện diện trong chiến dịch này, nhưng thực ra, đơn vị Việt-Cộng mang tên Trung Ðoàn E 9 trực thuộc Sư Ðoàn F 968 chỉ có mặt ở Tây Nguyên sau Tết Dương Lịch 1975.
Tôi còn tìm thấy trong ba lô của một cán binh tên là Bế Văn Tập có lá thư của bố anh ta tên là Bế Văn Thu gửi đi từ Cao-Bằng. Những người dân tộc Tày mang họ Bế không nhiều. Ở Hội-An, gia đình tôi có quen một người của Tỉnh Ðoàn Bảo An Quảng-Nam là Thượng sĩ Bế Văn Thương cũng quê quán Cao-Bằng.
Sau chiến dịch, tôi có gửi thư về Hội-An báo cho bác Bế Văn Thương biết tên người ghi trên thư gửi đi từ Cao-Bằng để bác xem có phải là bà con không, thì bác Thương cho tôi hay ông Bế Văn Thu là anh ruột của bác.
Như thế thì anh cán binh Việt-Cộng tên Bế Văn Tập tử trận ở Pleime ngày 28 tháng 7 năm 1974 là cháu gọi Thượng sĩ Việt-Nam Cộng-Hòa tên Bế Văn Thương là chú!
Suốt đêm 28 tháng 7 tôi phải đích thân dẫn theo một toán cận vệ đi tuần tra liên tục qua các pháo đài và tuyến phòng thủ.
Gần sáng, tôi đang ngồi dật dờ nửa thức, nửa ngủ thì nghe “Con chuột” nổ “Ðùng! Ðùng!” hai phát, rồi nghe trong máy, tiếng Trung úy Minh hỏi,
-Cái gì đó?
Có tiếng Thiếu úy Việt trả lời,
-Tui cho “Con chuột” đuổi mấy thằng Vi Xi (Việt-Cộng) đang lần mò vào thu lượm xác đồng bọn.
Tôi có thói quen bật lên câu hỏi, “Cái gì đó?” mỗi khi nghe có tiếng động lạ.
Vì thế, cứ có chuyện khác thường thì nhân viên trực truyền tin lại phát đi câu hỏi này. Lập tức, có người trả lời ngay.
Trời sáng rõ, tôi theo giao thông hào tới Pháo đài Bắc quan sát thì không còn thấy cái xác nào của địch nữa.
Tới trưa 29 tháng 7 có một chiếc trực thăng bay sát mặt đất, ngừng giữa trại, hai người nhảy xuống nóc cái bể chứa nước dự trữ, chiếc trực thăng vội bay đi.
Chiếc phi cơ bay đi rồi, địch mới phát giác, chúng bắn đùng đùng vài tràng 12.7 ly lên trời một hồi để thị uy.
Hai người vừa đạp đất là Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Biệt Ðộng Quân Quân Khu 2 và Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, sĩ quan tùy viên của ông.

Trận Pleime 1974 Kỳ 4

Nhiều kỳ – kỳ 4
Cái thời vàng son, khi Ðồng Minh còn hiện diện, xăng nhớt như nước, bom đạn như mưa đã qua rồi!
Cái thời nằm xoài trên bãi, miệng rít xì gà chờ B 52 trải thảm rồi bay vào vùng lượm súng đã qua rồi! Bây giờ là lúc đánh nhau với cung cách “thắt lưng buộc bụng”
Bây giờ cũng là lúc, muốn sinh tồn, người cầm quân phải vận dụng đầu óc nhiều hơn, dùng mưu trí nhiều hơn. Chỉ ơ hờ một chút là mất mạng, hay biến thành tù binh.
Nhận lệnh xong, rời quân đoàn, tôi phải bay thẳng một lèo về Pleime, không được ghé bất cứ nơi nào.
Ngày 23 tháng 7 tôi chuẩn bị 6 toán, mỗi toán 3 người, dưới quyền Thượng sĩ Năng đào hai đường hào dùng để rút quân. Một đường xuất phát từ kho đạn pháo binh, đường thứ nhì bắt đầu từ bể nước dự trữ. Hai đường hào này gặp nhau nơi cổng Nam. Trường hợp bị tràn ngập chúng tôi có thể vừa đánh vừa lui theo hai đoạn đường giao thông hào này.
Ngày 24 tháng 7 tôi dẫn theo Thiếu úy Trần Văn Phước cùng một toán viễn thám leo lên đỉnh Chư Gô để cất giấu hai chục khẩu phần lương khô, hai thùng nước uống và một máy truyền tin PRC 25 với 4 cục điện trì, dự trù nếu phải di tản còn có một điểm tiếp liệu.
Trưa hôm đó Hạ sĩ Nguyễn Ba và Binh nhì Lê Văn Bích đang nóng lòng trông đợi tôi về ăn cơm. Thấy tôi bước vào cổng trại, đầu tóc, mặt mũi đẫm mồ hôi, chú Ba vội chạy tới vừa giơ tay gỡ cái dây ba chạc khỏi vai tôi, vừa nói,
– Ông thầy đi đâu mà không cho tụi tôi biết, tụi tôi lo quá!
Binh nhì Bích cũng đon đả,
-Thiếu tá ăn cơm nhé?
Hạ sĩ Ba vừa châm cho tôi một điếu Lucky vừa bùi ngùi,
– Sáng mai em phải vào vùng thay cho toán của thằng Yang rồi, không biết em có còn sống để về gặp ông thầy hay không?
Kể từ cuối năm 1972, dưới quyền tôi, chú Ba đã là lính nhảy toán Biên Vụ (Viễn Thám) của Phòng 2. Tới khi tôi vào Pleime thì chú Ba tình nguyện đem toán đi theo tôi.   
Trong lúc tôi ngồi ăn cơm, chú Ba và chú Bích cứ lăng xăng xung quanh, chờ tôi sai vặt. Nhìn bộ dạng của hai thằng em, tôi nghiệm ra rằng nhất cử, nhất động của mình đều có ảnh hưởng tâm lý tới mọi người dưới quyền. Bao lâu nay, tôi đã là niềm tin, là chỗ dựa của họ. Tôi chỉ đi vắng có vài giờ mà thuộc cấp đã lo lắng như vậy, nếu như tôi không có mặt, chắc họ sẽ còn lo lắng gấp nhiều lần hơn.
o O o
Pleime bão lửa ngợp trời…
Ngày 25 tháng 7 chúng tôi được lệnh chuẩn bị mở đường Tỉnh lộ 6C để nhận tiếp tế thường kỳ.
Trong đêm 26 tháng 7 tôi cho hai Ðại đội 2/82 và 3/82 di chuyển tới vị trí tập kết, thiết lập vị trí phòng ngự để đối phó với một trận bôn tập có thể xảy ra.
Ðại đội 3/82 của Thiếu úy Phạm Ðại Việt là cánh quân xa nhứt, chỉ cách ranh giới của  Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân chừng hơn một cây số. Kế đó là Ðại đội 2/82 của Trung úy Nguyễn Hữu Anh chốt chặn cách Pleime 4 cây số về hướng chính Bắc.
Ðại đội 4/82 giữ nhiệm vụ nghênh cản vùng Tây Bắc nên hiện thời trong đồn còn lại Ðại đội chỉ huy cùng với Ðại đội 1/82 trừ (-) vì thiếu hai trung đội đóng tiền đồn cố định trên Chư Hô và trên cao điểm 509.
Sáng 27 tháng 7 năm 1974, Căn cứ Pleime hoàn toàn yên tĩnh, nhưng toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba và Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Phạm Văn Thủy đều báo cơ giới địch bắt đầu chuyển quân bằng xe từ Chư Prong nhắm về hướng Ðông.
Ðại đội nghênh cản 4/82 của Thiếu úy Thủy không dám ra mặt đương cự với đoàn xe chở quân của địch chỉ vì hỏa lực rất mạnh của bốn khẩu 12.7 ly đặt trên hai chiếc xe be đi đầu khạc đạn như mưa trên từng thước đất dọc đường đi.
Ðịch đã dùng hỏa lực, thay vì nhân lực để mở đường. Ðại đội 4/82 chỉ còn nước nằm bẹp sát đất tránh đạn, rồi rút xuống suối ẩn núp chờ địch đi qua.
Tới khi thấy bộ binh địch từng đoàn chạy bộ theo con đường xe be tiến lên thì Ðại đội 4/82 đồng loạt nổ súng.
Quân của Ðại đội 4/82 đã chặn đánh địch trên hai vị trí định sẵn trong khoảng thời gian chừng một giờ thì phải rút, vì sợ viện binh địch bao vây, sẽ mất đường về.
Còn toán viễn thám của Hạ sĩ Nguyễn Ba sau khi bắn cháy được một xe chở đạn của địch thì bị lộ, bèn cắm đầu chạy. Tối hôm đó toán này mới về tới cổng Nam của trại.
Ðúng 9 giờ sáng ngày 27 tháng 7 địch mở màn một cơn mưa pháo dọc hai bên Tỉnh lộ 6C từ chân núi lửa Chư Mréa tới cổng trại Pleime.
Pháo binh Việt-Cộng bắn như trống chầu. Ước tính trong thời gian chừng nửa giờ đồng hồ, địch đã bắn phủ vùng 10 cây số của tỉnh lộ với hàng ngàn viên đạn đủ loại gồm đại bác 130 ly, đại bác 105 ly, đại bác 122 nòng dài, cối 120 ly, cối 82 ly.
Tỉnh lộ 6C chỉ còn là một con rồng bụi đỏ khổng lồ uốn khúc, vừa dài, vừa cao ngút tới mây.
Sau khi tận dụng pháo binh, bộ binh địch bắt đầu reo hò xung phong chiếm lĩnh mặt Tỉnh lộ 6C vùng hướng Bắc ngã ba làng Plei Xome.
Ðiều đáng ngạc nhiên là trận đánh đã diễn ra trước khi đoàn quân xa tiếp tế cho Pleime và Căn cứ 711 vào vùng.
Trên hệ thống vô tuyến của liên đoàn, tôi nghe Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân báo cáo rằng hai đại đội dưới quyền ông đang bị một lực lượng rất đông của Việt-Cộng chặn đánh. Cánh quân cực Nam của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị mất liên lạc, đại đội đi tiên phong này do Thiếu tá Trần Văn Ngọc, Tiểu Ðoàn Phó Tiểu Ðoàn 81 chỉ huy. Quân của ông Ngọc nằm cách tiền quân của tiểu đoàn tôi chừng hơn một cây số.


Pleime ngày 27 tháng 7 năm 1974.
Hai đại đội của Tiểu Ðoàn 82 đều thủ trong bìa rừng hướng Ðông của tỉnh lộ, dưới hố cá nhân và giao thông hào, nên không bị pháo binh địch gây tổn hại.
Ði mở đường, tôi không cho quân trải dài theo lộ như nhiều đơn vị khác.
Vì với nhiều năm kinh nghiệm, tôi thấy quân đội ta khi giữ đường, thường có thói quen cứ cách nhau vài chục thước lại cho một anh lính đứng gác; người đi trên xe nhìn thấy lính gác đường thì cảm thấy yên tâm. Nhưng chỉ cần một trung đội Việt-Cộng tập trung hỏa lực, vừa bắn vừa tiến, những người lính đứng đơn độc sẽ bị tiêu diệt ngay.
Cứ như thế, một đại đội Việt-Cộng có thể đánh tan một tiểu đoàn khai lộ của ta không khó khăn.
Khi hành quân khai lộ, tôi chỉ bố quân một bên đường, phía đường bên kia được hai khinh binh đi rà soát liên tục. Một người đi trong rừng, một người đi ngoài trống, nếu phát hiện địch thì hai khinh binh này nổ súng báo động rồi thoát chạy ngay.
Sáng nay pháo binh địch bất ngờ tới tấp nổ trùm mặt lộ, khiến cho bốn anh lính rà đường của hai Ðại đội 2/82 và 3/82 phải chạy bán sống, bán chết về trại.
Giờ phút đó, trên đỉnh đồi 407, cách Pleime 4 cây số, tôi đang ngồi với Trung úy Nguyễn Hữu Anh đại đội trưởng 2/82.
Vừa nghe tiếng “Ùm!” từ đằng xa, tôi vội đứng dậy, gọi cho Trung úy Chủ báo cho quân trú phòng trong trại đóng chặt cổng rào.
Trong lúc lộn xộn, chân tôi đạp nhằm cẳng một anh lính truyền tin của Ðại đội 2/82, anh này vừa xoa chân vừa chu chéo, “Ui cha ui! Thiếu tá đạp gãy chân em rồi!”
Nhìn bộ dạng anh lính, tôi phải phì cười,
– Không xuống hố, cứ nằm đó mà la đi! Việt-Cộng nó pháo đứt đầu bây giờ!
Nghe tôi hù, thằng em sợ quá vội ôm chiếc ba lô có cái máy PRC 25 nhảy xuống hố.
Về phần trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân thì trận đánh đã diễn ra hoàn toàn như tôi đã dự đoán. Vì bị Ðại đội 4/82 cầm chân nên cánh quân bộ binh này của Việt-Cộng đã tới mục tiêu rất trễ.
Ðịch đang ngơ ngác trên mặt lộ trống trơn thì quân ta bắt đầu nổ súng. Hầu như toàn bộ đơn vị tiền phong Việt-Cộng hiện diện trên mặt đường đều bị tiêu diệt.
Tuy vậy, trong lúc giao tranh, Ðại đội 3/82 cũng đã có một người chết và ba bị thương. Thấy địch càng lúc càng đông, Thiếu úy Việt đành cho quân bám đất và xin tôi cứu viện.
Cùng lúc đó, từ Căn cứ Hỏa lực 711, Ðại tá Từ Vấn, Liên đoàn trưởng Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân ra lệnh cho tôi phải bằng mọi giá tiến lên cứu Thiếu tá Ngọc.
Tuy Ðại đội 3/82 đang ở cách Thiếu tá Ngọc một đoạn đường hơn một cây số, nhưng tôi không thể cho lệnh Ðại đội 3/82 bỏ hầm hố để tiếp tay cho quân bạn, vì nếu địch chiếm được khu hầm hào đó thì Ðại đội 3/82 không còn đường lui, mà quân từ hướng Nam tiến lên cũng bị chặn đứng.
Tôi chỉ còn cách ra lệnh cho phần còn lại của Ðại đội 1/82 ra trám chỗ cho Ðại đội 2/82 giữ lưng cho tôi và Ðại đội 2/82 tiến lên.
Như thế là tôi đã đem gần hết quân trú phòng ra trận, trong đồn chỉ còn đại đội chỉ huy công vụ cùng với trung đội pháo binh và hai khẩu đội súng cối 106 ly, 81 ly.
Khi tôi và Ðại đội 2/82 bắt tay được Ðại đội 3/82 cũng là lúc quân tăng viện của địch từ vạt rừng hướng Tây ào ào tiến sang. Chúng dàn thành đội hình hàng ngang, xung phong từng đợt, mỗi đợt cách nhau chừng mười phút.
Bốn tháng trước, tôi đã biết cách đánh này là thói quen của Trung Ðoàn 48/320A.  Chiến binh của E 48/320A có nhiều người thuộc sắc tộc Tày, Nùng rất gan dạ.
Ðơn vị này có sở trường là khi tấn công thì họ cứ miệng thét “Xung phong! Xung Phong!” từng đợt ào lên mục tiêu, bắn giết rồi vượt qua luôn, hết đợt này tới đợt khác, không ngừng lại kiểm soát trận địa hay thu nhặt chiến lợi phẩm.
Kỳ này chúng tôi có lợi thế là ẩn trong rừng hướng Ðông của Tỉnh lộ. Ðịch phải xung phong qua hai vạt rừng đã khai quang và một mặt lộ trống trải rồi mới tới tuyến phòng ngự của Biệt Ðộng Quân. Vì vậy địch tiến lên đợt nào, chết hết đợt ấy.
Cũng may mắn là vào lúc hai khẩu M60 của Ðại Ðội 3/82 vừa bắn hết đạn thì tiếng súng của địch cũng lơi đi. Hình như địch rút về hướng Bắc, khu ranh giới của hai tiểu đoàn Biệt Ðộng Quân.
Sau khi Miền Nam thất thủ, tôi đã có dịp gặp mặt người chỉ huy Trung Ðoàn 48/320A này, và biết thêm rằng ông ta cũng là người bị tôi phục kích giết hụt hồi tháng 6 năm 1974 nơi ngã ba làng Plei Xome. Ông ta thổ lộ rằng trận Pleime 1974 đơn vị dưới quyền ông đã bị thiệt hại rất nặng, phải rút về Ia Drang tái bổ sung và trang bị.
Ðịch rút đi, tôi dẫn quân tiến lên còn cách ngã ba làng Plei Xome chưa đầy nửa cây số thì tạm ngừng để hỏi Ðại tá Từ Vấn cánh quân hướng Nam của Tiểu Ðoàn 81 nằm chỗ nào, Ðại tá Vấn trả lời không biết.
Tôi lại vừa đánh vừa tiến. Bên kia ngã ba là vùng trách nhiệm của Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân.
Lại có tiếng xe chuyển quân của địch từ hướng Tây. Sau đó, quân tăng viện của Việt-Cộng ào ào tiến ra đường theo con lộ mà chúng đã phát quang từ hơn một năm về trước. Ngay lập tức cánh quân này đã bị chúng tôi đánh tan.
Khi tôi tiến tới vị trí cách làng Plei Xome chừng hai trăm mét thì chạm một bức tường hỏa lực phòng không của địch.
Có ít nhất ba khẩu đại liên 12.7 ly bắn liên tục để cản đoàn quân của tôi. Tôi phải cho quân dạt xuống triền Ðông của con lộ để tránh đạn.
Ðại đội 3/82 có thêm bốn người chết và năm, sáu người khác bị thương. Toán viễn thám Mom Sol cận vệ của tôi có một người bị thương, một cái máy PRC 25 bị bắn bể.
Trên tần số liên đoàn, Ðại tá Vấn liên tục gọi Thiếu tá Lân nhưng không có tiếng trả lời. Trong lúc đó trên trời có một trinh sát cơ O2 đang bao vùng.
Tôi nói với Ðại tá Vấn,
– Mụ “Ðầm già” bay trên kia có phải của Hai Lẻ Chín không? Nếu niên trưởng không dùng thì giao nó cho tôi!
– Ừ! Lấy đi!
(Ðầm già = Tên xưa của quan sát cơ. Hai Lẻ Chín = Ðại tá Vấn)
Tôi vào tần số không lục,
– Bắc Ðẩu đây Thái Sơn!
Người trên tàu đáp lại,
– Bắc Ðẩu nghe! Một phi tuần A 37 sẵn sàng! Thái Sơn cần chỗ nào tôi thỏa mãn ngay!
– Okay! Bắc Ðẩu có thấy trên tọa độ ZA… có ba bốn khẩu 12.7 ly không? Tôi ở chỗ khói vàng. Mục tiêu cách tôi 200 mét hướng 4800 ly giác! Yêu cầu cứ đánh giùm tôi từ đó kéo dài về hướng Tây!
– Tôi thấy lâu rồi! Chỉ chờ bộ binh yêu cầu là tụi này ra tay ngay!
Tôi cho lệnh đánh dấu ba trái khói vàng, rồi ngồi chờ.
Chỉ ít phút sau, hai phi xuất A 37 đã theo nhau thét gào, nhào lộn trên ngã ba làng Plei Xome.
Tiếng bom vừa dứt, thì tôi ngỡ tai mình nghe lầm,
– Thái Sơn! Ðây là Hai Lẻ Chín! Tôi ra lệnh cho Thái Sơn! Bất cứ giá nào cũng phải lên cứu cho được thằng Lê Lai!
(Lê Lai là Thiếu tá Lân)
Tôi nói,
– Tôi không biết các cánh quân của thằng chín nút (81) nằm chỗ nào, tôi không thể liên lạc được với họ thì làm sao mà cứu họ?
Nghe tôi nói vậy, thì Ðại tá Vấn lớn tiếng dọa,
– Lệnh là lệnh! Nếu anh không lên, tôi truy tố anh ra tòa!
Tôi nghĩ người chỉ huy trực tiếp của tôi đang bấn loạn tinh thần nên nói năng chẳng còn cân nhắc. Ông Vấn gọi ông Lân như gọi đò cả tiếng đồng hồ rồi mà chẳng có ai đáp máy. Có khi giờ này toàn bộ Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân đã bị địch đánh tan rồi.
Tôi trì hoãn,
– Ðể tôi chiếm cái ngã ba rồi tính tiếp.
Lúc đó, trên máy của thằng Y Don Nier, Trung úy Trần Dân Chủ từ trung tâm hành quân của tiểu đoàn báo cáo rằng, pháo địch bắt đầu nổ trên nóc trại Pleime. Ông Chủ cũng cho tôi biết tin Ðại đội 4/82 của Thiếu úy Thủy đã về tới căn cứ và chỉ có năm quân nhân bị thương nhẹ.
Tôi thấy tình hình sắp nguy khốn, vì nếu địch mở một mũi tiến công mới, nhắm ngay cổng trại thì tôi hết đường về. Tôi sẽ bị lâm vào thế lưỡng đầu thọ địch. Nếu tôi không về kịp thì chắc chắn sẽ mất đồn.
Tôi cũng chợt nhớ ra, nhiệm vụ Tư Lệnh Quân Ðoàn giao cho tôi là giữ đồn Pleime, không phải là bỏ đồn đem quân đi cứu người khác. Nếu tôi bị cầm chân ở đây mà để mất đồn thì tôi là người gánh trách nhiệm chứ không phải Ðại tá Vấn.
Tôi nói với Ðại tá Từ Vấn,
– Chúng nó bắt đầu đánh vào Pleime! Báo cho Hai Lẻ Chín biết giờ này tôi rút quân!
Không chờ phản ứng của ông liên đoàn trưởng, tôi ra lệnh cho quân mình dừng lại, bố trí theo bờ suối hướng Ðông của Tỉnh lộ, chuẩn bị đội hình.     
Ngay lúc đó có tiếng Thiếu úy Mạch Thiệu Hùng, Sĩ quan Tùy viên của Ðại tá Tất,
-Trường An ra lệnh cho Thái Sơn quay về giữ đồn!
Thì ra Ðại tá Tất đang bay trên trời. Ông Tất có tần số nội bộ của tôi. Chắc ông Tất đã hay biết toàn bộ diễn tiến xảy ra dưới đất, nên đã trực tiếp can thiệp.
Chạm địch, tôi ít khi cầm máy liên đoàn, tôi thường có mặt trên tần số nội bộ không giây phút nào rời. Vì thế, mỗi khi bay giám sát trận địa, Ðại tá Phạm Duy Tất và Tướng Nguyễn Văn Toàn đều vào tần số này, vừa tiện theo dõi tình hình, vừa dễ ra lệnh trực tiếp cho tôi.
Vương Mộng Long