Saturday, June 13, 2020

Trận Pleime năm 1974 (kỳ 3)

Nhiều kỳ – kỳ 3
Muốn không bị đánh úp thì phải biết động tĩnh của địch. Muốn biết động tĩnh của địch thì phải tận dụng viễn thám và trinh sát. Chuyện này đối với tôi không phải là điều khó giải quyết vì chỉ huy viễn thám và trinh sát vốn là nghề của tôi. Tôi có 6 toán viễn thám rất tinh nhuệ, trong đó 2 toán là do tôi đem theo từ Phòng 2 Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân/Quân Khu 2 ngày tôi đáo nhậm đơn vị này.
Vấn đề kế tiếp là: làm sao trì hoãn chiến?
Muốn trì hoãn chiến cần thực hiện hai điều:
Một là, nếu ở trong đồn thì phải phòng thủ thật chắc. 
Hai là, nếu phải đánh nhau dã ngoại thì phải cố sức bám địch, cầm chân địch bằng mọi giá.
Trong đồn thì tôi không lo, vì với mạng lưới kẽm gai chằng chịt và hệ thống giao thông hào đặc biệt mà tôi mới thiết trí có thể giúp cho người lính vững tâm hơn khi chiến đấu.
Nhưng nếu phải đánh nhau dã ngoại thì điều quan trọng nhất lại là tình hình địch.
Phải biết địch cỡ nào thì ta đánh, địch cỡ nào thì ta phải tránh.
Cho dù thời tiết đã sang mùa mưa, mưa tầm tã hết ngày này qua ngày khác, sáu toán viễn thám vẫn phải liên tục thay nhau xâm nhập vào Ia Drang để canh chừng mọi chỉ dấu mới của Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản.
Làm trái độn cho viễn thám là một lực lượng tiếp cứu nằm cách Pleime 6 cây số về hướng Tây Bắc. Nơi đây là vị trí trú quân của một đại đội ưu tiên nghênh cản. Nhiệm vụ của đại đội nghênh cản là cố gắng đánh cầm chân quân địch nếu trận chiến xảy ra.
Các đại đội trực thuộc tiểu đoàn phải thay phiên nhau giữ vai trò nghênh cản. Ðại đội này sẽ không đem theo nồi niêu, trên lưng mỗi người chỉ có ba ngày cơm vắt cùng hai cấp số đạn. Sau phiên trực kéo dài ba ngày, ba đêm thì có người thay.
Ðầu tháng 7 tôi được bổ sung một sĩ quan tiểu đoàn phó là Ðại úy Nguyễn Hữu Tài khóa 10 Thủ Ðức. Ðại úy Tài là một đệ tử của Ðại tá Tất hồi ông Tất còn ở trong Vùng 4.
Tuần sau, để cho Ðại úy Tài quen với địa thế vùng rừng núi, tôi cho ông ta điều khiển một cuộc đổi quân của hai đại đội nghênh cản.
Theo đúng chương trình thì Ðại úy tiểu đoàn phó sẽ dẫn đơn vị thượng phiên tới vùng 6 cây số Tây Bắc Pleime, kiểm soát hệ thống phòng ngự của đơn vị, chấm các tọa độ pháo binh dự phòng trên các đường nghi ngờ địch sẽ xâm nhập. Ngày hôm sau ông ta sẽ theo đơn vị hạ phiên trở về trại, giao nộp phóng đồ hỏa yểm dự trù cho tôi.
Nhưng vừa ra khỏi cổng, Ðại úy Tài đã cùng vài người lính tùy tùng, leo lên tiền đồn Bắc nằm chờ hai đơn vị dưới quyền tự làm công tác hoán chuyển nhiệm vụ. Hôm sau đại đội hạ phiên về tới căn cứ cả giờ rồi, thầy trò Ðại úy tiểu đoàn phó mới lò dò xuống đồi.
Tôi đã nghiêm khắc nhắc nhở Ðại úy Tài rằng, từ nay về sau không được làm việc tắc trách như vậy nữa. Ông Tài đã tỏ ra hối lỗi, và hứa sẽ không tái phạm.
Nào ngờ, vài hôm sau, tôi lệnh cho Ðại úy Tài cùng Ðại đội 1/82 đi thám sát vùng 5 cây số Tây Nam Pleime thì ông ta lại phạm lỗi lần nữa.
Chiều ngày ra quân, Ðại úy Tài báo cáo với tôi rằng đơn vị của ông ta đã lục soát xong khu vực trách nhiệm.
Tới đêm, Thiếu úy Lê Ðình Khay, đại đội trưởng 1/82 lại cho tôi biết anh ta cùng với hai trung đội sẽ ngủ qua đêm trên mục tiêu, còn ông Ðại úy tiểu đoàn phó thì vừa ra khỏi trại đã cùng một trung đội chui vào đóng quân trong khu rừng thưa cuối phi đạo Pleime!
Từ đó, tôi không dám cho ông Tài chỉ huy các cánh quân hoạt động dã ngoại nữa.
Vì biết rõ khả năng và tính nết của người phụ tá của mình rồi, nên tôi chỉ giao cho ông Tài những công việc lặt vặt như mai táng, tải thương và rào giậu.
Tôi phải đích thân điều hành những công việc liên quan tới tác chiến, phòng thủ và yểm trợ.
Tôi có một Chuẩn úy pháo binh tiền sát viên rất trẻ, chú này tên là Khánh. Hình như chú Khánh là dân Chợ Lớn, danh hiệu của chú ấy là Sầm Mi. Có lần tôi thắc mắc với Khánh,
– Có phải Sầm Mi là cô sẩm mà chú đang thương yêu chăng? (xẩm=sẩm= cô gái Trung Hoa)
Trả lời câu hỏi của tôi, chú Khánh chỉ đỏ mặt nhoẻn miệng cười.
Giữa sân bộ chỉ huy có cái chòi cao bằng tre, với mái rơm. Hàng ngày Sầm Mi ngồi thu mình trên chòi từ mờ sáng tới chiều tối. Bất cứ tiếng “depart” pháo cối nào của địch vừa dội tới, trung tâm hành quân của tôi đã có ngay hai yếu tố được Sầm Mi báo cáo thật gọn gàng:
“Hướng X ly giác, tầm xa Y mét…”
Cho đến một hôm, địch bắn tới tấp hàng trăm trái, với đủ loại đạn và từ chục hướng khác nhau, Sầm Mi phải tụt xuống đất chui vào hầm hàm ếch dưới giao thông hào.
Từ ngày đó, tôi cho Sầm Mi cùng với người lính nấu cơm của chú ấy vào làm việc với Ban 3 tiểu đoàn nơi hầm trú của trung tâm hành quân.
Yểm trợ gần cho Pleime hoàn toàn phụ thuộc vào hai khẩu 105 ly cơ hữu.
Yểm trợ xa chỉ có hai trung đội 155 ly đặt ngoài Chi khu Phú Nhơn và Căn cứ 711.
Bốn khẩu pháo binh này bắn mút tầm cũng còn cách Trại Pleime gần 5 cây số.
Khi pháo binh bắn mút tầm thì rất dễ gây ra tai nạn tản đạn. Do đó, tôi lưu ý Chuẩn úy Khánh và Trung úy Chủ mỗi khi chạm trận cần đánh những mục tiêu hướng Ðông và Tây, ta phải gọi Căn cứ 711, nếu cần đánh những mục tiêu hướng Bắc và Nam, thì phải nhờ Chi khu Phú Nhơn.
Cứ theo đó, trên tường của trung tâm hành quân đã có một bảng ghi đầy đủ tên từng hỏa tập, kèm với danh hiệu truyền tin của đơn vị yểm trợ.
Từ giữa tháng Bảy, hầu như ngày nào địch cũng bắn vào trại Pleime từ 10 tới 15 viên trái phá mỗi loại. Có lẽ chúng đang điều chỉnh để lấy yếu tố tác xạ tiên liệu, khi cần sẽ bắn tập trung. Như thế là hai bên đều trong thời kỳ chuẩn bị, kỳ này “chưa biết mèo nào cắn mỉu nào!” 
Trong số gần hai chục quả 130 ly đại bác nòng dài của Việt-Cộng nhắm vào Pleime thì chỉ có một viên rơi trong rào, số còn lại đều bay qua đầu, xuống suối.
Trái 130 ly nổ chậm (delay) rơi sát vị trí hai khẩu 105 ly, đào một hố sâu cỡ đầu người với đường kính chừng sáu thước. Chỉ cần hai viên 130 ly rơi đúng mục tiêu thì toàn bộ trung đội pháo binh biên phòng này sẽ bị tiêu diệt!
Từ khi lập trại, vị trí hai khẩu 105 ly chỉ trực xạ cận phòng được nửa vòng tròn từ Ðông, tới Nam qua Tây. Còn các hướng Bắc, Ðông Bắc, Tây Bắc đều nằm trong tử giác, không trực xạ được.
Trường hợp bị địch tấn công từ hướng chính Bắc, Ðông Bắc, và Tây Bắc thì hướng bắn của hai khẩu súng này bị nhà cửa, pháo đài và thành lũy che khuất, đành thúc thủ.
Rút kinh nghiệm mà tôi đã tận mắt chứng kiến ngày Căn cứ Biên phòng Lệ Minh bị tràn ngập. Hôm đó tôi bay trên trời, tôi thấy cái cổng trại mở toang, pháo địch nổ rền, toàn doanh trại bao trùm một màn bụi khói.
Khói súng chưa tan, Cộng Quân đã ào ào chạy vào cổng, chia nhau chiếm giữ các lô cốt, theo sau là lá cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam xanh, đỏ, sao vàng.
Từ trên trực thăng nhìn xuống, thấy cảnh xảy ra cứ như đang xem phim!
Tôi nghĩ, nếu tấn công Pleime, chắc Việt Cộng cũng áp dụng chiến thuật tiền pháo, hậu xung như thế.
Muốn chống lại chiến thuật này việc ưu tiên phải làm là đóng chặt cổng ngoài, rồi cố gắng cầm chân địch từ xa bằng những hàng rào kẽm gai concertina cách nhau vài chục thước. Sau đó dùng hỏa lực đốn ngã toán quân xung phong đầu tiên của địch. Vũ khí chống biển người hữu hiệu nhứt là những viên đạn pháo binh bắn tên sắt.
Tôi ra lệnh cho Trung úy Như tách ra một khẩu 105 ly đem lên cổng Bắc.
Chuyện tách rời 2 khẩu 105 ly là điều hoàn toàn sái nguyên tắc; nhưng trong tình huống này thì sự tồn vong của Pleime là ưu tiên hàng đầu, Trung úy Như đã vui vẻ thi hành lệnh mà không tỏ vẻ muộn phiền gì.
Trong ụ súng cổng Bắc, tôi chuẩn bị gần hai chục đạn Beehive chống biển người, mỗi viên Beehive khi ra khỏi nòng súng sẽ phóng đi 8000 mũi tên sắt. Chỉ cần 2 trái Beehive bắn đúng lúc địch xung phong, chúng sẽ chết như rạ!
Ngày phát lương tháng Bảy, trời nắng ráo, Trung tá Hoàng Kim Thanh, liên đoàn phó theo trực thăng chở phát hướng viên xuống thăm Pleime.
Anh Thanh báo cho tôi biết, từ hôm đó, Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân được quân đoàn chỉ định thay thế Thiếu tá Hoàng Ðình Mẫn để chỉ huy Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân ít ra cũng trong thời gian của chiến dịch này, vì so với ông Mẫn thì ông Lân thông thuộc địa thế Pleime hơn ông Mẫn.
Anh Thanh không quên mang tặng tôi một két bia cổ cao. Rồi năm anh em, Hoàng Kim Thanh, Vương Mộng Long, Nguyễn Hữu Tài, Nguyễn Công Minh, và Trần Văn Phước quây quần quanh chiếc bàn tròn.
Kịp khi năm chai bia mới mở nắp, ba con khô mực nướng vừa xong thì bất ngờ:
“Oành! Oành! Oành!” ba viên không giựt 57 ly theo nhau xé gió bay tới, nổ tung giữa sân cờ!
Tôi quơ vội chiếc PRC 25 nhảy xuống giao thông hào.
Tay bóp ống liên hợp, tôi la lớn,
– 821! Ra chận đường lấy cho được khẩu 57 ly!
Thay vì ra lệnh cho pháo binh phản pháo, tôi lại gọi toán viễn thám 821 của Hạ sĩ Mom Sol.
Toán của Mom Sol đã ra đi từ mờ sáng, ém trong rừng, cách Pleime hơn ba cây số.
Mom Sol sẽ kéo ra con đường mòn chặn đánh khi địch rút lui.
Chưa tới mười phút sau, có ba tràng M16 bắn ngược chiều, rồi tiếng Mom Sol reo vui,
-Trình Thái Sơn! Em lấy được khẩu 57 ly rồi!
Tôi đã đoán chắc thế nào địch cũng xâm nhập bằng đường rừng, pháo tới tấp hết số đạn mang theo, rồi chạy thục mạng theo con đường mòn dẫn về Tây. Quân ta cứ chặn đường chúng rút là có ăn ngay.
Trong quá khứ, đã có hai lần địch áp dụng ngón đòn đánh trộm rồi chạy.



Phối trí lực lượng Ta và Địch tháng 7 năm 1974
Với một khẩu đội chừng ba hay bốn tên, vác theo cái nòng 57 ly cùng vài viên đạn, chúng xâm nhập bằng đường rừng. Khi tới vạt đất trống, cách hàng rào trại vài trăm mét thì chúng chui ra, vội vàng nạp đạn, bóp cò. Chưa đầy vài phút, sau khi hết đạn, chúng liền phóng ra con đường xe be cũ chạy một mạch về hướng Tây.
Tới khi người trong đồn phát giác ra vị trí đặt súng, lấy xong yếu tố tác xạ để phản pháo thì chúng đã cách xa Pleime cả cây số rồi!
Ði đêm lâu ngày thế nào cũng gặp ma! Bọn bắn trộm ăn quen, rồi cũng có ngày chết mất mạng, mất súng.
Hôm ấy đúng như tôi dự liệu, tính từ lúc trái đạn đầu tiên phát nổ, chưa tới hai mươi phút sau Hạ sĩ Mom Sol đã bước vào cổng Nam Pleime với khẩu 57 ly chiến lợi phẩm trên vai.
Ba chai bia cổ cao được trao tận tay ba anh viễn thám, còn khẩu 57 ly được bay theo Trung tá Hoàng Kim Thanh về Pleiku.
Ngày 22 tháng 7 có chiếc trực thăng bay vào Pleime bốc tôi về trình diện Trung tướng Tư Lệnh Quân Khu 2 để nhận một chỉ thị đặc biệt.
Tôi được Quân Cảnh đưa lên lầu thì đã có ba vị chỉ huy chờ sẵn, đó là Trung tướng Toàn, Chuẩn tướng Niệm và Trung tá Tiếu.
Cuộc gặp mặt chỉ kéo dài chừng mười phút.
Tướng Toàn xua tay cho tôi miễn trình diện, rồi chỉ cho tôi ngồi xuống cái ghế dựa đặt trước mặt ông, hai bên tôi là Tướng Niệm và Trung tá Tiếu.
Ông Tướng vào đề ngay,
– Chắc chắn vài ngày nữa tụi nó sẽ đánh lấy cho được Pleime.Ta ra giá cho mi cố giữ đồn được ba ngày là ta cho mi lên trung tá. Sau đó cứ làm theo kế hoạch mà ông Tiếu sẽ bàn với mi. Nghe rõ chưa?
Tôi băn khoăn chưa biết kế hoạch của thượng cấp đề ra như thế nào thì Tư Lệnh đã tiếp,
– Chuyện này đứa khác làm không được, nhưng ta tin chắc mi sẽ làm được! Thôi mi nói chuyện với ông Tiếu, ta mắc bận phải đi!
Dứt lời, Tướng Toàn khoát tay ra dấu cho Tướng Niệm, hai người sánh vai đứng lên.
Tới cửa, tôi thấy Tướng Niệm quay đầu lại, chỉ tay về hướng tôi, rồi nói nhỏ với Tướng Toàn,
Từ ngày đi lính tới giờ, tôi thấy đây là sĩ quan mà tôi cho là ưu tú nhất. Hy vọng ngày nào đó tôi sẽ có người sĩ quan này!
Ông Toàn quay mặt lại, hơi lớn tiếng, chắc là cố ý cho tôi nghe,
– Ðù mạ! Phải cố gắng lên chứ! Quân đội gì mà cứ đánh là thua, cứ đánh là chạy, làm sao mà ăn nói với Mỹ, mà chìa tay ra xin người ta chi viện trợ cho được? 
Trong phòng còn lại tôi và Trung tá Tiếu. Ông Trưởng Phòng 2 Quân Ðoàn II cho tôi biết chi tiết kế hoạch của Quân Ðoàn là:
Nếu Sư Ðoàn 320 A Cộng-Sản động binh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân phải tận lực giữ đồn không bị tràn ngập trong vòng ba ngày. Sau đó tôi được quyền chui ra khỏi rào, leo lên chỏm núi nào đó, tiếp tục báo cáo với đài tiếp vận Hàm Rồng rằng quân trú phòng đang đánh nhau giành giật với địch quân từng phần đất của Pleime. Cứ thế, cho tới một tuần lễ sau thì hô hoán lên rằng Pleime đã mất. Rồi tôi được quyền chọn một trong hai hướng thoát thân, muốn về trình diện Quận Phú Nhơn hay Quận Thuần Mẫn là tùy ý tôi.
Tôi nghĩ rằng, chưa đánh nhau mà Tướng Tư Lệnh Vùng đã hứa chỉ cần tôi giữ Pleime được ba ngày thôi, sau đó thì có quyền bỏ đồn, rút chạy mà không sợ bị mất lon thì chắc chắn trận này sẽ lớn lắm.
Tướng Nguyễn Văn Toàn là một người thô lỗ, cộc cằn, mở miệng ra là văng tục, chửi thề, nhưng cũng rất thẳng thắn. Chuyện gì ông ta cũng nói huỵch toẹt, không che đậy.
Sở dĩ Tướng Toàn đòi hỏi tôi nếu không giữ được Pleime mà vẫn phải “đánh trận giả” chỉ vì sợ quốc tế nhìn vào, thấy Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa yếu đuối quá, không đủ sức cản chân Cộng Quân, cứ đánh nhau là thua, lại thua nhanh quá, không xứng đáng nhận thêm viện trợ nữa.
Như vậy, chiến công của chúng tôi, nếu có được, sẽ trở thành món hàng quý giá của lòng tin, để chính quyền ta trả giá với đồng minh Hoa-Kỳ xin quân viện.
Tôi thấy mình vừa khoác lên vai một trách nhiệm rất nặng nề. Trận này thắng hay bại có ảnh hưởng rất quan trọng tới ngân sách của quốc gia, tức là liên quan tới sự tồn vong của đất nước.
Tôi tự hứa với lòng mình rằng sẽ cố gắng hoàn thành cái sứ mạng cam go này.
Qua những lần tiếp xúc với các giới chức có thẩm quyền mà tôi thấy được, đất nước chúng ta đang bước vào thời kỳ khan hiếm xăng dầu và đạn dược do ngân sách bị cắt giảm. Vì lý do đó, ở cấp tiểu đoàn, xăng nhớt chỉ được cấp phát cho hai xe Jeep và một xe GMC mười bánh. Tôi cũng nghe nói, chỉ một giờ bay của trực thăng đã làm hao tốn tới 200 đô la viện trợ! Mỗi khẩu pháo chỉ được quyền bắn tối đa là 4 viên mỗi ngày. Nếu ở mặt trận này mà pháo binh bắn lố hơn cấp số 4 viên một ngày thì để bù đắp lại, khẩu súng ở mặt trận khác sẽ bị khóa nòng, không sử dụng.
Vương Mộng Long 

Trận Pleime năm 1974 (kỳ 2)

Trận Pleime năm 1974 (kỳ 2)

Kỳ trước: Hơn 3 năm và sau 6 lần thay thế Tiểu đoàn trưởng, đơn vị vẫn chưa thoát khỏi cái cốt của một đơn vị Dân sự Chiến Đấu. Chính vị Tiểu Đoàn Trưởng Vương Mộng Long đã thay da đổi thịt nó trở thành một Tiểu đoàn lừng lẫy nhất của QLVNCH.
Chính vì có những buổi thực tập dã ngoại thường xuyên này mà những đơn vị dưới quyền tôi hiếm có cảnh “nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, siết ngón tay trỏ, đạn vút lên mây” khi trực diện với địch quân.
Người ta nói “văn ôn võ luyện” cũng đúng!
Công tác chấn chỉnh và cải tổ đơn vị của tôi chưa hoàn tất thì Sư Ðoàn 320A Cộng-Sản đã ra tay trước.
Giữa tháng Tư năm 1974,một trận đánh đẫm máu và ác liệt đã xảy ra ở Căn cứ Hỏa Lực 711 khiến đài BBC mô tả trong một bài tường thuật: “Ðây là trận đánh mà tổn thất của đôi bên được coi là cao nhất kể từ sau Hiệp Ðịnh Paris”
Thế rồi chiến tranh tiếp tục leo thang, Hiệp định Paris không còn hiệu lực, Việt Cộng công khai tấn công lấn chiếm, mở rộng vùng kiểm soát. Tháng 5 năm 1974 chúng ngang nhiên đánh chiếm Dak Pek và Mang Buk giữa ban ngày, mặc dù hai địa danh này hiện diện rành rành trên bản đồ đình chiến là của Việt-Nam Cộng-Hòa, vậy mà Ủy-Hội Quốc-Tế cũng chỉ trơ mắt ngó mà thôi. Hiển nhiên mục tiêu sắp tới của Cộng Quân chắc chắn sẽ là Pleime!
o O o
Từ ngày tiếp nhận Căn cứ Pleime, tôi đã bỏ ra rất nhiều công sức để tổ chức nội vi căn cứ này thành một cứ điểm phòng thủ vững chắc.
Trên mặt đất của trại Pleime đúng là một “Trận Ðồ” chằng chịt hàng rào kẽm gai và giao thông hào. Hai cái cổng Bắc và Nam lại là nơi rào kỹ nhất. Từ dốc vườn rau, vào tới trung tâm hành quân xa không tới hai trăm thước, vậy mà muốn đi qua đoạn đường này cũng mất cả chục phút loanh quanh trong hàng rào gai dích dắc.
Trại Pleime có 6 cạnh, 6 góc, mỗi góc có một pháo đài kiên cố xây bằng xi măng cốt sắt. Tôi đặt tên cho các pháo đài theo thứ tự 1 tới 6, theo chiều quay của kim đồng hồ. Hướng Ðông là các pháo đài 1, 2, 3, hướng Tây là các pháo đài 4, 5, 6.
Sau khi tôi dựng thêm hai lô cốt phụ nơi cổng Bắc và cổng Nam thì vòng đai trong của trại này có 8 pháo đài kiên cố.
Bình thường các quân nhân trong đồn chỉ cần nói họ đang ở gần pháo đài số mấy, người nghe sẽ biết vị trí hiện tại của anh ta ngay.
Các đại đội cũng được phân chia khu vực trách nhiệm cố định, họ sẽ quen với cảnh vật hàng ngày trước mắt họ, nếu có gì khác lạ, họ sẽ nhận ra ngay.
Tôi tiên đoán mặt Tây sẽ là hướng tấn công chính của địch, do đó tôi cho dựng một cái hầm chỉ huy ngay giữa sân cờ. Từ đây, tôi có thể theo giao thông hào mà di chuyển tới các Pháo đài 1 (Ðông Bắc), Pháo đài 6 (Tây Bắc), Pháo đài 5 (Tây), và Pháo đài 4 (Tây Nam). Ông tiểu đoàn phó giữ Pháo đài số 2, còn Pháo đài số 3 nằm ngay sát trung đội pháo binh nên Trung úy Nguyễn Như, Trung đội trưởng pháo binh biên phòng, sẽ kiêm nhiệm chỉ huy cứ điểm này. Trong hầm chỉ huy dã chiến có ban Truyền Tin của Trung úy Nguyễn Công Minh và Binh nhì Y Don Nier, người mang máy nội bộ của tiểu đoàn trưởng.
Tôi và Thiếu úy Trần Văn Phước, sĩ quan Ban 2 ở chung một hầm, cách hầm chỉ huy vài mét về hướng hàng rào.
Vây quanh căn hầm của tôi là ba cụm tam tam của ba toán viễn thám, mỗi toán trang bị hai thùng lựu đạn M26 và một đại liên M60.
Những ngày tình hình căng thẳng nhứt thì mặt đất chứa đầy mìn Claymore phòng khi bị địch tràn ngập.
Suốt thời gian xảy ra chiến dịch Pleime 1974, tôi đã phải đích thân chỉ huy, điều khiển các điểm tác chiến, từng lô cốt, từng pháo đài, từng khẩu đội, vì nếu xảy ra một hoạt động không ăn khớp có thể sẽ đưa tới thảm họa.
Chỉ cần mở được một cửa khẩu, Ðặc-Công Việt-Cộng có thể đánh thẳng vào trung thâm. Nếu Việt-Cộng vào được trung thâm, triển khai được giai đoạn “Hoa nở trong lòng địch” là ta mất đồn! (Trung thâm: Danh từ của Ðặc-Công Việt-Cộng dùng để chỉ nơi đặt chỉ huy sở hay vị trí đầu não của ta)- (Hoa nở trong lòng địch: Từ trong đánh ra theo nhiều hướng. Ðây là giai đoạn cuối cùng trong một trận đánh Ðặc-Công của Việt-Cộng)
Tôi làm việc bằng điện thoại, khẩu lệnh, thủ lệnh và máy truyền tin nội bộ. Vì thế mà nhiều khi, liên đoàn muốn ra lệnh cho tôi, họ phải gọi qua trung tâm hành quân của trại, từ đây sĩ quan Ban 3 của tôi sẽ chuyển lại cho tôi.
Trung tâm hành quân tiểu đoàn vì có cái anten cao do Mỹ để lại nên trở thành nơi độc nhứt có thể liên lạc vô tuyến với Căn cứ 711 và đài tiếp vận Hàm Rồng.
Trung tâm hành quân là một lô cốt kiên cố, xây bằng xi măng, cốt sắt, thêm hai tầng nóc lợp bằng bao cát và vỉ sắt tổ ong chống đạn nổ chậm. Ngồi trong hầm, đôi khi không nghe được tiếng đạn cối nổ ở ngoài sân cờ.
Sát cạnh trung tâm hành quân là một hầm lộ thiên hình tròn xây bằng bao cát, trong vòng tròn là mũi tên lửa chỉ điểm mục tiêu.
Mũi tên lửa này được đốt bằng dầu Diesel thắp sáng suốt đêm, nó có thể quay 360 độ một cách dễ dàng, đầu nhọn của nó luôn luôn quay về hướng địch.
Nếu không có nhu cầu tác xạ, thì trước khi rời vùng, để giải tỏa bom đạn, máy bay Hỏa Long hay Gunship cứ việc phóng hỏa tiễn hay bắn phá cách xa Pleime 3 cây số theo hướng mũi tên.
Tiểu đội Lao Công Chiến Trường đã hoàn thành những công trình này dưới sự chỉ huy của Thiếu úy Huỳnh Kim Hoàng đại đội trưởng đại đội chỉ huy.
Tiểu đoàn 82 có một tiểu đội Lao Công Chiến Trường. Họ là những cựu quân nhân can tội khác nhau nên bị đày ra tiền tuyến làm những công việc hiểm nguy và cực nhọc.
Tôi đặc biệt lưu ý tới những người này, bố trí cho họ vào từng vị trí thích hợp với khả năng của mỗi người. Dưới bàn tay tôi, những tội nhân đó đã trở về với vị trí chuyên môn của họ, họ trở thành xạ thủ đại liên, xạ thủ cối 81 ly, trinh sát viên, tiểu đội trưởng, toán trưởng toán thám sát, hoặc chuyên viên sửa chữa vũ khí.
Ðể tất cả binh sĩ chú tâm vào công tác tổ chức phòng thủ, tôi ra lệnh cho tất cả thân nhân gia đình binh sĩ phải rời Pleime theo chuyến tiếp tế thường kỳ ngay sau ngày phát lương cuối tháng 6 năm 1974. Ở Pleiku tôi vừa tiếp nhận doanh trại của Ðại đội 2 Quân Y Biệt Ðộng Quân, doanh trại này rất đầy đủ tiện nghi, nên những anh em có gia đình không phải lo lắng chuyện nơi ăn chốn ở của vợ con họ.
Tôi là dân Tình Báo Tác Chiến, nên ngày nào tôi cũng duyệt các bản tin A2 mà Ban Truyền Tin của đơn vị trình lên.
Tôi lấy làm lạ là ngày nào cũng vậy, cứ mình vừa gửi công điện báo cáo vị trí đêm của các cánh quân về Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 thì chỉ hai giờ sau bản tin A2 đã thông báo rằng Việt-Cộng vừa gửi cho nhau toàn bộ vị trí đóng quân của quân bạn, chính xác tới độ y như nguyên văn!
Tôi nghĩ rằng ở bộ chỉ huy có nội tuyến, hoặc là đặc lệnh truyền tin của bộ chỉ huy đã bị tiết lộ nên mới có tình trạng này.
Ðể phòng thân, tôi nghĩ ra một bản mã riêng, rồi photocopy ra 2 bản, ban truyền tin của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân giữ một bản, bản kia tôi đem về trao tận tay cho Ðại tá Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2.
Mỗi đêm tiểu đoàn tôi gửi về Pleiku bản tin đóng quân dưới bộ mã mới. Vì thế, từ ấy, chỉ có một mình tiểu đoàn tôi là không bị địch phát giác vị trí đêm và các vị trí dã ngoại.
Gần nửa thế kỷ sau ngày đó, chú Hoạ Mi 82 tức Trung úy Nguyễn Công Minh, trưởng ban truyền tin của đơn vị tôi vẫn chưa quên chuyện cái đặc lệnh truyền tin ngoại lệ này.
Và 40 năm sau chiến tranh, nhân một lần trò chuyện bằng điện thoại, cựu Chuẩn tướng Phạm Duy Tất đã hỏi tôi,
– Ngày đó Long có nghi thằng đại đội trưởng đại đội truyền tin của mình là Việt-Cộng không?
Tôi nói,
– Ðúng là chuyện trời sập! Thuở ấy ai mà dám nghi cho nó! Nó là dân gốc Lực Lượng Ðặc Biệt! Nó lại là đồ đệ ruột của Trường An! Trường An tin tưởng nó còn hơn ai hết. Sau này có lệnh của trung ương bắt các sĩ quan không tác chiến phải ra đơn vị hành quân, ít ra là sáu tháng, Trường An đưa nó đi tiểu đoàn nào vậy?
“Trường An” là biệt danh của Ðại tá (sau là Chuẩn tướng) Phạm Duy Tất. Ông Tất cười hì hì,
– Thì anh ta vẫn còn ở bộ chỉ huy chứ có đi đâu đâu! Ngày Pleiku di tản không rõ anh ta núp chỗ nào? Mãi về sau mới nghe đồn rằng anh ta là nội tuyến!
Sơ đồ phòng thủ trại Pleime tháng 7 năm 1974
Tôi chợt nhớ ra, có một hôm anh đại úy này gặp tôi trong sân bộ chỉ huy, anh ta năn nỉ tôi ghi tên cho anh ta giữ chức đại đội trưởng một đại đội của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân, nhưng chỉ trên giấy tờ thôi, còn bản thân thì anh ta vẫn làm việc ở Pleiku. Chỉ khi nào có thanh tra của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân Trung Ương hay Bộ Tổng Tham Mưu thì anh ta sẽ có mặt ở đơn vị.
Tôi không đồng ý giúp anh ta diễn cái trò ma mãnh này nhằm hợp thức hóa tình trạng chỉ huy tác chiến của anh ta; tôi khuyên anh ta hãy đi tìm người khác mà nhờ vả.
Thật là hú hồn! Nếu ngày đó anh ta không đòi hỏi được ở Pleiku mà vui vẻ tình nguyện vào chỉ huy đại đội thì có khi tôi đã mất đồn vào tay anh ta rồi!
Ai mà ngờ? Cả năm trước ngày Pleiku di tản, người cung cấp những đặc lệnh truyền tin và mật mã hàng tháng của Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 cho địch lại là ông đại úy đại đội trưởng Ðại đội Truyền Tin Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2!
Vào những năm sau Hòa Ðàm Paris, Việt-Cộng đã đẩy mạnh công tác xâm nhập từ chiến lược tới chiến thuật.
Ở cấp trung ương, đã có những gián điệp cấp cao của địch nằm trong Tổng Thống Phủ, trong Bộ Tổng Tham Mưu.
Vì thế ở Bộ Chỉ Huy Biệt Ðộng Quân /Quân Khu 2 Pleiku có một tên nội tuyến cấp đại úy thì cũng không phải là chuyện lạ.
Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân nằm dưới quyền giám sát hành quân của Sư Ðoàn 22 Bộ Binh.
Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của Sư Ðoàn 22 đồn trú trong Căn Cứ Bình Tây 3 ở Hàm Rồng. Căn cứ Bình Tây 3 vốn dĩ là Camp Enari cũ, nơi từng là bản doanh của Sư Ðoàn 4 Hoa Kỳ.
Hầu như cứ cách hai, hoặc ba ngày, Chuẩn tướng Phan Ðình Niệm, Tư Lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh lại ghé Pleime thăm đơn vị tôi. Ông tướng này đã chịu khó bỏ ra hàng giờ để tỉ mỉ quan sát công việc thiết trí công sự phòng thủ, và điều quân trinh sát của tôi trong thời gian chuẩn bị cho một trận chiến chắc chắn sẽ xảy ra trong tương lai. Ông lấy làm lạ là tại sao giao thông hào của tôi lại đào sâu gần hai thước, cao quá một đầu, một với của người thường? Tại sao dưới giao thông hào tôi lại cho moi rất nhiều hàm ếch? Tại sao mặt đất lại rào thép gai chằng chịt khiến cho việc di chuyển từ lô cốt này, tới lô cốt kia cứ phải đi dích dắc tới chóng mặt?
Tôi đã phải từ tốn giải thích với ông Tướng rằng:
“Thưa Chuẩn tướng, sở dĩ giao thông hào phải đào sâu là để sự di chuyển được an toàn khi giao tranh. Hào sâu thì người ngồi trong hào khi bị pháo kích nghe tiếng nổ của đạn sẽ thấy nhỏ hơn, sẽ bớt sợ hãi hơn. Hàm ếch giúp cho lính an toàn vì có che chở. Nếu rủi có quả đạn delay (nổ chậm) rơi trúng hầm thì chỉ chết một người, không chết chùm như trường hợp tác chiến lộ thiên. Còn hệ thống kẽm gai chằng chịt là để chống Ðặc Công, lệnh của tôi là ban đêm nếu có tiếng súng nổ thì ai ở yên vị trí đó, người nào đi trên mặt đất sẽ bị bắn chết. Thói thường thì Ðặc Công sau khi xâm nhập sẽ chạy vòng vòng khắp nơi, ném bộc phá vào các lô cốt và nhà cửa. Gặp thứ hàng rào chóng mặt của tôi thì Ðặc Công chỉ có nước khóc ròng, làm sao mà chạy vòng vòng để ném bộc phá được nữa!”
Tướng Tư Lệnh nghe xong thì thấm ý, gật gù.
Thời gian này Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân được tăng cường thêm một tiểu đoàn của Trung Ðoàn 42 Bộ Binh để đảm trách nhiệm vụ phòng thủ vùng. Tiểu đoàn bộ binh này do Ðại úy Nguyễn Hữu Chấn chỉ huy, Ðại úy Chấn xuất thân khóa 21 Võ Bị, là khóa đàn em của tôi.
Tôi và Chấn cùng xuất thân từ Ðại Ðội B Sinh Viên Sĩ Quan Trường Võ-Bị Quốc-Gia Việt-Nam. Tôi là một trong những đàn anh Khóa 20 đã huấn luyện chú Chấn, vì thế anh em tôi rất thân thiết, thương yêu nhau.
Tôi giao cho chú Chấn giữ an ninh vùng Bắc Pleime, còn tôi chịu trách nhiệm vùng Tây và Nam của căn cứ này.
Người chỉ huy trực tiếp của tôi và chú Chấn là  Ðại tá Nguyễn Hữu Thông, Trung đoàn trưởng Trung Ðoàn 42 Bộ Binh, Ðại tá Thông xuất thân từ Khóa 16 Võ Bị.
Mỗi lần vào thăm Pleime bằng đường bộ, niên trưởng Thông đều than phiền,
 Chu choa! Ði qua cái hàng rào “Bát Quái Trận Ðồ” của Long anh cứ chóng mặt muốn té!
Thấy thế tôi không khỏi bật cười,
 Ngày nào tôi cũng đi ra, đi vào cái trận đồ này mà vẫn còn bị chóng mặt, huống hồ gì niên trưởng là người lâu lâu mới tới thăm Pleime một lần.
o O o
Tri kỷ tri bỉ
(biết ta, biết địch)
Thế rồi, vào một ngày cuối tháng 6 năm 1974, toàn bộ Trung Ðoàn 42 Bộ Binh đột nhiên rút khỏi vùng Bắc Pleime, thay thế là Tiểu Ðoàn 81 Biệt Ðộng Quân và Bộ Chỉ Huy Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân trú đóng tại Căn cứ Hỏa lực 711.
Thời gian này nếu tính cả hai khẩu 155 ly đặt trong chi khu Phú Nhơn, thì khả năng yểm trợ của Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân chỉ mạnh bằng một nửa, so với hỏa lực cơ hữu của một trung đoàn bộ binh.
Ðây cũng là thời gian tôi bận rộn suốt ngày. Cả tháng trời tôi không dám bỏ đồn về Pleiku thăm hậu cứ lần nào.
Về phần an ninh khu vực trách nhiệm, lúc nào tôi cũng phải cảnh giác đề phòng một cuộc tấn công với quy mô lớn của đối phương có thể xảy ra bất thình lình.
Ðối diện với Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân của tôi là cả một sư đoàn bộ binh, một sư đoàn vận tải, một trung đoàn pháo, và một tiểu đoàn xe tank của địch.
Lực lượng hùng hậu và đáng sợ này của Cộng Quân ngang nhiên trú đóng trong vùng núi Chư Prong và thung lũng Ia Drang, chỉ cách Pleime hơn mười cây số đường chim bay.
Tôi ước tính, chỉ cần chưa tới hai giờ đồng hồ vận chuyển bộ, Cộng Quân đã có thể cắt đứt Tỉnh lộ 6C và bắt đầu vây hãm Pleime rồi.
Nếu so sánh tương quan lực lượng khi phải giao tranh thì Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân sẽ phải đương cự với một địch thủ có quân số đông hơn mình cả chục lần về nhân lực, chưa kể tới cơ giới và pháo binh.
Nhiều đêm, với điếu thuốc Lucky trên môi, một mình ngồi hàng giờ trên nóc lô cốt, tôi tự hỏi:
“Nếu địch tấn công Pleime thì mình sẽ đối phó cách nào đây?”
Sau nhiều đêm vắt óc suy nghĩ và cân nhắc, tôi mới tìm ra giải đáp:
“Muốn sống còn, tôi phải tránh bị đánh úp bất ngờ, phải biết khi nào địch bắt đầu triển khai chiến dịch để xin thượng cấp dự trù quân tăng viện. Phải cố gắng giữ đồn và trì hoãn chiến để chờ viện binh”.

TRẬN PLEIME NĂM 1974

•Phần 1/11
Qua hai chiến dịch trường kỳ và đẫm máu của những năm 1965 và 1974, địa danh Pleime đã trở thành huyền thoại. Tôi không có mặt trong trận Pleime năm 1965. Nhưng năm 1974 thì chính tôi, Thiếu tá Vương Mộng Long, Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng là người đã cầm vận mệnh Pleime trong suốt 33 ngày đêm sinh tử.
Giờ đây tôi sẽ kể lại toàn bộ diễn tiến chiến dịch này để lớp trẻ hậu sinh biết ngày ấy những chiến binh của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã chiến đấu như thế nào, và vì sao tên Pleime đã có thêm một lần được ghi vào chiến sử.
oOo
Pleime lên tiếng gọi…
Vào một đêm cuối tháng 11 năm 1965 nơi Vũ Ðình Trường Lê Lợi của Trường Võ Bị Quốc-Gia Việt-Nam trên Ðà-Lạt, lần đầu tôi nghe biết cái tên “Pleime”
Hôm đó chúng tôi đang tập quỳ gối gắn lon thiếu úy hiện dịch để chuẩn bị lên đường ra chiến trường.
Bỗng từ xa, bên kia núi, có tiếng âm vang của bom đạn dội về. Thiếu tá Nguyễn Bá Thịnh, Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn Sinh Viên Sĩ quan lớn tiếng giải thích:
-Pleime đang đánh lớn. Tiếng ì ầm vừa rồi là tiếng B-52 đang “trải thảm” trên thung lũng Ia Drang đó!
Dù sau này đã dạn dày chinh chiến, đã biết rằng nếu đứng trên đồi 1515 Ðà-Lạt, dù có đôi tai thiên lý nhĩ, chúng tôi cũng không thể nào nghe được tiếng bom nổ trong thung lũng Ia Drang, Pleiku; nhưng từ đó, địa danh “Pleime” đã ghim sâu trong tâm trí tôi.
Cuối năm 1966 tôi từ Vùng 1 Chiến Thuật thuyên chuyển vào Pleiku.
Sau đó tôi gắn bó với Cao Nguyên mưa bùn, nắng bụi gần mười năm trời, tôi đã thành một trong những Thổ Ðịa của vùng này.
Cao Nguyên Trung Phần là nơi có nhiều sắc dân thiểu số sinh sống. Mỗi sắc dân gọi nơi cư trú của họ với âm khác nhau; vì vậy làng của người Lào là “Bản”, làng của người Rhadé là “Buôn”; làng của người Jharai lại là “Plei” hay “Trà”.
Tên Pleime mà người ta thường gọi, chính thực là một danh từ ghép với hai chữ “Plei” và “Mé” theo tiếng Thượng Jharai. Vì vậy, “Pleime” hay “Plei Me” cũng chỉ là một. Pleime nằm cách Pleiku hơn 30 cây số về hướng Tây Nam.
Nhân một chuyến quá giang tàu bay chở thư của Mỹ, tôi đặt chân tới Trại Pleime lần đầu khi căn cứ này vừa được di chuyển từ chân núi Chư Hô về Ðồi 403 trên Tỉnh lộ 6C. Trại Pleime mới có hình lục giác với hệ thống tường đất cao hai thước bao quanh chỉ huy sở. Còn Trại Pleime cũ thời 1965 có hình tam giác; trại đó đã bị phá đi rồi.
Từ Noel năm 1973 tôi đã được lệnh vào Pleime thay thế Thiếu tá Nguyễn Ngọc Lân, vậy mà cứ nhùng nhằng mãi, hai tháng sau tôi mới chính thức nhận chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng dưới sự chứng kiến của Trung tá Chính, Liên Ðoàn Phó Liên Ðoàn 24 Biệt Ðộng Quân.
Tôi trở thành người chỉ huy chính thức thứ bảy, và cũng là tiểu đoàn trưởng sau cùng của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng.
Tôi đã biết, theo lịch trình “Việt-Nam Hóa” thì cuối năm 1970 những chiến binh Dân Sự Chiến Ðấu của trại Pleime đã được cải tuyển thành quân nhân chính quy trực thuộc Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân Biên Phòng. Vậy mà hơn ba năm qua, với sáu lần thay đổi tiểu đoàn trưởng mà đơn vị này vẫn chưa thoát ra khỏi cái cốt CIDG của nó (Civilian Irregular Defense Group = Phòng Vệ Dân Sự = Dân Sự Chiến Ðấu)
Chỉ nhìn vào hình thức thôi, nó chẳng có vẻ gì là một đơn vị chính quy, chứ đừng nói tới đó là một đơn vị trực thuộc lực lượng nòng cốt của Vùng 2.
Không biết quân trang quân dụng của tiểu đoàn này đã bị thất thoát đi đâu mà đội ngũ Biệt Ðộng Quân trước mắt tôi và Trung tá Chính lại ăn mặc như một đoàn người ô hợp. Trừ ra những sĩ quan có quần áo rằn ri, các quân nhân khác thì mang đủ thứ trang phục của Bộ Binh, Cảnh Sát Dã Chiến, Thủy Quân Lục Chiến, Cán Bộ Xây Dựng Nông Thôn, áo 4 túi lẫn với áo 2 túi, có người còn mặc cả đồ kaki vàng, chân mang dép Nhựt!
Ngay sau ngày ký biên bản bàn giao, tôi bắt Thiếu úy Nghị, sĩ quan tiếp liệu của đơn vị làm một phúc trình xin ứng trước quân trang bổ sung vì lý do hành quân.
Ông Nghị là người rất giỏi ngoại giao, ông ta quen nhiều vị có quyền uy trong Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận 5 dưới Qui Nhơn, nên chỉ một tuần lễ sau, bộ mã của tiểu đoàn tôi đã đổi khác ngay.
Khi kiểm tra quân số bàn giao hiện diện, tôi mới té ngửa: Theo giấy tờ thì ngày đó quân số thực hiện của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân là trên 400 người, nhưng tới khi điểm danh đếm số thì lòi ra 92 quân nhân chỉ có tên mà không có mặt!
Phải một tuần lễ sau tôi mới truy cứu ra, trong số 92 ông lính vắng mặt thì một nửa là lính kiểng, nửa kia là lính ma, có người đào ngũ đã nửa năm nhưng chưa ngưng lương, chưa có báo thị tầm nã; có người biệt phái tới tận Sài-Gòn để làm thợ mộc mà vẫn hưởng hàng tháng bốn nghìn đồng phụ cấp hành quân.
Từ ngày mới ra trường, nhận chức trung đội trưởng cho tới khi chỉ huy tiểu đoàn, tôi chưa từng đem một người lính nào về làm công việc trong nhà tôi.
Tôi quan niệm rằng, đem lính về làm việc nhà là một hành động ăn cắp công quỹ, lạm dụng chức quyền.
Tôi từ chối thẳng thừng mọi yêu cầu của thượng cấp khi các vị này muốn tôi cung ứng cho họ một vài người giúp việc trong nhà dù chỉ là trong thời gian một hay hai ngày thôi.
Tôi nhất định không ký chứng nhận hành quân cho những anh lính kiểng, nên chỉ một kỳ lãnh lương đi qua, không nhận được 4000 đồng phụ trội, những người này tự động quay về trình diện.
Những anh lính kiểng nào không về trình diện đều nhận được giấy báo cáo vắng mặt bất hợp pháp; sau đó họ sẽ bị báo cáo đào ngũ. Ông quan to nào còn lưu giữ những anh lính này sẽ đương nhiên can tội “tán trợ đào binh”
Một tháng sau khi tôi vào Pleime thì những vị quan nào đang giữ người của Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân để giúp việc trong nhà đều phải ngậm đắng nuốt cay mà trả lại lính cho tôi.
Thế rồi, những anh “Biệt Dạng Quân” dần dần lộ diện, theo nhau trở về rừng, tiếp tục kiếp sống ngang tàng của Cọp, coi cái chết tựa lông hồng.
Tôi đã không tiếc công sức, không nản lòng để chấn chỉnh đơn vị này. Cuối cùng tôi đã thành công; chưa tới hai tháng sau, tất cả đã vào khuôn, vào phép.
Sau này, từ một đơn vị vô danh tiểu tốt, Tiểu Ðoàn 82 Biệt Ðộng Quân đã ngoi lên, nhanh chóng trở thành một tiểu đoàn lừng danh của Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.
Cũng phải kể đến sự đóng góp công khó của các bạn trẻ, sĩ quan và hạ sĩ quan đầy nhiệt huyết của tiểu đoàn đã tiếp tay tôi xây dựng đơn vị mỗi ngày mỗi tiến bộ hơn. Nếu không có họ, tôi cũng đành thúc thủ.
Mỗi khi nhắc tới Pleime 1974, thì trong lòng tôi lại dấy lên một cảm giác lâng lâng, ngọt ngào, cùng những hình ảnh thân yêu theo nhau hiện về trong trí nhớ: Phạm Ðại Việt, Nguyễn Công Minh, Phạm Văn Thủy, Nguyễn Văn Trâm, Trần Văn Phước, Nguyễn Hữu Phước, Huỳnh Kim Hoàng, Lý Ngọc Châu, Trần Dân Chủ, Trương Trọng Tài, Lê Ðình Khay, Phan Quốc Thiều, Lưu Ðức Hoàn, Phạm Hoa, Nguyễn Văn Năng, Nông Văn Út,…vân vân.
Ðóng đồn tức là chấp nhận đối đầu với địch quân bất cứ lúc nào. Xung quanh đồn là rừng, xung quanh ta là địch. Tốt nhất là lúc nào ta cũng phải ở trong tư thế sẵn sàng.
Với kinh nghiệm của một người cầm quân đã nhiều năm, tôi biết chắc chắn rằng:
“Tay nghề của người lính tiên phong mà không chuyên, thì sự thất bại của một đơn vị tác chiến coi như cầm chắc mỗi khi đối đầu với địch.”
Nói ra thì nhiều người sẽ không tin, nhưng thực tế, tôi đã chứng kiến cái cảnh xảy ra thường xuyên là, những tân binh mới ra trận lần đầu, nghe súng nổ, thường nằm úp mặt xuống đất, chổng mông lên trời, nhắm mắt bóp cò, đạn nối đuôi nhau, chẳng biết bay về đâu. Có người khi đối diện địch quân thì đứng chết trân không phản ứng được gì cả. Có người thấy địch thì quýnh quáng quá, bắn cả vào chân của mình.
Muốn nâng cao tay nghề của những người lính dưới quyền mình thì người chỉ huy phải thường xuyên rèn luyện quân sự cho đàn em.
Những quân nhân dưới quyền tôi hầu như đã quen với cái thông lệ tự huấn luyện sau khi hành quân, nên không có ai than van hay phiền muộn vì chuyện này.
Ngay khi nắm quyền chỉ huy Pleime, tôi liền cấp tốc lập chương trình huấn luyện tại chỗ cho các đại đội.
Trong kho của tiểu đoàn, đạn thặng dư không có giấy tờ kiểm kê do Mỹ để lại còn cả đống. Số đạn tồn kho này đã cũ, nên thay vì đem ra thiêu hủy thì tôi lại sử dụng cho công tác huấn luyện.
Tôi đã đích thân dẫn từng trung đội ra bãi tập, rồi đứng giảng giải cho từng người lính biết cách “bóp cò” khẩu súng của anh ta làm sao vừa nhanh, vừa hiệu quả khi chạm trận; tôi bắt họ mở mắt cho to, nhìn về phía địch, rồi cầm tay họ, chỉ cho họ kỹ thuật ghìm súng để cho viên đạn bay cao tối đa là từ ngang cỡ đầu gối một người đứng thẳng.
Bằng cách đặt hai khẩu đại liên 30 trên giàn cao quá đầu người, quay nòng về hướng núi bóp cò; rồi cho quân lính luân phiên nhau tập bò, tập chạy, tập đi, tập nằm trước họng súng bắn ngược chiều. Ngày nào cũng nghe tiếng đạn thật bắn ngược như đang đánh nhau, thét rồi lính hết nhát, hết sợ.
Còn tiếp....
VƯƠNG MỘNG LONG, K20-VBĐL

Friday, June 12, 2020

LỰC LƯỢNG QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HOÀ TRONG CHIẾN TRANH VIỆT NAM.

Những dữ liệu của lịch sử VNCH

Trong Chiến tranh Việt Nam, tổng số quân của VNCH có khoảng 1,35 triệu người, trong đó quân nhân chính quy 495.000 người, Địa phương quân và cảnh sát 475.000 người, phòng vệ dân sự 381.000 người.

Theo đánh giá về trang bị và quân số, QLVNCH có Lục quân "đứng thứ 4 thế giới", Không quân "đứng thứ 3 thế giới", Hải quân "đứng thứ 9 thế giới".

(Trong suốt cuộc chiến, QLVNCH đã giành được những thắng lợi quan trọng trên chiến trường như ở Mậu Thân 1968, Hạ Lào 1971, Mùa hè đỏ lửa 1972. Nhưng đến năm 1973 khi mà Mỹ cắt giảm viện trợ sau hiệp định Paris, dẫn tới tình trạng hậu cần, xăng dầu, vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng ngày một cạn kiệt.

Lực lượng quân đội như sau:


BỘ BINH
Có 13 sư đoàn bộ binh, tổ chức thành 4 quân đoàn - quân khu và một số đơn vị độc lập:

Quân đoàn 1 - Quân khu 1 gồm:

- Sư đoàn bộ binh 1 : trung đoàn bộ binh 1, 3, 51, 54 và thiết đoàn 7.
- Sư đoàn bộ binh 2 : trung đoàn bộ binh 4, 5, 6 và thiết đoàn 4.
- Sư đoàn bộ binh 3 : trung đoàn bộ binh 2, 56, 57 và thiết đoàn 11.
- Lữ đoàn kỵ binh 1.

Quân đoàn 2 - Quân khu 2 gồm:

- Sư đoàn bộ binh 22 : trung đoàn bộ binh 40, 41, 42, 47 và thiết đoàn 14.
- Sư đoàn bộ binh 23 : trung đoàn bộ binh 44, 45, 53 và thiết đoàn 3.
- Lữ đoàn kỵ binh 2.

Quân đoàn 3 - Quân khu 3 gồm:

- Sư đoàn bộ binh 18 : trung đoàn bộ binh 43, 48, 52 và thiết đoàn 5.
- Sư đoàn bộ binh 5 : trung đoàn bộ binh 7, 8, 9 và thiết đoàn 1.
- Sư đoàn bộ binh 25 : trung đoàn bộ binh 46, 49, 50 và thiết đoàn 10.
- Lữ đoàn kỵ binh 3.

Quân đoàn 4 - Quân khu 4 gồm:

- Sư đoàn bộ binh 21 : trung đoàn bộ binh 31, 32, 33 và thiết đoàn 9.
- Sư đoàn bộ binh 7 : trung đoàn bộ binh 10, 11, 12 và thiết đoàn 6.
- Sư đoàn bộ binh 9 : trung đoàn bộ binh 14, 15, 19 và thiết đoàn 2.
- Lữ đoàn kỵ binh 4.

Các đơn vị bộ binh độc lập khác:

- Sư đoàn Nhảy dù (thuộc lực lượng tổng trừ bị) : Lữ đoàn dù 1, 2, 3, 4.
- Sư đoàn Thủy quân lục chiến (thuộc lực lượng tổng trừ bị) : Lữ đoàn thủy quân lục chiến 147, 258, 369, 468.
- Sư đoàn biệt động quân : gồm 3 liên đoàn Biệt động quân. Được thành lập cuối tháng 4-1975.
- Liên đoàn 81 Biệt Cách Dù.
Lực lượng biệt động quân có 18 liên đoàn : 4, 5, 6, 7, 8, 11, 12, 14, 15, 21, 22, 23, 24, 25, 31, 32, 33, 41.

Lực lượng Địa phương quân có khoảng gần 400 tiểu đoàn bảo an. Trong đó một số được tổ chức thành các liên đoàn bảo an (tương đương trung đoàn).

KHÔNG QUÂN

Có 6 sư đoàn :
- Sư đoàn không quân số 1 :
+ Không đoàn 41 gồm 2 phi đoàn quan sát (O-1, O-2, U-17), 1 phi đoàn vận tải (C-7A), 1 phi đội trinh sát (EC-47D) và 1 phi đội yểm trợ mặt đất (AC-119K).
+ Không đoàn 51 gồm 5 phi đoàn trực thăng vũ trang (UH-1H) và 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A).
+ Không đoàn 61 gồm 3 phi đoàn cường kích (A-37B) và 1 phi đoàn tiêm kích (F-5A/-B).

- Sư đoàn không quân số 2 :
+ Không đoàn 62 gồm 1 phi đoàn quan sát (O-1, U-17), 2 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H), 1 phi đoàn yểm trợ mặt đất (AC-47D).
+ Không đoàn 92 gồm 3 phi đoàn cường kích (A-37B), 1 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Sư đoàn không quân số 3 :
+ Không đoàn 23 gồm 2 phi đoàn quan sát (O-1, U-17) và 2 phi đoàn cường kích (A-1H).
+ Không đoàn 43 gồm 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 4 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 63 gồm 4 phi đoàn tiêm kích (F-5A/-B/E, RF-5A).

- Sư đoàn không quân số 4 :
+ Không đoàn 64 gồm 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 2 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 74 gồm 2 phi đoàn trinh sát (O-1, U-17) và 3 phi đoàn cường kích (A-37B).
+ Không đoàn 84 gồm 3 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Sư đoàn không quân số 5 :
+ Không đoàn 33 gồm 2 phi đoàn trinh sát (EC-47D, U-6A), 2 phi đoàn vận tải (C-7A), 1 phi đoàn làm nhiệm vụ đặc biệt (VC-47B, U-17) và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 53 gồm 2 phi đoàn yểm trợ mặt đất (AC-119K) và 2 phi đoàn vận tải (C-130A).

- Sư đoàn không quân số 6 :
+ Không đoàn 72 gồm 1 phi đoàn quan sát (O-1, O-2, U-17), 1 phi đoàn cường kích (A-1H), 2 phi đoàn và 2 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).
+ Không đoàn 82 gồm 1 phi đoàn cường kích (A-37B), 1 phi đoàn trực thăng vận tải (CH-47A), 1 phi đoàn và 1 phi đội trực thăng vũ trang (UH-1H).

- Trung tâm huấn luyện không quân : gồm 1 phi đoàn huấn luyện trang bị U-17A và 1 phi đoàn huấn luyện trang bị T-37A, trực thăng UH-1H.

Về trang bị, không quân VNCH có khoảng 1.800 máy bay các loại, trong đó có khoảng 300 máy bay chiến đấu A-1, A-37, F-5 và 600 trực thăng vũ trang UH-1.

PHÁO BINH
- Có 66 tiểu đoàn và trên 160 trung đội pháo binh độc lập với khoảng 1.500 khẩu pháo 105mm, 155mm và một số pháo tự hành 175mm.
- 7 tiểu đoàn pháo cao xạ và súng máy cao xạ.

THIẾT GIÁP
Có 4 lữ đoàn kỵ binh, 18 thiết đoàn (tương đương trung đoàn thiết giáp) và 57 chi đội (tương đương đại đội) xe tăng thiết giáp với khoảng 600 xe tăng M-48, xe tăng nhẹ M-41 và 1.400 thiết giáp M-113.

HẢI QUÂN

Tổ chức hải quân VNCH gồm :
- 5 vùng Duyên hải :
+ Vùng 1 gồm 5 duyên đoàn, 3 giang đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 2 gồm 8 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 3 gồm 3 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 4 gồm 4 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.
+ Vùng 5 gồm 2 giang đoàn, 2 duyên đoàn và 1 hải đội duyên phòng.

- 2 vùng Sông ngòi :
+ Vùng 3 gồm 4 giang đoàn.
+ Vùng 4 gồm 7 giang đoàn.

- Hành quân lưu động sông gồm :
+ Vùng 3 Sông ngòi.
+ Vùng 4 Sông ngòi.

Ngoài ra còn có các lực lượng tăng viện thuộc :
+ Lực lượng đặc nhiệm 211 Thủy bộ : gồm 3 liên đoàn với 6 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 212 Tuần thám : gồm 6 liên đoàn với 15 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 214 Trung ương : gồm liên đoàn người nhái và 3 liên đoàn với 10 giang đoàn.
+ Lực lượng đặc nhiệm 99 gồm 3 giang đoàn.

- Hành quân lưu động biển gồm lực lượng đặc nhiệm 213 Duyên phòng.

- Hạm đội gồm :
+ Hải đội 1 Tuần duyên.
+ Hải đội 2 Chuyển vận.
+ Hải đội 3 Tuần dương.

- Liên đoàn Tuần giang:
gồm 24 đại đội tuần giang.
- Lực lượng Hải tuần làm nhiệm vụ đưa biệt kích xâm nhập miền Bắc.
- Hệ thống các căn cứ, công xưởng, đài kiểm báo....
Hải quân VNCH được trang bị khoảng 1.500 tàu xuồng các loại, trong đó có khoảng 700 tàu chiến trên sông và trên biển.
(FB Viet Anh)

Thursday, June 11, 2020

Nguyên văn lời tiễn biệt Trung Tá Bùi Quyền, K 16 VBQG, Lữ Đoàn Phó, LĐ 2 ND của Trưởng nam Bùi Quang


Lời từ biệt của con trai Trung Tá Nhảy Dù Bùi Quyền (Thủ Khoa Khóa 16 VBQGVN), nói  trước linh cữu cha trong tang lễ sáng ngày 10 tháng 6 /2020 được tổ chức tại Nam Cali. 
Rất ý nghĩa và cảm động!

Thưa Bố,
Lớn lên không có bố bên cạnh quả là điều khó khăn. Hằng đêm con đã cầu nguyện với hy vọng là bằng một cách nhiệm mầu nào đó bố sẽ được thả ra khỏi trại cải tạo của chính quyền Bắc Việt và cùng sống với mẹ và chúng con ở Mỹ. Rồi dần dà theo thời gian, con được biết thêm là trong những ngày cuối cùng của chính quyền miền Nam Việt Nam bố đã có cơ hội để rời Sài Gòn nhưng bố đã chọn ở lại để giúp tổ chức những tiểu đoàn Nhảy Dù cuối cùng còn sót lại của miền Nam Việt Nam để chiến đấu bảo vệ thành phố. Mặc dù bố đã thu xếp cho mẹ, em con, và con được an toàn rời khỏi đất nước, nhưng làm thế nào mà bố có thể nghĩ rằng mẹ và chúng con sẽ có thể tồn tại được tại một nơi xa lạ? Là một người nội trợ, mẹ chưa bao giờ ngược xuôi kiếm sống ngoài đời trong khi em trai của con và con mới chỉ lên bốn và năm tuổi. Mẹ và chúng con chỉ biết nói duy nhất mỗi tiếng Việt. Là một đứa bé lớn lên trong một gia đình đơn chiếc và những khó khăn về mặt tài chính, con đã không hiểu được tại sao một người chồng và một người cha lại đã chọn một con đường như thế đó và ý nghĩ này đã khiến con vừa buồn rầu vừa pha chút tức giận.

Đến khi lớn lên và học thêm được những khái niệm như trách nhiệm, danh dự và chính trực, con mới hiểu được nhiều hơn và từ đó con mới nhận ra rằng bố đã không có được một lựa chọn nào khác hơn vào ngày định mệnh đó, ngày mà bố đã đưa vợ và hai con trai nhỏ của mình lên máy bay để rời khỏi một quốc gia mà chẳng bao lâu nữa sẽ không còn hiện hữu. Con đã trở nên rất xấu hổ về những cảm xúc trước đây của mình khi còn bé bởi vì con đã hoàn toàn nhận ra được chân giá trị của việc bố phải ở lại và giữ trọn lời thề của mình để chỉ huy  thuộc cấp của bố và để bảo vệ  chính quyền quốc gia mà bố đã tuyên thệ phục vụ.

Không biết là có phải chuỗi dài của những sự kiện đó đã đưa đẩy con đến việc gặp được một người mà sau đó là bạn thân của gia đình, đó là Đại tá Không quân Hoa Kỳ: Masuoka hay không?  Ông đã trở thành Sĩ quan Liên lạc của con tại Học viện Không quân Hoa Kỳ và cũng là người tận tình giúp đỡ để con được hội ngộ (với bố) tại Học viện Không quân Hoa Kỳ. Con cũng không biết đó có phải là kết quả của những lời cầu nguyện của con vào thời thơ ấu? Nhưng khi Đại tá Masuoka, với sự giúp đỡ trực tiếp của cựu Tổng thống Hoa Kỳ, George Bush, báo cho con biết rằng bố sẽ (từ Việt Nam) đến Colorado Springs để trực tiếp tham dự lễ tốt nghiệp của con và giúp cho con gắn lên vai cặp lon Thiếu úy, thì con đã tưởng đó là điều không có thực. Quả là một sự phù hợp lạ lùng vì bố có mặt ngay lúc con tốt nghiệp khi mà Khóa của con ra trường năm 1991, có phương châm tiêu biểu cho khóa được khắc trên chiếc nhẫn tốt nghiệp là "Duty First, Integrity Always." (Trách Nhiệm: Thứ nhất, Chính Trực: Luôn luôn).

Nói được và hiểu được những điều này thì dễ. Nhưng sống sao cho được đúng với ý nghĩa của những điều đó, từ ngày này sang ngày khác, thì khó hơn rất nhiều, nhất là khi phải trực diện với những quyết định giống như vào một ngày trong tháng Tư năm 1975 trên bãi đậu của chiếc máy bay với người vợ và hai đứa con trai nhỏ đang ngơ ngác nhìn vào bố mong tìm được một sự che chở và hy vọng. Quả là một sự tan nát trong cõi lòng của bố!

Con rất tự hào là đứa con trai của bố, thưa Bố, và con chỉ có thể hy vọng rằng con có thể sống được một cuộc đời đúng theo các nguyên tắc mà bố đã sống và con sẽ truyền lại di sản của bố về trách nhiệm, danh dự và chính trực cho các cháu nội của bố. Trong cộng đồng người Việt miền Nam Việt Nam, danh thơm của bố rất tốt đẹp và vững chãi. Họ gọi bố là, "Anh Hùng Mũ Đỏ" hay Anh Hùng với Mũ Bê Rê Đỏ. Đó quả là một tặng phẩm tuyệt diệu và con không thể nghĩ ra được bất cứ điều gì thích hợp hơn nữa để mô tả một người đã sống một cuộc đời thực sự anh hùng.

Ghi chú: 
- Bản điếu văn bằng tiếng Anh của trưởng nam của NT Bùi Quyền K16.
- Chuyển sang Việt ngữ: Trần Trung Tín K31


Thưa Bố,
Growing up without you was difficult. I prayed every night hoping that you would somehow be miraculously released from the North Vietnamese’s government’s re-education camp and join us in America. Over time, I learned that you had the chance to leave Saigon in the final days of the South Vietnamese government but chose to stay to help organize the remnants of the remaining South Vietnamese Airborne battalions to defend the city. Although you did secure safe transit out of the country for mom, my brother, and me, how did you expect us to survive? Mom was a house wife and had never been in the workforce while my brother and I had just turned four and five, respectively. We only spoke Vietnamese. As a child growing up in a single parent home and the resultant financial struggles, I didn’t understand why a husband and father would choose this path and that thought made me both sad and a little angry.
As I grew older and learned more about concepts such as duty, honor, and integrity, I understood more and came to accept that you had no choice on that fateful day you put your wife and two young sons on that airplane to flee a country that would soon no longer exist. I became very ashamed about my earlier feelings as a child because I came to appreciate that you had to stay and fulfill your oath to lead your men and to defend a government you swore to serve.
Were the sequence of events that led me to meet a soon-to-be close family friend, USAF Colonel Masuoka, who became my USAF Academy Liason Officer and who ultimately helped me get an appointment at the USAF Academy the result of my childhood prayers? I am not sure but when Colonel Masuoka, with the direct help of the former President of the US, George Bush, called to let me know that you would be coming to Colorado Springs to physically attend my graduation and help me pin on my 2nd Lieutenant’s officer bars, I couldn’t believe it. How fitting that you were there at my graduation because my Academy’s class of 1991’s motto that is inscribed on our class ring reads “Duty First, Integrity Always”.
Saying and understanding these words are easy. Living by these words day in and day out is more difficult, especially when confronted with decisions like on that day in April 1975 on an airplane tarmac with your wife and two young sons looking to you for assurances and hope. How internally torn that must have made you feel!
I am so proud to be your son, Dad, and can only hope that I can live a life true to principles that you have lived by and pass down your legacy of duty, honor, and integrity to your grandsons. Your legacy in the South Vietnamese community is strong and secure. They call you, “Anh Hung Mu Do” or Hero with a Red Beret. How amazing a tribute and I cannot think of anything more appropriate to describe a man who has lived a truly heroic life.
Bùi Quang