Sunday, June 7, 2020

CÁC TƯỚNG LÃNH VNCH

  Trong số 11 vị tướng lãnh trên chỉ có TrT Lữ Lan và Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại còn tại thế, 9 vị còn lại đã qua đời (năm mất trong dấu ngoặc)
Theo Wikipedia, Quân Lực VNCH có 173 vị tướng từ cấp thống tướng đến chuẩn tướng.
Theo tài liệu lưu giữ tại Viện Bảo Tàng Việt Nam ở San Jose, vào tháng 4 năm 1975, VNCH có 112 tướng lãnh trong số có 80 vị đã rời khỏi Việt Nam khi Cộng Sản chiếm Saigon.
Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, nếu không kể vị Thống Tướng duy nhất là Lê Văn Tỵ đã mất năm 1964, các tướng lãnh đã mất vì già yếu, vì tử trận (7), các tướng đã hồi hưu hay giải ngũ thì vào ngày 30 tháng 4 năm 1975, VNCH có 107 tướng tại ngũ được liệt kê như sau:
alt
Cần chú thích thêm là ngoài 29 tướng bị đi cải tạo còn có thêm 9 vị tướng hồi hưu hay giải ngũ cũng bị cộng sản bắt đi cải tạo, như vậy số tướng lãnh bị bắt đi cải tạo là 38 vị.
Ngoài ra, trong số tướng giải ngũ có một tướng thân cận với Dương Văn Minh đã bị TT Thiệu cho giải ngũ, nhưng lại là một tên cộng sản nằm vùng, bí danh là S7, được Dương Văn Minh cho tái ngũ ngày 28/4/1975 là chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh.
Những vị tướng tuẫn tiết
1- Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Quân Khu 2, tự sát bằng thuốc độc ngày 29 tháng 4, được gia đình đưa vào nhà thương Grall và chết vào trưa ngày 30 tháng 4 sau khi được biết Dương Văn Minh vừa tuyên bố đầu hàng.
2- Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Tư Lệnh Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, tự sát tại Bộ Tư Lệnh QĐ rạng sáng ngày 1 tháng 5 sau khi thăm các chiến hữu thương binh ở Quân Y Viện Phan Thanh Giản Cần Thơ.
3- Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn 4, Quân Khu 4, tự sát tại Bộ Tư Lệnh QĐ tối ngày 30 tháng 4 sau khi nói lời vĩnh biệt với vợ và con.
4- Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 BB, tự sát tại Bô Tư Lệnh ở Lai Khê trưa 30 tháng 4 sau khi dùng bữa cơm cuối cùng với chiến hữu.
5- Chuẩn Tướng Trần Văn Hai, Tư Lệnh Sư Đoàn 7 BB, tự tử ở Căn cứ Đồng Tâm (Mỹ Tho) chiều ngày 30 tháng 4.
Những vị tướng di tản
Trong số 11 vị tướng lãnh trên chỉ có TrT Lữ Lan và Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại còn tại thế, 9 vị còn lại đã qua đời (năm mất trong dấu ngoặc)
Từ ngày 25 đến 30 tháng tư, một số tướng lãnh đã bắt đầu rời Việt Nam, hoặc nhờ phương tiện của Mỹ, hoặc nhờ tàu và phi cơ của VNCH rời VN đến Đệ Thất Hạm Đội hay những căn cứ của Mỹ ở Thái Bình Dương rồi từ đó được di tản đến các trại tiếp cư trên đất Mỹ, một vài vị sau đó đi Canada hay Pháp, trừ Tổng Thống Thiệu đi Anh Quốc.
Hai vị tướng rời VN sớm nhất là Tổng Thống Thiệu và Thủ Tướng Khiêm
– Trung Tướng Nguyễn văn Thiệu, Tổng Thống kiêm Tư Lệnh Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà từ chức ngày 21-4-1975, 
– Ðại Tướng Trần Thiện Khiêm, Thủ Tướng kiêm Tổng Trưởng Quốc Phòng từ chức vào thượng tuần tháng tư 1975, rời Việt Nam cùng lúc với TT Nguyễn văn Thiệu.
Danh sách các vị tướng di tản (Chức vụ ghi là chức vụ sau cùng)
Cấp Đại Tướng
1- Cao văn Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực VNCH.
2- Trần Thiện Khiêm.
Cấp Trung Tướng
1- Nguyễn Văn Thiệu.
2- Chung Tấn Cang (Phó Đô Đốc), Tư Lệnh Hải Quân...
3- Phan Trọng Chinh, Chỉ Huy Trưởng trường Chỉ Huy &Tham Mưu.
4- Trần Văn Đôn, Phó Thủ Tướng nội các Nguyễn Bá Cẩn, rời VN qua Pháp.
5- Dư Quốc Đống, Tư Lệnh Quân Đoàn III.
6- Cao Hảo Hớn, Tổng Trưởng Chương Trình Phát Triển và Bình Định.
7- Lê Nguyên Khang, Phụ Tá Hành Quân bộ Tổng Tham Mưu.
8- Ðồng văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng bộ Tổng Tham Mưu, Tổng Cục Trưởng Tiếp Vận.
9- Lữ Lan (Lữ Mộng Lan), Chỉ Huy Trưởng trường Cao Đẳng Quốc Phòng.
10- Hoàng Xuân Lãm, Phụ Tá Tổng Trưởng Quốc Phòng.
11- Vĩnh Lộc, nhận chức Tổng Tham Mưu Trưởng lúc 3giờ chiều ngày 29 rồi sáng 30 ra đi cùng với Trung Tướng Trần Văn Trung.
12- Nguyễn Văn Mạnh, TTM phó đặc trách Địa phương quân và Nghĩa quân.
13- Nguyễn văn Minh, (Minh đờn vì đờn guitare rất hay), Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Ðô.
14- Trần Văn Minh, (Minh nhỏ, hay Minh Lục quân, còn Minh lớn là Trung Tướng Dương văn Minh), Cựu Tổng Tham Mưu Trưởng, Đai sứ tại Tunisie, Tchad, sang Nice (Pháp).
15- Trần Văn Minh, (Minh đen), Tư Lệnh Không Quân.
Chú thích : VNCH có 4 tướng đều có tên Minh nên để dễ phân biệt, mỗi vị được gọi tên với một “biệt danh”.
16- Ðặng văn Quang, Phụ Tá An Ninh Quốc Gia Phủ Tổng Thống. Lúc đầu đến Montréal, rồi sau sang Mỹ.
17- Trần Ngọc Tám, Cựu Đại Sứ VNCH tại Thái Lan.
18- Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn 1 & QK 1.
19- Nguyễn Xuân Thịnh, Tư Lệnh Binh Chủng Pháo Binh.
20- Phạm Quốc Thuần, Chỉ huy Trưởng Trường Sĩ Quan Đồng Đế, Nha Trang.
21- Nguyễn văn Toàn, Tư Lệnh Quân Ðoàn 2, rồi Quân Đoàn 3 kiêm Tư Lệnh Binh chủng Thiết Giáp.
22- Trần văn Trung, Tổng Cục Trưởng Chiến Tranh Chính Trị, đến Mỹ rồi sau sang Pháp.
23- Ngô Quang Trưởng, Tư Lệnh Quân Ðoàn 1, Quân Khu 1.
24- Ngô Dzu, Trưởng đoàn Quân Sự 4 bên tại Trại Davis, Tân Sơn Nhứt.
Cấp Thiếu Tướng
1- Nguyễn Cao Kỳ, Cựu Tư Lệnh Không Quân, Cựu Phó Tổng Thống.
2- Đào Duy Ân, Tư Lệnh Phó Diện Địa Quân Đoàn III.
3- Nguyễn Khắc Bình, Tư Lệnh Cảnh Sát kiêm Ðặc Uỷ Trưởng Tình Báo.
4- Võ văn Cảnh, Phụ Tá Tổng Trưởng Nội Vụ.
5- Bùi Đình Đạm, Tổng Giám Đốc Tổng Nha Nhân Lực Bộ Quốc Phòng.
6- Nguyễn Duy Hinh, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 BB.
7- Hoàng Văn Lạc, Tư Lệnh Phó Quân Khu 1.
8- Võ xuân Lành, Tư Lệnh Phó Không Quân.
9- Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
10- Nguyễn Ngọc Loan, Chánh Thanh Tra Bộ Quốc Phòng.
11- Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 BB.
12- Lâm Ngươn Tánh (Hải Hàm Đề Đốc), Phụ Tá Quốc Vụ Khanh đặc trách cứu trợ đồng bào di cư Miền Trung.
13- Lâm Quang Thơ, Chỉ Huy trưởng trường Võ Bị Đà Lạt.
14- Lê Ngọc Triển, Tham Mưu Phó Hành Quân, Bộ TTM (4/1975).
15- Chương Dzềnh Quay, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn IV...
Cấp Chuẩn Tướng
1- Trương Bảy, Phụ Tá Tư Lệnh Cảnh Sát đặc biệt.
2- Nguyễn Chấn, Cục Công Binh, Biệt phái Phụ Tá Tổng Trưởng Canh Nông.
3- Nguyễn Thanh Châu (Phó Đề Đốc), Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Hải Quân, Nha Trang.
4- Nguyễn Hữu Chí (Phó Đề Đốc), Phụ tá Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Biển.
5- Nguyễn Văn Chức, Tổng Cục Trưởng Tổng Cục Tiếp Vận (4/1975).
6- Vũ Đình Đào (Phó Đề Đốc), Tư Lệnh Vùng 3 Duyên Hải.
7- Đinh Mạnh Hùng (Phó Đề Đốc), Phụ Tá Tư Lệnh Hành Quân Lưu Động Sông.
8- Hoàng Cơ Minh (Phó Đề Đốc), Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải.
9- Nghiêm Văn Phú (Phó Đề Đốc), Tư Lệnh Lực Lượng Tuần Thám 212.
10- Đặng Cao Thăng (Phó Đề Đốc), Tư Lệnh Hải Quân Vùng 4 Sông ngòi.
11- Hồ Văn Kỳ Thoại (Phó Đề Đốc) Tư Lệnh Hải Quân Vùng I Duyên Hải.
12- Diệp Quang Thủy (Phó Đề Đốc), Tham Mưu Trưởng Bộ Tư Lệnh Hải Quân.
13- Từ Văn Bê, Chỉ Huy Trưởng Tiếp vận và Kỹ Thuật KQ.
14- Võ Dinh, Chỉ Huy Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu KQ.
15- Nguyễn Đức Khánh, Tư Lệnh Sư Đoàn 1 KQ, định cư ở Montréal.
16 – Đặng Đình Linh, Tham mưu phó Kỹ Thuật và Tiếp Vận Không Quân.
17- Nguyễn Văn Lượng, Tư Lệnh Sư Đoàn 2 KQ.
18- Nguyễn Ngọc Oánh, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện KQ.
19- Nguyễn Hữu Tẩn, Tư Lệnh Sư Đoàn 4 KQ, được Dương Văn Minh cử quyền Tư Lệnh Không Quân ngày 29/4/1975.
20- Phan Phụng Tiên, Tư Lệnh Sư Đoàn 5 KQ.
21- Huỳnh Bá Tính, Tư Lệnh Sư Đoàn 3 KQ.
22- Nguyễn Văn Giàu (Đại tá BB), biệt phái qua Bộ Nội Vụ thăng cấp Chuẩn Tướng Tư Lệnh Cảnh Lực.
23- Phan Hòa Hiệp, Trưởng Đoàn LHQS 2 bên.
24- Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Sư Ðoàn Nhảy Dù.
25- Vũ Đức Lượng, Cục Trưởng Cục An Ninh Quân Đội.
26- Ðổ Kiến Nhiễu, Ðô Trưởng Sài Gòn.
27- Phạm Hữu Nhơn, Trưởng Phòng 7 Bộ TTM.
28- Trần văn Nhựt, Tư Lệnh Sư Ðoàn 2 Bộ Binh.
29- Huỳnh Thới Tây, (Đại tá BB), biệt phái qua Bộ Nội Vụ thăng cấp Chuẩn Tướng Tư Lệnh Đặc Cảnh Trung Ương.
30- Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3, Bộ TTM.
31- Trang Sĩ Tấn (đồng hóa Chuẩn Tướng), Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Đô Thành.
Những Vị Tướng bị Cộng Sản bắt đi “học tập cải tạo”
Số tướng lãnh bị đi học tập cải tạo gồm các tướng lãnh không muốn đi hay bị kẹt lai.
Một số tướng đã giải ngũ cũng bị đi “cải tạo” (có ghi chữ Cựu). Một số tướng đã bị giam trong khám Chí Hòa thời VNCH vì nghi án tham nhũng hay lý do chính tri bị tiếp tục cải tạo dưới thời cộng sản. Thời gian học tập cải tạo từ vài năm đến 17 năm. Có 8 vị bị 17 năm (từ số 1 đến số 8). Duy nhất có Cựu Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ chỉ học tập có 6 tháng.
Những vị bị cải tạo 17 năm (1975 -1992)
1- Thiếu Tướng Trần Bá Di, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
2- Thiếu Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh Sư Đoàn 18 BB...
3- Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai, Chỉ Huy Trưởng Binh chủng Biệt Động Quân.
4- Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lữ Đoàn 3 Kỵ Binh.
5- Chuẩn Tướng Phạm Ngoc Sang, Tư Lệnh Không Đoàn 6, bị CS bắt khi thua trận ở Phan Rang cùng với Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi.
6- Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, Chỉ Huy Trưởng Biệt Động Quân Quân Khu 2, Chỉ huy cuộc hành quân rút lui bỏ các tỉnh vùng Cao Nguyên tháng 3, 1975.
7- Chuẩn Tướng Lê Văn Thân, Tư Lệnh phó lãnh thổ Quân khu 2.
8- Chuẩn Tướng Mạch văn Trường, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 BB.
Những vị bị cải tạo 12-13 năm (được thả năm 1987,1988)
9- Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi: Bị tai tiếng tham nhũng ở Quân đoàn 4, ông phải bàn giao chức vụ cho Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam đi nhận chức Chỉ Huy Trường Bộ Binh Thủ Đức. Cuối tháng 3, 1975, Khi QĐ 2 bị tan rã, TT Thiệu cử ông làm Tư Lệnh phó QĐ 3 kiêm Tư Lệnh Tiền Phương QĐ đặc trách giữ phòng tuyến Phan Rang, nhưng sau cùng Phan Rang cũng bị chiếm và ông bị địch bắt. Ông là tướng lãnh có cấp bậc cao nhất bị bắt tại chiến trường.
10- Trung Tướng Nguyễn Hữu Có, đã giải ngũ năm 1967, tuy là cựu thù với ĐT Dương Văn Minh, nhưng lại tái ngũ ngày 28/4/1975 làm Cố Vấn cho Tướng DVM. Bị đi cải tạo 12 năm, nhưng khi được thả lại hoạt động cho Mặt Trận Tổ Quốc, cơ quan ngoại vi của cộng sản.
11- Trung Tướng Lâm Văn Phát, cùng thời với các tướng Trần Thiện Khiêm, Dương văn Đức, Nguyễn Khánh, tham gia đảo chánh 4 lần, bị tước hết cấp bậc, bị gìải ngũ năm 1965. Ngày 28/4/1075, Dương Văn Minh thăng cấp Trung Tướng cử ông làm Tư Lệnh Biệt Khu Thủ đô thay tướng Nguyễn Văn Minh vừa đào nhiệm.
12- Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang, Chỉ Huy Trưởng Pháo Binh, sau biệt phái qua Bộ Ngoại Giao Phụ tá Ngoại Trưởng Trần Văn Lắm.
13- Thiếu Tướng Nguyễn Chấn Á, người Việt gốc Hoa, Thiếu Tướng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Gia nhập Quân Lực VNCH, ông được giữ nguyên chức vụ. Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh, Cố Vấn Tổng Cục Chiến Tranh Chính Trị.
14- Thiếu Tướng Văn Thành Cao (Cao Đài) hợp tác với chính phủ Ngô Đình Diệm được phong Thiếu Tướng (1955) Tổng Cục Phó Chiến Tranh Chính Trị.
15- Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng, Phụ Tá Tổng Tham Mưu Trưởng, chết trong trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh vì bịnh không thuốc men năm 1984.
16- Chuẩn Tướng Lý tòng Bá, Tư Lệnh Sư Ðoàn 25 Bộ Binh.
17- Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai, bị cách chức Tư Lệnh Sư Đoàn 3 BB hồi tháng 5 năm 1972, bị kết tội 5 năm tù vì thua trận Quảng Trị, bị giam trong Khám Chí Hoà . Khi CS vào Saigon ông bị đi cải tạo từ Nam ra Bắc đến năm 1987 mới được thả.
18- Chuẩn Tướng Lê Văn Tư, cựu Tư Lệnh SĐ 25BB, bị tạm giam trong Khám Chí Hòa năm 1974 vì nghi án buôn lậu trong quân đội, bị đi tù từ Nam ra Bắc 13 năm.
19- Chuẩn Tướng Trần Quốc Lịch, Chánh Thanh Tra QĐ 4, bị giam trong Khám Chí Hòa năm 1974 vì nghi can buôn lậu trong quân đội, bị tù từ Nam ra Bắc 13 năm.
20- Chuẩn Tướng Hồ Trung Hậu, Binh Chủng Nhảy Dù, Chánh Thanh Tra QĐ 3. Sau khi được thả, ông ở lại VN.
21- Chuẩn Tướng Trần văn Cẩm, Tư Lệnh Phó, Quân Ðoàn 2, bị CS bắt làm tù binh tại Tuy Hòa.
22- Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Ðoàn 3, QK3.
23- Chuẩn Tướng Lê Trung Trực, Phụ Tá Trung Tướng Đặng Văn Quang.
24- Chuẩn Tướng Lý Bá Hỷ, Phó Tư Lệnh Biệt Khu Thủ Đô, 13 năm tù, sau định cư ở Pháp.
25- Chuẩn Tướng Huỳnh văn Lạc, Tư Lệnh Sư Ðoàn 9 Bộ Binh.
26- Chuẩn Tướng Chung Tấn Phát, Chánh Văn Phòng Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu.
27- Chuẩn Tướng Bùi Văn Nhu, Tư Lệnh Phó Cảnh Sát Quốc Gia, chết trong trại giam Nam Hà, Hà Nam Ninh năm 1984 vì bịnh thiếu thuốc men.
Những vị bị cải tạo dưới 5 năm
28- Thiếu Tướng Quân Y sĩ Vũ Ngọc Hoàn, bị lưu đày từ Nam ra Bắc đến năm 1980.
29- Chuẩn Tướng Quân Y sĩ Phạm Hà Thanh, bị cầm tù đến năm 1977.
Những vị cựu tướng lãnh vẫn bị đi tù
30- Cựu Trung Tướng Lâm Thành Nguyên (tự Hai Ngoán), chỉ huy Lực Lượng Hòa Hảo được Bảo Đại thăng cấp Đại Tá, rồi Thiếu Tướng và Ngô Đình Diệm đồng hóa Trung Tướng khi về hợp tác với chánh phủ VNCH, Năm 1955, ông được giải ngũ nhưng vẫn là lãnh tụ của giáo phái Hòa Hảo. Năm 1975, ông bị CS bắt giam tại Khám Chí Hòa và chết tại đây năm 1977.
31- Cựu Trung Tướng Dương Văn Đức, được Quốc Trưởng Ngô Đình Diệm thăng Thiếu Tướng năm 1956, lúc ông mới 31 tuổi là người trẻ tuổi nhất được thăng cấp tướng. Bất bình với TT Diệm, ông từ chức, sau ông làm Chỉnh Lý với Nguyễn Khánh, ông được thăng Trung Tướng, được cử làm Tư lệnh Quân Đoàn IV.
Ông bị buộc giải ngũ năm 1964, mắc bịnh tâm thần luôn nhục mạ cấp lãnh đạo. Bị CS bắt đi cải tạo từ Nam ra Bắc đến năm 1987, ở lại VN sau khi được thả.
32- Cựu Trung Tướng Lê Văn Kim, giải ngũ năm 1965 cùng 2 tướng Mai Hữu Xuân và Trần Văn Đôn lập ra công ty xuất nhập cảng DOXUKI, bị CS bắt đi cải tạo đến năm 1982.
33- Cựu Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ, Tổng Trưởng Quốc Phòng, giải ngũ năm 1973. Bị CS bắt lúc ông bị trọng bịnh và bị quản thúc ở nhà thương St- Paul cho đến năm 1979, được thả nhờ sự can thiệp của Thứ trưởng Quốc Phòng Pháp. Đó là thông tin trên Wikipedia.
Nhưng Huy Đức, trong «Bên Thắng Cuộc» viết rõ hơn : «Vừa được thả về cuối năm 1975, Tướng Vỹ phát biểu: Chúng tôi ăn cơm ngon hơn bộ đội. Tôi mong những người có thân nhân đi học tập cải tạo hãy yên lòng và tin tướng cách mạng, đừng tin những lời đồn vô căn cứ. Tướng Nguyễn Văn Vỹ là người mà ngày hôm đầu ra trình diện đã phát biểu: Tôi hiểu rõ quân đội trong nầy lắm, tệ lắm, xấu lắm, và mấy ngày hôm nay thấy rõ bộ đội cách mạng rất kỹ luật, chững chạc, đàng hoàng. Anh em vào nhà tôi ở cầu Thị Nghè không hề bị mất mát gì hết. Cách mạng vào yên ổn, thanh bình ngay, ai cũng yên tâm và sung sướng…» (ngưng trích). (Bên Thắng Cuộc, q. 1, tr. 41). Có thế nào một Trung Tướng VNCH tồi tệ như vậy mà Huy Đức căn cứ vào báo Saigon Giải Phóng để nhục mạ tướng lãnh VN hay thực sự tồi tệ như vậy để được cộng sản trả ơn cho xuất cảnh sang Pháp năm 1979.?
34- Cựu Thiếu Tướng (Đề Đốc Hải Quân) Trần Văn Chơn, giải ngũ 1974, là tướng hải quân duy nhất không di tản. Bị giam từ Nam ra Bắc cho đến năm 1987.
35- Cựu Thiếu Tướng Nguyễn Thanh Sằng, giải ngũ năm 1973, bị cầm tù đến năm 1987.
36- Cựu Thiếu Tướng Huỳnh Văn Cao, giải ngũ năm 1966 vì Biến Động Miền Trung. Thượng Nghị Sĩ 1967- 1975. Đi cải tạo từ Nam ra Bắc đến 1987.
37- Cựu Chuẩn Tướng Phan Ðình Thứ (tự Lam Sơn), Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Đặc Biệt, bị tù năm 1972 vì bắn chết môt trung sĩ người Thượng, bị buộc giải ngũ năm 1973. Ông trải qua 13 năm tù từ Nam đến Bắc.
38- Cựu Chuẩn Tướng Phan Xuân Nhuận, Tư Lệnh SĐ 1 BB, bị giáng chức thành Đại Tá và bị giải ngũ vì Biến Động Miền Trung năm 1966. Bị giam ở Hoàng Liên Sơn đến năm 1987
altChuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, Tình báo viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam
Là Cộng sản nằm vùng mang bí danh S7, lại là thân cận của tướng Dương Văn Minh, Tổng Thống Thiệu cho ông về hưu tháng 5, 1974 cốt để cắt vây cánh của ông Minh, lúc ấy ông là Chánh Thanh Tra Quân Đoàn I làm Phụ Tá cho tân Tổng Tham Mưu Trưởng là tướng Vĩnh Lộc, nhưng hôm sau, tướng Vĩnh Lộc di tản, ông thay thế Vĩnh Lộc. Chính ông là người ra nhật lệnh yêu cầu quân đội VNCH buông súng. Vì có công với Việt Cộng, ông không phải đi cải tạo, nhưng không có chức vụ gì ngoài việc được cho làm Ủy viên Mặt Trận tổ Quốc VN, sống nghèo khổ ở làng Bến Tranh (Mỹ Tho) trong một nghĩa địa cho tới ngày mất (29/9/2019).
Lâm Vĩnh Bình
15/03/2020

Chú thích : Về các người bị cộng sản bắt đi học tập cải tạo, Huy Đức viết:« Ở Saigon, 443 360 người ra trình diện, trong đó có 28 viên tướng, 362 đại tá, 1 806 trung tá, 3 978 thiếu tá, 39 304 sĩ quan cấp úy, 35 564 cảnh sát, 1 932 nhân viên tình báo các loại, 1 469 viên chức cao cấp trong chính quyền, 9 306 người trong các đảng phái được cách mạng coi là phản động. Chỉ có 4 162 người phải truy bắt trong đó có một viên tướng và 281 sĩ quan cấp tá» (Huy Đức. Bên Thắng cuộc. q.1, tr 37) . Bộ sách gồm 2 quyển gần 1000 trang do tác giả xuất bản tại Boston (OSIN Book, 2012), lúc tác giả được một học bổng sang Mỹ tu nghiệp. Theo tác giả, ông đã dùng hơn 20 năm để tra cứu tài liệu và phỏng vấn nhiều lãnh đạo cao cấp của đảng cộng sản cũng như phe bại trận. So với các tài liệu của đảng xuất bản, bộ sách nầy cung cấp nhiều thông tin tương đối khả tín mà nhiều nguồn liệu trích dẫn, thí dụ như Wikipedia. 

Saturday, June 6, 2020

Lực Lượng Đặc Biệt Trong Trận Đồng Xoài – Trần Lý


Những trận tấn công của CQ để sửa soạn cho Trận Đồng Xoài :

Ngay từ tháng 5-1965, CQ đã mở nhiều cuộc tấn công quấy phá trong phạm vi Tỉnh Phước Long. Ngày 10 tháng 5 Tr đoàn 271, cùng Tiểu đoàn 840 Địa phương và quân đặc công đã tấn công Thị xã Phước Long, đồng thời Tr Đ 272 cũng tràn ngập các vị trí phòng thủ của QL VNCH tại Chi khu Phước Bình ..Trong một thời gian ngắn kiểm soát Tỉnh lỵ , CQ đã phá hủy nhiều ấp chiến lược trong khu vực như Bà Rá, Thuận Kiểm, Thuận Lợi, Phú Riềng, Đa Kia, Bù Đốp, Đức Bổn và Sông Bé. Để đối phó với cuộc tấn công và tạm chiếm Thị xã, Bộ TTM QL VNCH đã gửi TĐ 36 BĐQ đến giải tỏa. Ngày 11 tháng 5 hai đại đội BĐQ đã chạm địch dàn trận dọc Liên tỉnh lộ 13 và Q L 14 và bị thiệt hại trung bình. Quân VC rút khỏi trận địa ngày 12 tháng 5. Tại chi khu Phước Bình, CQ thuộc Tr đoàn 272 đã tràn ngận Chi khu sau 25 phút tần công và gây tổn thất cho 115 quân trú phòng..Đến 9 giờ sáng ngày 11 tháng 5, TĐ 34 BĐQ đã được trực thăng vận xuống một bãi đáp cách chi khu 14 km về phía Đông-Nam và từ đây tiến về Phước Bình..Tr đoàn 272 được lệnh chặn đánh BDQ tại điểm đổ quân nhưng BĐQ đã kịp di chuyển và sau đó tấn công TĐ 5 /Q 872 CQ và tái chiếm Chi khu. Ngày 15 tháng 5 CQ rút theo đường 20 và tấn công các đồn ĐPQ dọc QL.. (Hai Trung đoàn CQ có phiên hiệu là Q871 và Q872 theo quân sử CSBV)

Vài địa danh :– Quận Đồng Xoài hay Đôn Luân nằm ở giao điểm LTL 13 và QL 14 kiểm soát toàn khu vực Phước Long, Bình Long, Chơn Thành , Phú giáo..Đồng Xoài cách Biên Hòa khoảng 40 km – Trại LLĐB nằm dọc QL 14, cách Quận lỵ 2 km về phía Tây, cách Đức Phong 48 km về Tây-Nam và cách Saigon 80 km về phía Bắc- Đôngbắc. Trại có một sân bay trực thăng ngay cạnh QL 14. – Tỉnh Phước Long : Tỉnh lỵ đặt tại Phước Bình (còn gọi là Sông Bé) gồm 4 quận Bố Đức, Phước Bình, Đức Phong và Đôn Luân.. Năm 1957 : Quận Sông Bé được tách khỏi Biên Hòa và Bù Đốp (Bố Đức) tách khỏi Thủ dầu Một để lập ra Phước Long. Năm 1958 : khu Bù Gia Mập thành quận Phước Hòa nhưng sau đó bị bỏ. Khu Bù Đăng trở thành Phước Tân và sau đó thành Quận Đức Phong. Năm 1961 : khu vực Đồng Xoài thành quận Đôn Luân Ngày 25 tháng 5 1965, toán A-342 LLĐB Hoa Kỳ được trực thăng vận đến Đồng Xoài ( một quận của tỉnh Bình Long tại ven phía Bắc của Chiến Khu C (VC), và đóng tạm tại quận đường, tại đây đang có một toán Công binh ; toán 1104 của HQ HK (seabees) do Tr úy Frank Peterlin chỉ huy. Toán này đang xây dựng một căn cứ mới bao gồm công sự, nhà ỏ, các vị trí phòng thủ, đặt súng nặng và cả một phi đạo nhỏ.



Trong lúc toán seabees tiếp tục việc xây dựng, các đơn vị Việt-Mỹ được đưa đến để trú đóng gồm : – Toán A-342 AF gồm 11 quân nhân HK : Chỉ huy do Đại úy William M. Stoke, chỉ huy phó là Tr úy Charles Q. Williams.. – Toán A-351 LLĐB VNCH gồm 10 quân nhân do Đại úy Nguyễn Huy Đỗ chỉ huy – Các đơn vị Dân sự Chiến đấu (CIDG) : – Đại đội 327 CIDG : 120 quân gốc Miên – Đại đội 328 CIDG : 147 người, gốc Miên – Đại đội 342 CIDG : 118 quân Việt. – Cùng trú đóng tại căn cứ còn có : – Trung đội 111 ĐPQ/NQ có 40 quân nhân – Một chi đội 6 xe bọc thép M8 (thời Pháp còn lại) – Võ khí nặng có 2 đại bác 105 và 6 đại liên – Ngoài ra còn 9 quân nhân Seabees cùng tạm trú tại căn cứ
Ngay từ những ngày đầu tiên khi căn cứ được bắt đầu xây dựng, CQ đã liên tục pháo kích tuy rời rạc bằng súng cối vào khu vực trại, và đã có những dấu hiệu về việc CQ chuyển quân đến các khu vực chung quanh Quận lỵ . Đêm 19 tháng 6, trời không trăng và mây phủ, các toán CIDG và SF tuần tra quanh căn cứ, và đi xa hơn ra bên ngoài .. Căn cứ được tạm chia thành 4 khu vực riêng rẽ : khu vực võ khì nặng nơi pháo đội 105 và xe bọc thép trú đóng; khu vực quận đường nơi 8 dân sự Mỹ ở ; khu doanh trại CIDG nơi đóng quân của 2 đđ CIDG ; và khu cư trú của các quân nhân LLĐB VN cùng 12 SF Mỹ và các seabees. Nhóm quân nhân Mỹ cũng chia thành 2 toán nhỏ : 5 SF và 4 seabees cùng Tr úy Peterlin lo phòng thủ khu cực Bắc của khu vực. Một ĐĐ CIDG Miên lo nhiệm vụ bảo vệ khu gia binh của gia đình và thân nhân CIDG trong phạm vi Quận. Toán tiền đồn CIDG đóng bên ngoài vòng rào Trại bị đặc công CQ thanh toán êm lúc 11 giờ đêm 9 tháng 6 : toán này không mang theo hỏa châu và không có radio để báo động, và chỉ vài nhân viên chạy thoát được về căn cứ. Các Trung đoàn 272 (hay 762, theo tài liệu HK) và 273 (763) CSBV tiến về Căn cứ mà không bị phát giác.
CQ bắt đầu cuộc tấn công vào lúc 12 giờ 30 đêm, chúng pháo kích hàng loạt bằng súng cối vào khu vực phía Tây của Căn cứ. Hai SF đã tử thương ngay trong đợt pháo kích đầu tiên. Lúc này căn cứ chưa xây cất xong nên CQ cắt phá các hàng kẽm gai tại các khu vực chưa được bảo vệ bằng hỏa lực ‘đan lưới’. CQ tấn công mạnh vào khu vực Quận đường, chúng nhiều lần tiến sát đến các giao thông hào nhưng đều bị quân trú phòng đẩy lui bằng hỏa lực súng máy, phóng lựu M 79 và súng phóng rocket 3.5 inch .. dưới ánh sáng hỏa châu. Điều may mắn cho quân trú phòng là vì căn cứ đang xây dở dang nên đạn tồn trữ vẫn còn để rải rác tại.. giao thông hào và quân trú phòng không lo ..thiếu đạn ! Lô cốt tại góc Tây-Nam Căn cứ, nằm phân nửa dưới mặt đất , thành trung tâm kháng cự, đẩy lui các đợt tấn kích của CQ, nhưng sau đó lô cốt trúng đạn cối CQ và bị phá hủy, quân sống sót phải rút chạy về quận đường khi CQ tấn công, vượt tường đất trong đợt tấn kích lúc 2 giờ 30 sáng . Các liên lạc với khu vực CIDG đều bị cắt đứt sau khi trung tâm truyền tin bị trúng đạn cối VC, dây điện thoại bị cháy. SQ chỉ huy Toán bị thương nặng cả hai chân khi trúng đạn pháo kích và kể như không còn khả năng chỉ huy. Trận đánh vẫn tiếp tục dữ dội dọc giao thông hào; CQ lợi dụng màn đêm dùng từng toán đặc công 6-10 tên đột nhập tấn công bằng bộc phá và súng phun lửa ..Một toán 16 đặc công mình trần đã bị đẩy lui và thanh toán bằng cận chiến. Sau đó 2 CQ đã bò sát vòng rào và dùng súng phun lửa đốt quân trú phòng và tràn ngập vị trí phòng thủ của CIDG. Các quân nhân còn sống sót rút chạy lui hết về khu vực trung tâm Quận đường nhưng trong lúc này Quận đường chỉ còn lại một vị trí kháng cự nhỏ bên ngoài trụ sở quận. Chỉ huy phó toán A-342 , Trung úy Charles Q Williams, kiểm điểm lại quân số: Phía Mỹ 3 chết, 3 mất tích, số còn lại đều bị thương. Tất cả các CIDG, LLĐB Việt- Mỹ và seabees lui vào cố thủ trong một tòa nhà và liên lạc chỉ điểm mục tiêu cho trực thăng võ trang đến oanh kích bảo vệ cho tòa nhà. Xác CQ rải rác càng ngày càng nhiều quanh khu vực . CQ tiếp tục tấn công trong lúc trời đang sáng. Đến 9 giờ 30 sáng, CQ chiếm khu trường học và đặt súng máy tại đây để bắn áp đảo vào vị trí phóng thủ còn lại của quân VNCH. Trung úy Williams cùng một seabee đã bò ra cùng một khẩu bazooka và phá hủy ổ súng này bằng 4 quả đạn, khi bò trở lại vị trí, cả hai bị trúng đạn và tử thương. Đến trưa CQ dùng súng không giật 57 ly bắn phá, trung tâm phòng thủ cuối cùng bị phá hủy và CQ tràn ngập vị trí. Các quân nhân còn lại chạy về ụ súng cối của căn cứ và được trực thăng cứu thoát. Tr úy Williams đã được ân thưởng Huy chương Medal of Honor do sự can đảm và anh dũng của ông trong trận đánh. CQ đã dùng súng phun lửa đốt cháy toàn bộ khu gia cư của gia đình quân trú phòng, tàn sát 200 thường dân. Các đơn vị VNCH tiếp cứu được đưa đến Đồng Xoài..TĐ 52 BĐQ tấn công giải tỏa , tuy bị thiệt hại khá nhiều nhưng bắt tay được với các CIDG còn trụ lại vào 7 giờ sáng ngày 11 tháng 6 năm 1965. Ngày 12 tháng 6, trong khi không kích yểm trợ KQ HK đã mất một F-100 do phòng không CQ, Phi công Th tá Lawrence Holland nhảy dù nhưng dù mắc vào cây và ông bị CQ bắn chết. Trận Đồng Xoài tiếp diễn sau đó với các trận đánh đẫm máu của các đơn vị tiếp viện của VNCH gồm TĐ 1/7 SĐ5 BB và TĐ7 ND. Các bản báo cáo tổng kết sau trận đánh của 5 th SF và của Toán 310 LLĐB VNCH (Số 3859/3/HQ ghi lại các tổn thất của Mỹ và VNCH : Mỹ 5 tử trận, 16 (trong số 20) bị thương. LLĐB VN : 3 tử trận, 4 bị thương . DSCĐ : 40 tử trận, 54 bị thương, 124 mất tích. CQ bỏ lại quanh Căn cứ 134 xác. Số chết và bị thương kéo đi không rõ.

● Báo cáo hành quân của Phi đoàn trực thăng 118 Hoa Kỳ
Phi đoàn Trực thăng 118 AHC là phi đoàn đã trực tiếp tham dự trận Đồng Xoài từ ngày 10 đến 20 tháng 6 năm 1965. Phi đoàn đã oanh kích yểm trợ lực lượng trú phòng chống lại các đợt tấn công của CQ, đồng thời cũng chuyển vận các lực lượng tiếp cứu vào trận.. Bản báo cáo cũng chia thành hai giai đoạn : giai đoạn yểm trợ do các trực thăng võ trang và giai đoạn chuyển vận quân tiếp ứng : Vào 1 giờ sáng ngày 10 tháng 6, 1965 , Trung tâm Hành quân Chiến thuật Vùng 3 đã yêu cầu Phi đoàn 118 gửi ngay phi đội trực chiến đến Trại SF tại Đồng Xoài với lý do là Trại đang bị CQ pháo kích dữ dội từ nửa đêm, Trực thăng võ trang đã bay vào khu vực ngay 1 giờ 30 và ghi nhận các vị trí súng cối của CQ đồng thời cũng bị đạn súng nhỏ từ dưới đất bắn lên; 2 trực thăng võ trang đã yểm trợ cho đến khi hết đạn.. một phi công bị thương do đạn CQ. 6 giờ sáng 10/6, tất cả các trực thăng của PĐ 118 rời Biên Hòa để về Đồng Xoài, tập trung tại Phước Vĩnh. Tại đây các trực thăng vận chuyển đã được sử dụng để đưa TĐ 1/7 SĐ5 BB VNCH vào trận..(Xin xem phần viết riêng về chuyển vận).
PĐ 118 tạm thời giữ vai trò liên lạc chiến trường giữa quân trú phòng và Bộ Chỉ huy Hành quân QĐ 3.. cho đến khi quân trú phòng bị mất liên lạc sau 18 giờ bị tấn công liên tục. PĐ được yêu cầu giúp di tản các quân nhân Mỹ-Việt đang còn cố thủ. 3 trực thăng cấp cứu cùng 2 trực thăng võ trang hộ tống đã tình nguyện vào vùng. Sau khi KQ oanh kích dọn đường, đoàn trực thăng võ trang đã bay vào vùng quận đường từ hướng Nam. Cách khu vực phía Nam của Trại LLĐB khoảng 250 m có một dòng sông nhỏ, cạn, nơi đây CQ đã dấu 2 chiếc xe M8 mà chúng lấy được từ quận đường, các trực thăng võ trang đã hủy diệt 2 xe này bằng rocket tránh việc CQ có thể dùng đại liên .50 trên xe để bắn vào các vị trí cố thủ của quân trú phòng. Các trực thăng chuyển vận bay sát theo sau các trực thăng võ trang và đáp nhanh xuống sân vận động Quận ngay bên cạnh Trại SF. CQ nhắm bắn các trực thăng chỉ cách đó khoảng 50 m. Phi công nhảy khỏi phi cơ dùng M 14 vừa chạy vừa bắn xông vào tòa nhà để kéo các quân nhân bị thương chạy ra..Trực thăng đã cứu được 9 quân nhân HK bị thương và 8 quân nhân VN khỏi tòa nhà cố thủ này.. đây là quân nhân cuối cùng thoát chạy được. Ngay sau khi cuộc giải cứu hoàn tất, KQ HK đã ném bom hủy diệt các mục tiêu trong Quận. Xế trưa 10/6, TĐ 52 BĐQ đến Phước Vĩnh và dự trù được đưa vào Đồng Xoài
(Xin xem phần tiếp về TĐ 52 BĐQ)
 Trần Lý (6-2019)

Friday, June 5, 2020

Tiểu Đoàn 4 TQLC Kình Ngư: Những Năm Tháng Sau Cùng !


Khi nhắc tới Tiểu đoàn 4 TQLC là người ta nghĩ ngay đến trận đánh Bình Giã, cũng như Tiểu đoàn 5 gắn liền với trận Mộ Đức, Quảng Ngãi, và Tiểu đoàn 2 với trận phản phục kích tại quận Phong Điền, Thừa Thiên Huế. Đây là những trận đánh lịch sử của QLVNCH.Toàn thể các vị Tiểu đoàn trưởng đều đã hy sinh cùng hầu hết các sĩ quan Tham mưu trong đơn vị.
Trận Bình Giã xảy ra vào những ngày cuối tháng 12- 1964 khi khóa 19 Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt vừa mới ra trường.Có 5 tân sĩ quan về đơn vị mới, thì 2 đã bị thương năng, và 2 tử trận. Đặc biệt sự hy sinh đáng tiếc của Thủ khoa Võ Thành Kháng và Niên trưởng Nguyễn Hùng đã là một mất mát vô cùng lớn lao cho QLVNCH, những người con yêu tổ quốc, đã được rèn luyện công phu suốt nhiều năm trời dưới mái trường Võ bị. Niên trưởng Trần Ngọc Tòan Đại đội trưởng khóa 16 Đà Lạt cũng đã bị thương rất nặng, thất lạc trong rừng sâu nhiều ngày và sự sống còn là điều rất may mắn, hy hữu.
Ngày xưa các thẩm quyền thường gọi Tiểu đoàn 4 là Tiểu đoàn Hoàng-Gia, trong những lúc trà dư tửu hậu.Tuy đây chỉ là lời nói đùa nhưng nhìn chung thì cũng có phần hữu lý, vì đơn vị nầy đã từng được chỉ huy bởi các Đại bàng Lạng Sơn và Tango, 2 vị Trưởng và Phó Tư Lệnh Sư Đoàn. Phần đông các sĩ quan chỉ huy xuất sắc, nồng cốt trong Binh chủng cũng đã xuất thân từ Tiểu đoàn nầy,
Nhắc lại chuyện xưa chẳng qua là dip để nhớ lại những kỷ niệm của một thời để thương và để nhớ, một giai đoạn lịch sử vàng son nhất của người lính Mũ xanh sát Cộng QLVNCH.
Vào những ngày tháng Ba buồn thảm hàng năm, để tưởng nhớ tất cả các chiến sĩ QLVNCH thuộc mọi Binh Chủng đã nằm xuống một cách thật oan uổng, trong những giờ phút cuối cùng của cuộc chiến tại bờ Nam cửa biển Thuận An, đặc biệt nhất là các chiến hữu Mũ xanh Kình Ngư Tiểu đoàn 4 TQLC.
Người viết xin ghi lại những ngày tháng không thể nào quên trong cuộc đời binh nghiệp của mình ở đơn vị Tiểu đoàn 4 nầy, dù chỉ có duyên phục vụ vỏn vẹn 2 năm trời, nhưng những tình cảm thân quý của người lính Mũ xanh Kình Ngư mãi mãi là những kỷ niệm tốt đẹp nhất trong đời mình bằng một thứ tình “Huynh đệ chi binh” trân trọng, quý hiếm.
Từ một tên Thiếu úy “sữa” mới ra trường đến khi đảm trách chức vụ Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 2 TQLC, được thăng cấp Thiếu tá vào năm 1972 trong trận tái chiếm lại Cổ thành Quảng Trị. Tôi có lẽ là người may mắn nhất chưa một lần bị thương nặng phải vào ra bệnh viện, mặc dầu đã có mặt hầu như đầy đủ trong các cuộc hành quân, chỉ trừ hơn nữa năm vắng mặt theo học khóa Basic School tại Hoa Kỳ vào đầu năm 1969.
Sau trận đánh Cổ thành Quảng Trị, Sư đoàn TQLC lại phải vô cùng vất vả, còn phải hy sinh biết bao xương máu nữa, để tiếp tục chiếm lại những vùng đất bị mất vào tay giặc vào mùa Hè đỏ lửa 1972. Cánh B Tiểu đoàn 2 do tôi đảm trách gồm Đại đội 2 của Đại úy Từ Đức Thọ và Đại đội 5 của Đại uý Huỳnh văn Trọn phải chiến đấu ngày đêm, giành giật từng tấc đất với kẻ thù trên mặt trận vùng phía Bắc Chợ Cạn. Với địa thế toàn những đồi cát trắng trống trải, không thuận lợi cho việc tiến quân, cùng những cơn gió rét lạnh cắt da đã làm chậm bước tiến quân rất nhiều.Đơn vị đã bị tổn thất khá nặng, số binh sĩ bổ sung không bằng số thương binh hao hụt mỗi ngày Thương cấp biết được tình hình nên đã điều động Tiểu đoàn 5 TQLC thay thế.Niên trưởng Thiếu tá Trần Vệ Tiểu đoàn phó, người thay thế tôi cũng đã bị thương nặng trong chuyến đổi quân nầy.
Tiểu đoàn 2 chúng tôi được lui về phía sau để nghỉ dưỡng quân và tái trang bị, phòng thủ bảo vệ Bộ chỉ huy Lữ đoàn 147 tại đồi cát “Hội Yên”.Vào một buổi trưa trời không nắng, tôi nhận được lệnh trình diện Đại bàng Lạng Sơn, lý do sẽ cho biết sau.Tôi được thông báo là sẽ thuyên chuyển về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 4 thay thế Đại úy Trịnh Hữu Phước, còn Trung tá Nguyễn Đằng Tống thay Trung tá Trần Xuân Quang trong chức vụ Tiểu đòan trưởng, Thiếu tá Nguyễn Phúc Định từ Tiểu đoàn Sói biển cũng được điều động về làm Trưởng ban 3 thay Trung úy Trần Kim Tài, Đại đội trưởng Đại đội chỉ huy kiêm nhiệm.
Một thoáng bất ngờ cộng thêm một ít buồn man mát trong lòng.Nhưng dầu sao đây cũng là một cái lệnh mà vị Tư lệnh muốn dăn dò đặc biệt cho tôi, thay vì chỉ cần ban ra một quyết định để thi hành.Cá nhân tôi đã có quá nhiều chuyện buồn nơi đơn vị cũ và việc ra đi lúc nầy cũng là môt cơ hội tốt.. Nhưng làm sao tôi không khỏi đau lòng khi phải rời xa đơn vị thân yêu mà mình đã từng phục vụ trong suốt hơn sáu năm trời. Tôi nhớ những người lính còn lại rất ít ỏi của tôi trong trung đội đầu đời, thương những thuộc cấp của Đại đội 5 mà tôi là người Đại đội trưởng đầu tiên kể từ ngày thành lập Rồi đây tôi sẽ phải nói lời chia tay với họ, nhất là những chiến hữu thuộc Bộ chỉ huy cánh B, những người đã cùng tôi luôn chịu thiệt thòi khổ sở nhất, hy sinh rất nhiều nhưng quyền lợi thì chẳng được bao nhiêu.Thật sư là tôi đã không cầm được nước mắt khi hấp tấp nói lời chia tay với họ, nhưng dầu sao đây là cái lệnh phải thi hành
Tôi nhớ mãi, đó là cái buổi chiều buồn mây đen xám xịt cuối tháng 11-1972.Bầu trời âm u, cùng những cơn mưa dầm tầm tã, trên chiếc thiết vận xa M 113 do người tài xế lái còn có thêm Hạ sĩ 1 Lê Hồng Quảng Nam, người đã cùng tôi khổ cực, sống chết thủy chung suốt nhiều năm trời, đây là món quà đặc biệt mà thương cấp đã ưu ái dành cho tôi được mang theo trong chuyến đi nầy.
Trung tá Tống đã đón tôi tại Bộ chỉ huy Tiểu đoàn vào lúc trời nhá nhem tối.Trên các tuyến đầu lửa đạn các đơn vị vẫn còn đang giao tranh, tiếng gầm thét của phi cơ cùng đủ loại pháo binh địch, ta rơi rớt khắp đó đây.Trong căn lều vải nằm ven biển sóng vỗ rì rào, có quá nhiều thương binh từ các đại đôị tuyến trên đưa về. Những y tá và các người lính Đại đội chỉ huy đang bận rộn băng bó và di tản họ về lại tuyến sau Qua hệ thống liên lạc truyền tin các Đại đội vẫn còn đang bị đè nặng dưới áp lực của địch, binh sĩ luôn giữ chặt tay súng chiến đấu dưới các giao thông hào.
Những người lính Kình Ngư rất vui mừng đón tiếp chúng tôi như người thân thuộc xa cách nhiều năm nay mới trở về .Họ niềm nở lo cho tôi chỗ ăn, chỗ ngủ.Dĩa cơm gạo sấy cùng một một ít nước còn lại trong chiếc bidong chiều hôm đó quả đã làm tôi cảm thấy ấm lòng.Những ám danh đàm thoại khác lạ nhưng rất thân thiện, êm tai mà tôi chưa từng được nghe ở đâu bao giờ. Bạch Yến, Sao Mai, những danh xưng đặc biệt chỉ dành cho Tiểu đoàn phó, và các vị Đại đội trưởng không rõ xuất xứ từ bao giờ nhưng đã được mọi cấp quen thuộc sử dụng hàng ngày..
Đại đội 1 do Trung uý Huỳnh văn Xuân xử lý thường vụ, là đơn vị bị tổn thất nhiều nhất thì đang bảo vệ Bộ chỉ huy Tiểu đoàn .Đại đội 2 do Đại uý Ngô hữu Đức chỉ huy, người giàu kinh nghiệm và thâm niên nhất. Đại đội 3 Trung uý Mai văn Hiếu, Đại đội 4 Trung úy Dương tấn Tước làm Đại đội trưởng.Cả 2 anh đều xuất thân cùng một khóa nên rất thân tình, hết lòng thương yêu thuộc cấp và gắn bó giúp đỡ lẫn nhau Chúng tôi rất dễ cảm thông vì cùng xuất thân từ một quân trường “ Mẹ”. Đại đội chỉ huy do Trung úy Trần Kim Tài đảm trách, rất nghiêm nghị nhưng rất hết lòng với mọi công tác được giao phó.
Trước khi về đơn vị mới nầy, tôi được báo trước những gì đã xảy ra qua lời dặn dò của vị Tư lệnh Sư đoàn.Tiểu đoàn vừa thất bại trong một cuộc lui binh làm mất đi một số chiến xa tăng phái của Thiết đoàn 17 từ vài ngày trước.Binh sĩ đã bị mất tinh thần rất nhiều, và sự có mặt của tôi và Trung tá Tống cũng không ngoài mục đích và lý do nầy.
Chúng tôi đã đến thăm từng vị trí chiến hào vào sáng ngày hôm sau khi đến đơn vị. Địch vẫn còn bám ta rất sát, rất nguy hiểm khi phải di chuyển băng qua những đồi cát trống, nơi địch đang rình rập kiểm soát sự chuyển quân của ta.
Biết được ý của địch thế nào cũng thừa thắng xông lên, nên thượng cấp đã đặc biệt lưu ý chúng tôi là lúc nào cũng phải đề cao cảnh giác.Chúng tôi đã bàn bạc rất kỹ với các đơn vị trưởng về những tình huống xấu rồi sẽ xảy ra, thiết lập một kế hoạch để sẵn sàng đối phó. Hệ thống phòng thủ phải tu bổ lại vững chắc, tăng cường thêm nhiều bao cát nơi các ổ súng cộng đồng Đạn dược, nhất là lựu đạn và mìn Claymore phải được tận dụng tối đa quanh tuyến phòng thủ.Thiết lập thêm nhiều hỏa tập pháo binh tiên liệu để khi cần tác xạ ngay đúng lúc.
Đúng như tiên đoán, địch đã điều động nguyên cả Trung đoàn tấn công sau đó một tuần.Nhờ sự yểm trợ của các Pháo đội cơ hữu, binh sĩ lên tinh thần chiến đấu suốt đêm đã đẩy lui nhiều đợt xung phong của địch.Cuối cùng chúng bị thảm hại và phải rút quân trước khi trời sáng, để lại gần 30 xác cùng nhiểu vũ khí đủ loại trong vòng đai phòng thủ.Thừa thắng xông lên quân ta đã chiếm lại vùng đất và các chiến xa bị mất vào hôm trước.
Tiểu đoàn 4 TQLC đã có được một chiến thắng phục thù.Thiếu tướng Tư lệnh đã đến thăm ngợi khen binh sĩ tại chiến trường, và ra lệnh cho đơn vị về phía sau nghỉ dưỡng quân và tái trang bị.
Đã có nhiều thay đổi nhân sự trong thời gian nầy Đại úy Dương công Phó từ Tiểu đoàn 5 về thay thế Trung úy Xuân chức vụ Đại đội trưởng đại đội1, sau khi mãn khóa học Đại đội trưởng tại trường Bộ binh Thủ Đức. Đại úy Nguyễn Tri Nam từ Trung tâm huấn luyện TQLC ra thay Thiếu tá Nguyễn Phúc Định về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 8, trong chức vụ Trưởng ban 3. Nam cũng vừa học xong khóa Basic School TQLC từ Mỹ trở về.Là một sĩ quan tham mưu xuất sắc, thông minh nhanh nhẹn, tánh tình hoà nhã với mọi người, rất siêng năng và hết lòng thương yêu thuộc cấp.Anh chưa bao giờ làm Đại đội trưởng tác chiến, nhưng lại là người được thăng cấp Thiếu tá và đảm nhận chức vụ Tiểu đoàn phó đầu tiên của khóa 22 A Võ bị trong Sư đoàn.
Một tháng sau đó đơn vị lại có lệnh lên đường chuẩn bị cho một cuộc hành quân mới. Hành quân tiến chiếm lại Cửa Việt trước ngày hiệp định Paris về cuộc chiến Việt Nam có hiệu lực Một lực lượng Đặc nhiệm Tango cấp thời được thành lập do Đại tá Tư lệnh phó chỉ huy, cộng thêm Thiết đoàn 20 chiến xa tăng phái. Đây là một cuộc hành quân thần tốc “Nhị thức bộ binh thiết giáp”.Tiểu đoàn 4 là lưc lương xung kích chính, sau nầy được tăng viện thêm 2 Đại đội của Tiểu đoàn 2.Các lưc lượng tiến chiếm đã hoàn tất công tác được giao phó trước giờ ngưng bắn 2 phút Nhưng sau đó vì sự lật lộng gian manh của địch, chúng ta đành phải rời bỏ vị trí mà ta chiếm được, sau 3 ngày đêm nằm chịu trận mà không có bất cứ một sự yểm trợ nào. Sự tổn thất của các đơn vị tham chiến lần nầy quá lớn lao về nhân sự cũng như vũ khí bỏ lại tại chiến trường.
Đầu tháng 10 năm 1973, Trung tá Nguyễn Đằng Tống được lệnh về làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn 147 với Trung tá Đỗ Hữu Tùng Lữ đoàn trưởng.Thiếu tá Trần Ngọc Toàn vừa về nước tháng 8-1973, sau khi mãn khóa học Chỉ huy và Tham mưu TQLC Hoa kỳ được thượng cấp chỉ định thay thế.Đây là đơn vị đầu đời của Niên trưởng từ khi mới ra trường, cá nhân tôi vẫn làm phó Tiểu đoàn 4 TQLC nầy cho đến giữa tháng 1-1975, được bổ nhiệm chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 TQLC, Đại úy Nguyễn Tri Nam vừa được thăng cấp Thiếu tá thay thế tôi chức vụ nầy.
Thời gian sau nầy có nhiều thay đổi nhân sự trong Tiểu đoàn, Đại úy Ngô Hữu Đức được thuyên chuyển về làm Trưởng ban 3 Tiểu đoàn 7 TQLC, Trung úy Tô Thanh Chiêu cũng từ Tiểu đoàn 5 về thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2.Chiêu có người anh ruột là Dân biểu VNCH, nhưng anh lại là người thích ở đơn vị đấm đá.. Nước da ngâm đen, da mặt sần sùi, trông thật dữ tợn, nơi bàn tay phải chỉ còn 4 ngón không ai rõ nguyên do, nhưng thật sự anh lại là người hiền nhất và rất có uy với thuộc cấp.Thẳng thắn và hay chọc quê “tếu”với bạn bè, giọng cười hô hố đặc biệt, không đẹp trai, nhưng lại có duyên ngầm, Người yêu của anh là một cô gái rất đẹp, con một chủ quán giàu có ở bãi trước Vũng Tàu.
Đại úy Dương Công Phó cũng được về học khóa Bộ binh cao cấp.Sau nầy, anh là Trưởng ban 3 của Tiểu đoàn 18 tân lập.Trung úy Trần Kim Tài vừa thăng cấp Đại úy thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 1.Trung úy Dương Tấn Tước, vị sĩ quan độc thân suốt đời, yêu lính hơn yêu chính bản thân mình, vừa được thăng cấp Đại úy có lệnh thuyên chuyển về làm Đại đội trưởng Đại đội Viễn Thám “A”,Trung úy Võ văn Gắt Đại đội phó thay chức vụ Đại đội trưởng đại đội 4.
Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường vào những ngày đầu tháng ba 1975.Bộ Tổng tham Mưu QLVNCH đã quyết định điều động phần lớn các lực lượng TQLC về Nam gồm các Lữ đòan 258, 369.Chỉ còn lại Lữ đoàn 147 do Đại tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy, gồm các Tiểu đoàn 3,4,5,7, 2 Pháo binh cùng Đại đội Viễn thám của Đại úy Nguyễn tấn Lực.Thay vào đó, là 2 Liên đoàn Biệt Động Quân với trang bị và quân số thiếu hụt Đây là khởi điểm cho tất cả sự bỏ ngõ sau nầy ở mặt trận Bắc Quảng Trị.
Mãi cho đến chiều tối ngày 8-3-1975, địch bắt đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào Trung đội tiền đồn tại đồi 51 căn cứ Tư Tưởng, hướng Tây quốc lộ 1, cây số 23 vùng Cổ Bi, Hiền Sĩ. Đơn vị được chỉ huy bởi Thiếu úy Nguyễn văn Sáng Đại đội phó Đại đội 2, đã chiến đấu chống trả can trường, đẩy lui nhiều đợt xung phong biển người của địch.Lần liên lạc sau cùng qua hệ thông vô tuyến, anh yêu cầu pháo binh chụp thẳng trên đầu mình vì vị trí phòng thủ đã bị địch tràn ngập. Anh đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng lựu đạn với kẻ thù.
Sáng sớm ngày hôm sau, Thiếu tá Trần Ngọc Toàn điều động toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ sự yểm trợ thật chính xác của các phi vụ A 37 thuộc không lực Vùng 1 chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ tình hình.Xác địch nằm ngổn ngang trong các bãi mìn của hàng rào phòng thủ, hơn 20 tên bị ta bắt sống ẩn trú trong các buội rậm. Đây là trận đánh lớn nhất và sau cùng của đơn vị TQLC vào những ngày cuối cùng tại mặt trận Quảng Trị. Mặc dầu thời gian nầy, cá nhân tôi đã là Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 TQLC rồi, nhưng vì 2 đơn vị phòng thủ liên quan với nhau trên chạm tuyến, qua hệ thống liên lạc hàng ngang, nên tôi nắm rất rõ tình hình.
Lữ đoàn 468 cũng cấp tốc được thành lập với các Tiểu đoàn tân lập 14-16-18 Đại úy Mai văn Hiếu cùng toàn thể Đại đội của anh thuyên chuyển về Tiểu đoàn tân lập 16, Trung úy Hồng Minh So Đại đội phó thay thế chức vụ Đại đội trưởng Đại đội 2.Trung úy Huỳnh văn Xuân lại về làm Đại đội trưởng Đại đội chỉ huy. Chiêu cũng vừa thăng cấp Đại úy sang làm Đại đội trưởng Đại đội 3.Đại úy Nguyễn Minh Trí từ Tiểu đoàn 9 Mãnh hổ cũng được thuyên chuyển về làm Trưởng ban 3 trong thời gian nầy.
Thiếu tá Niên trưởng Đinh Long Thành được lệnh bàn giao chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 4 với Thiếu tá Trần Ngọc Toàn vào ngày 20-3-1975 trong sự thiếu chuẩn bị, hấp tấp vội vàng. Không đủ thời gian nắm rõ được tình hình đơn vị. Mọi việc điều hành chỉ trông cậy vào Tiểu đoàn phó Nguyễn Tri Nam và các vị Đại đội trưởng.
Nam và Chiêu là hai người thân nhất và có quá nhiều kỷ niệm với tôi. Nhưng số phận đã không may xảy đến cho họ vào buổi chiều ngày 24-3-75 khi các anh đang điều động binh sĩ rải tuyến đóng quân. Cả 2 đều đã hy sinh trong những giờ phút sau cùng bằng loạt đạn bắn tỉa của tên du kích. Đây là một thiệt hại vô cùng to lớn và là nguyên nhân dẫn đến sự tan hàng quá sớm của Tiểu đòan 4 vào những ngày cuối cùng tại bãi biển Thuận An. Vì mất hệ thống chỉ huy, các Đại đội chỉ còn cách tự lo liệu lấy thân, nên Trung úy Hồng Minh So đã dẫn nguyên Đại đội 2 của mình lên tàu vào sáng ngày 26-3-1975 cùng với Bộ chỉ huy Lữ đoàn. Đại đội trưởng Đại đội 4 Võ văn Gắt thì tập họp binh sĩ còn lại tuyên bố tan hàng, mạnh ai nấy lo, vì có lệnh “Các đơn vị tự lực cánh sinh” từ Sư đoàn TQLC qua lời chuyển tiếp của thẩm quyền Đại Dương, Đại úy Đan tùy viên Tư lệnh. Riêng Tiểu đoàn trưởng Đinh Long Thành thì bị kẹt cứng trên chiếc tàu mắc cạn, cùng đủ loại binh sĩ thuộc nhiều đơn vị khác nhau, không còn cấp chỉ huy, và Niên trưởng đã may mắn thoát nạn về tới Sài- Gòn trước ngày miền Nam thất thủ.
Cuộc chiến đấu của những người lính Mũ xanh thuộc Lữ đoàn 147 cùng nhiều đơn vị bị bỏ rơi lại tại tuyến đầu, đã bị kết thúc một cách thua thiệt oan uổng ngoài dự đoán của mọi người. Gần 3000 binh lính đủ mọi Binh chủng đã bị trói tay tại mặt trận vào những ngày cuối tháng ba 1975, đã là trang bi kịch đen tối trong chiến sử Quân đôi Việt Nam Cộng Hòa. Họ sớm bắt đầu cuộc đời tù đày khi đất nước chưa lọt vào tay giặc.
Cũng tháng ba năm 1971 của 39 năm về trước, vào các ngày 22-23 Lữ đoàn 147 do Đại tá Hoàng Tích Thông chỉ huy đã phải di tản chiến thuật trong cơn Uất hận Hạ Lào. Bằng cuộc hành quân có tên “Lam Sơn 719”, các cấp chỉ huy cao cấp nhất của QLVNCH đã ném toàn bộ binh sĩ thiện chiến nhất của mình vào đất địch tại vùng rừng núi Tchépone hẻo lánh xa xôi, nơi không phải là đất nước mình.Tứ bề thọ địch, hàng ngàn chiến sĩ anh dũng đủ mọi Binh Chủng phải chiến đấu kiên cường trong điều kiện bất lợi hoàn toàn.
Để rồi vào tháng ba năm 1975 cũng chính những chiến sĩ quả cảm Lữ Đoàn 147 được chỉ huy bởi Đại tá Nguyễn Thế Lương thêm một lần thọ nạn, họ cũng bị bức tử từ những cấp chỉ huy cao nhất của mình, bằng một cái lệnh vất bỏ không thương tiếc. Nói theo một chiến hữu Kình Ngư, nhà văn Cao Xuân Huy thì đó là ngày “Tháng ba gãy súng”. Súng của chúng tôi có phải bị bẻ gãy không khi mà vẫn còn có thể tiếp đạn cho chúng tôi chiến đấu!
Súng đã gãy và Tiểu đoàn 4 TQLC, một đơn vị tác chiến hàng đầu của QLVNCH cùng toàn thể những chiến sĩ quả cảm thuộc đủ loại Binh Chủng tại nơi tuyến đầu lửa đạn, cũng đã phải tan hàng theo vận nước nổi trôi.Một cuộc lui binh chưa từng được được viết ra trong binh pháp, và cũng chưa đơn vị nào đem ra áp dụng bao giờ Đó là lần đầu tiên và cũng là lần cuối cùng đem đến sự đại bại thảm hại nhất trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam Tự Do.
Mũ xanh Phạm văn Tiền F/20