Friday, June 5, 2020

TĐ4/TQLC - Bình Giả ơi ! Còn nhớ mãi MX Trần Vệ

Trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, khi nói đến các Tiểu đoàn, chúng ta thường hình dung một địa danh gắn liền như Tiểu đoàn 1 với Đầm Dơi, Tiểu đoàn 2 với Tam Quan-Bồng Sơn, Tiểu đoàn 3 với Ba Gia, Tiểu đoàn 4 với Bình Giả... Cũng như trong Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, khi nhắc đến binh chủng Mũ Xanh oai hùng Thủy Quân Lục Chiến thì từ quân đội cho đến dân chúng, ai cũng nghĩ đến chiến thắng Quảng Trị. Bởi vì ở những địa danh ấy, các đơn vị Thủy Quân Lục Chiến đã để lại những chiến tích lừng lẫy. Tuy nhiên họ cũng gởi lại nơi đó những kỷ niệm anh dũng có, thương đau có, kèm theo những mất mát không thể tránh được khi giao tranh đụng độ giữa lằn tên mũi đạn.
Cuộc đời binh nghiệp của tôi cũng vậy, gắn liền với 2 đơn vị: Tiểu đoàn 4 Kình Ngư và Tiểu đoàn 5 Hắc Long. ở Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến, tôi từ một thư sinh tốt nghiệp Sĩ quan Đà Lạt bước vào đời lính ở đó. Tiểu đoàn 4 như một bà mẹ, đã dẫn dắt tôi, hướng dẫn tôi từng bước một, từ Trung đội trưởng, Đại đội phó, rồi Đại đội trưởng với những kinh nghiệm thực tiễn. Sau 8 năm sương gió, tôi rời Tiểu đoàn 4 với lòng tự tin của một kẻ trưởng thành, về làm Tiểu đoàn phó Tiểu đoàn 5 Hắc Long để hướng dẫn các Đại đội đối đầu với địch trong một trận chiến ngày càng khốc liệt, gian nan và nguy hiểm hơn. Đã từng một thời gắn liền với Tiểu đoàn 4 nên tôi không thể nào quên được trận chiến Bình Giả, nơi các chiến sĩ Kình Ngư đã phải đổ bao mồ hôi, máu và nước mắt để đem lại chiến thắng vang danh này.
Chúng tôi gồm: Võ Thành Kháng Thiếu úy Thủ khoa khóa 19 Đà Lạt, Nguyễn Văn Hùng tự Hùng Râu, Hồ Ngọc Hoàng, Thái Bông, Đỗ Hữu Ái, và Trần Vệ là 6 sĩ quan Đà Lạt về trình diện Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến tại Bộ Tư lệnh Lê Thánh Tôn vào một buổi sáng tháng 12 năm 1964. Với dáng điệu lính mới tò te, chúng tôi súng sính trong bộ quân phục kaki vàng, đứng chờ trình diện Trung tá Bùi Thế Lân, Tham Mưu trưởng Lữ đoàn Thủy Quân Lục Chiến.
Bước vào phòng Tham mưu, Võ Thành Kháng trả bài đúng cơ bản thao diễn Đà Lạt, hô nghiêm nghỉ rồi chào Trung tá Tham mưu trưởng rất oai phong. Trung tá Lân gật gật đầu có vẻ hài lòng, sau khi điểm qua từng người, hỏi thăm và dặn dò, ông nói tiếp:
- Các anh được chuyển về Tiểu đoàn 4, hậu cứ đóng ở Vũng Tàu, nhưng Tiểu đoàn đang hành quân ở Dĩ An, Biên Hòa. Phòng 4 sẽ có phương tiện đưa thẳng các anh về trình diện Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn Hành quân.
Rời khỏi Bộ Tư Lệnh Lữ đoàn ở trại Lê Thánh Tôn, chúng tôi đến Bộ chỉ huy Tiểu đoàn Hành quân thì thấy không khí ở đây có vẻ xôn xao. Thì ra Tiểu đoàn đang chuẩn bị để ngày mai chuyển quân. Lúc bấy giờ Tiểu đoàn trưởng là Thiếu tá Nguyễn Văn Nho, người gầy cao, và Tiểu đoàn phó là Đại úy Hoán, dáng to lớn, mặt đỏ au. Y sĩ trưởng là Bác sĩ Trương Bá Hân. Đại đội trưởng Đại đội 1 là Trung úy Trần Ngọc Toàn, Đại đội trưởng Đại đội 2 là Trung úy Đỗ Hữu Tùng, Đại đội trưởng Đại đội 3 là Thiếu úy Trịnh Văn Huệ, Đại đội trưởng Đại đội 4 là Trung úy Nguyễn Đằng Tống.
Hùng râu và Võ Thành Kháng về Đại đội 2, Hồ Ngọc Hoàng và Đỗ Hữu Ái về Đại đội 1, Thái Bông về Đại đội 4 và tôi về Đại đội 3. Trịnh Văn Huệ là sĩ quan Đà Lạt khóa 17, là khóa đã huấn luyện khóa 19 chúng tôi ở trong trường Võ bị cho nên khi thấy tôi nghiêm chào, ông cười và nói:
- Thôi được, ở đây khỏi chào với cổ 3 ngấn. Sao đi phép có vui vẻ không, và sẵn sàng hành quân chưa ?
- Dạ thưa Thiếu úy, đi phép được 1 tháng. Sáng nay trình diện Bộ Tư lệnh xong là được đưa ngay xuống đây. - Tiểu đoàn sắp di chuyển vào ngày mai, lệnh cấm trại 1OO% cậu thay quần áo, lấy đồ cần dùng, còn tất cả gửi ở Hậu trạm, khi nào Tiểu đoàn về hậu cứ hãy lấy.
Quay qua một sĩ quan đang ngồi ở bàn bên, có lẽ đang phát lương cho lính, Trịnh Văn Huệ kêu:
- Ê, Lịch có sĩ quan mới về, qua đây tôi giới thiệu.
Tôi bắt tay và được biết Hồ Quang Lịch là sĩ quan khóa 12 Thủ Đức đang mang cấp bậc Thiếu úy. Sau này chúng tôi gắn bó với nhau rất thân thiết, cho nên khi Lịch giữ chức Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 5 Hắc Long, anh cố xin cho tôi về làm Tiểu đoàn phó là vì vậy. Lúc đó có một sĩ quan bước vào, Huệ giới thiệu với tôi Thiếu úy Phạm Hữu Hoàng Sơn, khoá 9 Thủ Đức, là Đại đội phó. Thiếu uý Sơn mới đi phép về, anh thân mật bắt tay tôi. Một sĩ quan khác dáng nhỏ nhưng nhanh nhẹn, sau khi lãnh lương chạy lại bên Sơn nói:
- Thiếu úy đi phép về có quà gì không ?
Phạm Hữu Hoàng Sơn cười hề hề:
- Quà cái con khỉ mốc, tao vừa dứt phép định về Vũng Tàu lấy một mớ đồ nhưng Bộ tư lệnh không cho, bảo phải ra Tiểu đoàn hành quân ngay, cho nên có kịp làm gì đâu.
Sơn quay qua giới thiệu với tôi:
- Đây là Chuẩn úy Lâm Xuân, Trung đội trưởng Trung đội 3.
Tôi với Lâm Xuân sau này trở thành cặp bài trùng ở Đại đội 3 cho đến ngày tôi đi du học Hoa Kỳ năm 1968. Ngày hôm sau, Tiểu đoàn ra lệnh các Đại đội sẵn sàng tại chỗ, phát lương khô 5 ngày, đợi xe đến là di chuyển. Hồ Quang Lịch từ Bộ chỉ huy Tiểu đoàn về hí hửng cầm tờ giấy phép và nói:
- Tao đi phép đây, mới gặp mày, chưa kịp nhậu 1 chầu... Thôi để về Vũng Tàu tao sẽ khao mày.
Được biết Hồ Quang Lịch là 1 tay nhậu hũ chìm, uống rượu như uống nước lã, chả bao giờ say. Tôi cũng có máu rượu trong người nên về sau anh khoái tôi ở chổ đó.
Đại đội trưởng đi họp ở Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn về họp các sĩ quan Đại đội phó và Trung đội trưởng để ban lệnh hành quân. Bây giờ tôi mới biết thêm Chuẩn úy Nguyễn Văn Nư, Trung đội trưởng Trung đội 1 và Trung sĩ I Thạch Biên xử lý thường vụ Trung đội 2. Trịnh Văn Huệ chỉ vào bản đồ giải thích:
- Tiểu đoàn mình sẽ di chuyển bằng xe về Phước Tuy, sau đó di chuyển bộ đến Bình Giả, cách Bà Rịa 5 cây số về phía Tây. ở đây Biệt Động Quân đang đụng địch, ta có bổn phận vào tiếp ứng cho bạn.
Sau khi ban lệnh hành quân, Đại đội trưởng quay qua hỏi Đại đội phó Hoàng Sơn:
- Đại đội đã sẵn sàng chưa, cho tôi xem bản quân số.
Hoàng Sơn tay đưa bản quân số cho Huệ và nói:
- Dạ thưa Thiếu úy xong, à còn Thiếu úy Trần Vệ, Thiếu úy định cho ra Trung đội nào ?”
ở trong quân đội rất có tôn ti trật tự, mặc dù cùng một cấp bậc nhưng chức vụ cao và thâm niên hơn vẫn nhiều quyền hơn. Lúc đó tôi vì tốt nghiệp trường Võ bị Quốc Gia nên mang cấp bậc Thiếu úy thực thụ, còn Hoàng Sơn vừa từ Chuẩn úy lên nên còn mang Thiếu úy tạm thời. Do đó Đại đội trưởng cũng phân vân trong sự sắp xếp, dù sao Thiếu úy Sơn cũng ở Đại đội lâu năm, còn tôi mới tò te ra trường. Sau một lúc đắn đo, Trịnh Văn Huệ nói:
- Thôi anh Vệ mới đến Đại đội, nên đi theo tôi để tôi hướng dẫn phương thức chiến đấu và chỉ huy.
Mới ra trường, chưa có kinh nghiệm chiến đấu, được theo Đại đội trưởng để học hỏi, thật là một sự may mắn cho tôi. Năm người bạn kia của tôi phải ra cầm Trung đội ngay, lại gặp một trận đánh khốc liệt cho nên ai cũng lãnh ngay một thương tích.
Đoàn xe dừng lại ở Bộ chỉ huy Tiểu khu để Tiểu đoàn trưởng và phó vào tham khảo với Trung tá Tiểu khu trưởng trước khi xuất quân. Khi Thiếu tá Nho và Đại úy Hoán ra khỏi Tiểu khu tôi thấy vẻ mặt của họ có vẻ căng thẳng. Đại úy Hoán mặt đỏ ửng, nói câu gì đó mà tôi không nghe rõ trong khi Thiếu tá Nho im lặng đi bên cạnh. Sau này tôi được biết tình hình địch không đúng như sự đánh giá của phòng 2 Tiểu khu, mà theo báo cáo của Biệt Động Quân thì địch có lẻ đang tập trung đông hơn. Cho nên Đại úy Hoán đề nghị với Thiếu tá Nho nên từ từ để lấy thêm tin tức, trong khi lệnh của Tiểu khu bắt Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến tăng phái cho Tiểu khu Bà Rịa phải vào ngay. Với cương vị Tiểu đoàn trưởng, Thiếu tá Nho không cách nào hơn là tuân lệnh tiếp tục di chuyển đến tuyến xuất phát.
Sau khi đổ quân, đoàn xe vừa quay bánh trở về Bộ chỉ huy Tiểu khu thì Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến dàn quân vượt tuyến xuất phát. Đây là một đồn điền cao su của Pháp để lại, với những hàng cây cao su to lớn, cao vòi vọi. Chúng tôi đi dưới mà không thấy ánh mặt trời. Địa thế cách Bà Rịa 5 cây số về phía Tây, có 2 làng Bình Giả và Xuyên Mộc, giao thông chỉ có một con đường đất đỏ xuyên thẳng từ Bà Rịa qua Bình Giả, Xuyên Mộc đến Long Thành. Dân chúng ở đây sống bằng canh tác cây cao su, mật độ thưa thớt. Dân Bình Giả được quy tụ lại thành ấp chiến lược, có hàng rào tre chung quanh kiên cố, có canh gác cẩn thận và đặc biệt ở đây có một nhà thờ mà cha xứ đã tổ chức thanh niên thành đội ngũ dân quân nên Việt cộng không thể xâm nhập được. Trong khi đó Xuyên Mộc ở sâu hơn chưa được bình định, Việt cộng thường xuyên về tập trung dân để dọa dẫm, bắt đàn ông thanh niên đi dân công. Địa phương quân thỉnh thoảng có hành quân vào ban ngày rồi rút về nên Việt cộng dễ bề thao túng.
Với một địa bàn như thế, địch luôn luôn dựa vào Xuyên Mộc để tấn công Bình Giả, cho nên dân chúng Bình Giả luôn luôn ở tư thế sẵn sàng. Tiểu đoàn vượt qua tuyến xuất phát độ 2 cây số thì gặp Biệt Động Quân đang tải thương, Đại đội 1 dẫn đầu, được lệnh tiến lên vượt qua cánh Biệt Động Quân để án quân canh phòng phía trước. Đại đội 2 và 3 bảo vệ hai bên hông, trong khi Bộ chỉ huy Tiểu đoàn và Đại đội 4 bố trí cho đơn vị Biệt Động Quân tải thương và rút toàn bộ về phía sau.
Được biết từ mờ sáng, một Đại đội Biệt Động Quân tăng phái đã đụng địch khoảng giữa Bà Rịa và Xuyên Mộc, hạ được 1O tên tại chỗ và tịch thu một số vũ khí, trong đó có cả đại liên, chứng tỏ địch ở cấp Tiểu đoàn trong khi phòng 2 Tiểu khu cho hay chừng một đơn vị nhỏ, thường xuất hiện ở Xuyên Mộc để khuấy phá Bình Giả. Được thể, Đại đội Biệt Động Quân tiến lên để tiêu diệt nốt thì chạm địch dữ dội. Chúng tấn công nhiều đợt cấp Tiểu đoàn, do đó Biệt Động Quân phải dừng quân cầm cự và điện về Tiểu khu xin tiếp viện
Sau khi Biệt Động Quân đã rút hẵn, Tiểu đoàn cho dàn quân lục soát thêm 2 cây số nữa nhưng không thấy gì. Tình hình có vẻ yên tĩnh, trời cũng bắt đầu xế chiều, vì rừng cao su nên trời tối rất mau. Tiểu đoàn trưởng cho Tiểu đoàn rút về ấp chiến lược Bình Giả để đóng quân đêm. Hàng rào ấp chiến lược bằng cây cao quá đầu người, rất kiên cố. Khi chúng tôi đến, dân quân canh gác báo cho ấp và cha xứ để họ cho người đón vào. Chúng tôi phải đi hàng dọc vì các nơi đều gài lựu đạn để chống Việt cộng xâm nhập. Trời tối nhưng nhà dân đều tắt đèn, tình hình có vẻ khẩn cấp, dân chúng đang trong tình trạng báo động. Chúng tôi im lặng bố trí, Tiểu đoàn phòng thủ chu vi chung quanh ấp chiến lược. Trong khi chúng tôi đang ăn cơm thì nghe phía Đại đội 1 có tiếng súng nổ. Vì ở chung với Đại đội trưởng nên tôi nghe qua máy truyền tin, Đại đội 1 báo có bóng người thấp thoáng nên lính gác nổ súng. Tiểu đoàn xin Tiểu khu soi sáng phía Xuyên Mộc, đồng thời xin Pháo binh bắn những điểm nghi ngờ.
Tiếng chó sủa nổi lên từng nơi, từng lúc. Dân quân Bình Giả cho hay đêm nào du kích Việt cộng cũng đến dò la, có lúc đạp nhằm lựu đạn bên ta gài. Có lẽ ban chiều chúng thấy cánh quân Thủy Quân Lục Chiến kéo đến nên trinh sát địch tìm tới dò tình hình. Pháo binh bắn gần có lúc cành lá cao su văng vào phòng tuyến đóng quân của ta. Đêm đó tuy có nổ súng nhưng tình hình yên tĩnh, tôi và Đại đội trưởng Huệ nằm bên nhau ôn chuyện Võ bị Đà Lạt, nhắc đến những vui buồn ở quân trường, kể tên những em Bùi Thị Xuân vẫn thường vào Câu lạc bộ Sinh viên sĩ quan để đón chàng ra phố... Chuyện trò miên man đưa tôi vào giấc ngủ lúc nào không hay, giấc ngủ đầu tiên ngoài mặt trận, trong đời lính của tôi...
Trời tờ mờ sáng, tôi giật mình thức dậy đã thấy Đại đội trưởng nai nịt sẵn sàng, ngồi xem bản đồ, tay cầm ly cà phê. Anh quay lại tôi cười dễ dãi:
- Sao chàng Võ bị, đêm qua ngủ ngon không? Có mơ thấy em nào không?
Tôi bẽn lẽn vì dậy muộn:
- Chào Thiếu úy, có lẽ hôm qua đi bộ hơi mệt nên ngủ ngon quá. Tình hình có gì không Thiếu úy ?
Huệ vươn vai đứng dậy:
- Đêm qua yên tĩnh thôi, có lẽ nó đang dọ dẫm mình. Thôi ăn sáng đi, độ một tiếng nữa thì Tiểu đoàn sẽ xuất phát đó.
Đúng 7 giờ sáng, Tiểu đoàn di chuyển ra khỏi ấp chiến lược. Đại đội trưởng cho tôi hay hôm nay Đại đội 2 của Trung uý Đỗ Hữu Tùng dẫn đầu. Trước khi di chuyển, Tiểu đoàn đã xin Tiểu khu yểm trợ. Hai chiếc khu trục của Không quân oanh tạc từng đợt phía trước. Tiếng bom nổ và đại liên từ máy bay làm yên lòng quân ta, Tiểu đoàn di chuyển chậm, Đại đội 3 đi sau nên chúng tôi thấy toàn bộ phía trước. Rừng cao su rộng bao la với những hàng cây thẳng tắp , mỗi cây cách nhau 2 mét nên rất khó che dấu, ngụy trang. Di chuyển được gần 2 cây số thì đằng trước có tiếng súng nổ, Đại đội 2 báo cáo về, đứa con đầu phát hiện có bóng địch. Tôi đến sát máy truyền tin nghe ngóng. Tiểu đoàn trưởng ra lệnh cho Đại đội 2 truy kích địch. Trung úy Đỗ Hữu Tùng tuân lệnh, cho 2 Trung đội dàn hàng ngang tiến lên. Tiếng súng đủ loại nổ dòn, có súng địch bắn trả. Trung úy Tùng cho hay địch chạy qua chạy lại ở các hàng cây, lúc ẩn lúc hiện rất khó quan sát nên xin Tiểu đoàn cho máy bay quan sát và khu trục yểm trợ tiếp. Tôi nghe rõ giọng Thiếu tá Nho trong máy:  
- Yên chí, Tango cứ cho bố trí, quan sát. Moa sẽ kêu ông già L.19 lên quan sát.
Một lát sau có tiếng ù ù đến gần, chiếc L.19 bay vòng vòng, độ 2 vòng nó xẹt xuống ném một trái nổ để đánh dấu. Lập tức 2 chiếc khu trục không biết từ đâu ào tới dội bom liên tiếp. Tiếng Đại đội trưởng Đại đội 2 la trong máy:
- Đúng rồi, rất đẹp Đại bàng ơi !
- O.K. Moa sẽ cho ông già chơi tiếp.
Hai chiếc khu trục đánh xong vừa vòng về thì có tiếng trực thăng từ xa vọng đến. Tôi nhìn lên bầu trời thấy chiếc trực thăng đang bay trên đầu địch, có lúc lượn sát ngọn cây cao su. Và rồi chúng tôi không còn nghe tiếng máy bay nữa, không hiểu nó đã bay về hay đáp xuống đâu đó... Bỗng nhiên tôi nghe tiếng Tiểu đoàn trưởng từ máy truyền tin:
- Cho tôi gặp Thẩm quyền 2.
- Thưa Đại bàng có tôi.
- Ông anh cả (Tiểu khu) báo: con chuồn chuồn đi ăn sương vừa gãy cánh, cách ta 1 cây số về phía Bắc, anh cho con cái lên bố trí để vớt nó lên ngay.
Đại đội trưởng Đại đội 2 điều động đơn vị tiến về hướng Bắc. Lúc đó khoảng 12 giờ trưa nhưng ở trong rừng cao su âm u nên tôi tưởng đã về chiều, những tia nắng chiếu xuyên từng vạt không đủ soi sáng bóng cây che. Độ nửa tiếng sau, tôi nghe súng đủ loại nổ rất gắt, chứng tỏ Đại đội 2 đang đụng mạnh. Trung úy Tùng báo cáo trong máy:
- Thưa Đại bàng, tôi đã bắt được con chuồn chuồn, nó bị gãy cánh mà chuột (Việt cộng) nhiều quá, tôi đang thanh toán chúng đây.
Súng vẫn nổ mạnh, thỉnh thoảng chen vào tiếng ầm ầm của B.4O địch hoặc phóng lựu của bên ta. Thiếu úy Huệ đến bên tôi bảo thầm:
- Đại đội 2 bị địch bao vây, có lẽ cả Tiểu đoàn, nhưng ông Tùng vững lắm.
Một lát sau ông Huệ lại tiếp sau khi theo dõi ở máy truyền tin:
- Đại đội 2 thu được 3 B.4O, 5 AK, hạ 7 tên tại chỗ.
Tôi cũng đến gần máy truyền tin nghe ngóng. Tiếng Trung úy Tùng la trong máy, lần này ông nói luôn bạch văn:
- Trình Đại bàng, chuột tràn lên đông quá, chúng cho dân đi đầu để làm bia đỡ đạn. Con cái tôi chơi xả láng.
Thiếu tá Nho cũng la to trong máy truyền tin:
- Tango cố gắng, tôi sẽ cho gà cồ gáy tiếp.
Phi pháo lại tiếp tục yểm trợ, tiếng súng chợt ngưng hẳn. Có lẽ địch dạt về phiá sau ẩn náu chờ dứt bom mới tấn công tiếp. Đại đội 2 lui về phía sau để cho khu trục và pháo binh làm việc. Đồng hồ tay tôi chỉ 2 giờ, các Đại đội được lệnh di chuyển sau khi dứt đợt phi pháo cuối cùng. Tôi đang loay hoay sửa lại thắt lưng đạn thì Thiếu úy Huệ đến bên tôi nói:
- Này Vệ, thằng Kháng và Hùng Râu chết rồi!
Tôi uả lên một tiếng và đứng trân người nhìn Huệ, ông lắc đầu không nói thêm gì nữa. “Kháng ơi ! Hùng ơi ! Sao tụi mày đi nhanh quá, không lẽ đời lính là thế sao ? 6 đứa mình hẹn nhau sẽ về hậu cứ làm một chầu khao quân mà 2 đứa mày đã bỏ đi trước”. Tôi đang suy nghĩ miên man thì chợt nghe tiếng hô “Di chuyển, di chuyển”. Đại đội 1 của Trung uý Trần Ngọc Toàn và Đại đội 3 chúng tôi được lệnh vượt qua Bộ chỉ huy Tiểu đoàn tiến lên bọc bên trái và bên phải Đại đội 2. Tôi nóng lòng vì Võ Thành Kháng và Hùng Râu nên xin Thiếu úy Huệ cho đi cùng với Trung đội đầu, nhưng Thiếu úy Huệ chậm rải nói:
- Cứ từ từ, rồi Đại đội cũng lên tới đó, cậu sẽ gặp và vuốt mắt chúng nó.
Bộ chỉ huy Tiểu đoàn nối theo chúng tôi và Đại đội 4 bọc hậu. Khi lên đến nơi, tôi gặp Trung úy Tùng, ông chỉ tay về phía trước bảo tôi:
- Hai ông bạn của cậu đó, mới trận đầu nhưng chúng nó chơi đẹp lắm.
Tôi bước vội về phía ông Tùng chỉ, xác Kháng và Hùng Râu nằm co quắp bên chiếc trực thăng gãy cánh, cạnh đó là xác 2 phi công Mỹ. Võ Thành Kháng bị một viên ở mang tai và ở ngực, còn ngực Hùng Râu lãnh nguyên một tràng. Tôi vuốt vội mắt cho hai bạn rồi bước theo Đại đội. Lúc đó là 3 giờ chiều, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn cũng vừa ào lên. Các Đại đội được lệnh bố trí chung quanh máy bay trực thăng để chuẩn bị tải thương. Bỗng có tiếng súng nổ ở phía trái chúng tôi, tức vị trí Đại đội 1 của Trung úy Toàn. Ông Toàn báo cáo trong máy:
- Địch xuất hiện, dàn hàng ngang, đông lắm!
Tiếng súng chát chúa, nổ rất gần, có lúc xẹt qua phía chúng tôi. Thiếu úy Huệ đang nói chuyện trong máy với Thiếu tá Nho thì âm thoại viên Đại đội báo cáo Trung đội 3 phát hiện có địch. Chưa dứt lời thì tiếng súng đã nổ vang rền phía Trung đội 3 của Lâm Xuân. Khoảng 5 phút sau thì súng nổ khắp nơi: Đại đội 1 bên hông trái, Đại đội 3 bên hông phải và cả mặt sau Đại đội 4 của ông Tống. Như vậy là địch đã tập trung bao vây Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến trong khi chúng tôi vừa mới bố trí, chưa kịp đào hầm hố gì cả. Bên ta cũng như địch, chỉ lấy gốc cao su để che chắn. Cả 3 Trung đội của Đại đội 3 đều khai hỏa.
Địch thấp thoáng sau hàng cao su, ta bắn như bắn bia, nhưng bóng người vẫn lao lên. Tôi nghe có cả tiếng kèn thúc quân và hình như tiếng ngựa hí đâu đây.(Về sau tôi nghe kể lại có cả Tướng Việt cộng Dương Văn Nhựt em của Tướng Dương Văn Minh cầm quân trong trận này). Như thế quân số địch lên tới cả Trung đoàn, và đây là lần đầu tiên chúng tập trung với một số quân đông đảo cho một trận chiến. Tai tôi như ù đi vì tiếng súng không dứt. Trung đội 2 do Thượng sĩ I Kim Tâm chỉ huy báo cáo địch sắp sửa tấn công đợt 2, xin tăng cường đại liên. Thiếu úy Huệ ngoắc tổ đại liên chỉ về phía Trung đội 2 và ông cũng chạy lên theo. Tôi nghe rõ tiếng Kim Tâm la:
- Đại liên, bắn, bắn, chúng lên đó !
Thế là đại liên nổ dòn, Thiếu uý Huệ lăn vào một gốc cao su và chỉ tôi gốc cây bên cạnh. Ông quơ tay chỉ cho Kim Tâm bảo con cái tác xạ về hướng trái, có khoảng 1O bóng địch vừa xuất hiện và tác xạ về phía chúng tôi. Địch bắn một tràng về phía ông Huệ, tên đệ tử của tôi vội la lên:
- Chết, Đại đội trưởng bị thương rồi!
Tôi bàng hoàng quay phắt về nhìn Thiếu úy Huệ và thấy ông đang ôm bụng, máu thấm ướt cả áo trận. Tôi phóng vội về phía ông vì khoảng cách giữa 2 gốc cây khoảng 4 mét. Thiếu úy Huệ nấc lên rồi thều thào:
- Tôi bị thương nặng lắm, nếu có gì cậu cùng thằng Sơn bảo toàn Đại đội. Địch còn tấn công nữa, không chịu được cứ rút về hướng này.
Giọng ông đứt quãng, đưa tay chỉ hướng cho tôi rồi ngoắc bảo tôi trở về vị trí cũ. Tôi vừa lăn mình về chỗ cũ thì một tràng trung liên địch nổ dòn vào Thiếu úy Huệ, ông bật người lên rồi ngã xuống chết ngay. Tính mạng tôi cũng ra đi trong gang tấc nếu sau khi nhận bản đồ và địa bàn từ tay ông mà còn nấn ná chưa chịu đi. Hai âm thoại viên mang máy Đại đội và Tiểu đoàn chạy về phía tôi lắp bắp:
- Thiếu úy, Đại đội phó Hoàng Sơn bên cánh Trung đội 3 cũng bị thương rồi !
Thế là cả Đại đội trưởng lẫn phó cùng bị một lúc, tôi ngây người ra trong chốc lát. Làm sao đây, xử trí cách nào đây ! Tự nhiên tôi thấy mình tỉnh táo hẳn: tôi ra lệnh cho âm thoại viên Đại đội bảo các Trung đội báo cáo tình hình. Đồng thời chỉ thỉ cho âm thoại viên mang máy Tiểu đoàn báo cho Tiểu đoàn biết Đại đội trưởng Huệ đã chết.
Trung đội 1 và 2 báo cáo có bị thương và chết nhưng số còn lại vẫn bám chặt, cầm cự. Riêng Trung đội 3 không liên lạc được, về sau tôi mới rõ là Trung đội 3 phòng thủ sát với Đại đội 1, bị tấn công mạnh quá nên đã dạt về phía sau và mất liên lạc sau khi báo cáo Đại đội phó bị thương. Chợt trước mắt tôi có bóng người thấp thoáng, tôi phóng về phía xạ thủ đại liên vỗ vai hắn:
- Có địch, bắn về phía kia kìa.
Hắn quạt một tràng đại liên dòn tan, 3, 4 tên ngã xuống. Xạ thủ viên quay về phía tôi toét miệng cười:
- Ông thầy mới về Đại đội hả ?
- Ừ, mới về, mày bắn khá lắm.
Hắn bô bô:
- Ông thầy chưa nghe tiếng Sáu Đại Liên hả?
(Từ ngày đầu quân vào Thủy Quân Lục Chiến, Sáu xin thủ cây Đại liên. Mỗi lần hành quân hắn chỉ vác khẩu đại liên và 2 dây đạn quanh mình, không mang theo gì nữa, quanh năm chỉ có một bộ đồ. Hễ hắn nổ đạn là có người ngã, đánh giặc chì lắm, nghe tiếng súng là nhào tới ngay cho nên ông Huệ cưng lắm.)
Tôi la lên:
- Bắn ! Bắn ! Nó kìa !
- Ông thầy để em.
Rồi hắn bấm cò, tôi thấy rõ ràng 4 tên ngã xuống cách tuyến chỉ độ 3 mét mà thôi. Thấy cấn cái bên hông, tôi quay lại hỏi:
- Thằng nào đây ?
Sáu Đại Liên trả lời:
- Thằng Minh rỗ, phụ xạ thủ cho em đấy ông thầy. Nó vừa lãnh 2 viên, tội nghiệp vừa mới lấy con vợ bán hột vịt lộn ở đầu chợ Vũng Tàu được 2 tháng.
Nghe Sáu đại liên nói, tự nhiên tôi thấy buồn và nói với nó:
- Đ.M thằng Việt cộng, sau này cầm quân, tao chơi xả láng.
Sáu Đại Liên ngẩn người rồi lại toét miệng cười:
- Chà, ông thầy ngon dữ, em xin theo ông thầy.
Phía Đại đội 1, súng nổ vang rền lẫn tiếng hô xung phong nhưng không rõ của bên nào. Cả phía Bộ chỉ huy Tiểu đoàn nữa, vì gần lắm. Thằng mang máy Tiểu đoàn ghé vai tôi nói nhỏ:
- Hình như Trung úy Toàn Đại đội trưởng Đại đội 1 cũng vừa bị thương.
Tôi giật mình không ngờ tình hình căng dữ, các Đại đội trưởng đều theo nhau cả. Lát sau tiếng súng thưa dần và im hẳn, tôi nhìn đồng hồ thấy 8 giờ tối, ham chiến đấu không ngờ thời giờ qua mau. Bóng đêm đã tràn ngập cánh rừng, chỉ thấy lờ mờ nhờ vào bầu trời đầy sao. Tôi cố liên lạc với Tiểu đoàn nhưng không được. Tứ bề im lặng, thỉnh thoảng có tiếng rên của một vài người lính bị thương. Bỗng nhiên máy truyền tin Tiểu đoàn có tiếng kêu, tôi vội chụp ống liên hợp:
- Ai đó ? Đây là Đống đa 3.
- Đây Thẩm quyền Đống đa 4, Đại bàng Non nước zulu rồi. Đống đa 3 cho kiểm soát con cái rồi trở về mái nhà xưa đêm qua.
Tôi đoán đó là Trung úy Nguyễn Đằng Tống, Đại đội trưởng Đại đội 4 cho nên trả lời tuân lệnh và cúp máy. Tôi lom khom đi theo tuyến để kiểm lính. Vừa được mấy bước thì Sáu đại liên chạy lại bên tôi:
- Ông thầy cho em đi theo nhé.
Tôi nghĩ trong tình thế này, mình cũng cần một tay súng bên cạnh nên gật đầu:
- Ừ, mày theo sát sau lưng tao, nếu có gì mày nhả đạn ngay.
Sáu dạ một tiếng rồi quay lại chỗ Minh rỗ chết, lấy thêm 2 dây đạn vắt lên vai và chạy theo tôi. Tôi đếm được khoảng 32 người, riêng Trung đội 3 chỉ còn 5. Đang kiểm kê thì thấy một bóng đen to lớn, mặt mày đen thui đang lui hui bên cạnh, tôi hỏi người âm thoại viên:
- Ai đó ?
- Dạ thằng Trung sĩ Mỹ đen, hồi sáng Tiểu đoàn gởi theo mình để lên lấy xác phi công đó ông thầy.
Tôi gật đầu nắm tay Trung sĩ Mỹ nói “Follow me! O.K!”. Anh ta gật gật nói O.K, O.K khoe hàm răng trắng toát. Tôi dặn chuyền chuẩn bị di chuyển trong im lặng rồi tự mình lên dẫn đầu, Sáu đại liên theo sau, rồi 2 thằng mang máy, anh Mỹ đen và đoàn lính. Chúng tôi bước nhẹ nhẹ, nghe ngóng và đi dần dần ra khỏi khu rừng. Đi được hơn 5O mét thì tôi nghe một tiếng “bịch” ở trên trời, rồi một trái sáng lóe lên chiếu sáng một góc trời. Tôi hô nằm xuống, cả đoàn dạt qua một bên nằm im lặng. Thấy mình di chuyển khi có ánh sáng rất bất lợi vì bị địch quan sát dễ dàng, chúng quạt cho một tràng thì chết cả lũ, cho nên khi trái sáng dứt thì chúng tôi đi. Trái khác bắn lên thì ngừng lại quan sát địa thế để sau đó đi tiếp. Có lẽ Tiểu khu đã soi sáng cho chúng tôi di chuyển nên trái sáng được bắn lên liên tiếp trên bầu trời. Hơn nưả giờ di chuyển tôi nghe được tiếng lọc cọc bên tay trái và ra hiệu cho đoàn quân dừng lại im lặng nghe ngóng. Có khoảng 1O chiếc xe bò đi lọc cọc lẫn tiếng người nói chuyện lao xao. (Về đến Bình Giả được dân quân cho hay là Việt cộng đã dùng xe bò của dân để chuyển xác đồng bọn sau khi đụng độ với Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến). Sáu dợm mình định quạt vài tràng đại liên, tôi kéo nó lại:
- Thôi kệ nó, mình đang rút quân, đánh đấm gì bây giờ nữa.
- Em nhịn không được, muốn chơi một cú...
- Thôi, ráng đi, lần khác tao cho mày thả dàn.
Chúng tôi đi cả giờ đồng hồ mà chưa ra khỏi rừng cao su. Cứ đi một đoạn lại nghe tiếng người lao xao, thì ra tụi Việt cộng cũng rút quân và di chuyển thương binh. Vì thế chúng tôi di chuyển rất chậm, có lần suýt đụng địch. Chúng tôi cứ tiếp tục đi độ nửa tiếng nữa thì trái sáng chấm dứt. Trời tối om như mực, tôi nhìn đồng hồ đã 11 giờ 3O khuya. Tôi nghĩ nên để sáng mai đi tiện hơn vì đêm tối không thể định hướng được vả lại nguy hiểm vì địch tứ phía... Nên tôi quyết định cho dừng quân, gom lại thành một vòng tròn và cứ thế ngả lưng vào gốc cây cho qua đêm. Tôi đang ngồi suy nghĩ thì tên đệ tử khều tôi:
- Ông thầy uống chút nước, có ổ bánh mì đây, ông thầy ăn đi kẻo đói.
Bây giờ tôi mới nhớ là từ trưa đến giờ chưa ăn uống gì cả mà vẫn không đói. Tôi cắn một miếng bánh mì, hớp một hớp nước rồi trả lại cho đệ tử và tiếp tục dòng tư tưởng: thằng Kháng và Hùng chết rồi, không rõ mấy thằng Ái, Hoàng và Thái Bông ra sao. Đại đội 1 cũng đụng mạnh lắm, hy vọng Ái và Hoàng không bị gì, chúng đã về ấp Bình Giả chưa... Và tôi nghĩ đến đời lính của mình đã mở màn bằng một trận đánh thần sầu, đêm đầu tiên ngủ bờ ngủ bụi như thế này...Và cứ thế tôi ngủ lúc nào không hay cho đến khi có tiếng gọi bên tai:
- Thiếu úy, Thiếu úy, trời sáng rồi.
Tôi giật mình, ngồi dậy dụi mắt. Trời đã sáng rõ, đám lính đang loay hoay sửa soạn ba lô. Đồng hồ chỉ 7 giờ, tôi lấy bản đồ định vị trí, đo phương giác từ để định hướng rồi cho đoàn quân di chuyển. Có hai người lính, một trẻ một già chạy lại phía tôi:
- Thưa Thiếu úy, em thuộc Đại đội 2 lạc qua đây. Đêm qua tụi nó tấn công dữ, ông Toàn chì lắm, dứt tụi nó tơi bời, cuối cùng còn cho xung phong nên ổng bị thương nặng đó Thiếu úy.
- Ông Toàn là đàn anh tôi đó, thôi cứ theo đây rồi về Tiểu đoàn hẵng hay.
Chúng tôi di chuyển theo hướng Nam về ấp Bình Giả, đang đi thì có tiếng L.19 quần trên trời. Chúng tôi phải ẩn nấp sau hàng cây để di chuyển vì sợ máy bay tưởng lầm địch thì nguy. Bỗng tiếng loa từ trên máy bay vọng xuống: “Thưa đồng bào, dân quân 2 làng Bình Giả và Xuyên Mộc, Việt cộng đã tập trung 2 Trung đoàn chủ lực định đánh chiếm ấp chiến lược Bình Giả nhưng đã bị Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến đánh tan tành. Hiện chúng đang rút từng toán theo hướng Xuyên Mộc về Rừng Lá. Xin đồng bào đừng chứa chấp lũ giặc Cộng gian ác, và quân ta đang trên đường truy kích địch.”
Đến trưa thì chúng tôi thấy ấp Bình Giả trước mặt, tất cả đều vui mừng hớn hở. Về đến đầu làng thì thấy hai bên đường dân làng ra đón, họ đem thức ăn, xôi, gà ra để dọc đường và chạy theo tiếp tế cho chúng tôi. Sự tiếp đón niềm nở của dân chúng đã làm cho chúng tôi cảm động và quên đi bao mệt nhọc gian khổ. Sẵn đói bụng, anh em chúng tôi ăn uống rất ngon lành. Vào đến Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn tôi gặp Trung úy Nguyễn Đằng Tống, ông ôm chầm lấy tôi nghẹn ngào.
- Sao, Thiếu úy Huệ chết rồi hả ?
Tôi im lặng không nói, chỉ gật đầu. Ông biết tôi buồn nên không hỏi nữa, kéo tôi vào Bộ chỉ huy và cho tôi biết qua tình hình của Tiểu đoàn. Sau các đợt tấn công, địch đã xâm nhập vào tận Bộ Chỉ huy Tiểu đoàn nên Thiếu tá Nho, Đại úy Hoán và Y sĩ trưởng đã tử trận. Theo báo cáo của dân quân thì địch chết và bị thương rất nhiều, chúng rút chạy suốt đêm qua. Trung úy Nguyễn Đằng Tống, Đại đội trưởng Đại đội 4 tạm xử lý Tiểu đoàn trưởng. Tôi hỏi về các bạn của mình thì ông Tống cho hay Đỗ Hữu Ái và Hồ Ngọc Hoàng cũng bị thương đã được chuyển về Vũng Tàu. Chỉ Thái Bông còn nguyên xi.
Tôi vội quay về Đại đội mình để kiểm kê lại, vì có lệnh chuẩn bị để vào tải thương các binh sĩ chết và bị thương chưa đem ra được. Đại đội 3 còn 46 người vừa sĩ quan và binh sĩ. Một số lính của các Đại đội bị tản mác cũng đang lần hồi về ấp Bình Giả trình diện. Khoảng 12 giờ trưa thì được lệnh di chuyển vào tản thương, chúng tôi có thêm 1 Tiểu đoàn Nhảy Dù đến yểm trợ. Trên đường đi tôi gặp Nguyễn Văn Lệ và Nguyễn Văn Thành tự Thành Râu khóa 19 đang dàn Trung đội Dù hai bên đường để bảo vệ chúng tôi. Lệ và Thành kéo tôi lại hỏi thăm tình hình bạn bè. Tôi cho hay Kháng và Hùng Râu đã chết, Ái và Hoàng bị thương, chỉ còn Thái Bông và tôi. Sau đó tôi lại gặp toán Dù khác, Bùi Dương Thanh và Nguyễn văn Nhỏ cùng khóa 19, xông ra hỏi thăm ráo riết. Tình đồng đội, huynh đệ chi binh là thế, sau mấy năm ở quân trường, giờ đây mỗi người một ngả, cứ hỏi thăm nghe ngóng tin tức của nhau.
Đến 6 giờ chiều thì chúng tôi đưa được thương binh và tử sĩ về ấp Bình Giả để trực thăng đưa đi. Đêm ấy Tiểu đoàn nghỉ đêm tại Bình Giả, các Tiểu đoàn Dù trấn đóng bên ngoài. Tình hình rất yên tĩnh vì Việt Cộng đã thấm đòn, không còn khả năng đánh chiếm làng Bình Giả nữa.
Ngày hôm sau chúng tôi được di chuyển bằng xe về Vũng Tàu, đây là lần đầu tiên tôi thấy hậu cứ của Tiểu đoàn 4 Thủy Quân Lục Chiến. Đoàn xe vừa về đến cổng Tiểu đoàn thì Hồ Quang Lịch chạy ra la lớn:
- Thằng Vệ đâu ? ĐM tao tưởng mày theo ông Huệ rồi chớ !
Tôi cười bắt tay Lịch:
- Số tôi còn lớn lắm, chưa chết đâu ông anh.
Lại gặp cả Lâm Xuân ở đây nữa, ngay từ đầu tôi đã nhận thấy anh chàng này nhanh nhẹn, thì quả nhiên Lâm Xuân đã dẫn Trung đội dọt về Bà Rịa và được Tiểu khu cấp xe về hậu cứ luôn.
Ngày hôm sau, Tiểu đoàn họp trước sân cờ để trình diện Tiểu đoàn trưởng mới là Đại uý Nguyễn Thành Trí, Tiểu đoàn phó là Đại úy Nguyễn Hữu Nhơn, và Y sĩ trưởng là Bác sĩ Nguyễn Văn Thế. Đại đội 3 cũng có Đại đội trưởng mới là Thiếu úy Huỳnh Ngọc Liên. Tiểu đoàn được tuyên dương công trạng đã bẻ gãy âm mưu của Việt cộng trong chiến dịch lấn chiếm Bình Giả.
Tôi được thưởng Anh dũng Bội tinh với nhành dương liễu. Tôi cũng đề nghị Anh dũng Bội tinh với ngôi sao đồng cho Sáu Đại liên. Trong khi chờ gắn huy chương, đứng cạnh tôi trong hàng quân, Sáu Đại liên gọn gàng trong bộ quân phục rằn ri, tay áo xắn cao, tóc tai gọn ghẽ. Nó ghé tai tôi nói thầm:
- Ông thầy, hồi nãy em đến đây, gặp 2 con nhỏ bán chè xôi nước ở ngã tư, tụi nó cứ trố mắt nhìn em rồi hỏi sao giờ em đẹp trai quá vậy ? rồi còn cười em nữa.
- Ừ, tao cũng thấy mày ngon lành lắm, thôi đứa nào mày chọn một đứa đi.
- Dạ chưa được đâu ông thầy, còn đi hành quân mà sao lấy vợ được. Để hôm nào em dẫn ông thầy ra ăn chè xôi nước, ngon lắm!
- Chè ngon hay nó ngon mày ?
Sáu Đại liên toét miệng cười:
- Cả hai, ông thầy ơi !
Trong phần diễn từ của Tân Tiểu đoàn trưởng, ông nhắc đến những sĩ quan và binh sĩ đã tử trận vì chính nghĩa quốc gia. Tôi thấy bùi ngùi trong lòng và tự nhủ: “Hai võ sĩ lên đài thì thế nào cũng có trầy môi, sứt trán, chưa kể người nặng kí kẻ nhẹ hơn. Trong trận này bên ta chỉ có một Tiểu đoàn mà phải chống trả với 2 Trung đoàn địch và vẫn giữ được ưu thế thì phải biết các chiến sĩ của Tiểu đoàn 4 TQLC can trường đến thế nào. Chúng ta đau đớn vì mất đi một số bạn bè, chiến hữu nhưng chúng ta cũng tự hào về tinh thần chiến đấu và lòng yêu nước của những người đã nằm xuống cũng như đang còn lại. Chúng ta đã làm rạng danh Tiểu đoàn 4 TQLC với Bình Giả.
Sau này Tiểu đoàn 4 TQLC có lập một Đài Tử Sĩ ở Bà Rịa để ghi công các chiến hữu đã bỏ mình tại đây.
Hôm nay, tôi viết bài này cũng có thêm mục đích tưởng nhớ tới các đơn vị trưởng như Thiếu tá Nguyễn Văn Nho, Đại úy Hoán, Bác sĩ Trương Bá Hân, Thiếu úy Trịnh Văn Huệ, các bạn Võ Thành Kháng, Nguyễn Văn Hùng và những người đã vĩnh viễn ra đi khác. Chúng tôi những kẻ còn lại luôn luôn giữ vững ý chí sống còn cho Tự do, cho dân tộc Việt Nam. Và ngày nay dù lưu vong nơi xứ người, chúng tôi vẫn là những người lính, sẵn sàng hy sinh những ngày còn lại nếu cần.

NHỮNG SỰ THẬT VỀ TRẬN BÌNH GIẢ - Trần Ngọc Toàn


Lá thư của một QN đơn vị cũ:
Đã 44 năm, kể từ ngày 31 tháng 12 năm 1964, đột nhiên tôi nhận được một lá thư khá dài của một QN đơn vị cũ, nguyên là một Hạ Sĩ Quan Trừ Bị phục vụ trong binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, từ tháng 6 năm 1963 đến cuối năm 66. Tôi thật bất ngờ và rất xúc động khi đọc những dòng tâm tư chân thật nhưng nhiều cay đắng của anh. Sau đây là những trích đoạn khiến tôi bàng hoàng và thiển nghĩ là sẽ khiến cho chúng ta suy gẫm: Kính anh Toàn,
Tình cờ đọc được địa chỉ của anh trong Đặc san Đa Hiệu ở nhà một người bạn, tôi muốn liên lạc với anh, cũng là cấp chỉ huy của tôi ngày trước (6/1963), già rồi muốn tìm lại một vài hồi ức trong quá khứ. Không biết anh có chấp nhận không?
Kính anh, tôi là TS Trần Văn Của, SQ 62A/701.458 thuộc Ban 4/TĐ4/TQLC. Lúc mới ra trường thuyên chuyển về TĐ, có thời gian vài tháng ở chung ĐĐ2 với anh, lúc đó Đ/U Trần Văn Hoán ĐĐT, anh là ĐĐP, rồi C/U Đơn, C/U Chí, C/U Long… Tôi nhớ ghi lại đây tất cả các cấp chỉ huy còn lại trong TĐ anh xem có đúng không? BCH/TĐ Đ/U Lê Hằng Minh TĐT, Đ/U Tôn Thất Soạn TĐP, C/U Đặng Văn Học Ban 1(T/S Tấn), C/U Nguyễn Văn Thinh Ban 2-An Ninh (Th/S Nhung), C/U Nguyễn Văn Trực Ban 3, Tr/U Ng Văn Thuận Ban 4 (T/S Của) Ch/U Lê Văn Hiếu Tiếp Liệu (T/S De), Ban 5 (Không nhớ), Ban Quân Lương (Th/S Lượng), ĐĐCH Ch/U Roanh. ĐĐ1 Đ/U Nguyễn Thành Trí, C/U Song mặt hơi rỗ, C/U Hưng (ba gai). ĐĐ2 Đ/U Hoán, Th/U Toàn, C/U Đơn, C/U Chí, C/U Long… ĐĐ3 Đ/U Trương Văn Nhứt, Th/U Tùng, C/U Lịch… ĐĐ4 (trước không nhớ) sau Đ/U Vượng, T/U Tống, C/U Nghiêm, C/U TX Quang. Quân Xa T/S Búp.
Thưa anh, nhân sự lúc bấy giờ tôi nhớ được bao nhiêu đó, sau ngày anh bị thương rồi, Võ Kỉnh mới về, chuyện đó đã 43 năm qua rồi. Nhắc lại xưa quá phải không anh? Không biết anh có thích nghe chuyện đời quân ngũ trong quá khứ không? Người ta nói già rồi ưa nghĩ về quá khứ, tuổi này mà nghĩ đến tương lai thì không biết bắt đầu từ đâu. Tiếc rẻ quá khứ là đối với những người uy quyền, ăn trên ngồi trước, hưởng nhiều bổng lộc, nay thì không còn nữa, mới nhớ những ngày vàng son, còn thân phận những người cấp dưới được ví như con chốt trên bàn cờ: Tướng Sĩ Tượng thủ thành. Xe Pháo Ngựa còn chạy tới chạy lui, lúc nào cần thí thì đút đầu vô. Còn thân phận chốt là cứ đi tới không được lui, số mạng sống chết là tùy đầu óc của người điều khiển có thông minh hay không? Có mưu lược cao hay không? Thưa anh, tôi là HSQ/TB, lên đường thi hành nhiệm vụ của người trai trong thời chiến, tôi có được 3 năm rưỡi sống với binh chủng TQLC, giải ngũ cuối năm 1966, không thăng cấp, không huy chương, không chiến thương (mặc dầu có bị thương 2 lần), bị đì vì cấp chỉ huy không thích người lính ba gai. Do đó, mới bị đưa đi học Khóa 13 Rừng Núi Sình Lầy, đâu giữa năm 64 gì đó. TQLC mà đi học RNSL của BĐQ lúc đó thật lạ. Tr/Tá Nguyễn Văn Kiên làm CHT, SQ Kỹ luật Hướng dẫn là C/U Giao, Vân. Trước khi giải ngũ khoảng 6 tháng lại bị thuyên chuyển về TĐ5/TQLC của Đ/U Nhã, xuống ĐĐ2/TĐ5 của Tr/U Phán, bị đì hành quân mút mùa không được về hậu cứ trước khi giả ngũ, phải lố thêm 2 tháng của thời hạn quân dịch (4 năm 2 tháng). Chính vì nhiều kỷ niệm buồn vui của đời lính tuy không lâu nhưng nhớ hoài hình ảnh người lính áo rằn mũ xanh. Mặc dầu ở cấp bậc hay chức vụ nào mà mình hoàn thành được nhiệm vụ thì rất hãnh diện, thấy không hổ thẹn. Nhưng riêng tôi thì không làm được, ôm hồ sơ quân bạ với 64 ngày trọng cấm, đến cấp chỉ huy nào hay đơn vị nào các anh cũng không thích người quân nhân vô kỷ luật. Có nhiều khi lỗi ở mình, cũng có nhiều khi lỗi tại cấp chỉ huy tạo cho mình trở thành vô kỷ luật. Bây giờ lớn tuổi nằm đêm mất ngủ nhớ lại chuyện xưa thấy hổ thẹn, đôi lúc cũng thấy vui vui…
Phải chi ngày 30.4.75 tất cả cấp chỉ huy mà vô kỷ luật, bất tuân hành lệnh cấp trên, không tuân theo lệnh của Tổng Thống đầu hàng thì Miền Nam chưa đến nỗi phải lọt vào tay giặc. Có mất cũng thời gian lâu hơn. Còn súng đạn cứ đánh. Tiếc quá đếm lại thì được có mấy vị Tướng còn giữ được sĩ khí, tiết tháo anh hùng, không đầu hàng giặc. Không hiểu còn những ông, giặc chưa đến mà bỏ binh sĩ chạy trước. Những vị buông súng đầu hàng, chấp nhận nhục nhã tự ôm gói vào trại tù. Chắc các vị đó còn nghĩ đến CP 3,4 thành phần, còn giữ được tiền tài, danh vọng. Làm Tướng mà thành mất sao không chết theo thành. Nước mất nhà tan mà các ông còn sống nhăn răng. Không biết hồi học binh pháp, chiến thuật các cấp chỉ huy có học bài nào đầu hàng hay không? Riêng thuộc cấp tôi nghĩ không có bài đó. Tôi thấy Quân Đội Nhật không có bài học đó. Nên lúc Nhựt Hoàng tuyên bố đầu hàng, bài học là phải mổ bụng tự sát để giữ gìn sĩ khí, danh dự. Bậy quá, đó là tâm sự trăn trở của người lính già. Sau bao nhiêu năm còn đau nhói. Sao phải viết dài dòng lên đây khi mà anh chưa nhận ra người thưộc cấp cũ. Không biết nhìn hình ảnh anh có nhớ lại không? Nếu có nói gì không đúng xin anh bỏ qua. 
Thưa anh, mục đích liên lạc với anh là để nhớ lại hình ảnh người lính áo rằn ngày xưa, mà tôi rất quí và thương những người lính đó, với chiếc ba-lô nặng trĩu trên lưng, vai mang nặng nề cây súng cổ lỗ sỉ thời Đệ II thế chiến. Phát một đơn vị hỏa lực đạn không đủ để đánh nhau với trận địa lớn như Bình Giả. Đâu có áp lực nặng của địch là được điều động đến để làm con ghẻ. Mặc tình cho mấy ông Tỉnh xài, thí mạng, công lao các ông huởng, chết chóc thì người lính TQLC lãnh đủ. Hình ảnh trận Bình Giả tang thương cỡ nào cho đến nay tôi không quên được. Chỉ vì tìm tông tích của chiếc trực thăng Mỹ gặp nạn, mà cấp trên tức tốc ra lệnh xua quân vào mục tiêu để tiếp cứu, trở thành một cuộc điều quân gấp rút, thiếu chuẩn bị, thiếu nghiên cứu, không nắm rõ tình hình địch, thiếu chuẩn bị phi pháo yễm trợ, cho nên TĐ4/TQLC phải chiến đấu lẻ loi. Một chống với lực lượng địch gấp 3, 4 lần. Hình ảnh của anh Đỗ Hữu Tùng ĐĐT/ĐD2 bị bao vây phải mở đường máu thoát về làng Bình Giả. Lúc đó, đại diện cho Ban 4 TĐ hành quân tôi đi với Tiểu Đoàn Trưởng Nho để lo về Tiếp vận, tôi nghe được những lời khiển trách thiếu xét đoán của cấp trên đối với cấp dưới, rồi ra lệnh cho anh Tùng gom lính thất lạc về nằm lại giữ làng Bình Giả. Nếu anh TĐT tin theo lới của anh Tùng báo cáo về tình hình địch mà anh đã đụng độ sáng nay, thì có kế hoạch HQ mới phải tính toán lại trước khi vào mục tiêu. Đằng này anh Nho lại cho các ĐĐ còn lại vào đường cũ của anh Tùng bị lọt gọn vào ổ phục kích buổi sáng. Thời gian anh có ở chung với anh Hoán mà anh có biết anh Hoán có tài bấm độn ngón tay tiên đoán vận mệnh không? Ra khỏi tuyến xuất phát lò tò theo anh ấy, anh ấy đưa tay lên bấm, đếm từng lóng tay rồi nói ngày nay, 31/12/64) không hạp cho số 4, có chuyện không lành! Nghe thì nghe thôi, mấy người tò te đâu có nghĩ gì. Không tin vì từ ngày đơn vị thành lập cho đến giờ ra trận là tốc chiến tốc thắng, xem địch đâu ra gì (khinh địch). 
Từ trên lộ đất đỏ dẫn đến mục tiêu, khoảng cách chừng 3 Km, hai bên lộ đỏ là vườn chuối. Mục tiêu trước mặt là một vườn cao su rộng lớn. ĐĐ1 anh dẫn đầu, ĐĐ4 anh Tống bên cánh trái, ĐĐ3 anh Huệ bên cánh mặt. BCH/TĐ đi sau anh. ĐĐCH đi bọc hậu BCH/TĐ. Ngày hôm sau vào gom xác anh em mới phát hiện bên cánh trái không xa lắm, VC nó đặt mấy cây súng cối 82 ly. Nếu đội hình ĐĐ4 mở rộng  một chút xíu nửa là đã gặp rồi. Có thể trận đánh đó chuyển hướng. Lúc ĐĐ1 gặp được chiếc trực thăng cùng 4 xác phi hành đoàn, thấy anh em mình bị treo cổ. Một số xác chết của binh sĩ ĐĐ2 bị VC lột hết quần áo. TĐT cho lệnh tiến lên phía trước. Các ĐĐ bắt tay làm vòng đai bao bọc mục tiêu thì Đ/U Hoán cầm bản đồ tiến lên gặp TĐT trình bày, chỉ tay lên những vòng cao độ và nói: Thiếu Tá nên cho quân tiến thêm một khoảng nữa để chiếm giữ ngọn đồi cao, thì liền bị anh Nho quạt, có đệm tiếng Tây khó nghe. Anh chỉ lấy xác rồi rút ra chớ đâu có ngủ đêm ở đây mà phải chiếm địa thế cao. Thì ra lúc đó tôi mới biết trong gia đình cơm không lành canh không ngọt. TĐT với TĐP không thuận với nhau nên không bàn bạc trước khi hành quân. Từ đó, Đ/U Hoán không thấy đến gần TĐT để cộng tác điều động các ĐĐ mà anh ấy đi riêng lẻ với tà lọt. BCH/TĐ tiến vào bên trong vườn cao su. ĐĐCH còn nằm trên lộ đất đỏ. Ngoài vòng đai, các ĐĐ báo về mặt nào cũng có VC xuất hiện đông lắm tiến vào áp lần lần đến đơn vị. Tôi nghe anh Nho cho lệnh xuống các ĐĐ một binh sĩ một gốc cao su chờ đến khi nào chúng vào đến cách 50 m mới đươc khai hỏa. Lệnh chắc nịch và coi rẻ tụi VC, rất tự tin. Tôi nghĩ vậy và chắc các anh em trong đơn vị cũng nghĩ vậy. Mình nằm sẵn nó mang mấy cái bia thịt vào thì có nước làm mồi cho Kình Ngư thôi. Nên rất yên tâm không lo nghĩ nhiều. Lúc đó khoảng 3-4 giờ chiều, mà tiếng súng khai hỏa không phải của các ĐĐ tác chiến bên ngoài mà của người lính Thám Báo của ĐĐCH, hắn đi vào vườn chuối lớn để đi đại tiện. Còn ĐĐCH rất ỷ y còn lột nón sắt lót ngồi dài trên lộ đỏ, cứ nghĩ có đánh nhau thì các ĐĐ tác chiến bên ngoài đụng trước cho nên tỉnh bơ, trong lúc bên ngoài VC xiết vòng vây, thì anh lính Thám Báo phát hiện VC nằm lềnh kênh trong đó, bèn la lên VC!,VC! rồi sẵn cây tiểu liên trên tay anh khai hỏa luôn. Đó là lực lượng khóa đít của VC chờ cho ĐĐCH lọt vào vườn cao su là khóa lại. Không ngờ ĐĐCH còn cái đuôi dài phía sau. Do đó, khi súng đã nổ, VC không khóa đít đươc vì ĐĐCH nằm thủ bên bờ phải lộ đất đỏ chống trả nên chúng chuyển hướng tấn công bên hông trái của anh Tống. ĐĐ4 vừa chống VC trước mặt vừa bị đánh bên hông. Bên ngoài VC chết như rạ. ĐĐ1 và ĐĐ3 bền chặt giữ vững vòng đai, từ từ khai tử từng tên. Tiếng súng nhỏ lớn nổ inh ỏi điếc tai. Súng cối 82 ly chúng câu vào. Đại bác KZ 57 ly bắn trực xạ. Lực lượng VC đông như kiến. Chết bao nhiêu chúng cứ tràn vào. Tôi nhớ đánh nhau đến khi mặt trời lặn, ĐĐCH bị địch cắt làm đôi. Số nằm ngoài vòng vây từ từ rút về làng Bình Giả. BCH/TĐ bị pháo tới tấp. Cành cây cao su gẫy đổ, mủ nhiễu xuống ướt cả mình. Cố vấn Mỹ kêu được 2 gunships lên không yểm trợ đươc vì hai bên quá sát gần, thế là nó bay mất. Cố vấn bị thương, TĐT cầm ống liên hợp tới lui liên lạc. Bên ngoài các ĐĐ tác chiến báo cáo hết đạn mà tôi không biết phải làm sao. Nằm chịu trận không bắn được một phát súng rồi cũng bị miểng đạn pháo chém đứt ngoài cánh tay. Anh Tống chạy vào BCH không có lấy một người lính. Cách tôi 30m, Đ/U Hoán ôm khẩu carbine M2 nằm bắn như một khinh binh. Hình ảnh thật oai hùng. Tiếng súng không còn ròn rã nữa sau hơn 2 tiếng đồng hồ giao chiến. Tôi nghĩ chắc họ hết đạn và phải cận chiến để sống còn. Phòng tuyến của ĐĐ4 bị vỡ. Từ đó chúng đánh vào BCH/TĐ. Tôi thấy Đại Úy Hoán bật người lên rồi ngã quỵ xuống. Người lính tà lọt cõng ông lên lưng rồi vọt chạy về hướng rừng cây. Th/T Nho dắt BCH rút ra theo con lộ đất đỏ đã bị cây thượng liên của VC đặt bên kia lộ đốn ngã cả TĐT lẫn Bác Sĩ Quân Y TĐ. Tôi và Cố Vấn nhắm hướng rừng tháo lui nên thoát về được đến làng Bình Giả. Còn phía ĐĐ1 của anh và ĐĐ3 vẫn còn nghe tiếng súng cầm cự đến 9 giờ đêm. Qua ngày hôm sau, TĐ gom quân trở vào trận địa lấy xác tôi mới thấy tình của người dân làng Bình Giả đối với mình. Họ mang võng cáng, rượu trắng thay cồn giúp mình tản thương. Phi hành đoàn trực thăng đáp xuống không chịu chở xác xình thúi bị Đại Tá Nguyễn Thành Yên  rút súng lục đòi bắn nên họ chỉ chở 1 chuyến rồi không trở lại. Sau phải dùng xe GMC tải về Bà Rịa. Tôi không sao cầm đươc lòng khi thấy gia đình anh em binh sĩ gào khóc thảm thiết khi đến hậu cứ. Thôi xin dừng và cám ơn anh đã bỏ thời gian để đọc những lời vụng về của tôi kể lại.
Cầu chúc anh và gia đình các cháu bình an, dồi dào sưc khỏe.
Kính chào
Trần Văn Của
(Ký tên) 
NHỮNG SỰ THẬT về Trận BÌNH GIẢ:
Vết thương cũ trong tôi như chợt vỡ ra sau khi đọc hết lá thư của cựu Trung Sĩ Trần Văn Của. Là Đại Đội Trưởng ĐĐ1/TĐ4/TQLC trong trận Bình Giả, tội đã bị thương nặng với ba phát đạn. Còn lại một mình với khẩu súng AR15 và 15 viên đạn, tôi đã bò suốt 3 đêm 2 ngày để gặp lại quân bạn trước cổng làng Bình Giả ngày 3 tháng 1 năm 1965. Vào đầu tháng 12 năm 1964, linh cảm trước những cuộc đụng độ lớn, tôi đã ra lệnh cho các Trung đội trưởng đều phải mang súng carbine M1 thay vì mang súng Colt 45 như trước đây. Tôi cầm khẩu AR15 vừa do TQLC Mỹ đưa sang thử nghiệm trên chiến trường. Chỉ 1 khẩu cho 1 Đại đội. Tôi cũng vừa thăng cấp Trung Úy và vừa đúng ngày Sinh Nhật thứ 25. Xin nói rõ về các cấp chỉ huy của TĐ4/TQLC lúc lâm trận Bình Giả: Thiếu Tá Nguyễn Văn Nho là Tiểu Đoàn Trưởng, Đ/U Trần Văn Hoán Tiểu Đoàn Phó, Tr/U (mới thăng cấp 22/12/1964) Trần Ngọc Toàn ĐĐT/ĐĐ1, Tr/U Đỗ Hữu Tùng ĐĐT/ ĐĐ2, Th/U Trịnh Văn Huệ, quyền ĐĐT/ĐĐ3 và Tr/U Nguyễn Đằng Tống ĐĐT/ĐĐ4. Tôi được may mắn tải thương về Quân Y Viện Đại Hàn ở Vũng Tàu. Sau 5 tháng điều trị, tôi được phận loại 2 (không tác chiến) và xuất viện với đôi nạng gỗ. Xuất thân là một sĩ quan Hiện Dịch từ Trường Võ Bị Đà Lạt, tôi tiếp tục phục vụ trong Binh Chủng TQLC ở hậu phương, rồi trở ra tác chiến vào tháng 10 năm 1973 cho đến ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa, 30 tháng 4 năm 1975.
Nỗi đau nhức Bình Giả vẫn còn đeo đẳng bên tôi. Theo lời kể của một hồi chánh viên VC, tôi nghe được tại Bộ Chiêu Hồi vào năm 1969, và cuốn hồi ký “2 ngàn ngày dưới địa đạo Củ Chi” của Dương Đình Lôi, được biết Hà Nội đã cho đám VC tập kết năm 1954 cùng quân chính quy CS Bắc Việt  xâm nhập vào Nam từ năm 1958. Cuối năm 1964, VC đã thành lập Sư Đoàn 9 do Trần Đình Xu làm Sư Trưởng, ở Miền Đông Nam Bộ với các Trung Đoàn 261, 262 và 263. Chúng đã đem cả Trung Đoàn tăng cường để chiếm làng Bình Giả vào ngày 20 tháng 12 năm 1964. Sau trận đánh này, Trung đoàn 261 VC  bị thiệt hai rất nặng và bị xóa sổ trên chiến trường. Dù vậy, các ông Tướng vẫn chẳng bận tâm, nên Sư Đoàn Nhảy Dù VNCH đã bị SĐ 9(-) VC bao vây ở Đồng Xoài, Phước Long. Trong khi, mấy ông Tướng đang lo tranh giành quyền lực sau ngày  đảo chánh Tổng Thống Diệm 1/11/1963, giao trọn quyền điều binh cho đám bộ hạ bất tài và vô trách nhiệm. Sau khi, đã điều động  2 Tiểu Đòan BĐQ với Thiết Giáp tấn công tái chiếm làng Bình Giả không thành, họ đã trực thăng vận TĐ4/TQLC nhảy vào trận địa. TĐ4/TQLC là đơn vị Trừ Bị cuối cùng của Quân Đoàn III. TQLC và BĐQ đã đánh bật quân VC ra khỏi làng vào ngày 30 tháng 12 năm 1964. Ngay trong đêm này, VC xua quân đánh lại nhưng không làm được gì và phải rút lui. Một chiếc trực thăng của Lục Quân Hoa Kỳ, trú đóng tại Vũng tàu đã được Cố Vấn TQLC Hoa Kỳ gọi lên, rà theo bắn rượt đuổi. Do khinh địch và thiếu kinh nghiệm, chiếc trực thăng đã bị VC bắn hạ, rớt trong vườn cao su bỏ hoang, gần làng Xuyên Sơn và cách làng Bình Giả độ 4 cây số đương chim bay.
Rạng sáng ngày 31 tháng 12 năm 1964, trong khi các ông Tướng đang bận lo tổ chức Dạ Vũ linh đình tại Sài Gòn, lệnh của Quân Đoàn III buộc TĐ4/TQLC phải tiến quân vào tìm xác chiếc trực thăng Mỹ bị bắn rớt. Tiểu Đoàn Trưởng TĐ4/TQLC quyết liệt từ chối, với tin tức do Cha Xứ Đạo Bình Giả cho biết quân số VC lên đến Trung Đoàn, với cả quân chính quy CS mặc quân phục Miền Bắc và trang bị AK47, CKC, thượng liên, K50, B40… Trong khi, TQLC vẫn còn ôm súng Garant M1, Carbin M1, Trung liên BAR của Mỹ thời Đệ II Thế Chiến. Hơn nữa, TĐ4/TQLC hành quân không có Pháo Binh (đặt miết tại Phước Tuy) và Phi cơ không yểm.
Theo lời xác nhận của hai Cố Vấn Hoa Kỳ của đơn vị còn sống sót, là Đại Tá Franz Pete Eller ở Solana Beach, CA và cựu Đại Úy Phil O Brady ở San Francisco,CA, trước phản ứng quyết liệt của T/T Nho, Bộ Chỉ Huy Quân Sự Hoa Kỳ MACV tại Sài Gòn đã áp lực Bộ Tổng Tham Mưu VNCH buộc TĐ4/TQLC phải hành quân lấy xác 4 người của Phi hành đoàn trực thăng Mỹ, dù không có pháo binh và không quân yểm trợ. Khi ĐĐ1/TĐ4/TQLC tìm thấy xác chiếc trực thăng với 4 nhân viên phi hành Hoa Kỳ tử thương, đã nhìn thấy 1 Trung Đội của ĐĐ2 nằm chết hàng ngang như đội hình xung phong, xác bị VC lột hết quần áo. Thiếu Úy Nguyễn Văn Hùng nằm giữa hàng quân. Trực thăng Hoa Kỳ được tin bay lên rồi chỉ lấy 4 xác Mỹ bay mất. 12 xác TQLCVN phải chờ trực thăng Việt Nam. Cuối cùng, đơn vị phải thu xếp tải bộ sau 2,3 tiếng đồng hồ nằm chờ không thấy. Khi ấy đã quá muộn.
Tổng kết tổn thất trong trận Bình Giả về phía TĐ4/TQLC gồm 122 tử thương và gần 300 bị thương tại mặt trận. Trong số 122 chiến sĩ TQLC hy sinh có TĐ Trưởng, TĐ Phó, Bác Sĩ Quân Y TĐ, 1 Đại Đội Trưởng là T/Úy Trịnh Văn Huệ xuất thân Khóa 17 Trường Võ Bị Đà Lạt. Đặc biệt gồm có hai Thiếu Úy mới tốt nghiệp Khóa 19 Võ Bị Quốc Gia đến đơn vị ngày 15/12/1964 là Thủ khoa Võ Thành Kháng và Nguyễn Văn Hùng. Khi Khóa 19 Võ Bị nhập học tại ĐàLạt cuối năm 1962, 3 Trung Úy, Nguyễn Đằng Tống, Đỗ Hữu Tùng và Trần Ngọc Toàn xuất thân Khóa 16 đang chuẩn bị ra Trường. Các tân Sĩ quan từ Khóa 19 đến trình diện TĐ4/TQLC gồm có Thiếu Úy Võ Thành Kháng, Trần Vệ, Đỗ Hữu Ái, Thái Văn Bông, Nguyễn Văn Hùng. Chưa ai kịp lảnh lương Thiếu Úy.
Nhìn vào bảng tổn thất, ai cũng thấy rõ không chỉ có 100 Hạ Sĩ Quan và Binh Sĩ hy sinh đền nợ nước mà có đến 22 Sĩ Quan tử trận. Chính vì niềm đau ray rứt mang nặng trong lòng, từ chiến trường Bình Giả trở về, suốt hơn 40 năm, nên vào tháng 6 năm 2006, tôi đã tự nguyện đến Trung Tâm Việt Nam của Trường Đại Học Texas Tech, ở Lubbock, TX. để thuyết trình về trận Bình Giả trước người Mỹ. Tôi đã đến để vuốt mặt cho các cấp chỉ huy và bạn bè đồng đội của tôi, với tư cách là một cựu Tiểu Đoàn Trưởng TĐ4/TQLC. Tôi cũng đến, với tư cách là một công dân Hoa Kỳ, khi hàng ngày nhìn thấy chiến binh Mỹ ngã gục trên chiến trường Irak, qua hệ thống truyền hình Hoa Kỳ, trong đó có cả con em của người Việt Nam tỵ nạn Cộng sản. Hình như, người Mỹ chưa rút ra được “Bài Học Quý Giá” từ cuộc chiến Việt Nam với hơn 58 ngàn chiến binh đã hy sinh ngã gục...
Trần ngoc Toàn,
Cựu TĐT/TĐ4/TQLCVN

Những hồi ức từ buổi họp mặt của một khóa Võ Bị lừng danh - Phạm Tín An Ninh

Tối Chủ Nhật 24/11, trước Thanksgiving, tôi được ông anh bà chị cho tháp tùng tham dự buổi họp mặt Cựu SVSQ Khóa 16 VBQGVN của anh, kỷ niệm 54 năm ngày khai giảng Khóa Võ Bị đặc biệt vang danh này.
Có lẽ hầu hết những ai đã trưởng thành tại miền Nam Việt Nam trong cuộc chiến chống Cộng đều biết hay nghe nói về Khóa 16 VB(Đà Lạt). Khóa đầu tiên cũng là khóa điển hình của quân trường mang danh “Võ Bị Quốc Gia Việt Nam”, hậu thân của trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt (École Militaire InterArmes de Dalat (EMIAD).  Một quân trường danh tiếng nhất Vùng Đông Nam Á, đào tạo những sĩ quan hiện dịch mẫu mực nhất. Với Đại tá Trần Ngọc Huyến, vị chỉ huy trưởng nhiều tài năng và huyền thoại,  một chương trình huấn luyện bốn năm mới mẽ, đặc biệt chú trọng đến kiến thức văn hóa, với châm ngôn được dùng như kim chỉ nam: “Tự Thắng Để Chỉ Huy”, những bài giảng về nghệ thuật lãnh đạo có sức lôi cuốn, cùng với bài truy điệu và những hình thức tưởng niệm đầy tính bi hùng của chính vị chỉ huy trưởng đặt ra, đã thổi vào tim óc học trò của ông, những SVSQ Khóa 16 VB, lòng say mê binh nghiệp, niềm kiêu hãnh của một người lính sẵn sàng hy sinh cho tổ quốc, để sau này trở thành những vị chỉ huy tài ba, thao lược, văn võ song toàn, làm rạng danh cho Quân Lực VNCH.
Hôm nay, những cánh “đại bàng” còn sống sót từ một thời lẫy lừng trên khắp chiến trường ngày ấy, dù trên thân xác và trong tâm hồn còn mang nhiều thương tích, và tuổi đời đã đến lúc không còn nhiều cơ hội để hẹn một lần sau, nhưng đã cố qui tụ về đây để cùng gặp gỡ những đồng môn năm xưa, khi tất cả còn là những SVSQ trai trẻ, đứng trên đỉnh Lâm Viên với hào khí ngút trời, cùng một lời nguyền :” Chúng tôi không cầu an lạc dễ dàng, mà chỉ khát khao gió mưa cùng nguy hiểm”. Nhìn những mái đầu bạc, những bước chân khập khiểng, những đôi mắt mơ hồ như đang hồi tưởng về quá khứ lẫm liệt một thời, có ai không khỏi chạnh lòng?

Nếu không có ông anh “chỉ điểm” hai vị đồng môn ngồi ngay phía sau lưng, tóc vẫn còn đen, trông hiền lành như hai vị giáo sư, chắc chắn tôi không thể ngờ được, một người từng là Đại tá BĐQ (Nguyễn Văn Huy) nổi tiếng, một người là Trung Tá Nhảy Dù (Bùi Quyền), vị thủ khoa của Khóa Võ Bị vang danh này. Khi nhìn được “dung nhan mùa thu” của vị thủ khoa Khóa 16, tôi bỗng nhớ lại chuyện bốn mũi tên do vị thủ khoa Khóa 17, Vĩnh Nhi, giương cung bắn đi trong ngày lễ ra trường mà tôi được nghe một ông anh Khóa 17 kể lại vài năm trước.
Mặc dù đã được thực tập nhiều lần trước ngày hành lễ về động tác dùng cung bắn 4 mũi tên đi 4 phương trời tượng trưng cho chí tang bồng hồ thỉ của các tân sĩ quan, nhưng trong giây phút trang nghiêm nhất của buổi lễ hôm ấy, trước sự chứng kiến của vị nguyên thủ quốc gia, tân thiếu úy Vĩnh Nhi, thủ khoa Khóa 17, đã chỉ bắn bay xa được có một mũi tên duy nhất. Sau này nhiều người nghĩ mũi tên ấy chính là biểu tượng cho vị thủ khoa Khóa 16, Bùi Quyền, người hùng còn sống sót đến hôm nay. Ba mũi tên còn lại bị rơi ngay trước mặt là điềm báo trước sự hy sinh của ba thủ khoa kế tiếp:  Nguyễn Anh Vũ thủ khoa khóa 18, sĩ quan binh chủng Nhảy dù hy sinh trong trận đánh tại mật khu Bời Lời năm 1964. Thủ khoa Võ Thành Kháng khóa 19, TQLC, tử trận ngay trong trận đánh đầu đời, Bình Giả năm 1965. Và cuối cùng chính là người bắn cung hôm ấy, thủ khoa Vĩnh Nhi, SĐ7BB,  hy sinh  bên bờ sông Bảo Định, Mỹ Tho trong trận Mậu Thân 1968.
Đã có rất nhiều bài viết ca ngợi vinh danh những sĩ quan, những cấp chỉ huy tốt nghiệp Khóa 16 VB, như là những người lính kiệt liệt, những cấp chỉ huy mẫu mực ở những binh chủng lừng danh, không những đã tạo nên những chiến tích lẫy lừng mà còn mang nhiều huyền thoại. Từ vị Thủ khoa, Mũ Đỏ Bùi Quyền, đến vị Á khoa Mũ Xanh Robert Lửa Nguyễn Xuân Phúc, Á khoa Mũ Đỏ Trần Đăng Khôi, vị Lữ Đoàn trưởng Nhảy Dù ” bô trai” Lê Minh Ngọc, vị Lữ đoàn phó TQLC “hào hoa” Đỗ Hữu Tùng từng làm say đắm một nàng ca sĩ nổi danh thời ấy. Đại tá BĐQ Nguyễn Văn Huy, mang lon đại tá khi chỉ mới 34 tuổi và có lẽ là một trong số rất hiếm sĩ quan cấp đại tá có Đệ Tam Đẳng Bảo Quốc Huân Chương. Đại tá Đặng Phương Thành, người anh cả của Trung Đoàn 12/SĐ7BB đã tạo nên chiến thắng cuối cùng lẫy lừng nhất khi đánh tan hai trung đoàn thiện chiến của Công trường 7 CSBV tại Long An, trong mưu đồ vây hãm và tiến chiếm Sàigon tháng 4/75. Ông đã nhận tấm Bảo Quốc Huân Chương Đệ Tứ Đẳng cuối cùng của VNCH do Tổng thống Trần Văn Hương đến tận nơi trao tặng. Năm 1976 Ông đã bị bon CS trả thù giết chết man rợ tại một trại tù miền Bắc. Đại tá Nguyễn Hữu Thông, vị trung đoàn trưởng can trường của SĐ22BB, luôn hết lòng yêu thương, sống chết với anh em đồng đội. Cuối tháng 3/75 theo lệnh, đã cùng đơn vị lên tàu Hải quân chờ di chuyển, nhưng thấy còn thiếu một “đứa con” đang vẫn còn chiến đấu , đã nhảy xuống tàu bơi vào bờ, để rồi không bao giờ trở lại.
Trong số những tên tuổi tiêu biểu này, có người đang còn sống đời lưu lạc tha phương, có vị đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường xưa, ở một nơi vô danh nào đó. Dù xương cốt đã tan vào cát bụi, nhưng hình ảnh kiêu hùng và tên tuổi sẽ còn linh hiển và vang vọng mãi trong lòng mọi người, đặc biệt những ai đã từng là lính.
Được vinh hạnh tham dự buổi họp mặt của những vị đàn anh ” quá khổ”, những ông thầy một thời hằng ngưỡng mộ, tôi bỗng nhớ đến những vị Khóa 16 mà tôi đã từng phục vụ dưới quyền hoặc có cơ duyên được làm việc chung trong các cuộc hành quân hổn hợp hay đã được quen, được gặp. Đa số những vị này có thể ít người biết đến, hoặc đang còn ở cái thời chưa vang tiếng, nhưng tất cả đã để lại trong lòng tôi một niềm kính phục.
Rời trường Thủ Đức, tôi được bổ nhậm về một Sư Đoàn Bộ Binh ở Vùng 2. Sau khi trình diện đại tá Lữ Lan, Tư Lệnh Sư Đoàn, trong số 12 người cùng khóa, tôi và hai thằng bạn  được về Tiểu Đoàn 3/44, bổ sung cán bộ trung đội trưởng vừa bị tử thương trong các trận Đỗ Xá, Vũng Rô.
Hậu cứ tiểu đoàn đóng tại Ban Mê Thuột, nhưng vì được chọn làm đơn vị lưu động, trừ bị cho quân đoàn, nên đơn vị đi hành quân liên miên từ các tỉnh đồng bằng vùng duyên hải đến các tỉnh cao nguyên xa tít: Quảng Đức, Lâm Đồng, Pleiku, Ông thiếu úy già chỉ huy hậu cứ cho biết, đã hơn bốn năm, tiểu đoàn chưa có lần trở về hậu cứ.
Lãnh quân trang súng ống xong, hai ngày sau chúng tôi được lệnh tháp tùng chuyến bay C47 của đại táTư Lệnh SĐ đi họp ở Nha Trang, để trình diện đơn vị. Tiều đoàn đang hành quân tảo thanh địch tại vùng Diên Khánh, nơi một mật khu của địch vừa bị khám phá sau khi khai thác những tù binh bị bắt trong trận tấn công của chúng vào khu vực Đại Điền và Thanh Minh bị thảm bại.
Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng mang xe đến phi trường đón về đơn vị. May mắn, đúng vào lúc đơn vị vừa chấm dứt cuộc hành quân dài hạn, đang nằm dưỡng quân tại một vườn dương trên bờ biển, bên ngoài hàng rào của TTHL Hải Quân Nha Trang. Lần đầu tiên chúng tôi thấy tận mắt hình ảnh cực khổ của một đơn vị tác chiến thực thụ. So với hình ảnh sinh hoạt của TTHL/ HQ nằm ngay bên cạnh, thì đó là một thiên đường, một hình ảnh lính hoàn toàn khác.
Thời ấy, được một đơn vị chủ lực hùng mạnh tăng phái hành quân truy tìm và tiêu diệt địch trong lãnh thổ của mình là một điều rất vui mừng, nên ông tỉnh trưởng Khánh Hòa đã dành riêng 4 phòng tại khách sạn Phụng Hoàng, nằm trước ga xe lửa, cho tất cả sĩ quan nghỉ ngơi sinh hoạt. Chúng tôi được ông tiểu đoàn trưởng đưa về đây trình diện các ông đại đội trưởng và giới thiệu với các sĩ quan khác trong đơn vị.
Trong bốn ông đại đội trưởng có một vị oai phong cao lớn, mang hai hoa mai trước ngực. Sau khi được giới thiệu, chúng tôi biết đó là Trung úy Thái Hữu Dư, tốt nghiệp Khóa 16 VB Đà Lạt. Đại Đội trưởng Đại Đội 1.
Tôi về Đại Đội 3, không thuộc quyền của anh, nhưng hầu hết sĩ quan trong đơn vị đều gần gũi thân tình. Anh xem bọn tôi như em út, chỉ dạy, hướng dẫn đủ điều. Không những về kinh nghiệm chiến trường, mà còn nghệ thuật lãnh đạo chỉ huy. Anh bảo, là sĩ quan ở một đơn vị tác chiến phải làm sao cho quân sĩ vừa yêu thương mà vừa kính nể. Hơn một năm, đơn vị tham dự khá nhiều trận chiến, anh luôn là một vị đại đội trưởng xuất sắc, gan dạ mưu lược, đã tạo nhiều chiến thắng vẻ vang cho đơn vị.
Một năm sau, anh được thuyên chuyển bổ sung đại đội trưởng nòng cốt cho một tiểu đoàn bạn. Trong một cuộc hành quân tại Lâm Đồng, đại đội anh bị địch quân phục kích khi đang di chuyển bằng xe trên quốc lộ. Anh bị thương nhưng vẫn điều động đại đội phản phục kích, chuyển bại thành thắng. Tuy nhiên chiến thắng ấy chính anh phải trả giá, vết thương ở chân bị trở nên trầm trọng. Anh được tản thương về TYV Cộng Hòa để giải phẫu. Xuất viện, anh được thuyên chuyển về một đơn vị thuộc Vùng 4.
Sau đó, sư đoàn bổ sung cho đơn vị một vị đại đội trường khác, cũng xuất thân Khóa 16VB mà chúng tôi đã từng nghe danh và gặp gỡ trong các cuộc phối họp hành quân trước đó: Trung úy Huỳnh Bá Vạn. Anh về nắm đại đội của tôi.
Anh Vạn là người đã tạo nên nhiều huyền thoại (và giai thoại) trong đơn vị, mà tất cả anh em từ quan tới lính đều hết lòng thương yêu và kính nể. Anh là một trong những SVSQ Khóa 16 VB được chọn sang ngành Hải Quân. Nhưng sau một thời gian ngắn ở TTHL/HQ Nha Trang, anh đã xin ra Bộ binh để được đi chiến đấu. Anh đúng là một “chiến binh” thực thụ, luôn một lòng sống chết với anh em, dù ở chiến trường hay khi về thành phố. Anh chiến đấu thật hào hùng và sống hào sảng như một Lương Sơn Bạc. Thương yêu sĩ quan dưới quyền như các em út trong nhà. Đàn bà và rượu dường như không đủ làm anh say và luôn xem nhẹ hơn tình đồng đội. Khi uống rượu anh cũng bình tĩnh như lúc đánh giặc, chỉ cười, không nói, vậy mà chưa có tay nào trong đơn vị uống hơn anh và đánh đấm hơn anh.
Sau khi rời tiểu đoàn, anh về làm đại đội trưởng Trinh sát Sư Đoàn rồi ra nắm tiểu đoàn ở một trung đoàn khác của sư đoàn. Vài tháng sau lên làm trung đoàn phó, thăng cấp trung tá. Bị thương, anh được thuyên chuyển về TTHL Lam Sơn (Dục Mỹ).
Tháng 5 năm 1966, đang hành quân trong rừng núi Phú Yên, đơn vị tôi có lệnh kéo ra Quốc lộ, lên xe di chuyển đến phi trường Tuy Hòa để không vận lên Ban Mê Thuột, tăng phái cho Trung Đoàn 45 BB, tham dự cuộc hành quân Quảng Nhiêu, tiếp viện một tiểu đoàn BĐQ và một chi đoàn TQV bị VC phục kích.
Trước giờ xuất quân, đám sĩ quan chúng tôi ngồi uống rượu đế. Ông đại đội trưởng Huỳnh Bá Vạn của chúng tôi đi tìm và kéo về một người bạn đồng môn Khóa 16: Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ. Trông anh thật đẹp trai và hào hiệp. Được biết anh là vị đại đội trưởng nổi tiếng nhất của Trung Đoàn 45 này. Cuộc rượu chưa tàn thì có lệnh xuất quân. Một giờ sau, cánh quân bạn đụng địch. Lực lượng đich khá hùng hậu, có nhiều ổ súng cộng đồng, bố trí trong các vườn cà phê với hầm hố kiên cố. Cánh quân đi đầu của ta phản công mãnh liệt, dưới sự điều động gan dạ liều lĩnh của người đại đội trưởng, đã nhanh chóng đè bẹp đối phương. Nghe trong hệ thống vô tuyến, nhiều địch quân bị giết và bắt sống, bỏ lại một số vũ khí có cả đại liên và súng cối 60 ly. Chiến thắng hào hùng ấy đã phải trả giá bằng chính sinh mạng của vị đại đội trưởng. Chúng tôi giật mình thảng thốt, khi biết vị sĩ quan ấy chính là Trung úy Nguyễn Tấn Mỹ, vừa mới gặp để chỉ kịp cạn nửa bi-đông rượu mà đã đem lòng kính mến, chúng tôi đã vĩnh viễn mất anh.  Đó là vị sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB đầu tiên mà tôi được quen biết, đã hy sinh. Nghe nói anh ra đi, cũng đã để lại rất nhiều nước mắt cho các mỹ nhân, nữ sinh Ban Mê Thuột.
Trận chiến Quảng Nhiêu kết thúc, đơn vị tôi di chuyển đến Lâm Đồng. Trong một cuộc hành quân phối hợp với một tiểu đoàn bạn, tôi lại được gặp Trung úy Điều Ngọc Chuy, cầm trên tay khẩu Carbine M.2 bá xếp, đang chỉ huy đơn vị lục soát, vội vàng chạy đến hướng dẫn đại đội tôi đi theo lộ trình tránh mìn bẫy của địch. Thấy anh bắt tay ông đại đội trưởng của tôi, thân mật mày tao, chúng tôi biết anh cùng Khóa 16. Anh Chuy rất vui vẻ hiền lành. Sau này anh lên trung tá, làm Trưởng Phòng Nhì Sư Đoàn. Trong vài lần ghé thăm trung đoàn tôi, khi bào huynh của anh đang làm trung đoàn trưởng (Đại Tá Điều Ngọc Chánh, Khóa 8 VB). Gặp chúng tôi, lúc nào anh cũng bình dị, hòa đồng, luôn nở nụ cười và xưng hô anh em thân thiện. Từ các vị Tư Lệnh đến tất cả sĩ quan các đơn vị, ai cũng mến mộ và kính nể anh.
Trong thời gian hành quân ở Ninh Hòa (Khánh Hòa), nhờ có ông đại đội trưởng Khóa 16VB, bọn sĩ quan chúng tôi được quen biết và “ăn có” uy danh và lòng hào hiệp của một ông quận trưởng tốt nghiệp Khóa 16VB: Trung úy Nguyễn Đằng Tống.  Lúc ấy, anh Tống có lẽ là một ông quan quận trẻ nhất nước, lại làm quận trưởng của một cái quận lớn nhất tỉnh Khánh Hòa:  quận Ninh Hòa.
Bọn tôi đi theo ông quận trưởng đến thăm các trường tiểu học, và trung học. Chẳng báo trước và cũng chẳng có tiền hô hậu ủng. Ông quận thì “thăm dân cho biết sự tình”, còn bọn tôi dựa hơi để tán mấy cô giáo trẻ. Ở vài trường, các cô thầy giáo không biết anh là quận trưởng, vì thấy anh còn quá trẻ, đặc biệt mặc quân phục TQLC, nên chẳng có ai biết cấp bậc của anh. Có người còn hỏi anh có phải là cảnh sát.  Anh cũng chỉ cười, không giới thiệu mình là ai.
Anh là cựu học sinh, huynh trưởng của tôi, ở trường Võ Tánh Nha Trang. Về sau chúng tôi rất hãnh diện biết anh là một tiểu đoàn trưởng, rồi lữ đoàn trưởng vang danh của TQLC. Rất đau đớn khi biết anh đã chết trong những ngày sa cơ khốn khó tại một trại tù ở Nghĩa Lộ. Khi ấy tôi cũng đang ở một trại tù khác trong vùng, nhưng không được biết tin và chào anh lấn cuối.
Trong một cuộc hành quân tại khu vực Bình Lâm (Phan Thiết), đơn vị tôi được đại tá Tư Lệnh Sư Đoàn đến thị sát và ở lại với chúng tôi một đêm. Vị tư lệnh rất đặc biệt và nổi danh này là Đại tá Nhảy dù Trương Quang Ân (từng thủ khoa Khóa 7 VBĐL và nhiều khóa tham mưu khác trong và ngoài nước. Sau lên chuẩn tướng và  đã hy sinh cùng phu nhân khi chiếc trực thăng của ông bà bị bắn rơi ngay sau khi rời khỏi tiền đồn Đức Lập mà ông bà vừa ghé thăm, ủy lạo anh em binh sĩ và gia đình, vào tháng 8/68).
Ông là một vị tư lệnh rất mẫu mực, nghiêm khắc.  Khi nghe tôi trình bày về tình trạng quân số của đại đội, do tôi vừa mới tạm thời thay anh đại đội trưởng bị thương nằm bệnh viện, nên không nắm vững, Ông đã lớn tiếng khiển trách tôi về số binh sĩ bất khiển dụng và phục vụ ở hậu cứ. May mắn có một vị trung úy trẻ tháp tùng vị Tư Lệnh đã xin phép Ông, giúp tôi kiểm soát và cùng trình bày lại với vị Tư Lệnh sau khi Ông duyệt qua hệ thống phòng thủ. Vị trung úy luôn vui vẻ, tươi cười và khuyên tôi bình tĩnh, giúp tôi tính lại chính xác và giải thích các lý do bất khiển dụng của binh sĩ trong đại đội. Lần này được vị Tư Lệnh chấp nhận, hài lòng. Sau đó tôi được biết đó là Trung úy Nguyễn Xuân Thắng, tốt nghiệp Khóa 16 VB.  Sau này trở thành trưởng Phòng TQT của Sư Đoàn với cấp bậc Trung tá.
Cuối năm 1966, sau cuộc hành quân tại Di Linh, Lâm Đồng, tiểu đoàn tôi được di chuyển về giữ an ninh cho công trường Đập Đa Nhim. Riêng đại đội tôi được biệt phái cho Tiểu Khu Ninh Thuận. Đúng lúc ông trung úy đại đội trưởng vừa mới bị thương còn nằm trong Quân Y Viện, không có đại đội phó, tôi là sĩ quan trung đội trưởng thâm niên nhất, được chỉ định xử lý thường vụ.
Đại đội tôi có nhiệm vụ tùng thiết một chi đoàn TQV, phối hợp với Hải Quân, đổ bộ đột kích bất ngờ vào Sơn Hải,  ngôi làng hẻo lánh nằm ven biển, bị địch chiếm đóng từ ba tháng trước và đang tổ chức thành một sào huyệt kiên cố.
Đại đôi di chuyển đến Ninh Chữ, quê hương của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Sau khi bố trí quân xong, cho anh em binh sĩ luân phiên ra biển tắm rửa, nghỉ ngơi, tôi vào Duyên Đoàn 27 họp hành quân. Điều bất ngờ lý thú là anh Duyên đoàn trưởng, HQ Trung úy Hoàng Đình Thanh, lại là bạn cùng Khóa 16 VB với ông đại đội trưởng của tôi, cùng được chọn về Hải Quân khi còn ở trường Mẹ, nhưng anh đại đội trưởng của tôi đã xin ra Bộ Binh đánh giặc. Tôi bèn khoe danh tánh và thành tích ông đại đội trưởng của mình, nên “Commandant” Thanh xem bọn tôi như em út của chính anh. Lệnh cho duyên đoàn thết đãi và chăm sóc bọn tôi chu đáo. Sau khi họp hành, nhận bản đồ và đặc lệnh truyền tin xong, anh xách xe jeep chở bọn tôi lên thành phố Phan Rang chơi xả láng một đêm và cả một buổi sáng hôm sau. Ông duyên đoàn trưởng gốc Võ Bị Đà Lạt này chịu chơi còn hơn cả đám bộ binh đánh đấm nhà nghề bọn tôi. Tửu lượng của anh cũng thuộc hàng “sư phụ”. Và đây là lần đầu tiên tôi tham dự một cuộc hành quân do Hải quân chỉ huy.
Chúng tôi đã đánh một trận rất đẹp và chiến thắng vẻ vang. Từ ấy, anh Thanh xem tôi như là em và chúng tôi thỉnh thoảng vẫn liên lạc với nhau trước ngày mất nước. Năm 1974, trong thơi gian theo học một khóa tham mưu tại Long Bình, tôi gặp lại anh. Lúc ấy anh là trung tá đang làm việc tại BTL/HQ. Anh em cũng đã say một buổi. Sau này biết tin anh mất ở Hoa Kỳ.
Một vài lần, dẫn đơn vị về thụ huấn bổ túc tại TTHL/ QG Lam Sơn (tại Huấn Khu Dục Mỹ), chúng tôi được gặp một vị thiếu tá trẻ, Trưởng Khối Huấn Luyện, đẹp trai, tướng tá oai phong nhưng rất vui vẻ hiền lành, đã tận tình hướng dẫn và giúp đơn vị chúng tôi trong suốt thời gian huấn luyện. Vị sĩ quan này đã để lại trong lòng tất cả sĩ quan và binh sĩ đơn vị tôi sự kính trọng và quí mến. Đó là Thiếu tá Trần Khắc Thuyên, tốt nghiệp Khóa 16 VB. Sau này anh được thuyên chuyển về Sư Đoàn 21 BB, và sau cùng về một TTHL/ QG khác để giữ chức vụ quan trọng hơn. Khi ra hải ngoại tôi được biết anh luôn gắn bó với Trường Mẹ, với đồng môn, hết lòng gầy dựng Tổng Hội Cựu SVSQ /VB.
Năm 1970, (lúc này tôi đã được điều về BCH Trung Đoàn), một sĩ quan từ Sư Đoàn 22BB  chuyển về giữ chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 4/44: Đại úy Võ Anh Tài. Có lẽ anh là một trong số rất ít sĩ quan tốt nghiệp Khóa 16 VB có quá nhiều lận đận, trong tình trường cũng như trên chiến trường. Anh là người cùng quê Ninh Hòa với bà xã tôi, và khi ở trong cư xá sĩ quan. chúng tôi ở sát vách nhau.  Dường như chính những nỗi niểm đặc biệt trong tình yêu, hôn nhân, và chứng tâm bệnh kỳ lạ của một đứa con, đã làm cho anh trở nên khắc khổ, trầm lặng, nghiêm nghị, ít nói. Rất khó để tìm được ở anh một nụ cười, hay một lời đùa giỡn. Khá thân nên anh thường rủ tôi sang uống bia, sau các cuộc hành quân trở về. Anh uống khá nhiều, đôi mắt đỏ hoe, nhưng chỉ trầm ngâm, họa hoằn lắm anh mới thốt ra vài tiếng, rất nhỏ nhẹ thân tình. Hiểu và thương quí anh, nhưng thực tình, tôi rất ngại và không mấy hứng thú khi được anh gọi sang uống rượu. Vì tửu nhập mà ngôn không thể xuất.
Nhưng dường như ở bất cứ một vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16 VB nào cũng có nhiều điều làm tôi nể phục. Anh làm tiểu đoàn trưởng cùng với ba anh tiểu đoàn trưởng khác đều là đàn em của anh: Đặng Trung Đức, Nguyễn Xuân Phán (khóa 19) và Hồ Đắc Tùng (khóa 20).  Đặc biệt hơn, vị trung đoàn phó (và sau này là trung đoàn trưởng) cũng là một đàn em Võ Bị của anh: Trung tá Ngô Văn Xuân (Khóa 17).
Vậy mà trong các sinh hoạt, qua các buổi hội họp, hành quân, tôi thấy anh luôn nhường nhịn, “tương kính” đàn em. Các vị đàn em, dù có người là cấp chỉ huy của anh, ai cũng kính trọng anh trong tình thần đệ huynh Võ Bị. Tôi rất khâm phục.
Mùa hè 1972, Trung Đoàn 44 BB chúng tôi tạo một chiến thắng lẫy lừng và giữ vững được Kontum trước sự tấn công của Sư Đoàn Điện Biên 320 CS. Anh Tài được thắng cấp thiếu tá tại mặt trận cùng 3 vị tiểu đoàn trưởng đàn em. Và cấp chỉ huy của anh, một đàn em khóa 17 được thăng cấp trung tá.  Tôi được uống rượu “rửa lon” cùng bốn anh tiểu đoàn trưởng trong một buổi trưa tạm im tiếng súng. Sau khi cụng ly vui vẻ với đàn em, anh tỏ ra bực dọc về việc Mỹ bỏ rơi đồng minh Việt Nam, chúng tôi phải chiến đấu trong điều kiện khó khăn, thiếu thốn đủ mọi phương tiện. Bỗng anh nở một nụ cười (hiếm hoi) rồi thốt lên: “Mai mốt tao bị thương hay chết chẳng biết có trực thăng đưa tao ra khỏi Kontum này hay không nữa?”
Không ngờ câu nói ấy lại trở thành điềm gỡ. Chỉ hai hôm sau, khi CSBV đưa chiến xa T54 tấn công chiếm Bệnh viện 2 Dã chiến, nằm sát hàng rào phòng thủ của thành Dak Pha, đang được xử dụng làm BCH Trung Đoàn. Tiểu Đoàn 4/44 được lệnh mở đường sang tái chiếm. Hỏa lực địch quá mạnh, anh Tài phải cho cắt hàng rào kẻm gai phòng thủ, rồi đích thân dẫn đầu toán thám báo chui qua vùng địch chiếm. Một quả mìn phòng thủ của ta phát nổ làm bay mất cả hai chân của anh. Được binh sĩ khiêng ra phía sau. Trong khi chờ phi cơ tản thương, anh rất tỉnh táo, hé mở mắt nhìn anh em, từng người, với thói quen im lặng không nói một lời gì. Nhưng tôi nhìn thấy dòng nước mắt vừa ứa ra trên mí mắt anh. Một trung úy đại đội trưởng là em ruột của anh, được phép tháp tùng đưa anh về QYV Pleiku. Nhưng khi trực thăng cất cánh được khoảng 15 phút, qua hệ thống vô tuyến, người em báo cho chúng tôi biết là anh Võ Anh Tài đã trút hơi thở cuối cùng.
Đầu tháng 3 năm 1972, Trung Đoàn 44BB có lệnh di chuyển từ bản doanh Lý Thường Kiệt Sông Mao ( Bình Thuận) lên  An Khê để thay thế vị trí của một Lữ Đoàn thuộc SĐ 101 Không Kỵ Hoa Kỳ rút quân về nước.  Trong các cuôc hành quân trực thăng vận vào các khu vực Đèo Mang Yang và các mật khu nằm phía bắc An Túc, tôi có vài dịp cùng bay trên C&C đổ quân với trung tá Vĩnh Quốc, Phi Đoàn trưởng Phi Đoàn Sơn Dương 235 (Pleiku). Ông xuất thân Khóa 16 VB.  Trung tá Vĩnh Quốc là vị phi đoàn trưởng rất cẩn trọng, bình tĩnh, trong tình huống nào cũng quan tâm đến sinh mạng , không những của phi hành đoàn , mà cả các binh sĩ bộ binh. Ông điều động các gunship dọn bãi đáp và cover thật kỹ, trước khi cho các trực thăng (slick) đáp xuống đổ quân. Vài trường hợp bộ binh vừa xuống đất thì chạm địch, ông luôn túc trực trên trời để hổ trợ. Sau này tôi gặp lại ông vài lần tại Kontum. Phi Đoàn Sơn Dương 235 của ông đã ròng rã sống chết với những người lính bộ binh chúng tôi trong suốt Mùa Hè Đỏ Lửa.
Sau ngày mất nước, trong lúc sa cơ tù tội, tôi được “biên chế” về một đội tù mà anh đội trưởng là một “ông thầy Khóa 16” nổi danh trên chiến trường Vùng I: Trung tá Nguyễn Phú Thọ. Anh cũng là bào đệ của Á khoa khóa 16, sau này là vị lữ đoàn trưởng lừng danh của TQLC: Trung Tá Nguyễn Xuân Phúc.
Trong đội tù, anh là người có cập bậc cao nhất. Dường như đó là thủ đoạn của đám VC, nhằm tạo sự ngờ vực lẫn nhau. Dù bắt buộc phải làm, nhưng anh là người đội trưởng rất tư cách, khí khái, luôn tìm cách bảo vệ, giúp đỡ em út tận tình, chấp nhận mọi hình phạt của bọn cai tù. Ở trong tù, nhưng anh đã xem “đội tù” như là đơn vị cũ của mình, hết lòng thương mến đùm bọc, chở che em út. Ngày tôi được chuyển trại vào Nam, trong lúc chia tay, anh đưa cho tôi lá thư nhờ chuyển về một địa chỉ ở Sài gòn. Anh kể cho tôi nghe giai thoại giữa anh và người nhận thư. Sau khi ra tù, tôi có ghé lại thăm người bạn quí ấy của anh và nghe những lời ca tụng về anh với sụt sùi hai dòng nước mắt. Sau này biết anh trốn trại và vượt biên sang Canada. Tôi mừng lắm, liên lạc hỏi thăm anh. Rồi một hôm khi vừa đến Cali thăm mấy đứa con, tôi được tin anh Nguyễn Phú Thọ đã ra đi một cách chẳng ai ngờ, cũng trong một buổi họp bạn Khóa 16 ở Nam Cali. Tôi ân hận là đã đến trễ hơn hai tuần để không được gặp lại anh, tiễn đưa anh về cõi vĩnh hằng.
***
Những khuôn mặt Khóa 16 VB mà tôi đã được vinh dự làm việc dưới quyền hay quen biết ấy đã cho tôi một cái nhìn thật chính xác và toàn diện về các vị sĩ quan tốt nghiệp từ Khóa 16VB. Bất cứ ở cương vị nào, quân binh chủng nào, từ tác chiến đến tham mưu, từ những vị thành công hay thất bại trong thăng tiến, và ngay cả trong hoàn cảnh tù đày nghiệt ngã nhất, cũng đều tỏ ra rất xứng đáng để được ngợi ca, nể trọng.
Trong buổi họp mặt, một vị đàn em Khóa 18 rất nổi danh: Trung Tá Trần Ngọc Huế, người từng được báo chí Mỹ ca tụng là một anh hùng, được mời lên nói vài lời tâm tình. Với một giọng rất xúc động, ông nói:
“Tôi đã được người Mỹ gọi là một anh hùng, một “real hero”, nhưng điều đó không làm tôi hãnh diện hơn là đã được làm đàn em, được trực tiếp dạy dỗ bởi các niên trưởng Khóa 16VB. Một khóa đã đào tạo rất nhiều anh hùng cho QLVNCH. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, tôi luôn ngưỡng mộ và hãnh diện về các Niên Trưởng của tôi”.
Điều đau lòng là miền Nam Việt Nam vô cùng bất hạnh và chúng ta đã tham dự một cuộc chiến quá bất công, để chính nghĩa không thắng được bạo tàn, chí nhân đã phải thua cường bạo. Bao đấng anh hùng Khóa 16 đã phải đành vất cung bẻ kiếm trong đớn đau uất hận. “Ôi! sự nghiệp đang công đeo đuổi thôi đành gián đoạn nửa đường. Chí tang bồng hằng mong thực hiện thôi cũng đành ôm hận ngàn thu”, nhưng tất cả thực sự đã không phụ lòng kỳ vọng của vị chỉ huy trưởng và vị nguyên thủ quốc gia, đã làm rạng danh cho ngôi trường Mẹ, Trường VBQGVN, cùng QLVNCH.
Dân tộc ngày một tan tác điêu linh, đất nước ngày một lâm nguy trong tay của bọn người chiến thắng man rợ, sẵn sàng bán nước cầu vinh. Nhất định có lúc, dân tộc Việt nam sẽ viết lại bản anh hùng ca dành cho những người chiến binh can trường bị bại trận oan khiên tức tưởi năm xưa.
Phạm Tín An Ninh

Một tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia và các sĩ quan tốt nghiệp - Nguyễn Kỳ Phong

Trong hai năm 1973 và 1974, một tham vụ chính trị ở Tòa Ðại Sứ Hoa Kỳ tên là James Nach, bắt đầu thâu thập một số chi tiết lịch sử về nguồn gốc các trường đào tạo sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) và sĩ quan tốt nghiệp từ các trường đó. Tác giả ghi lại rất nhiều chi tiết về mười khóa đầu của Trường Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt và năm khóa đầu của Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức. Ðây là một tập tài liệu với nhiều chi tiết lý thú. Ông James Nach còn bỏ công ra ghi lại chức vụ đương nhiệm của một số sĩ quan tốt nghiệp.
Theo sự hiểu biết của người viết bài này, tài liệu của James Nach là một trong hai tài liệu duy nhất của người Mỹ nghiên cứu về hệ thống đào tạo sĩ quan và xuất thân của sĩ quan QLVNCH. Năm 1970, cơ quan Advanced Research Projects Agency (một cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ) có thực hiện một nghiên cứu với tựa đề An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính cách chính trị nhiều hơn là lịch sử, vì tài liệu chỉ nói đến hệ thống sĩ quan tướng lãnh và phân loại họ có chiều hướng theo “phe” nào trong thời điểm đó. (i)
Tài liệu của James Nach được viết ở Sài Gòn và gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với sự chuẩn hành của Ðại Sứ Graham Martin. Vì tài liệu nằm trong dạng công văn, nên chỉ được lưu trữ trong văn khố hay các trung tâm nghiên cứu về Việt Nam. Bài viết dưới đây sơ lược lại những chi tiết lý thú của tác giả James Nach trong The National Military Academy and Its Prominent Graduates, và, Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools. (ii)

The National Military Academy and Its Prominent Graduates
Trong phần nghiên cứu về Trường Võ Bị Quốc Gia và Những Sĩ Quan Tốt Nghiệp Danh Tiếng, James Nach sơ lược lại sự thành hình của trường Võ Bị Quốc Gia. Hai khóa đầu tiên Trường Sĩ Quan Hiện Dịch bắt đầu ở Huế, Khóa 1 tháng 12, 1948, và Khóa 2 tháng 9, 1949. Tháng 10, 1950 trường dọn về Ðà Lạt và bắt đầu Khóa 3, với tên mới là Trường École Militaire Inter-Armes de Dalat. (iii) Trường chánh thức đổi lại thành Trường Võ Bị Liên Quân sau khi người Pháp rời Việt Nam năm 1955, và trở thành Trường Võ Bị Quốc Gia từ tháng 4 năm 1963 cho đến khi giải tán (Sắc Lệnh 325-QP, 10.4.1963).
Hai Khóa 1 Phan Bội Châu (53 sĩ quan tốt nghiệp) và Khóa 2 Quang Trung (97 tốt nghiệp) ở Huế ra trường một số sĩ quan sau này trở thành những tướng lãnh quan trọng của đầu thập niên 1960. Thủ khoa Khóa 1 là Trung Tướng Nguyễn Hữu Có; Khóa 2 là Thiếu Tướng Hồ Văn Tố (chết bất thình lình năm 1961 trong lúc chỉ huy Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức). Những tướng lãnh tốt nghiệp Khóa 1 như các Trung Tướng Ðặng Văn Quang, Tôn Thất Ðính, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Trung. Một số sĩ quan cấp thiếu tướng và chuẩn tướng như Bùi Ðình Ðạm, Phan Xuân Nhuận, Tôn Thất Xứng, Nguyễn Văn Chuân. Khóa 2 có chín sĩ quan trở thành Tướng lãnh: Trung Tướng Ngô Dzu và Nguyễn Văn Mạnh; các Thiếu Tướng Trần Thanh Phong; Huỳnh Văn Cao; Hoàng Văn Lạc; Lê Ngọc Triển; và Chuẩn Tướng Lê Trung Tường. Trung Tá Vương Văn Ðông, một trong những nhân vật chủ mưu đảo chánh 11 tháng 11, 1960, cũng ra từ Khóa 2 này.
Khóa 3 Trần Hưng Ðạo có 135 sĩ quan tốt nghiệp. Ðây là khóa đầu tiên khai giảng ở Ðà Lạt. Có 9 sĩ quan trở thành cấp tướng – cấp tướng hạng “nặng ký.” Khóa có 4 Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm (tư lệnh Quân Ðoàn I, tốt nghiệp hạng 5), Nguyễn Xuân Thịnh (tư lệnh Binh Chủng Pháo Binh, hạng 8), Lâm Quang Thi (tư lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn I, hạng 12); và Lữ Lan (tư lệnh Quân Ðoàn II, hạng 24). Hai sĩ quan tốt nghiệp trở thành tướng của quân chủng Không Quân là Chuẩn Tướng Võ Dinh (tham mưu trưởng Không Quân VNCH) và Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh (chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân). Hai Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu (Á khoa, tư lệnh Phó Quân Ðoàn III, khi bị tai nạn súng chết) và Lâm Quang Thơ. Tướng Thơ và Thi đều trở về trường mẹ, làm chỉ huy trưởng trường Võ Bị Quốc Gia.
Từ Khóa 4 (Khóa Lý Thường Kiệt, tháng 11.1951 – tháng 12.1951) đến Khóa 10 (Khóa Trần Bình Trọng, tháng 10.1953 – tháng 6.1954) trường đào tạo thêm 23 tướng lãnh. Phần lớn là những tướng hành quân/tác chiến, hơn là tướng tham mưu/hành chánh. Khóa 4 có hai trung tướng là Nguyễn Văn Minh (tư lệnh QÐ III, 1972) và cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh (tư lệnh QÐ IV khi tử nạn tháng 5, 1970). Hai sĩ quan kia là Chuẩn Tướng Ðỗ Kiến Nhiểu (Ðô Trưởng Sài Gòn) và Thủ khoa Nguyễn Cao Albert (giải ngũ). Riêng tên của cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh được đặt cho hai khóa tốt nghiệp sĩ quan của QLVNCH: Khóa 6/1970 Liên Trường Võ Khoa Thủ Ðức, và Khóa 26 Võ Bị Quốc Gia Ðà Lạt.
Khóa 5 Hoàng Diệu (8.1951 – 5.1952), với 225 sĩ quan tốt nghiệp, là khóa đào tạo nhiều tướng lãnh nhất: 10 sĩ quan cấp Tướng. Các trung tướng Nguyễn Văn Toàn; Nguyễn Vĩnh Nghi; Phạm Quốc Thuần; Dư Quốc Ðống; Phan Trọng Chinh. Hai thiếu tướng Trần Bá Di và Ðỗ Kế Giai. Các chuẩn tướng Trần Văn Cẩm; Chương Dzếnh Quay; Lê Văn Tư. Có ba đại tá tốt nghiệp khóa này cũng được nhắc đến nhiều là Dương Hiếu Nghĩa (thủ khoa, liên hệ đến vụ đảo chánh 1.11.1963); Phạm Văn Liễu (ra trường hạng 19, liên hệ đến nhiều vụ đảo chánh); và Lê Ðức Ðạt (hạng 20, tư lệnh Sư Ðoàn 22 Bộ Binh khi bị mất tích ở Tân Cảnh tháng 4, 1972).
Khóa 6 Ðinh Bộ Lĩnh (12.1951 – 10.1952; 181 sĩ quan tốt nghiệp) có ba chuẩn tướng Lý Tòng Bá (Thủ khoa); Trần Quang Khôi (hạng 6); và Trần Ðình Thọ (hạng 79). Nhà văn Trung Tá Nguyễn Ðạt Thịnh cũng đến từ khóa này.
Khóa 7 có Chuẩn Tướng Trương Quang Ân (Thủ khoa, tử nạn trực thăng năm 1968); Lê Văn Thân; và Trần Văn Hai.
Khóa 8 có Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, và Chuẩn Tướng Huỳnh Thới Tây (tư lệnh Cảnh Sát Ðặc Biệt).
Khóa 9 không có sĩ quan tốt nghiệp nào lên tướng.

Khóa 10 Trần Bình Trọng (10.1953 – 6.1954) là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên, với 400 sĩ quan tốt nghiệp. Thiếu Tướng Lê Minh Ðảo (hạng 18); hai chuẩn tướng Vũ Văn Giai và Trần Văn Nhật.
Mười khóa đầu của trường Võ Bị Quốc Gia đào tạo tất cả 40 tướng trong số 80 tướng hiện dịch của năm 1974 (80 tướng hiện dịch không kể tướng của quân chủng Hải Quân hay ngành Quân Y).
Trong khi 10 khóa đầu đào tạo nhiều tướng lãnh chỉ huy của QLVNCH, các Khóa 11 đến 20 đào tạo nhiều sĩ quan trung cấp, cột trụ của quân đội. Những sĩ quan cấp trung tá và đại tá của Khóa 14-18 hiện diện và chỉ huy hầu hết các đơn vị chủ lực của QLVNCH. (iv) Khóa 16 Ấp Chiến Lược (226 sĩ quan tốt nghiệp; Thủ khoa Bùi Quyền) có nhiều sĩ quan đã lên đến cấp bậc trung tá hay đại tá, chỉ huy Trung Ðoàn hay Lữ Ðoàn trong quân đội.
Hai Khóa 19 và 20 thì có nhiều sĩ quan tiểu đoàn trưởng. Khóa 19 có 394 sĩ quan tốt nghiệp và là khóa kém may mắn nhất: ba sĩ quan vừa tốt nghiệp vài ngày đã tử trận ngay ở chiến trường, trong đó Thủ khoa Võ Thành Kháng (trận Bình Giả). Khóa 20 được coi là đông nhất (406 tốt nghiệp; Thủ khoa Trần Thanh Quang). Khóa 22B là khóa đầu tiên ra trường với trình độ văn hóa bốn năm. Nhưng khóa cũng không được may mắn khi Thủ khoa Nguyễn Thanh Phóng bị tử trận vài tháng sau đó, trong cuộc hành quân đánh qua đánh qua Cam Bốt năm 1970.
Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools
Ðây là tài liệu nghiên cứu về Lịch Sử Quân Ðội Quốc Gia, hệ thống sĩ quan, và các trường huấn luyện quân sự. Tác giả James Nach đi ngược về năm 1939, khi Cao Ủy Ðông Dương, Tướng Catroux, bắt đầu tuyển mộ và huấn luyện sĩ quan Việt Nam cho quân đội Pháp và cho quân đội thuộc địa trong tương lai. Ðây không phải là một thiện chí của chánh phủ Pháp đối với người dân thuộc địa, đây chỉ là một phòng hờ cho Thế Chiến Thứ Hai bắt đầu nhen nhúm.
Tài liệu nói về một số trường đào tạo cấp chỉ huy quân sự từ năm 1939 trở đi như, Nội Ứng Nghĩa Ðinh và Nội Ứng Nghĩa Quân. Theo tác giả Nach, Trung Tướng Văn Thành Cao và Trình Minh Thế của quân đội Liên Minh Cao Ðài được huấn luyện từ trường này. Người Pháp cũng lập ra một vài trường huấn luyện quân sự cho các Giáo pháo.
Trường huấn luyện Cái Vồn của Hòa Hảo là nơi xuất thân của các Tướng Trần Văn Soái, Cao Hảo Hớn, Lâm Thành Nguyên. Tác giả cho biết sau khi trường Cái Vồn bị đóng cửa, một số sinh viên được phép ghi danh nhập học trường Võ Bị ở Huế. Những trường khác được nhắc tên trong giai đoạn này như Trường Móng Cay, Trường Quân Chính, trường Quốc Gia Thanh Niên Ðoàn (một trường quân sự chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lập).

Năm 1946-47, Ðảng Ðại Việt của Trương Tử Anh thiết lập trường huấn luyện quân sự Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Trường khai giảng ở Thanh Hóa, nhưng sau đó vì áp lực của Việt Minh nên phải dời về Yên Bái, và sau cùng về vùng Chapa gần biên giới Việt-Trung. Trường này đôi khi còn được gọi là trường Sĩ Quan Yên Bái. Những người đã theo học trường này gồm có Thiếu Tướng Phạm Xuân Chiểu; Ðại Tá Phạm Văn Liễu; Ðại Sứ Ðinh Trình Chính (đại sứ ở Thái Lan); Ðại Sứ Ngô Tôn Ðạt (đại sứ ở Ðại Hàn); và ký giả Nguyễn Tú (nhật báo Chính Luận). (v)
Cũng trong thời gian 1938-1940, quân đội Pháp thiết lập hai trường huấn luyện Sĩ Quan và Hạ Sĩ Quan thành sĩ quan (vi) ở Thủ Dầu Một và Tong. Ðại Tướng Dương Văn Minh, và Tổng Trưởng Tư Pháp Lê Văn Thu theo học Trường Thủ Dầu Một; trường Tong thì có những sĩ quan tốt nghiệp như các Trung Tướng Trần Văn Ðôn; Linh Quang Viên; Nguyễn Văn Vỹ; và Trần Văn Minh.

Sau Ðệ Nhị Thế Chiến, Bộ Tư Lệnh Quân Ðội ở Ðông Dương gia tăng tuyển mộ lính thuộc địa cũng như huấn luyện cấp chỉ huy để phục vụ ở những đơn vị này. Trường Võ Bị Võ Bị Liên Quân Viễn Ðông được thành lập tháng 7, 1946 tại Ðà Lạt. Trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp. (vii) Những sĩ quan tốt nghiệp trường này gồm có hai Ðại Tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm; Trung Tướng Trần Ngọc Tám và Dương Văn Ðức; các Thiếu Tướng Nguyễn Văn Kiểm (Chánh Võ Phòng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu); Lâm Văn Phát; Bùi Hữu Nhơn; Cao Hảo Hớn; và Dương Ngọc Lắm.
Năm 1947-1948, trường được dọn Vũng Tàu và có tên mới là École Militaire Nuoc Ngot (Trương Võ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu). Những sĩ quan tốt nghiệp trường này có cố Trung Tướng Ðỗ Cao Trí; Thiếu Tướng Nguyễn Xuân Trang (Tham Mưu Phó/Nhân Viên, Bộ Tổng Tham Mưu); Ðại Tá Trang Văn Chính (Chỉ Huy Phó Chiến Tranh Chính Trị); và Ðại Tá Bùi Quang Ðịnh (Bộ Chiêu Hồi).
Trong 5 năm, 1949-1953, một trung tâm huấn luyện hoàn hảo sĩ quan được thành lập ở Cap St. Jacques. Trung tâm huấn luyện năm khóa. Khóa 1 có những sĩ quan tốt nghiệp như cố Ðại Tướng Cao Văn Viên; cố Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi; Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh; và Ðại Tá Vũ Quang Tài.
Như đã nói ở phần đầu bài viết, năm 1948, một trường đào tạo sĩ quan được thành lập ở Huế để bắt đầu lịch sử Trường Võ Bị Quốc Gia. Tác giả James Nach đã sơ lược về Trường Võ Bị Quốc Gia. Cũng trong cùng tài liệu, ông Nach sơ lược về lịch sử Trường Liên Quân Võ Khoa Thủ Ðức. Tài liệu này cũng công phu không kém tài liệu về Trường Võ Bị Quốc Gia. Vì khuôn khổ giới hạn của bài viết, ở đây chỉ tóm tắt lại những chi tiết đáng ghi nhớ.
Nguyên thủy lúc thành hình là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thu Duc va Nam Dinh (Les Écoles des Cadres de Réserve de Thu Duc et Nam Dinh), với Khóa 1 Lê Văn Duyệt được khai giảng ngày 1 tháng 10-1951 ở hai nơi, Thủ Ðức và Nam Ðịnh. Thủ Ðức có 278 sĩ quan tốt nghiệp; Nam Ðịnh có 218. Khóa 1 đào tạo tất cả 19 tướng lãnh cho QLVNCH, trong đó có bốn trung tướng Trần Văn Minh, Nguyễn Ðức Thắng, Lê Nguyên Khang, và Ðồng Văn Khuyên (Á khoa). Sau Khóa 1, trường dời về Thủ Ðức.

Trong mười khóa đầu tiên, Khóa 4 Cương Quyết (12.1953 – 6.1954) và Khóa 5 Vì Dân (6.1954 – 2.1955) có số sinh viên tốt nghiệp nhiều nhất, 1,148 sĩ quan cho Khóa 4; 1,396 cho Khóa 5. Khóa 4 có được 5 sĩ quan lên cấp tướng: cố Trung Tướng Ngô Quang Trưởng; Thiếu Tướng Bùi Thế Lân; cố Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng và Hồ Trung Hậu; và Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Ðiềm. Khóa 5 có Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng. trừ những sĩ quan Tướng lãnh, Khóa 4 có nhiều sĩ quan cấp Trung Tá và Ðại Tá chỉ huy những đơn vị chủ lực của QLVNCH. Nhìn lại lịch sử cuộc chiến, đây là những sĩ quan đứng mũi chịu sào của giai đoạn khói lửa 1965-1972. Theo tài liệu của James Nach, từ năm 1951 đến năm 1965, Thủ Ðức đào tạo 20,927 sĩ quan. Ðến tháng 9, 1973, có tất cả 80,115 sĩ quan tốt nghiệp từ trường. (viii)

Chú thích:
(i) Allan E. Goodman, An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Rand Research, RM-6189-ARPA, June 1970 (declassified 1992). Tài liệu này được bắt đầu thực hiện vào năm 1967, thời gian này vẫn còn nhiều xung đột giữa hai nhóm tướng lãnh, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Trong tài liệu, ngoài một số chi tiết cá nhân của các tướng lãnh, tác giả Goodman còn phân loại ra tướng lãnh thuộc phe nhóm nào.
(ii) The National Military Academy and Its Prominent Graduates, James Nach, American Ambassy Saigon, Airgram A-95, May 13, 1974; Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its, James Nach, airgram A-131, no date.
(iii) Một số sĩ quan tốt nghiệp Khóa 3 Trần Hưng Ðạo không đồng ý gọi đó là Khóa 3, mà là Khóa 1 Ðà Lạt. Ðại tá Bùi Dzinh, thủ khoa khóa Trần Hưng Ðạo (11 tháng 10,1950 – 24 tháng 6, 1951) trong một lá thư viết cho ban biên tập Nội San Ða Hiệu (Ða Hiệu, Số 43, phát hành 19 tháng 6, 1996, trang 247-149), nói ý kiến của ông là, vì trường bắt đầu một tiến trình mới của quân đội, không có liên hệ với trường Sĩ Quan Hiện Dịch Ðập Ðá ở Huế, nên ông không gọi đó là Khóa 3. Ông viết, “Tôi không muốn tranh ngôi thứ của khóa, chỉ nhằm nói lại cho danh chánh ngôn thuận mà thôi.” Trung Tướng Lữ Lan, cũng khóa Trần Hưng Ðạo, thì nói, vì mình kính trọng hai lớp đàn anh đi trước, nên gọi đó là Khóa 3. Trong bài viết này, Khóa 3 là khóa bắt đầu ở Ðà Lạt.
(iv) Dĩ nhiên chúng ta không thể không nhắc đến sĩ quan tốt nghiệp từ Trường Võ Bị Liên Quân Thủ Ðức. Tuy nhiên đó là một đề tài khác. Khóa 14 Ðà Lạt tương đương với Khóa 8 Thủ Ðức, cùng ra đầu năm 1960. Khóa 20 Ðà Lạt (11-1965) và Khóa 20 Thủ Ðức cũng tốt nghiệp cùng thời gian (12-1965; năm 1965 Thủ Ðức cho ra trường ba khóa, 18, 19, và 20).
(v) Theo lời ký giả Nguyễn Tú kể, thì đại sứ chỉ học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn trong thời gian ở Yên Bái, và bỏ dở chương trình lúc trường dọn về Chapa.
(vi) Trường Hạ Sĩ Quan Thành Sĩ Quan, còn gọi là Trường Hoàn Hảo Sĩ Quan – Centre de Perfectionnement des Sous Officiers Indochinois.
(vii) Tài liệu của James Nach nói 16 sĩ quan tốt nghiệp, trong khi sách quân sử VNCH Quân Lực Việt Nam Trong Giai Ðoạn Hình Thành nói chỉ có 10 sĩ quan tốt nghiệp.
(viii) Vì khuôn khổ giới hạn, người viết sơ lược đến đó. Ðọc giả có thể tìm tài liệu này ở hai nơi: Vietnam Center, Texas Tech University, Lubbock, Texas; hay, Cornell University, Ithaca, New York.

Theo tin từ một người bạn, cùng lớp ở PBC cho biết:
“Võ thành Kháng, thủ khoa khóa 19 Võ bị 
là dân Phan thiết đã hy sinh trong trận Bình Giả sau ngày mãn khóa không đầy 2 tháng. 
Nhà anh ở ấp Đức Thắng, làm nước mắm, rất khá giả. 
Cái chết anh làm nhiều người khóc và tiếc thương. Nhất là chị hôn thê của anh, 2 người dự định đám cưới một ngày không xa.”