Thursday, November 15, 2018

Ra mắt sách "Biệt Đội Thiên Nga" của Biệt Đội Trưởng Nguyễn Thanh Thủy

GARDEN GROVE - Vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy, ngày 7 tháng 7, 2018 hàng trăm đồng hương bất chấp thời tiết đang ở 100 độ F vẫn kéo đến Thư Viện Việt Nam, Garden Grove để tham dự buổi ra mắt cuốn sách được trông đợi từ lâu “Biệt Đội Thiên Nga” do chính Biệt Đội Trưởng Nguyễn Thanh Thủy, người nữ sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia VNCH đã bị đày ải trong lao tù Việt Cộng 13 năm viết. 
 
Chiến hữu Nhữ Đình Toán (hàng đầu bên phải) cùng đông đảo chiến hữu, thân hữu ngồi chật kín Thư Viện VN. (Thanh Phong/Viễn Đông)
 
Biệt Đội Thiên Nga là gì? Ngay cả phần lớn những chiến hữu trong Lực Lượng CSQG cũng chỉ biết một cách mơ hồ, đó là một mạng lưới tình báo của Cảnh Sát. Còn Biệt Đội Thiên Nga làm gì, tạo nên những thành tích gì đều được giấu kín, mãi đến hôm nay, người Biệt Đội Trưởng mới trả lời những câu hỏi trên qua cuốn sách mang tên “Biệt Đội Thiên Nga.”
Chiến hữu CSQG Nhữ Đình Toán phụ trách điều hợp chương trình. Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, thay mặt tác giả và ban tổ chức, ông ngỏ lời cám ơn quý niên trưởng, chiến hữu, thân hữu, đồng hương và các cơ quan truyền thông đã đến tham dự buổi ra mắt cuốn Biệt Đội Thiên Nga của Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy; ông cũng nói sơ lược về nội dung cuốn sách sau đó ông mời Đại Tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG lên phát biểu.
 
Đại tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG, diễn giả chính trong buổi ra mắt sách. (Thanh Phong/Viễn Đông)

Đại Tá Trần Minh Công đã được đọc cuốn sách và ông đưa ra lời nhận định như sau, “Trước đây tôi đã từng đọc quyển hồi ký Đóa Hồng Gai của chị Nguyễn Thanh Nga, một cựu tù CS bất khuất và hôm nay tôi lại được đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga của Nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy, cũng là một cựu tù nhân bất khuất với 13 năm giam giữ khổ sai bởi CSVN. 
“Mười-ba năm đọa đầy đã làm biến dạng một nữ sĩ quan xinh đẹp một thời là sinh viên Đại Hoc Chính Trị Kinh Doanh Dalat trước khi tham gia Lực Lượng CSQG. Tôi tiếc thương cho cuộc đời của một thiếu nữ vì yêu nước mà đã bị Cộng Sản đày đọa tàn phá dung nhan. Nhưng tôi không khỏi không cảm phục những con cháu Bà Trưng, Bà Triệu như nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, đã vì yêu nước mà chấp nhận mọi vất vả gian nguy để theo đuổi lý tưởng của mình.
“Chị Thủy tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan tại Học Viện CSQG. Học Viện CSQG là một quân trường sĩ quan của Lực Lượng Cảnh Sát, vào thời 1965 tọa lạc trong vòng thành Biệt Khu Thủ Đô Saigon. Lúc đó tôi là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Sinh Viên, trông coi và hướng dẫn tất cả các Sinh Viên Sĩ Quan khóa 1 trong đó có gần 400 nam SVSQ và chừng 50 nữ SVSQ. Nhìn những nữ SVSQ xinh đẹp đang là sinh viên của các trường Đại Học thời bấy giờ, tôi tự hỏi không biết rồi sau này khi ra trường họ sẽ được Lực Lượng CSQG giao phó nhiệm vụ gì. Họ rồi có gánh vác được những áp lực nặng nề và đôi khi nguy hiểm của một lực lượng bán quân sự như Lực Lượng CSQG hay không. 
“Tôi thật không ngờ một nữ sĩ quan yểu điệu như chị Thủy lại được giao phó một trọng trách lớn trong ngành điệp báo, thành lập và đứng đầu một toán nữ điệp viên với danh xưng là Biệt Đội Thiên Nga. Trong thời gian sôi động của những năm sau Tết Mậu Thân, từ 1968 đến ngày Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản năm 1975, biệt đội này đã cài nhân viên vào các tổ chức Việt Cộng nằm vùng và ngay cả gài một điệp viên vào mật khu của Việt Cộng để thâu lượm tin tức tình báo. 
“Chính nhờ những tin tức tình báo thu thập được mà Lực Lượng CSQG đã kịp thời chuẩn bị và vô hiệu hóa nhiều hoạt động phá hoại của Việt Cộng tại các tỉnh, thị Nam VN trước 1975. Cũng chính vì sự hữu hiệu này của Biệt Đội Thiên Nga do nữ Thiếu Tá Thanh Thủy chỉ huy mà Việt Cộng đã trả thù, đày đọa và hủy hoại nhan sắc của chị trong suốt 13 năm tù đày sau 1975.
“Đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga dày 200 trang, gồm 9 Chương, của nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy chúng ta nghe chị kể lại trong hoàn cảnh nào đang là một nữ sinh viên đại học Đàlạt chị đã chọn lý tưởng phục vụ quốc gia qua Lực Lượng Cảnh Sát. Tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan Cảnh Sát, chị Thủy được điều động về phục vụ tại Khối Cảnh Sát Đặc Biệt. Chị được gửi đi học các khóa về tình báo trong đó có khóa tình báo tác chiến và chống nổi dậy (insurgency prevention) tại Mã Lai. 
“Khi Biệt Đội Thiên Nga được thành lập vào cuối năm Mậu Thân chị phục vụ trong Biệt Đội này và chỉ một thời gian ngắn sau đó trở thành Biêt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga. Các chương 2 và 3 của cuốn hồi ký nói về sự thành lập và huấn luyện tình báo cho các Thiên Nga CSQG. Từ chương 4 cho đến chương 9 chị kể lại một số hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga, như việc các điệp viên Thiên Nga xâm nhập và theo dõi các cá nhân và tổ chức nằm vùng của Việt Cộng hoặc các tổ chức do Việt Cộng giật giây. 
“Điển hình là Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Quả Phụ Tử Sĩ VN, Hội Nữ Phật Tử Long Hoa, Nghiệp Đoàn Bạn Hàng Các Chợ, Đoàn Thanh Sinh Công, Nhóm Công Giáo Thân Cộng của các LM Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín, Nhóm Phật Tử Ấn Quang, Phong Trào Sinh Viên tại các đại học Saigon và nhiều hội đoàn khác nữa. Điệp viên của Thiên Nga đã xâm nhập nhiều tổ chức mà danh xưng nghe rất hiền hòa nhưng lại là nơi trú ẩn và hoạt động của cán bộ Việt Cộng như Phong Trào Phụ Nữ VN, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của Ni Sư Huỳnh Liên, luật sư Ngô Bá Thành trong đó có một nữ dược sĩ vợ một BS Quân Y, QL/ VNCH mà sau này Biệt Đội Thiên Nga phát giác ra là một Đại Uý Việt Cộng. 
“Các Tổng Hội Sinh Viên Saigon và Vạn Hạnh của nhóm sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh... đều là những mục tiêu xâm nhập của các điệp viên Thiên Nga dưới lốt nữ sinh viên. Các tổng hội sinh viên này có cán bộ Thành Đoàn Việt Cộng đứng đằng sau yểm trợ và giật giây. Một tổ chức nghe như vô thưởng vô phạt là Hội Bạn Hàng Các Chợ lại do một phụ nữ có chồng là một Đại Tá Việt Cộng điều khiển. Người ta còn nhớ từ 1963-1975 sinh viên các trường Đại Học Saigon thường xuyên bị Việt Cộng lợi dụng xúi bẩy xuống đường gây xáo trộn hậu phương. 
“Thiên Nga đã phải tuyển mộ nhiều nữ sinh viên các trường đại học Văn Khoa, Luật Khoa, Sư Phạm... làm tình báo viên hầu giúp phát hiện các sinh viên thiên cộng hoặc các cán bộ Thành Đoàn của VC giả dạng sinh viên gây xáo trộn. Các tổ chức có tính cách tôn giáo như chùa Ấn Quang, trường Công Giáo Chân Phước Liêm cũng là những nơi Việt Cộng len lỏi vào và Thiên Nga phải xâm nhập để theo dõi. Tịnh xá Ngọc Phương ở Gò Vấp của ni sư Huỳnh Liên cũng là nơi điệp viên Thiên Nga có mặt và đã phát hiện là nơi giao liên của VC. Một điệp viên Thiên Nga đã được nhóm ni sư Huỳnh Liên và vài nhân vật trong chùa Ấn Quang móc nối để đưa vào mật khu VC huấn luyện. Điệp viên này sau đó đã hoạt động với VC cho tới 1975 mới bị Việt Cộng phát giác. 
“Biệt Đội Thiên Nga cũng đã móc nối một số hồi chánh viên hoạt động như gián điệp nhị trùng để cung cấp cho ta những âm mưu đánh phá của VC. Chuyện kể như trong các phim tình báo giả tưởng nhưng lại là có thật: một nữ điệp viên của Thiên Nga bí danh Tư Hương được cài vào hoạt động trong mật khu VC. Chị Tư Hương được trang bị một máy phát tuyến gắn trong đôi guốc có thể phát tín hiệu để máy bay của ta theo dõi mỗi bước chân của chị. Chính nhờ vậy mà cơ quan an ninh của ta đã biết được nơi hội họp của các cán bộ VC đầu não đang nghiên cứu kế hoạch chuyển quân quanh mật khu Đồng Dù chuẩn bị tấn công một vài đơn vị quân đội VNCH. 
“Chuyện xâm nhập để theo dõi và thu thập tin tức tình báo của biệt đội Thiên Nga thì còn nhiều và xin để quý độc giả tuần tự khám phá ra khi đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga của Nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy. Cuốn hồi ký cũng sẽ mang lại cho quý vị nhiều bất ngờ như vụ sinh viên Việt Cộng Huỳnh Tấn Mẫm lại được chính Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Đại Tướng Dương Văn Minh che chở. Chuyện nữ kịch sĩ Kim Cương thực ra là nữ Thượng Tá Kim Cương, nữ nghệ sĩ Thanh Nga lại là Thượng Úy Việt Cộng có nhiệm vụ móc nối Đại Úy VNCH Nguyễn Minh Mẫn người trông coi khu thương cảng của Hoa Kỳ thời đó. 
“Thanh Nga đã được Kim Cương móc nối lấy ông Luật sư Phạm Duy Lân nguyên là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin VNCH. Ông đã tham dự Hội Nghị ký kết Hiệp Định Paris năm 1973 đã đưa Thanh Nga cùng đi, dĩ nhiên Thượng Úy Thanh Nga đi theo để làm gì thì bây giờ chúng ta đã biết. 
“Tất cả những tin tức này đều do các nữ điệp viên Thiên Nga xâm nhập và trở thành người thân tín của Kim Cương cung cấp.. Chuyện nữ kịch sĩ Kim Cương đã dàn xếp để minh tinh Thẩm Thúy Hằng trở thành vợ của Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh như thế nào, lại phải mời quý vị độc giả từ từ khám phá ra khi đọc hồi ký của nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga VNCH.
“Hai-trăm trang giấy của cuốn hồi ký này không phải chỉ là những chuyện kể lại nghe cho vui nhưng sẽ là những mảng sử liệu ghi lại một số hoạt động tình báo của CSQG Việt Nam, do các nữ sĩ quan và nhân viên của một đơn vị tình báo đặc biệt. Các chuyện kể là có thật tuy không phải là tất cả. Tôi tin rằng còn nhiều chuyện mà Thiếu Tá Thanh Thủy vì những lý do đặc biệt nghề nghiệp chưa tiện tiết lộ. 
“Nghề tình báo là sống để bụng, chết mang đi. Chỉ có thể tiết lộ những gì không còn cần giữ bí mật. Nhiều đối tượng có thể bắt được nhưng không bắt vì đầu mối còn phải được nuôi dưỡng để phanh ra những đối tượng quan trọng hơn. Những chiến công tình báo không được phô trương rầm rộ, chỉ âm thầm chia sẻ với nhau. Đó là những thiệt thòi của nghề tình báo. Đó là những thiệt thòi của các thành viên Biệt Đội Thiên Nga. Không ai biết nhưng tổ quốc biết và ghi công. 
“Hôm nay trong tư cách là một huynh trưởng CSQG của chị, tôi muốn nói lên lời cám ơn Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, cám ơn các nữ Sĩ Quan và nhân viên Biệt Đội Thiên Nga còn sống hay đã hy sinh vì nhiệm vụ. Quý chị là những anh thư của Việt Nam mà ít người biết đến. Nhưng phục vụ Tổ quốc thì xá gì người đời biết đến hay không.. Tổ quốc biết đến và ghi công là đủ. Tôi xin bày tỏ sự ngưỡng mộ của tôi đối với Biệt Đội Thiên Nga và xin trân trọng giới thiệu cuốn hồi ký này đến toàn thể quý vị.”
Tiếp theo, ban tổ chức mời cô Glassey Trang Đài-Trần Nguyễn rồi đến chiến hữu Nhữ Đình Toán và nhà thơ Trạch Gầm lên phát biểu. Chiến hữu Nhữ Đình Toán và tác giả đều tốt nghiệp Khóa I Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG. Ông cho biết, để được tuyển vào Khóa 1 các nữ SVSQ Thẩm Sát Viên hay Biên Tập Viên đều là những thiếu nữ xinh đẹp, vì đó là một trong những tiêu chuẩn về nhân dáng để được tuyển chọn, chị Thanh Thủy là một trong số các nữ SVSQ Biên Tập Viên đó, và sau khi đảm nhiệm vai trò Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga với những thành tích lẫy lừng, chị đã được ân thưởng Đệ Tam Đẳng Cảnh Sát Chiến Công Bội Tinh, Đệ Nhị Đẳng Danh Dự Bội Tinh.
Chị Nguyễn Thanh Thủy lên ngỏ lời cảm tạ Thượng Đế đã cho chị đủ nghị lực vượt qua những thử thách của cuộc đời. Tri ân cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục để chị trở thành người con dân đất Việt có lý tưởng quốc gia, cám ơn người bạn đời là ông Lê Thành Long (Sĩ quan Nghi Lễ của Trường Võ Bị Quốc Gia VN) và các con chị đã đồng cam cộng khổ trong suốt những năm tháng anh chị bị giam trong ngục tù CS, cám ơn người em út là Minh Nguyệt đã chăm sóc các cháu khi anh chị ở trong tù VC. 
Chị cũng không quên cám ơn các Thầy, Cô đã giúp chị mở mang kiến thức, cám ơn các Thiên Nga đã cùng chị cống hiến đời mình cho đất nước và phải bị giam cầm nhiều năm trong chốn lao tù CS. Cuối cùng, chị cám ơn các chiến hữu CSQG, thân hữu đã góp tay giúp chị hoàn tất cuốn “Biệt Đội Thiên Nga.” 
Hiện nay chị Nguyễn Thanh Thủy đang kế nhiệm Hội Trưởng Hội H.O. Cứu Trợ TPB/QP/VNCH. Chị đã mời các Thiên Nga lên sân khấu và trao tặng mỗi chị một vòng hoa, và cám ơn Biệt Đội Văn Nghệ do anh Vũ Long Sơn Hải chỉ huy đã giúp phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách.
Tiến sĩ Orchid Thanh Lê, người được đọc bản thảo cuốn sách đã viết thay lời mở đầu: “Tôi tin rằng cuốn sách Biệt Đội Thiên Nga sẽ mang một mẫu số chung đến với độc giả từ khắp mọi nơi, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp, đó là, sự tìm về bối cảnh của một thể chế VNCH trong đó các Thiên Nga nước Việt chung vai gánh vác sơn hà không thua gì nam giới, để chúng ta cùng xúc động với lời kể đơn sơ mà thấm đẫm tự hào dân tộc của Thiên Nga đầu đàn, Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy. Và còn nhiều, nhiều nữa.”

Ra mắt sách "Biệt Đội Thiên Nga" của Biệt Đội Trưởng Nguyễn Thanh Thủy

GARDEN GROVE - Vào lúc 2 giờ chiều thứ Bảy, ngày 7 tháng 7, 2018 hàng trăm đồng hương bất chấp thời tiết đang ở 100 độ F vẫn kéo đến Thư Viện Việt Nam, Garden Grove để tham dự buổi ra mắt cuốn sách được trông đợi từ lâu “Biệt Đội Thiên Nga” do chính Biệt Đội Trưởng Nguyễn Thanh Thủy, người nữ sĩ quan Cảnh Sát Quốc Gia VNCH đã bị đày ải trong lao tù Việt Cộng 13 năm viết. 
 
Chiến hữu Nhữ Đình Toán (hàng đầu bên phải) cùng đông đảo chiến hữu, thân hữu ngồi chật kín Thư Viện VN. (Thanh Phong/Viễn Đông)
 
Biệt Đội Thiên Nga là gì? Ngay cả phần lớn những chiến hữu trong Lực Lượng CSQG cũng chỉ biết một cách mơ hồ, đó là một mạng lưới tình báo của Cảnh Sát. Còn Biệt Đội Thiên Nga làm gì, tạo nên những thành tích gì đều được giấu kín, mãi đến hôm nay, người Biệt Đội Trưởng mới trả lời những câu hỏi trên qua cuốn sách mang tên “Biệt Đội Thiên Nga.”
Chiến hữu CSQG Nhữ Đình Toán phụ trách điều hợp chương trình. Sau nghi thức chào cờ và mặc niệm, thay mặt tác giả và ban tổ chức, ông ngỏ lời cám ơn quý niên trưởng, chiến hữu, thân hữu, đồng hương và các cơ quan truyền thông đã đến tham dự buổi ra mắt cuốn Biệt Đội Thiên Nga của Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy; ông cũng nói sơ lược về nội dung cuốn sách sau đó ông mời Đại Tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG lên phát biểu.
 
Đại tá Trần Minh Công, Viện Trưởng Học Viện CSQG, diễn giả chính trong buổi ra mắt sách. (Thanh Phong/Viễn Đông)

Đại Tá Trần Minh Công đã được đọc cuốn sách và ông đưa ra lời nhận định như sau, “Trước đây tôi đã từng đọc quyển hồi ký Đóa Hồng Gai của chị Nguyễn Thanh Nga, một cựu tù CS bất khuất và hôm nay tôi lại được đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga của Nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy, cũng là một cựu tù nhân bất khuất với 13 năm giam giữ khổ sai bởi CSVN. 
“Mười-ba năm đọa đầy đã làm biến dạng một nữ sĩ quan xinh đẹp một thời là sinh viên Đại Hoc Chính Trị Kinh Doanh Dalat trước khi tham gia Lực Lượng CSQG. Tôi tiếc thương cho cuộc đời của một thiếu nữ vì yêu nước mà đã bị Cộng Sản đày đọa tàn phá dung nhan. Nhưng tôi không khỏi không cảm phục những con cháu Bà Trưng, Bà Triệu như nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, đã vì yêu nước mà chấp nhận mọi vất vả gian nguy để theo đuổi lý tưởng của mình.
“Chị Thủy tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan tại Học Viện CSQG. Học Viện CSQG là một quân trường sĩ quan của Lực Lượng Cảnh Sát, vào thời 1965 tọa lạc trong vòng thành Biệt Khu Thủ Đô Saigon. Lúc đó tôi là Liên Đoàn Trưởng Liên Đoàn Sinh Viên, trông coi và hướng dẫn tất cả các Sinh Viên Sĩ Quan khóa 1 trong đó có gần 400 nam SVSQ và chừng 50 nữ SVSQ. Nhìn những nữ SVSQ xinh đẹp đang là sinh viên của các trường Đại Học thời bấy giờ, tôi tự hỏi không biết rồi sau này khi ra trường họ sẽ được Lực Lượng CSQG giao phó nhiệm vụ gì. Họ rồi có gánh vác được những áp lực nặng nề và đôi khi nguy hiểm của một lực lượng bán quân sự như Lực Lượng CSQG hay không. 
“Tôi thật không ngờ một nữ sĩ quan yểu điệu như chị Thủy lại được giao phó một trọng trách lớn trong ngành điệp báo, thành lập và đứng đầu một toán nữ điệp viên với danh xưng là Biệt Đội Thiên Nga. Trong thời gian sôi động của những năm sau Tết Mậu Thân, từ 1968 đến ngày Miền Nam rơi vào tay Cộng Sản năm 1975, biệt đội này đã cài nhân viên vào các tổ chức Việt Cộng nằm vùng và ngay cả gài một điệp viên vào mật khu của Việt Cộng để thâu lượm tin tức tình báo. 
“Chính nhờ những tin tức tình báo thu thập được mà Lực Lượng CSQG đã kịp thời chuẩn bị và vô hiệu hóa nhiều hoạt động phá hoại của Việt Cộng tại các tỉnh, thị Nam VN trước 1975. Cũng chính vì sự hữu hiệu này của Biệt Đội Thiên Nga do nữ Thiếu Tá Thanh Thủy chỉ huy mà Việt Cộng đã trả thù, đày đọa và hủy hoại nhan sắc của chị trong suốt 13 năm tù đày sau 1975.
“Đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga dày 200 trang, gồm 9 Chương, của nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy chúng ta nghe chị kể lại trong hoàn cảnh nào đang là một nữ sinh viên đại học Đàlạt chị đã chọn lý tưởng phục vụ quốc gia qua Lực Lượng Cảnh Sát. Tốt nghiệp Khóa 1 Sĩ Quan Cảnh Sát, chị Thủy được điều động về phục vụ tại Khối Cảnh Sát Đặc Biệt. Chị được gửi đi học các khóa về tình báo trong đó có khóa tình báo tác chiến và chống nổi dậy (insurgency prevention) tại Mã Lai. 
“Khi Biệt Đội Thiên Nga được thành lập vào cuối năm Mậu Thân chị phục vụ trong Biệt Đội này và chỉ một thời gian ngắn sau đó trở thành Biêt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga. Các chương 2 và 3 của cuốn hồi ký nói về sự thành lập và huấn luyện tình báo cho các Thiên Nga CSQG. Từ chương 4 cho đến chương 9 chị kể lại một số hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga, như việc các điệp viên Thiên Nga xâm nhập và theo dõi các cá nhân và tổ chức nằm vùng của Việt Cộng hoặc các tổ chức do Việt Cộng giật giây. 
“Điển hình là Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống, Hội Quả Phụ Tử Sĩ VN, Hội Nữ Phật Tử Long Hoa, Nghiệp Đoàn Bạn Hàng Các Chợ, Đoàn Thanh Sinh Công, Nhóm Công Giáo Thân Cộng của các LM Nguyễn Ngọc Lan và Chân Tín, Nhóm Phật Tử Ấn Quang, Phong Trào Sinh Viên tại các đại học Saigon và nhiều hội đoàn khác nữa. Điệp viên của Thiên Nga đã xâm nhập nhiều tổ chức mà danh xưng nghe rất hiền hòa nhưng lại là nơi trú ẩn và hoạt động của cán bộ Việt Cộng như Phong Trào Phụ Nữ VN, Phong Trào Phụ Nữ Đòi Quyền Sống của Ni Sư Huỳnh Liên, luật sư Ngô Bá Thành trong đó có một nữ dược sĩ vợ một BS Quân Y, QL/ VNCH mà sau này Biệt Đội Thiên Nga phát giác ra là một Đại Uý Việt Cộng. 
“Các Tổng Hội Sinh Viên Saigon và Vạn Hạnh của nhóm sinh viên Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Văn Nuôi, Võ Như Lanh... đều là những mục tiêu xâm nhập của các điệp viên Thiên Nga dưới lốt nữ sinh viên. Các tổng hội sinh viên này có cán bộ Thành Đoàn Việt Cộng đứng đằng sau yểm trợ và giật giây. Một tổ chức nghe như vô thưởng vô phạt là Hội Bạn Hàng Các Chợ lại do một phụ nữ có chồng là một Đại Tá Việt Cộng điều khiển. Người ta còn nhớ từ 1963-1975 sinh viên các trường Đại Học Saigon thường xuyên bị Việt Cộng lợi dụng xúi bẩy xuống đường gây xáo trộn hậu phương. 
“Thiên Nga đã phải tuyển mộ nhiều nữ sinh viên các trường đại học Văn Khoa, Luật Khoa, Sư Phạm... làm tình báo viên hầu giúp phát hiện các sinh viên thiên cộng hoặc các cán bộ Thành Đoàn của VC giả dạng sinh viên gây xáo trộn. Các tổ chức có tính cách tôn giáo như chùa Ấn Quang, trường Công Giáo Chân Phước Liêm cũng là những nơi Việt Cộng len lỏi vào và Thiên Nga phải xâm nhập để theo dõi. Tịnh xá Ngọc Phương ở Gò Vấp của ni sư Huỳnh Liên cũng là nơi điệp viên Thiên Nga có mặt và đã phát hiện là nơi giao liên của VC. Một điệp viên Thiên Nga đã được nhóm ni sư Huỳnh Liên và vài nhân vật trong chùa Ấn Quang móc nối để đưa vào mật khu VC huấn luyện. Điệp viên này sau đó đã hoạt động với VC cho tới 1975 mới bị Việt Cộng phát giác. 
“Biệt Đội Thiên Nga cũng đã móc nối một số hồi chánh viên hoạt động như gián điệp nhị trùng để cung cấp cho ta những âm mưu đánh phá của VC. Chuyện kể như trong các phim tình báo giả tưởng nhưng lại là có thật: một nữ điệp viên của Thiên Nga bí danh Tư Hương được cài vào hoạt động trong mật khu VC. Chị Tư Hương được trang bị một máy phát tuyến gắn trong đôi guốc có thể phát tín hiệu để máy bay của ta theo dõi mỗi bước chân của chị. Chính nhờ vậy mà cơ quan an ninh của ta đã biết được nơi hội họp của các cán bộ VC đầu não đang nghiên cứu kế hoạch chuyển quân quanh mật khu Đồng Dù chuẩn bị tấn công một vài đơn vị quân đội VNCH. 
“Chuyện xâm nhập để theo dõi và thu thập tin tức tình báo của biệt đội Thiên Nga thì còn nhiều và xin để quý độc giả tuần tự khám phá ra khi đọc cuốn hồi ký Biệt Đội Thiên Nga của Nữ Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy. Cuốn hồi ký cũng sẽ mang lại cho quý vị nhiều bất ngờ như vụ sinh viên Việt Cộng Huỳnh Tấn Mẫm lại được chính Phó Tổng Thống Nguyễn Cao Kỳ và Đại Tướng Dương Văn Minh che chở. Chuyện nữ kịch sĩ Kim Cương thực ra là nữ Thượng Tá Kim Cương, nữ nghệ sĩ Thanh Nga lại là Thượng Úy Việt Cộng có nhiệm vụ móc nối Đại Úy VNCH Nguyễn Minh Mẫn người trông coi khu thương cảng của Hoa Kỳ thời đó. 
“Thanh Nga đã được Kim Cương móc nối lấy ông Luật sư Phạm Duy Lân nguyên là Đổng Lý Văn Phòng Bộ Thông Tin VNCH. Ông đã tham dự Hội Nghị ký kết Hiệp Định Paris năm 1973 đã đưa Thanh Nga cùng đi, dĩ nhiên Thượng Úy Thanh Nga đi theo để làm gì thì bây giờ chúng ta đã biết. 
“Tất cả những tin tức này đều do các nữ điệp viên Thiên Nga xâm nhập và trở thành người thân tín của Kim Cương cung cấp.. Chuyện nữ kịch sĩ Kim Cương đã dàn xếp để minh tinh Thẩm Thúy Hằng trở thành vợ của Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Oánh như thế nào, lại phải mời quý vị độc giả từ từ khám phá ra khi đọc hồi ký của nữ Thiếu Tá CSQG Nguyễn Thanh Thủy, Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga VNCH.
“Hai-trăm trang giấy của cuốn hồi ký này không phải chỉ là những chuyện kể lại nghe cho vui nhưng sẽ là những mảng sử liệu ghi lại một số hoạt động tình báo của CSQG Việt Nam, do các nữ sĩ quan và nhân viên của một đơn vị tình báo đặc biệt. Các chuyện kể là có thật tuy không phải là tất cả. Tôi tin rằng còn nhiều chuyện mà Thiếu Tá Thanh Thủy vì những lý do đặc biệt nghề nghiệp chưa tiện tiết lộ. 
“Nghề tình báo là sống để bụng, chết mang đi. Chỉ có thể tiết lộ những gì không còn cần giữ bí mật. Nhiều đối tượng có thể bắt được nhưng không bắt vì đầu mối còn phải được nuôi dưỡng để phanh ra những đối tượng quan trọng hơn. Những chiến công tình báo không được phô trương rầm rộ, chỉ âm thầm chia sẻ với nhau. Đó là những thiệt thòi của nghề tình báo. Đó là những thiệt thòi của các thành viên Biệt Đội Thiên Nga. Không ai biết nhưng tổ quốc biết và ghi công. 
“Hôm nay trong tư cách là một huynh trưởng CSQG của chị, tôi muốn nói lên lời cám ơn Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy, cám ơn các nữ Sĩ Quan và nhân viên Biệt Đội Thiên Nga còn sống hay đã hy sinh vì nhiệm vụ. Quý chị là những anh thư của Việt Nam mà ít người biết đến. Nhưng phục vụ Tổ quốc thì xá gì người đời biết đến hay không.. Tổ quốc biết đến và ghi công là đủ. Tôi xin bày tỏ sự ngưỡng mộ của tôi đối với Biệt Đội Thiên Nga và xin trân trọng giới thiệu cuốn hồi ký này đến toàn thể quý vị.”
Tiếp theo, ban tổ chức mời cô Glassey Trang Đài-Trần Nguyễn rồi đến chiến hữu Nhữ Đình Toán và nhà thơ Trạch Gầm lên phát biểu. Chiến hữu Nhữ Đình Toán và tác giả đều tốt nghiệp Khóa I Sinh Viên Sĩ Quan Học Viện CSQG. Ông cho biết, để được tuyển vào Khóa 1 các nữ SVSQ Thẩm Sát Viên hay Biên Tập Viên đều là những thiếu nữ xinh đẹp, vì đó là một trong những tiêu chuẩn về nhân dáng để được tuyển chọn, chị Thanh Thủy là một trong số các nữ SVSQ Biên Tập Viên đó, và sau khi đảm nhiệm vai trò Biệt Đội Trưởng Biệt Đội Thiên Nga với những thành tích lẫy lừng, chị đã được ân thưởng Đệ Tam Đẳng Cảnh Sát Chiến Công Bội Tinh, Đệ Nhị Đẳng Danh Dự Bội Tinh.
Chị Nguyễn Thanh Thủy lên ngỏ lời cảm tạ Thượng Đế đã cho chị đủ nghị lực vượt qua những thử thách của cuộc đời. Tri ân cha mẹ đã sinh thành, dưỡng dục để chị trở thành người con dân đất Việt có lý tưởng quốc gia, cám ơn người bạn đời là ông Lê Thành Long (Sĩ quan Nghi Lễ của Trường Võ Bị Quốc Gia VN) và các con chị đã đồng cam cộng khổ trong suốt những năm tháng anh chị bị giam trong ngục tù CS, cám ơn người em út là Minh Nguyệt đã chăm sóc các cháu khi anh chị ở trong tù VC. 
Chị cũng không quên cám ơn các Thầy, Cô đã giúp chị mở mang kiến thức, cám ơn các Thiên Nga đã cùng chị cống hiến đời mình cho đất nước và phải bị giam cầm nhiều năm trong chốn lao tù CS. Cuối cùng, chị cám ơn các chiến hữu CSQG, thân hữu đã góp tay giúp chị hoàn tất cuốn “Biệt Đội Thiên Nga.” 
Hiện nay chị Nguyễn Thanh Thủy đang kế nhiệm Hội Trưởng Hội H.O. Cứu Trợ TPB/QP/VNCH. Chị đã mời các Thiên Nga lên sân khấu và trao tặng mỗi chị một vòng hoa, và cám ơn Biệt Đội Văn Nghệ do anh Vũ Long Sơn Hải chỉ huy đã giúp phần văn nghệ cho buổi ra mắt sách.
Tiến sĩ Orchid Thanh Lê, người được đọc bản thảo cuốn sách đã viết thay lời mở đầu: “Tôi tin rằng cuốn sách Biệt Đội Thiên Nga sẽ mang một mẫu số chung đến với độc giả từ khắp mọi nơi, mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp, đó là, sự tìm về bối cảnh của một thể chế VNCH trong đó các Thiên Nga nước Việt chung vai gánh vác sơn hà không thua gì nam giới, để chúng ta cùng xúc động với lời kể đơn sơ mà thấm đẫm tự hào dân tộc của Thiên Nga đầu đàn, Thiếu Tá Nguyễn Thanh Thủy. Và còn nhiều, nhiều nữa.”

Wednesday, November 14, 2018

Không Quân VNCH, Tháng Tư, 1975: Đại bàng bị ‘buộc’ cánh

Một phi cơ của Không Quân VNCH. (Hình: nationalinterest.org)
 
LTS: Bốn mươi ba năm qua từ khi “Bầy chim vỡ tổ” đem theo niềm đau viễn xứ, xin nhìn lại khoảng thời gian xưa để cùng suy nghĩ thân phận nhược tiểu.
Sau ngày ngưng chiến 27 Tháng Giêng, 1973, Không Quân VNCH được xếp vào không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới về số lượng phi cơ với 2,075 chiếc, gồm 25 loại khác nhau. Không Quân VNCH có đến 65 phi đoàn, quân số lên đến 61,147 người.
Tháng Tư, 1975, vai trò của Không Quân VNCH hầu như không còn hữu hiệu trong việc yểm trợ Bộ Binh chống đỡ các đợt tấn công của Cộng Sản Bắc Việt.
Bài viết xin góp nhặt một số dữ kiện được ghi nhận trong:
-Air War over South Vietnam 1968-1975 (Bernard C. Nalty).
-Flying Dragons: The SouthVietnamese Air Force (Robert C. Mikesh).
-Những Ngày Cuối của Việt Nam Cộng Hòa (Cao Văn Viên).
-Quân Sử Không Quân Việt Nam Cộng Hòa (Lý Tưởng Úc Châu).
-Vietnam from Cease-Fire to Capitulation (William Le Gro).
-The Fall of South Vietnam: Statements by Vietnamese Military and Civilian Leaders
(Rand Corporation).

Những vấn đề từ phi cơ 
Không Quân VNCH, trước ngày “Ngưng bắn theo Hiệp Định Paris,” đã được nhận (đúng hơn là bắt buộc phải nhận) một số lượng phi cơ và quân dụng vượt quá khả năng tiếp nhận qua các chương trình chuyển giao quân cụ Enhance và Enhance plus.
Những phi cơ “ồ ạt” bàn giao gồm các phi cơ vận tải C-130, phi cơ tuần tra ven biển RC-119G, phi cơ phản lực F-5, A-37, và những trực thăng UH-1 và CH-47 từ Lục Quân Hoa Kỳ và vài loại khác như các phi cơ quan sát O-2, huấn luyện T-37..
Phi cơ thì nhiều nhưng nhân viên bảo trì và phi công lại chưa đủ để sử dụng. Tướng Jimmy L. Jumper, trưởng toán Cố Vấn Không Quân, cho rằng: “Cứ có quân dụng sẵn đi, rồi tính sau.”
Nhưng trên thực tế, việc bàn giao phi cơ và quân dụng khẩn cấp, “thiếu tính toán (?)” này đã đặt Không Quân VNCH vào một tình trạng bất ngờ và rối rắm.
-Các phi cơ C-130, đã cũ và hao mòn nhiều, đòi hỏi sự tu bổ và bảo trì của 199 nhân viên dân sự hoạt động theo hợp đồng giữa chánh phủ Hoa Kỳ và Công Ty Lear Sigler, ngoài ra còn phải trả thêm chi phí thuê bao cho hai nhân viên kỹ thuật đại diện của Công Ty Lockheed (mọi chi phi dĩ nhiên là tính hết vào ngân khoản viện trợ).
-Chương trình RC-119G là chương trình xài tiền viện trợ mà không hoạt động được, tuần thám ven biển không hiệu quả như ước tính trên giấy tờ! Trên nguyên tắc các phi công đã từng bay C-119 và C-47, sau khi xuyên huấn sẽ có thể điều khiển RC-119G dễ dàng, nhưng vấn đề là không có các nhân viên phi hành, và việc chuyển 13 chiếc AC-119G thành RC-119G lại quá tốn phí: mất hơn $4 triệu! Khi phi cơ được chuyển đổi xong, vấn đề hoạt động chiến thuật lại gặp trở ngại: các tàu, thuyền vận tải xâm nhập của Cộng Sản Bắc Việt trang bị súng phòng không và hỏa tiễn SA-7 gây khó khăn cho các phi cơ bay chậm và hơn nữa, do được hoạt động gần như tự do trên đường mòn Hồ Chí Minh, Cộng Sản Bắc Việt hầu như không cần đến việc tiếp tế bằng đường biển nữa!
-Phi cơ khu trục yểm trợ Bộ Binh A-1, theo dự kiến sẽ được dùng thả các loại bom cải tiến thay cho bom napalm (xăng đặc) thành bom “chứa khí đốt hóa lỏng = propane bomb” cũng đang ở vào thời gian cuối của “tuổi thọ.” Cấu trúc phi cơ đã vượt quá thời gian được phép sử dụng. Skyraider không thể chúi theo gốc độ hẹp hơn 30 độ, và không thể “kéo” được quá 4 Gs (gấp bốn lần sức hút của trái đất). Các giới hạn kỹ thuật này ảnh hưởng nhiều đến khả năng oanh kích của phi cơ, giới hạn sự hữu hiệu của các phi vụ yểm trợ hỏa lực.
-C-47, loại phi cơ vận tải sản xuất từ thời 1930, tuy vẫn còn khá hữu hiệu trong các phi vụ thả hỏa châu soi sáng chiến trường và trợ giúp các tiền đồn khi bị Cộng Quân tấn công, lại được dự trù chuyển đổi thành các EC-47s để dùng trong các phi vụ không thám. Các trang thiết bị trên các EC-47 từ Hoa Kỳ chuyển giao sang cho VNCH đã bị hư hại và “hao mòn” nhiều qua thời gian sử dụng liên tục, không được tu bổ, sửa chữa kịp thời. Nhân viên khai thác tin tức và không ảnh thiếu kinh nghiệm, không ước đoán nổi tình hình và không ảnh sau khi chụp, phải mất đến năm ngày để đến tay nhân viên khai thác (?).
-Trực thăng UH-1, thành phần chính trong lực lượng trực thăng của Không Quân VNCH: Số lượng phi cơ tiếp nhận vượt quá khả năng bảo trì, chưa kể sự chậm trễ trong việc cung cấp các cơ phận thay thế.
-Phi cơ Caribou C-7 hầu như ngưng hoạt động vì không còn cơ phận sữa chữa, phải dùng phương thức tháo bộ phận còn tốt của phi cơ nằm ụ để thay cho phi cơ khác khi cần. 
Từ dự kiến đến thực tế 
Vào mùa Hè 1974, Các Bộ Chỉ Huy Không Quân Hoa Kỳ tại khu vực Thái Bình Dương và Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận Không Quân Hoa Kỳ đã xem xét lại cơ cấu tổ chức của Không Quân VNCH để đưa ra những khuyến cáo trong mục đích giúp VNCH tự chống trả những cuộc tổng tấn công kiểu mùa Hè đỏ lửa (1972) của Cộng Sản Bắc Việt. Tuy đứng trước tình hình Quốc Hội Hoa Kỳ và áp lực của công luận Mỹ đang dự trù cắt giảm viện trợ, bản khuyến cáo này vẫn dựa trên “giả thuyết Không Lực Hoa Kỳ sẽ can thiệp khi VNCH bị tấn công!”
Một số điểm được nêu ra:
-Vấn đề thu thập tin tình báo: Nhóm nghiên cứu cho rằng với lực lượng không thám cơ hữu gồm 12 chiếc RC-47, 32 chiếc EC-47 và 7 chiếc RF-5, có thể tạm đủ nhưng đề nghị chia RF-5 thành hai nhóm, đồn trú tại Đà Nẵng và Biên Hòa (thay vì tập trung hết tại Biên Hòa) để RF-5, vì tầm hoạt động tương đối hẹp, có thể bao vùng dễ dàng hơn và Không Quân VNCH cần áp dụng thêm kỹ thuật chiến lược, hỗ trợ cho RF-5 bằng cách dùng RC-47 hay EC-47 thả hỏa châu trên khu vực cần chụp không ảnh, để giúp RF-5 tránh hỏa tiễn SA-7.
-Bản nghiên cứu cho rằng với 200 phi cơ quan sát hướng dẫn mục tiêu oanh kích, Không Quân VNCH có đủ lực lượng để hoạt động hữu hiệu. Phi cơ U-17 tuy được đánh giá là loại thích hợp nhất cho các phi vụ vận tải nhẹ và liên lạc, nhưng không thích hợp cho các quan sát viên. Sự đe dọa của SA-7 đưa đến đề nghị nên sử dụng các nhân viên điều khiển yểm trợ ở ngay tại chiến trường dưới đất và dùng F-5 như một phi cơ hướng dẫn mục tiêu ở những khu vực Cộng Sản Bắc Việt đặt hệ thống phòng không dày đặc.
-Sự thay đổi từ các F-5 A, B sang F-5E được xem là rất thích ứng để Không Quân VNCH có thể bảo vệ không phận chống trả các MiG-21 và một phi đoàn F-5E đặt tại Đà Nẵng là tốt nhất, để khi cần có thể “tung” ra được 20 phi xuất trong vòng 2 giờ.
-Về phương diện vận chuyển, bản nghiên cứu ghi nhận số lượng phi cơ vận tải, dù hoạt động hết năng suất, cũng sẽ không đáp ứng nổi nhu cầu vận chuyển của Quân Lực VNCH. Quản trị thật tốt cũng không thể tăng nổi năng suất.
-Lực lượng trực thăng, có vẻ như tạm đủ (?). Số lượng trực thăng UH-1 sử dụng trong các cuộc hành quân không vận của Quân Lực Hoa Kỳ vào khoảng 842 chiếc, nhưng với Quân Lực VNCH con số 640 có thể vừa đủ vì VNCH không có đủ khả năng “hành quân không vận” trên các chiến trường rộng lớn, con số CH-47 được xem là thích hợp để dùng trong các nhu cầu vận chuyển nặng và gần.
-Con số phi cư khu trục và tấn kích, theo bản nghiên cứu, được xem là thiếu 127 chiếc, tuy nhiên có thể dùng các AC-47 và AC-119K để giúp tăng hỏa lực khi cần. Chỉ cần tu bổ và bảo trì tốt, các F-5s, A-37 và A-1s có thể giúp chống đỡ đuợc các đợt tấn công của Cộng Sản Bắc Việt.

altMột phi cơ tại Phan Rang năm 1971. (Hình: wikipedia.org)
 Dự kiến trên có vẻ như Không Quân VNCH sẽ có thể yểm trợ hữu hiệu cho Bộ Binh trên chiến trường nhưng ngay từ khi bản nghiên cứu được công bố, Tướng John Murray (Tháng Mười, 1974) đã cảnh cáo là “có rất nhiều điểm thiếu sót và khiếm khuyết , để giới hạn sự hữu hiệu (được bản nghiên cứu cho là) của Không Quân VNCH” (Tuớng John Murray là trưởng toán Cố Vấn DAO gồm 50 nguời, hoạt động phối hợp cạnh Quân Lực VNCH, kiểm soát các nhà thầu dân sự trong các hoạt động yểm trợ về bảo trì và tiếp liệu. DAO không trợ giúp VNCH về các vấn đề quân sự. DAO được đặt dưới quyền chỉ huy tổng quát của Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin).
Theo nhận xét của Murray:
-Các phi công VNCH rất can đảm và liều lĩnh nhiều khi vượt quá mức cần thiết. Để tránh nguy cơ bị bắn hạ do SA-7 và các hệ thống phòng không điều khiển bằng radar của Cộng Sản Bắc Việt, họ ít khi liều lĩnh tấn công các mục tiêu dưới đất, từ cao độ dưới 10,000 feet. Các tai nạn do liều mạng và bất tuân luật lệ an phi, chở “thêm” người trái phép (joyriding), đậu phi cơ bất kể nơi quy định, có khi “say xỉn” đã làm Không Quân VNCH mất số lượng phi cơ tương đương với một phi đoàn?
-Trong khi các phi công tự làm hao hụt phi cơ thì phòng không Cộng Sản Bắc Việt gây thêm những tổn thất. Cho đến Tháng Sáu, 1974, Cộng Quân đã bắn 136 quả SA-7, trị giá khoảng $680,000 để bắn hạ 23 phi cơ VNCH trị giá đến $12 triệu. Vũ khí phòng không của Cộng Quân đã tỏ ra nguy hiểm đến mức VNCH không còn kiểm soát nổi những vùng không phận dọc biên giới Miên, Lào và như tại Vùng I, phi cơ của Không Quân VNCH hầu như chỉ hoạt động trên vùng ven biển. Tai nạn và hỏa lực của Cộng Quân đã làm Không Quân VNCH mất 237 phi cơ (trong khoảng thời gian 23 tháng sau ngày đình chiến).
-Chi phí cho Không Quân VNCH trong Tài khóa 1974 lên đến $382 triệu, chưa kể chi phí về bom đạn.
Tốn kém hơn cả chi phí cộng chung của Lục Quân và Hải Quân! Không Quân còn đòi hỏi thêm sự cộng tác của 1,540 chuyên viên yểm trợ từ Nhà Thầu Quốc Phòng Mỹ như Lear Sigler, trong khi dó Lục Quân chỉ cần 723 nhân viên và Hải Quân cần 61 người. Trong số 466 nhân viên dân sự do chính phủ Hoa Kỳ gửi giúp Quân Lực VNCH thì 202 người làm việc cho Không Quân. Tướng Murray đã cho rằng Không Quân VNCH quá tốn kém để hoạt động trong một không phận bị thu hẹp.
Cơ cấu tổ chức 
Bernard Nalty ghi: Tuy các cố vấn Hoa Kỳ đã cố gắng, qua trên 10 năm để tổ chức Không Quân VNCH theo kiểu Không Quân Hoa Kỳ nhưng không thành công. Mục tiêu để có một sĩ quan Không Quân chỉ huy lực lượng Không Quân biệt lập trong Quân Lực VNCH đã không đạt được trong suốt thời gian cuộc chiến.
Cách hoạt động của Quân Lực VNCH là các Tướng Vùng, toàn là Bộ Binh, có toàn quyền trên các đơn vị, kể cả Không Quân, trong Vùng của họ. Người sĩ quan Không Quân, chỉ huy Trung Tâm Hành Quân Chiến Cuộc Không Quân điều hành các phi vụ hành quân yểm trợ trong Vùng trách nhiệm, thường là một đại tá hay trung tá Không Quân phải báo cáo với sĩ quan chỉ huy hành quân của Vùng (là sĩ quan Bộ Binh), đồng thời liên lạc với các Tướng Tư Lệnh Sư Đoàn trực thuộc Quân Đoàn. Không Quân VNCH không có những Bộ Chỉ Huy theo kiểu Hoa Kỳ và Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực VNCH hầu như gồm toàn sĩ quan Bộ Binh.
Không Quân VNCH thiếu khả năng hành quân “mềm dẻo” kiểu Hoa Kỳ. Đa số các phi vụ đều đã được “dự trù” theo kế hoạch định trước; rất ít khi trung tâm điều hành hành quân có thể thay đổi mục tiêu oanh kích phù hợp với nhu cầu chiến trường! Các quyết định “cứng ngắc” trong các phi vụ oanh kính hoàn toàn tùy thuộc vào sĩ quan liên lạc không trợ, chỉ định đi theo đơn vị hành quân và quan sát viên chỉ điểm mục tiêu trên phi cơ quan sát. Sĩ quan liên lạc không trợ bên cạnh các Bộ Tư Lệnh cao hơn cấp tiểu đoàn thường là những sĩ quan Không Quân trung cấp, được huấn luyện cấp tốc và có nhiều khi không phải là phi công, và dù cho họ từng là phi công, họ cũng chỉ đóng những vai trò phụ thuộc trong các kế hoạch hành quân do các sĩ quan Bộ Binh vạch ra. Các sĩ quan Bộ Binh sau khi được học một khóa cấp tốc 30 ngày về Không Quân, được đưa vế cấp Tiểu Đoàn để phụ trách liên lạc không trợ.
Khả năng yếu kém của Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận Không Quân trong việc theo dõi chiến cụ tồn kho cũng gây thêm trở ngại cho vấn đề thiếu cơ phận bảo trì. Tính đến cuối Tháng Mười, 1973, Bộ Chỉ Huy Tiếp Vận Không Quân có nhận số đáp ứng 92% cấp số dự trù nhưng thiếu kinh nghiệm và chỉ được huấn luyện cấp tốc về tiếp vận. Máy điện toán tại các Bộ Chỉ Huy giữ các dữ kiện về hàng tiếp liệu tại các kho Vùng thường bị trở ngại trong các mùa Xuân và Hè (?). (Năm 1973, trong thờì gian kéo dài đến 30 ngày, hệ thống điện toán tiếp vận Không Quân tại căn cứ Tân Sơn Nhất hầu như ngưng hoạt động đến 65%, một hệ thống điện toán lưu động đặt tại căn cứ Clark, ở Philippines đã phải can thiệp và trong khoảng thời gian từ Tháng Bảy đến Tháng Chín đã giúp chuyển vận, giải quyết đến 400,000 trường hợp).
Những con số viện trợ và tiếp liệu 
Vấn đề viện trợ của Hoa Kỳ được Tướng Cao Văn Viên, tổng tham mưu trưởng Quân Lực VNCH, ghi nhận riêng về phần ngân khoản dành cho Không Quân như sau: “Sau khi ngân khoản bổ túc $300 triệu bị Quốc Hội Hoa Kỳ bác bỏ, ngân khoản được cấp cho Quân Lực VNCH chỉ còn $700 triệu (nghĩa là chỉ đủ cho phân nửa nhu cầu tối thiểu của quân đội VNCH).”
Không Quân: cần $414 triệu, được nhận $183 triệu (44% ngân khoản yêu cầu).
Với số ngân khoản ít hơn, Không Quân VNCH phải:
-Linh động 200 phi cơ các loại gồm A-1, C-47, C-119 và O-2.
-Hủy bỏ chương trình thay thế phi cơ F-5A bằng F-5E. Tiền dự chi cho 36 chiếc F-5E được hoàn trả cho Hoa Kỳ để chuyển sang các chương trình khác cần thiết hơn.
-Hồi hương 400 sinh viên sĩ quan đang theo học bay phản lực và trực thăng tại Hoa Kỳ.
-Trên 1,000 chuyên viên Không Quân đang theo học Anh Ngữ để chuẩn bị theo học các ngành về bảo trì hay các ngành không phi hành ở ngoại quốc bị đình chỉ và chuyển sang các đơn vị tác chiến.
-Các cắt giảm và thuyên chuyển này gây một tác động tâm lý tiêu cực chung cho Quân Chủng Không Quân.
-Giảm giờ bay thực tập và giảm số phi suất yểm trợ: Không Quân VNCH chỉ cung ứng nổi 50% nhu cầu yểm trợ hỏa lực và 58% nhu cầu không thám, làm giảm rất nhiều khả năng theo dõi sự xâm nhập, tập trung quân và di chuyển của Cộng Sản Bắc Việt.
-Sự vận chuyển bằng trực thăng bị giảm đến 70%, gây trở ngại nhiều cho các nhu cầu tản thương, tăng viện quân và tiếp tế.
-Không vận bằng phi cơ vận tải bị cắt giảm đến 50%: Các C-130, phương tiện chuyển vận chính của Không Quân VNCH bị trưng dụng vào các phi vụ thả bom, do trở ngại về cơ khí, hư hỏng do thiếu cơ phận bảo trì đa số trở thành bất khiển dụng: mỗi ngày chỉ có 4 đến 8 chiếc khả dụng (trong tổng số 32 chiếc đang có).
Quân Sử Không Quân (trang 190) ghi rõ hơn:
-Số phi cơ bị đinh động là 224 chiếc gồm:
+Toàn bộ các A-1 Skyraider: 61 chiếc, tồn trữ trong bọc, rải rác tại nhiều căn cứ (ghi chú của tác giả Trần Lý: Các A-1 của Phi Đoàn 530 Thái Dương tại Pleiku bị đinh động và “đóng gói” để trở thành “chiến lợi phẩm” cho Cộng Sản Bắc Việt khi VNCH rút khỏi Vùng 2).
+Vận tải Caribou C-7: 52 chiếc (tại Pleiku, Phù Cát).
+Phi cơ quan sát O-2 Skymaster: 31 chiếc.
-Vận tải võ trang AC-47, AC-119: 34 chiếc.
-Một số trực thăng UH-1: 31 chiếc.. (Theo The Flying Dragon: trong số phi cơ bị đinh động còn có cả các T-37 và T-41 của Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân Nha Trang).
Đại Tá Le Gro: Số phi đoàn bị cắt giảm từ 66 xuống 56; không có phi cơ để thay thế cho 162 chiếc bị thiệt hại, giờ bay cắt giảm, bớt nhân viên dân sự Hoa Kỳ yểm trợ.
Quân Sử Không Quân cho biết thêm: “Vì bom đạn và nhiên liệu dự trữ chỉ đủ dùng trong hai tháng, các phi vụ bị hạn chế tối đa. Các phi cơ khu trục chỉ được trang bị phân nửa bom đạn và mỗi trái bom thả phải báo cáo về Bộ Tư lệnh QK! Đây là khoảng thời gian duy nhất trong cuộc chiến KQVN thặng dư phi công! Hơn nữa cũng vì lý do ngân sách, Không Quân VNCH đã phải cho đóng cửa các căn cứ phụ thuộc ở Cam Ranh, Tuy Hòa và Chu Lai. Các phi trường Phú Bài và Ban Mê Thuột cũng không còn các biệt đội thường xuyên trú đóng.
Phi cơ khu trục yểm trợ Bộ Binh A-1 Skyraider tại Đà Nẵng năm 1973. (Hình: wikipedia.org)Tình hình tiếp liệu 
Những ghi nhận từ Tổng Cục Tiếp Vận còn có phần “bi đát” hơn:
-Đại Tá Phạm Kỳ Loan, tổng cục phó Tổng Cục Tiếp Vận, cho biết (về phần liên hệ đến Không Quân): “Trở ngại quan trọng nhất cho chúng tôi là ‘cơ phận thay thế’ nhất là của phi cơ. Một ví dụ là trường hợp của phi cơ vận tài: lực lượng chính là các C-130 A.. Đây là loại phi cơ cũ, không còn dùng trong Không Lực Hoa Kỳ, do đó rất khó tìm được cơ phận thay thế, chúng tôi có 30 chiếc nhưng chỉ dùng được năm chiếc mỗi ngày (tôi biết rất rõ, vì tôi là người cung cấp phương tiện chuyển vận này), cơ phận tuy rồi cũng được gửi đến, nhưng phải chờ sản xuất mỗi khi yêu cầu, đặt hàng vì không có sẵn, và phải chờ khá lâu. Do đó đa số các C-130 phải nằm ụ. Các yêu cầu phải chờ DAO duyệt xét, rồi chuyển sang Okinawa hay đâu đó để thực hiện. Nhu cầu tiếp liệu thường không được cung cấp kịp thời.
Vấn đề đạn dược và xăng dầu là những trở ngại không kém quan trọng: Để tiết kiệm chúng tôi phải giới hạn nhu cầu về hỏa châu (!) và nhiều loại bom, đạn khác. Nhiên liệu quan trọng nhất là GP4 dùng cho trực thăng và phi cơ chiến đấu: Các trực thăng như UH-1 và Chinook đã phải cắt giảm giờ bay. Việc yểm trợ chiến trường do giới hạn của Không Quân đành phải chuyển sang Pháo Binh, và Pháo Binh cũng không cón đạn!
Ghi nhận của các vị chỉ huy Không Quân 
Nếu chỉ nhìn qua con số hơn 2,000 phi cơ các loại vào ngày Ngưng Bắn thì Không Quân VNCH sẽ là một lực lượng quan trọng để giữ cân bằng cán cân quân sự đối đầu với Cộng Sản Bắc Việt, nhưng trên thực tế lại không xảy ra như dự kiến. Đối với Quân Lực VNCH khi nói đến không yểm của Không Quân, các cấp chỉ huy (ngay cả Tổng Thống Thiệu) đều nghĩ ngay đến B-52 cùng các phi cơ phản lực tân tiến nhu F-4 kèm theo sự tin tưởng là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục can thiệp bằng B-52 (như năm 1972) khi Cộng Sản Bắc Việt vi phạm Hiệp Ước Paris.
Tuy nhiên sự mất hữu hiệu của Không Quân VNCH còn do một số yếu tố chiến thuật. Một sĩ quan cao cấp Không Quân VNCH (sau khi được huấn luyện như một sĩ quan pháo binh, rồi chuyển sang Không Quân) cho biết: “Không Quân bị giới hạn do việc chỉ huy các phi cơ được đặt dưới quyền các Tư Lệnh Vùng và nhiệm vụ duy nhất của Không Quân là yểm trợ Bộ Binh, điều đó trên căn bản có nghĩa là khi Bộ Binh không ngăn chặn được địch quân thì sẽ phải dùng đến Không Quân. Tuy nhiên, trên chiến trường, việc tập trung hỏa lực không phải do Không Quân quyết định mà do Bộ Tổng Tham Mưu, vì Bộ Tổng Tham Mưu là nơi phân phối các phi vụ, bao gồm cả số phi xuất và loại bom cho phép thả. Bộ Tổng Tham Mưu làm điều này bằng quyết định con số phi cơ cấp cho mỗi Vùng; và Không Quân không có quyền chỉ định số phi xuất và loại bom đạn sử dụng mà phải do Tư Lệnh Vùng quyết định và cho phép.”
Về khả năng của phi cơ, ông cho biết thêm: “F-5 là một loại phi cơ rất tốt, các phi công rất thích bay loại này, nhưng F-5 không thích hợp cho chiến trường Việt Nam. Phi cơ tốt nhưng không đủ trọng tải và tầm hoạt động giới hạn, chỉ bay được trong 1 giờ 15 phút. Chúng tôi cần những phi cơ có thể thả bom trên những cao độ ngoài tầm sát hại của SA-7. Với sự cố vấn của Không Quân Hoa Kỳ, chúng tôi tìm ra phương pháp thả bom từ cao độ trên 10,000 feet. Nhưng trên thực tế cách thả bom này đã làm đi mất sự chính xác khi oanh kích.” (Anthony Tambini, một chuyên viên bảo trì F-5, cạnh Không Quân VNCH, cho biết [trong F-5, Tigers over Vietnam]: F5-A và B mang được tối đa 6,200 lb bom đạn, khi mang trọng lượng tối đa này, kể cả 500 viên đạn đại bác 20 mm, tầm hoạt động là 220 mile; F-5E, tuy mang lượng bom đạn cao hơn 8,000 lb và 560 viên 20 mm nhưng tầm hoạt động chỉ còn 200 mile. Trong khi đó A-37 mang tối đa 5,400 lb trong tầm 460 mile).
Đại Tá Vũ Văn Uớc, chỉ huy Hành Quân của Không Quân VNCH, cho biết: “Đa số các phi cơ của Không Quân VNCH được chế tạo từ 10, 15 và thậm chí từ 30 năm trước, ngoại trừ các A-37 (chế tạo mới dựa theo T-37) và các F-5E. Các phi cơ cũ rất chậm so với khả năng của phòng không Cộng Sản Bắc Việt, nhất là SA-7 và các đại bác cỡ lớn có thể bắn hạ phi cơ ở cao độ 18,000 feet.. Nói cách khác, phi cơ của Không Quân VNCH là mục tiêu khá dễ bắn hạ của Cộng Sản Bắc Việt trong những năm 1973-75 khi họ tập trung các lực luợng phòng không dày đặc tại các chiến trường mà họ đã chọn lựa sẵn. Cộng Sản Bắc Việt thay đổi chiến thuật, di chuyển rất nhanh khi tấn công vào các thị trấn chọn sẵn tại những nơi Không Quân VNCH gặp nhiều trở ngại khi yểm trợ quân trú phòng.
Sự liên lạc giữa lực lượng dưới đất và không quân trên cao rất yếu kém, nên việc yểm trợ từ trên không mất đi sự hữu hiệu. Vào giai đoạn cuối của cuộc chiến, Bộ Binh VNCH không bảo vệ an toàn được cho các phi trường nên Không Quân không thể hoạt động. Nếu các căn cứ Không Quân có được sự bảo vệ cần thiết thì Không Quân có thể hữu hiệu hơn. Chúng tôi mất khả năng tấn công địch quân vì các căn cứ bị pháo kích liên tục. Trực thăng không phải là một phương tiện chuyển vận tốt trong chiến tranh du kích, và khi sử dụng C-130, mỗi khi đáp và cất cánh phi trường đều bị pháo kích. Muốn được an toàn, Bộ Binh cần giúp bảo vệ một khu vực ít nhất 20 mile quanh căn cứ Không Quân. Bộ Binh không đủ sức bảo vệ căn cứ nên Không Quân không thể hoạt động!
Vài con số trong những ngày sau cùng 
Vào thời điểm đầu Tháng Giêng, 1975: Lực lượng khu trục của Không Quân VNCH được ước lượng là còn khoảng 390 phi cơ gồm các loại A-37 và F-5, trong số này 90% ở tình trạng hoạt động được, được ước tính thì là 273 phi cơ.
-Sau khi “mất” Vùng 1 và Vùng 2, Bộ Tổng Tham Mưu bắt đầu cung cấp các phi vụ yểm trợ cho các Vùng 3 và 4 theo kế hoạch từng ngày, và lầu đầu tiên trong cuộc chiến, Bộ Tư Lệnh Không Quân Chiến Thuật tại Tân Sơn Nhất được “chia” cho 20 phi suất mỗi ngày và được tự chọn mục tiêu oanh kích!
-Trong khoảng thời gian từ 1 đến 19 Tháng Tư, 1975, KQVN thực hiện được trung bình mỗi ngày 180 phi vụ chiến đấu trong đó Bộ Tổng Tham Mưu dành 100 cho Vùng 3 và 60 cho Vùng 4. Riêng trong trận Xuân lộc (Long Khánh), Không Quân VNCH đã yểm trợ trên 600 phi suất.
-Vào thời điểm Xuân Lộc, Không Quân VNCH còn 1,492 phi cơ, trong đó 976 chiếc hoạt động được, 135 chiếc hư hỏng và 381 chiếc bị bắn hạ và vứt bỏ. Lực lượng khu trục còn đuợc 169 chiếc A-37 và 109 chiếc F-5 các loại A, B và E/ trong đó 92 A-37 và 93 F-5 bay được (có thể kể thêm khoảng 10 chiếc A-1 đem ra dùng lại). Ngoài ra còn một số AC-119 góp phần, chung sức với A-1 Skyraider trong những phi vụ cuối cùng trên không phận Sài Gòn. 
(Trần Lý, nguồn: Trang Web Bạn Văn Nghệ của Trần Yên Hòa)

Monday, November 12, 2018

Chiếc Vespa Định Mệnh - Nguyễn Hải Hoàn Cựu Đại Úy Pilot KQVN

Tháng 11 năm 1968 về trình diện phi đoàn 219 tại hậu cứ Đà Nẵng tôi bắt đầu làm quen với chiến trường cũng như làm quen với các anh em trong phi đoàn. Đối với phi đoàn 219, dùng chử chiến trường không còn mấy đúng nghĩa bởi tất cả các phi vụ đều âm thầm và không số. Thời điểm đó, PĐ 219 là phi đoàn có số thương vong cao nhất trong các phi đoàn Không quân. Và ngay tuần lễ đầu tiên về phi đoàn , tôi được cử đi gác quan tài Đ/U Hướng văn Năm thuộc phi hành đoàn Minh- Năm - Thân. Cho đến nay tôi vẫn tự hỏi là tỷ số thương vong của PĐ 219 mà trong đó có một số phi công trực thăng đầy kinh nghiệm nhưng thiếu may mắn thuộc PĐ 219 có mật hệ gì với chiếc Vespa ? Một huyền thoại !
    Giữa năm 1969, trong một lần biệt phái hành quân tại Kontum, tôi ngồi hoa tiêu phó cho Đ/U Nguyễn quý An biệt đội trưởng của 4 phi hành đoàn. Đ/U An số 1, Tr/U Sinh số 2,Tr/U Cung số 3, Tr/U Thắng số 4. Ngày hôm ấy phi hành đoàn số 1 nghỉ.Tôi cùng Đ/U An đang nhâm nhi cà phê ngoài phố Kontum, một chiếc xe jeep của biệt kích Lôi Hổ thắng gấp trước cửa tiệm mang đến cho chúng tôi tin không lành: Chiếc H-34 của số 2 bị bắn, đâm vào núi bốc cháy, PHĐ Tr/U Sinh tử nạn.
    Chúng tôi bàng hoàng, hối hả trở về trại B-15, hậu cứ của biệt kích Lôi Hổ vùng cao nguyên Pleiku- Kontum mà PĐ 219 làm việc với họ.
    Lúc bấy giờ tôi không biết Tr/U Sinh là chủ một chiếc xe Vespa mà tôi không ngờ sau này chiếc xe của anh đi vào huyền thoại của PĐ 219.
    Trở về Đà Nẵng, tôi lại tiếp tục các chuyến biệt phái Phú Bài, Quảng Trị, Đông Hà.
    Một hôm, tôi đang ngồi trong phòng trực phi đoàn, Đ/U Ngô viết Vượng một trưởng phi cơ kỳ cựu của phi đoàn bước vào, anh nhờ tôi đưa anh ra phi đạo để chuẩn bị cất cánh đi biệt phái Kontum. Anh dùng chiếc Vespa của anh chở tôi ra phi đạo và muốn tôi giúp anh đem chiếc Vespa về cất tại phi đoàn.Trên đường ra phi đạo, anh cho biết là đã mua lại chiếc Vespa này từ gia đình cố Tr/U Tôn thất Sinh. Anh bắt tay cảm ơn tôi với đầy tin tưởng là tôi sẽ cất xe cho anh chu đáo,
    Chỉ vài ngày sau , tôi sửng sốt nhận hung tin từ biệt đội Kontum: Thời tiết xấu, 2 phi hành đoàn tử nạn vì bị “Vertigo”, PHĐ số 1 gồm Đ/U Vượng, Tr/U Sang,Tr/Sĩ Truật - PHĐ số 2 có Đ/U Cung, Th/U Đạt, Tr/Sĩ Liên. Buổi chiều tôi nhận tiếp báo cáo từ biệt đội: Cơ phi chiếc số 2 là Tr/Sĩ Liên, em ruột Đ/U Long sống sót và chỉ bị thương nhẹ. Riêng Đ/U Trần văn Long bay chiếc số 3 đã quay trở lại Kontum đáp nên thoát nạn.
    Đầu tháng 10 /1971 biệt phái Quản Lợi, Đ/U Thắng bay số 1 là biệt đội trưởng, Tr/U Sâm bay số 2 và tôi bay số 3, Quản Lợi chỉ cách Sài gòn khoảng hơn 1 giờ bay, và vì lý do an ninh chúng tôi mổi tối đều về Sài Gòn ngủ. Đặc biệt trong lần biệt phái này Đ/U Thắng đã mua lại chiếc Vespa của cố Đ/U Vượng và anh đã đem chiếc Vespa này về Sài Gòn làm phương tiện di chuyển .
    Sáng hôm ấy trời còn mờ sương, tôi chuẩn bị sẵn sàng chờ Đ/U Thắng đến đón đi bay. Vừa tính bước ra cửa quyển lịch treo ngay đầu cầu thang đập vào mắt tôi:9 tháng 10 -1971 . Tôi thầm nghĩ còn đúng 1 tháng nữa là mình lên 25 tuổi rồi .
    Anh Thắng và tôi lúc này thân nhau như anh em nên anh không ngần ngại lái Vespa từ Phú Nhuận sang Khánh Hội đón tôi, rồi ngược vào căn cứ KQ Tân Sơn Nhất. Dọc đường anh ghé phở Công Lý bao tôi một chầu ăn sáng. Vui miệng, anh đã tâm sự về chiếc Vespa anh đang sử dụng. Anh cho biết chiếc Vespa khởi thuỷ là của một vị Đ/U nhảy dù. Trên đường ra miền Trung công tác, chiếc C47 chở vị Đ/U nhảy dù này lâm nạn đâm vào núi bốc cháy, Không biết trong một liên hệ nào, chiếc Vespa được chuyển qua cho Tr/U Tôn thất Sinh. Một thời gian sau, Tr/u Sinh tử nạn trong một phi vụ gần Dakto, phi cơ bị bắn đâm vào núi bốc cháy. Kế tiếp người sử dụng chiếc Vespa là Đ/U Ngô viết Vượng.rong phi vụ liên lạc Kontum - Đức Cơ do anh hướng dẫn, phi cơ của anh bị “vertigo” đâm xuống đất. Kể đến đây, anh Thắng muốn tỏ cho tôi biết anh không hề kiêng kỵ khi mua lại chiếc Vespa của gia đình Đ/U Vượng. Rồi anh cười hỏi đùa tôi “ Sao chú muốn mua chiếc Vespa của tôi không ?“.
    Chúng tôi vào đến Tân Sơn Nhất trời đã sáng và sương chưa tan hẳn. Lúc này tôi được biết vì lý do kỹ thuật, chiếc số 2 cần sửa chữa nên Tr/U Sâm nghỉ bay hôm đó,c hỉ có Đ/U Thắng và tôi số 3 lên trực hành quân tại Quản Lợi.
   Trên phi trình tới Quản Lợi, chúng tôi bình phi ở cao độ 2.500 bộ, Vừa qua khỏi Chơn Thành khoảng 15 phút, thình lình số 1 giảm cao độ thật nhanh và xà vào một bìa rừng. Anh Thắng gọi tôi trên tầng số FM: “ Số 2 xuống đi, heo rừng nhiều lắm “. Trời ơi ! tôi thầm kêu khổ. Anh đã từng biết tôi không thích bắn nai, bắn heo ... Lúc còn ở quân trường, các bạn cùng khoá hay cười tôi vì tối tối trước khi đi ngủ, tôi bắt từng con muỗi trong mùng bỏ ra ngoài cửa sổ, bây gió bảo bắn heo làm sao tôi dám. Tôi từ chối, anh tỏ ra giận dữ, đe doạ :”Thôi chú về Sài Gòn đi, mai anh gửi chú ra Đà Nẵng “Vì đã khá thân và cả nể, tôi chiều ý anh, cắt ga xà xuống rồi tính nói người cơ phi xạ thủ của tôi đừng bắn gì cả. Hởi ơi Tr/Sĩ Cần, người xạ thủ của tôi đã lanh tay nỗ hàng loạt đại liên trên đàn heo đang chạy tứ tung, 2 con nằm tại chỗ.Trong khoảnh khắc, Cần đã chuyển 2 con heo xấu số lên tàu rồi cùng nhận lệnh từ anh Thắng đến “pick-up” luôn 6 con heo anh đã bắn được. Vì mãi bắn heo gần 9 giờ sáng chúng tôi mới đáp Quản Lợi. Anh em biệt kích và cố vấn Mỹ chờ sẵn ngoài phi đạo, Đ/U Miller , cố vấn trưởng tỏ ra bực tức và hơi to tiếng với anh Thắng vì sự chậm trể của chúng tôi. Hắn đã nhanh tay rút ra chiếc máy ảnh nhỏ đưa lên chụp liên tiếp chiếc H-34 của tôi với 8 con heo còn nằm chình ình bên trong. Tôi thầm nghĩ: Thôi rồi. chuyến này thế nào tôi cũng bị vài củ ... trọng cấm,
  Chúng tôi đưa toán biệt kích lên Lộc Ninh trực hành quân. Vì nhu cầu khẩn thiết. 1 chiếc H-34 được điều động tăng cường cho chúng tôi và Đ/U Trần văn Long từ biệt đội Ban Mê Thuộc đã về Lộc Ninh xế trưa hôm đó trên 1 chiếc H-34 với người cơ phi là Tr/Sĩ Trần văn Liên, em ruột của Đ/U Long. Đây là lần đầu tiên 2 anh em Đ/U Long cùng chung một phi hành đoàn. Phi vụ rước toán hoàn tất và 3 chiếc H-34 về đáp an toàn tại Quản Lợi. Khoảng 8 giờ tối, chúng tôi cất cánh rời Quản Lợi để về Sài Gòn với đội hình :
- Số 1 : Thắng - An - Mai
- Số 2 : Long - Thành - Liên
- Số 3 : Hoàn - Kim - Cần
  Bình phi ở 2 ngàn bộ chúng tôi trực chỉ Sài Gòn . 10 phút sau tôi nghe giọng Đ/U Thắng trên tầng số FM 41.0 : “Kingbee 2-3 nghe Kingbee Lead ? “
 Anh Thắng cho biết thời tiết xấu, có mưa cẩn thận trong lúc bay hợp đoàn. Chúng tôi đã bay dưới cơn mưa khá nặng hột trong đêm tối, chẳng khác nào “ đục mây “như Đ/U Vượng ngày trước. Quả nhiên chỉ 5 phút sau tôi không còn thấy gì ngoài bức màn đen trước mặt. Tôi bắt đầu chăm chú bay phi cụ và cảm thấy lo sợ trước viễn ảnh một thảm nạn “Vertigo”. Tôi bấm máy gọi Đ/U Thắng để báo anh biết là tôi không còn thấy anh và số 2. Không nghe anh trả lời, tôi đã thực sự toát mồ hôi, mặc dầu mưa lạnh hắt vào người vì cửa sổ không đóng. Tôi chợt nghĩ có lẽ anh đang hốt hoảng trong trạng thái “Vertigo” quái ác kia nên không còn trả lời tôi được. Nhưng còn Đ/U Long thì sao ? cũng cùng tâm trạng chăng ? Một sự im lặng đến sợ hãi. Tôi biết tôi phải chiến đấu với tử thần “Vertigo” và tôi phải tự quyết định mọi chuyện vào lúc này.Tôi dự định giảm độ cao nhưng tôi cũng kinh nghiệm rằng đang bay phi cụ mọi thay đổi trạng thái của phi cơ rất dể làm cho hoa tiêu bị “ Vertigo” nên tôi lại tiếp tục bình phi. Không đầy 2 phút sau, tôi phát hiện ánh đèn pha (landing light) vừa được bật lên trong khoảng cách chưa đầy nửa dặm phía bên phải của tôi. Thế rồi ánh đèn pha đó bổng quay cuồng ,nhảy múa trước mặt, chẳng khác nào một chiếc đè pin bật lên trong đêm tối và được cầm trong tay một đứa bé đang tập đi. Tôi hốt hoảng dán mắt vào ánh đèn pha và trong giây lát, ánh đèn lao vút xuống đất theo chiều thẳng đứng đối với chiếc phi cơ của tôi. Rồi một tia lửa loé lên. Tôi định thần trở lại, đúng là chiếc H-34 của chúng tôi vừa chạm mặt đất nổ tung, lửa bốc lên cuồn cuộn. Từ cao độ 2 ngàn bộ cách mặt đất, tôi bám chặt lấy đốm lửa và cắt ga, giảm dần độ cao. Cách đốm lửa khoảng 500 bộ, tôi bắt đầu bớt tốc độ và chuẩn bị bay đứng một chổ (hovering).Tôi bật đèn đáp (landing light) ánh đèn phản chiếu những hạt mưa làm tôi loá mắt. Liếc sang bên phải, tôi đã nhìn thấy những ngọn cây và mưa rào lớn lắm nhưng trời ơi !! Định thần lại thì ngọn cây vẫn còn li ti phía dưới , như vậy phi cơ tôi còn cao lắm chưa thể bay đứng được . Tôi rùng mình vội đẩy cần lái (cyclic stick) về phía trước với mục đích cất cánh trở lại .Đột nhiên nghe tiếng người cơ phi  hét lên trong máy: “de, de ,de” Thì ra trong phút hốt hoảng, tôi không đẩy cần lái về phía trước mà còn kéo thêm vào người, phi cơ bắt đầu bay lùi và mất độ cao.Tôi đã thực sự bị “Vertigo” May mắn tiếng thét của người cơ phi đã kéo tôi ra khỏi cơn mê và với tất cả sức mạnh (power) của chiếc H-34, tôi đã giử được phi cơ đứng trên ngọn cây. Tôi vừa thoát chết trong gang tấc. Dùng bàn đạp (pedals) tôi xoay con tàu một vòng để tìm lại đốm lửa và di chuyển phi cơ tới gần hơn. Lửa vẫn cuồn cuộn, bao trùm chiếc H-34 mặc dầu mưa như trút nước. Tôi tìm bãi đất trống và đặt phi cơ xuống để quan sát. Không hy vọng có người sống sót trong chiếc H-34 lâm nạn, tôi quyết định rời khỏi vùng bằng cách bay xà trên ngọn cây với tốc độ chậm và nhắm hướng 180 độ để tìm thành phố gần nhất. Đêm đó chúng tôi ngủ lại Chơn Thành. Sáng hôm sau Tr/U Sâm, phi hành đoàn số 2 của biệt đội Quản Lợi đến đón tôi vì phi cơ tôi đã bị “overtorque” phải chờ toán kỹ thuật từ Biên Hoà lên kiểm máy lại.
  Sau gần 3 tiếng đồng hồ tìm kiếm, tôi được biết chiếc số 1 bị cháy, chiếc số 2 cũng lâm nạn , phi cơ đâm xuống vùng sình lầy, cách chiếc số 1 khoảng hơn nửa dặm .
                   ••••
 Bước vào nhà quàn thuộc Tử Sĩ Đường căn cứ KQ Tân Sơn Nhất, tôi không khỏi ngậm ngùi nhìn 6 chiếc quan tài phủ quốc kỳ xếp thẳng hàng. Nhất là khi nhìn 2 chiếc quan tài của anh em Đ/U Long mà năm trước đã một lần thoát nạn thật kỳ diệu .
 Hôm đó gặp chị Cúc , phu nhân Đ/U Thắng , tôi giúp chị tìm người mở khoá chiếc Vespa để đem về nhà chị. Tôi rùng mình nghĩ lại “giai“ thoại của chiếc xe. Cả bốn người chủ xe đều bị chết cháy trong tai nạn phi cơ !!!
   Thêm một điều làm tôi phải ngẫm nghĩ khi mở bản đồ tìm kiếm phi cơ lâm nạn: cùng là khu vực mà Đ/U Thắng đã xà xuống bắn heo rừng buổi sáng cùng ngày.

Hồi ký
Tưởng nhớ thảm hoạ
ngày 09/10/1971
California 12/01/2010
Nguyễn Hải Hoàn