Saturday, October 4, 2014

HÀNH QUÂN DELTA




CÂU CHUYỆN FRANK N. BADOLATI

Một người đàn ông chưa chết cho đến khi anh ta chìm vào lãng quên.

Sau một chuyến thăm viếng Bức Tường Việt Nam (nơi ghi khắc tên họ các quân nhân Hoa Kỳ tử trận tại Việt Nam), một cô gái quê quán ở Goffstown, New Hamshire, con gái Trung Sĩ Frank Badolati viết “Đó là một nỗi buồn kinh khủng và cô đơn, nhưng tôi đã tìm thấy một chỗ để khóc và nhiều người khác đã chia xẻ những giọt nước mắt với tôi. Tôi không tin rằng sẽ được gặp cha tôi trong suốt cuộc đời. Tôi chỉ mới lên ba, đó là lần cuối cùng tôi được nhìn thấy ông”. Cô gái đó là Daisy Badolati, đang sống ở một làng nhỏ hẻo lánh Azalea, Oregon nói thêm “đó là điều rất khó khăn, tôi phải trực diện qua bao nhiêu năm tháng, rất đau đớn khi phải chấp nhận sự mất mát (những lúc quá tuyệt vọng, tôi cố gắng) quên đi rằng, mình đã từng có một người cha.”

 Trung Sĩ Badolati phục vụ trong chương trình Delta, B-52, liên đoàn 5 LLĐB/HK. Chương trình Delta được thành lập trong tháng Mười năm 1964. Nhiệm vụ hành quân rất nguy hiểm trong miền nam Việt Nam. Liên đoàn 5 LLĐB/HK được tăng cường thêm đại đội bảo vệ Dân Sự Chiến Đấu (CIDG), LLĐB/VNCH, một tiểu đoàn Biệt Kích Dù, và một đại đội CIDG “Biệt Kích Chạy Đường Mòn” (Roadrunner), biệt kích “Chạy Đường Mòn” trang vị quần áo, quân dụng, súng đạn của địch.

“TRÁNH THUNG LŨNG AN LÃO”
Hành quân Masher (24-1 đến 6-3, 1966) là cuộc hành quân “lùng và diệt” lớn nhất cho đến thời điểm đó (1966). Chưong trình Delta được trao cho nhiệm vụ dò thám khu vực phiá bắc thung lũng An Lão.
Khu vực này bao phủ bởi dây leo cỏ dại, những bãi cỏ voi (cao hơn một mét) rộng lớn, xen lẫn ruộng đồng của dân làng. Hai bên thung lũng, sườn núi dốc đứng, với nhiều vị trí đặt súng phòng không. Tin tình báo cho biết, hai trung đoàn chính quy Bắc Việt đang ở trong thung lũng với sự tiếp tay của đơn vị điạ phương. Trước sự hiện diện đông đảo lực lượng địch, cựu chỉ huy trưởng chương trình Delta, Thiếu Tá Art Strange nhắc nhở vị chỉ huy trưởng tương lai, Thiếu Tá Chales “Charging Charlie” Beckwith trong tháng Bẩy năm 1965 “Tránh xa thung lũng An Lão. Họ có hệ thống báo động phức tạp và chó săn”.
Hành quân Masher and “Charging Charlie” không nghe lời khuyên. Cuộc hành quân cần tin tức tình báo về địch, yêu cầu chương trình Delta cho mấy tón biệt kích xâm nhập vào thung lũng An Lão để dò thám lấy tin tức. Beckwith quyết định không tăng thêm quân biệt kích VNCH (các toán biệt kích Delta thường có chung Việt-Mỹ). Tin tức tình báo nhận được chưa kiểm chứng, thời tiết xấu, trực thăng chở biệt kích, trực thăng võ trang bị giới hạn vì hỏa lực phòng không. Địch quân kiểm soát thung lũng An Lão, lần cuối cùng có đơn vị bạn hành quân năm 1958.
Thiếu Tá Beckwith cho ba toán biệt kích gồm toàn quân nhân LLĐB/HK, Badolati đi trong toán 3 cùng với Trung Sĩ Nhất Marcus Huston trưởng toán, Trung Sĩ Billy McKeithe, Thượng Sĩ Wiley Gray, Trung Sĩ Ron Terry và Trung Sĩ Cecil Hodgson. Mỗi toán sáu quân nhân Hoa Kỳ.
Các chuyến Delta xâm nhập kết thúc nhanh chóng. Toán 1 phải triệt xuất sau khi một người bị thương. Một người tiều phu (thợ đốn cây rừng) trên những ngọn đồi trông thấy toán 2 xâm nhập. Toán này bị phục kích mất bốn người, hai người còn lại bị thương.
Toán 3 chạm súng với một đơn vị địch (có lẽ đơn vị truy kích) khoảng 9 giờ 30 phút ngày 28 tháng Giêng, lần thứ hai khoảng 12 giờ 30. Trong loạt đạn đầu tiên, Badolati bị trúng đạn nơi bắp tay bên trái, gẫy xương.Trung Sĩ Hodgson băng bó cho Badolati trong lúc giao tranh. Toán biệt kích phải lui đến một vị trí khác cách khoảng 600 mét để chăm sóc vết thương cho Badolati. Địch quân được tăng cường bám theo, tấn công làm toán biệt kích phải bỏ chạy, chia làm hai để dễ tránh địch đuổi theo.


Gray, Hodgson và Terry chạy một hướng, Badolati, Huston và McKeithe theo hướng khác. Nhóm Badolati chạy dọc theo sườn núi, khi bắt đầu tối họ di chuyển dưới giòng suối để xóa có dấu chân. Đã bị thương nặng nơi bắp tay, cuối cùng Badolati nói “không thể đi xa thêm nữa” để cho các bạn đi nhanh hơn. Hai quân nhân LLĐB Hoa Kỳ không bỏ rơi bạn, ở lại. Mặc dầu được chăm sóc băng bó, nhưng vết thương quá nặng, gần như đứt cánh tay, mất nhiều máu, Badolati chết sáng sớm ngày 29 tháng Giêng năm 1966. Huston và McKeithe dấu xác anh ta trong đám cỏ lau bên bờ suối, hy vọng toán biệt kích khác sẽ tìm được đem về. Cả hai đều tránh được địch quân truy kích, trực thăng vào cứu, sống sót.
Theo bản báo cáo Homecoming II, nhóm Gray, Hodgson và Terry tránh được địch quân đuổi theo buổi chiều hôm đó, tìm một chỗ phòng thủ đêm. Sáng sớm hôm sau, ngày 29, ba quân nhân LLĐB/HK tiếp tục di chuyển, không gặp địch cho đến 4 giờ 30 chiều. Ba người đang nằm trong đám cỏ voi, chợt nhìn thấy bẩy địch quân đang đứng cách khoảng 4 bộ (khoảng 1m5) phiá bên phải và sau lưng. Họ nổ súng giết chết ba trong số bẩy người. Gray nghe tiếng Terry la lên cho biết mình bị thương, rồi nhìn thấy anh ta đang ôm ngực phiá bên phải, rồi bị thêm một viên nữa gục xuống chết.
Hodgson bỏ chạy một mình, Gray không trông thấy anh ta nên di chuyển ra chỗ khác cách khoảng 20 bộ. Ít phút sau Gray nghe tiếng súng của Hodgson cùng với địch quân nổ vang, sau đó im lặng. Gray tiếp tục trốn tránh và được trực thăng cứu ngày hôm sau.
“Charging Charlie” (Thiếu Tá Beckwith, ông ta nổi tiếng hung hăng) sau đó bị thương trong một chuyến bay yểm trợ hỏa lực, ra khỏi chương trình Delta . Trong số 17 quân nhân LLĐB/HK trong ba toán biệt kích xâm nhập vào thung lũng An Lão, 7 người chết, 3 người khác bị thương.
Trong năm 1999, một bức thư ngắn, của người con gái gửi cho cha để lại nơi Bức Tường Việt Nam (Vietnam Wall)
“Tôi là đứa con gái nhỏ của Frank (Badolati). Ông gửi cho tôi những tấm ảnh từ Việt Nam và một hộp sơn mài, quà tặng cho lễ Giáng Sinh năm 1965 mà tôi vẫn còn lưu giữ trong tủ. Tôi vừa mới lên bậc trung học (khi Frank mất). Tôi không bao giờ quên cha tôi… Súng vẫn nổ dữ dội và ông bảo các bạn cứ chạy đi, để ông ở lại. Họ đã để ông lại trong bụi cây, máu của ông thấm ra đất hòa với bóng cây. Bố có biết những con chim đã im lặng ngưng tiếng hót? Khi Bố mong chờ trực thăng, Bố có nhớ ánh sáng chiếu vào một góc nhà mình (quê quán Goffsrown, New Hamshire) lúc mình minh? Bố ơi! Bố có nhớ những buổi đi chơi ngoài trời (picnic), Bố cùng với mấy ông bạn đuổi bắt một con sóc nhỏ. Rồi mọi người nhẩy múa dưới bóng cây… Khi mặt trời đã khuất bóng, ánh sáng từ từ tan biến đi, Bố có nghe con gọi tên Bố không?”
Frank Neil Badolati tên có thể tìm thấy trong bảng 04E, hàng 105 trên Bức Tường Việt Nam (Vietnam Wall)

Người viết Ray Davidson
American University of Nigeria
Computer Science Department
Yola, 4-10-2014
vđh

Friday, October 3, 2014

Trò Chuyện Với Cựu Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai

Trò Chuyện Với Cựu Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai
Trần Gia Phụng
NĂM 1972 - CHUYỂN QUÂN, KHÔNG RÚT LUI
Trong việc tìm kiếm tài liệu để viết lại giai đoạn 1954-1975, tôi được bác sĩ Phạm Hữu Trác (Montreal) và cựu đại tá Pháo binh Lê Văn Trang (California) giới thiệu với cựu chuẩn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn 3 Bộ binh (SĐ3BB) Quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong chuyến đến California vào cuối tháng 7-2011, tôi gặp chuẩn tướng Giai tại nhà đại tá Trang. Cuộc trò chuyện bắt đầu từ 01 giờ đến 05 giờ chiều Thứ Hai 25-7-2011. Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện giữa chúng tôi, được trình bày với sự đồng ý của chuẩn tướng Giai. Tôi không dám gọi đây là một cuộc phỏng vấn, mà chỉ là một cuộc trò chuyện với một nhân vật đã tham dự vào những biến cố quân sự ở Quân khu I vào đầu thập niên 70 vừa qua. Để cuộc trò chuyện được thoải mái, thân mật, tôi đề nghị gọi chuẩn tướng Giai bằng anh và được ông đồng ý.
1) Trước hết, thưa anh Giai, xin anh cho biết đôi chút về thân thế của anh?
- Thưa anh, tôi có thể nói đơn giản thế nầy: Tôi sinh năm 1934 tại làng Duy Tắc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Cha tôi mất sớm, mẹ tôi làm ruộng, tần tảo nuôi con. Cha mẹ tôi có 4 người con, 1 gái và 3 trai. Tôi là con út trong gia đình.
2) Thưa anh, hoàn cảnh nào đưa anh vào binh nghiệp, và xin anh trình bày các cấp bậc anh đã trải qua trước khi lên tướng.
- Năm 1953, tôi đang theo học lớp Đệ nhị [tức lớp 11 ngày nay] trường Văn Hóa ở Hà Nội, thì tôi nộp đơn thi vào Khóa 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Lý do thứ nhất vì mẹ tôi không còn khả năng tiếp tế cho tôi. Làng tôi bị Việt Minh cộng sản kiểm soát. Gia đình tôi bị coi là tư sản, theo văn hóa nô dịch, nên Việt Minh bắt hai người anh của tôi đi tù, và tịch thu hết ruộng đất, cho nên ngay từ thời thiếu niên, tôi không ưa gì cộng sản. Lý do thứ hai là trước sau gì tôi cũng sẽ được gọi động viên dù tôi thi đậu bằng Tú tài I vào cuối năm học ấy. Tôi nghĩ rằng sớm muộn gì tôi cũng sẽ theo đường binh nghiệp, nên tôi tình nguyện đi sớm, trước hết là để tiến thân, sau là để phục vụ quốc gia chống cộng sản.
Tôi ra Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt tháng 6-1954, cấp bậc thiếu uý hiện dịch. Tôi theo học nhảy dù, và thuyên chuyển về Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù (ND) ở cạnh Hồ Tây, Hà Nội, giữ chức trung đội trưởng.
Tháng 7-1954, đất nước bị chia hai, quân đội Quốc Gia rút về Nam Việt Nam. Sau hai năm thiếu uý, tôi được thăng cấp trung uý năm 1956, giữ chức đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 5 ND, cùng với trung uý Ngô Quang Trưởng (sau nầy là trung tướng), coi Đại đội 1 TĐ5ND.
Năm 1961, sau trận đánh quận Phú Đức, gần Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tôi được đặc cách thăng đại uý, rồi lên thiếu tá năm 1964 khi tôi đang làm trưởng phòng 2 Sư đoàn 1 Bộ Binh (SĐ1BB) ở Huế. Năm 1966, tôi thăng trung tá lúc đang giữ chức trung đoàn trưỏng Trung Đoàn 2 SĐ1BB, trấn giữ vùng giới tuyến ở Đông Hà, Quảng Trị. Sau trận Mậu Thân năm 1968, tôi lên đại tá và được đưa giữ chức chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Tiền phương SĐ1BB tại Ái Tử, Đông Hà, Quảng Trị. Sau cuộc hành quân Lam Sơn 1971 ở Hạ Lào, tôi lên chuẩn tướng. Đó là sơ lược sự thăng tiến trong cuộc đời binh nghiệp của tôi.
3) Thưa anh, khi VNCH mở cuộc hành quân Hạ Lào (Lam Sơn 719), anh là Phó tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (SĐ1BB), là sư đoàn chính trong cuộc tấn công qua Lào. Xin anh vui lòng cho biết mục đích chính của cuộc hành quân nầy?
- Mục đích chính của cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971 là:
1) Phá hủy con đường xâm nhập và tiếp vận của Việt Cộng từ Bắc vào Nam thông qua con đường Trường Sơn Tây trên đất Lào.
2) Tiêu diệt hết những lực lượng cộng sản trú ẩn trong vùng. Đây là một cuộc hành quân quan trọng có tính cách chiến lược, quyết định chiến tranh Việt Nam.

4) Thế thì diễn tiến cuộc hành quân như thế nào thưa anh?
- Theo kế hoạch, cuộc hành quân chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Ba cánh quân Biệt động quân ở phía bắc, Sư đoàn Nhảy dù và Lữ đoàn 1 Thiết giáp cánh giữa dọc theo đường số 9 và sông Tchepone, SĐ1BB cánh nam sông Tchepone, tiến chiếm các mục tiêu đến tuyến 1 Bản Đông.
Giai đoạn 2: Các cánh quân tiến chiếm các mục tiêu trên tuyến 2 tỉnh Tchepone.
Giai đoạn3: SĐ Nhảy Dù sẽ đổi hướng quét lên phía bắc tận biên giới miền Bắc Việt Nam.
Trong giai đoạn 1 sau khi các cánh quân tiến chiếm được các mục tiêu và lập các căn cứ hỏa lực dọc tuyến 1 thì bắt đầu có giao tranh. Biệt động quân bị tấn công mạnh, Lữ đoàn Dù ở căn cứ 31 bị thiết giáp Việt cộng tràn ngập. Đại tá Thọ, lữ đoàn trưởng, bạn tôi, bị bắt. Vì vậy mà giai đoạn 2 không tiến hành được.
Lệnh hành quân thay đổi. SĐ1BB cánh Nam thay thế SĐND tiến chiếm Tchepone. Sau khi quét xong Tchepone, SĐ1BB rút lên cao địa phía nam sông Tchepone thay vì bọc thẳng về Khe Sanh theo như kế hoạch đã định. Quyết định nầy làm mất thêm thời gian, nên Việt cộng có thời giờ điều động tấn công và bao vây quân ta, làm chúng ta phải vất vả mới bốc được các đơn vị ra khỏi vùng hành quân với nhiều thương vong! Thú thật, trông thấy cảnh binh sĩ phải bám vào cần trực thăng, tôi không cầm được nước mắt.
5) Theo anh, với tư cách là Phó tư lệnh SĐ1BB, lúc đó anh còn là đại tá, anh nhận xét cuộc hành quân nầy thành công hay thất bại như thế nào? Vì lý do gì thành công hay thất bại?
- Theo tôi, cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971 không đạt được mục tiêu đã định và có một số ảnh hưởng tinh thần không tốt cho Quân đội VNCH sau đó. Tuy nhiên, quân đội VNCH cũng đã gây cho địch nhiều thiệt hại to lớn về tiếp vận và nhân lực.
6) Lúc đó, người Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa” chiến tranh, rút quân dần dần ra khỏi Việt Nam, người Mỹ có tham gia hành quân nầy không? Và người Mỹ có giúp đỡ cho quân đội VNCH không?
- Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, quân đội Mỹ đã yểm trợ tối đa bằng Không quân, kể cả B52, trực thăng đổ quân và tiếp tế tải thương. Tuy nhiên, cố vấn Mỹ không đi theo chúng ta sang Lào. Thông thường trong các cuộc hành quân trước đây, có cố vấn Mỹ đi theo, chúng ta nhờ cố vấn Mỹ gọi yểm trợ không kích. Trong cuộc hành quân Hạ Lào, do vấn đề ngoại giao, Mỹ không theo chúng ta qua Hạ Lào. Không có cố vấn Mỹ, việc gọi Không quân yểm trợ gặp một số trở ngại về chuyên môn kỹ thuật, nên việc yểm trợ không hữu hiệu, nhưng thật sự là không thể phủ nhận là Không quân Mỹ đã yểm trợ chúng ta trong cuộc hành quân nầy.
7) Trong trường hợp nào, anh trở thành tư lệnh SĐ3BB? Đây là một sư đoàn tân lập (thành lập tháng 10-1971), lấy quân từ đâu, huấn luyện như thế nào và bộ chỉ huy ở đâu?
- Có một điểm cần nêu rõ: Do nhu cầu chiến trường, bộ Tổng tham mưu Quân đội VNCH quyết định thành lập một sư đoàn mới để trấn giữ vùng giới tuyến phía Bắc vì SĐ1BB không đủ lực lượng. Tuy nhiên, có thể vì dự tính rút quân theo kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, phía Mỹ không chịu yểm trợ cho việc thành lập nầy. Mỹ đề nghị đưa một sư đoàn cơ hữu từ Nam (VNCH) ra Bắc (VNCH), hoặc điều động Biệt Động Quân ra giữ vùng giới tuyến.
Sau khi bàn bạc, Bộ TTM quyết định lấy Trung đoàn 2 SĐ1BB làm nòng cốt và tăng cường thêm lao công đào binh từ miền Nam ra. Ở đây tôi xin mở ngoặc: Thông thường, một sư đoàn có 3 trung đoàn. Riêng Sư đoàn 1BB có 4 trung đoàn. Vì vậy, cắt bớt Trung đoàn 2 SĐ1BB, thì SĐ1BB vẫn còn 3 trung đoàn. Đặc biệt nữa, Trung đoàn 2SĐ1BB lại có 5 tiểu đoàn, mà mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội, nên Trung đoàn 2SĐ1BB có 20 đại đội. Nếu theo cách tức cũ, mỗi sư đoàn có 3 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội, thì sư đoàn tân lập cần có số đại đội là: 3 X 3 X 3 = 27 đại đội. Trong khi đó Trung đoàn 2 SĐ1BB có 20 đại đội, nên chỉ cần bổ sung thêm 7 đại đội để thành lập sư đoàn mới. Sư đoàn mới nầy là Sư đoàn 3 BB. Về tiếp liệu, SĐ3BB lấy tiếp liệu sẵn có chứ Mỹ không cung cấp đồ mới nữa.
Sư đoàn 3BB không được tập trung huấn luyện mà chỉ tiếp nhận những đơn vị sẵn có và bổ sung thêm quân số từ miền Nam ra. Bộ tư lệnh SĐ3BB và hậu cứ chính ở căn cứ Ái Tử, Quảng Trị do Mỹ để lại. Đó là thực trạng SĐ3BB trước khi đụng trận vào năm 1972.
8) Thưa anh, trong cuộc tấn công vào Mùa hè đỏ lửa, CSBV mở chiến dịch Trị Thiên ở Quân khu I. Sư đoàn 3 BB đóng ở tuyến đầu tại QKI. Lúc đó, tình hình địch như thế nào và tình hình quân đội VNCH như thế nào?
- Trong cuộc tấn công Mùa hè đỏ lửa năm 1972, lực lượng địch gồm có: hai sư đoàn Bộ binh 304 và 308, 5 trung đoàn BB biệt lập số 27, 31, 126, 220 và 246, 01 sư đoàn pháo binh, 2 trung đoàn thiết giáp 203, 204 và 1 trung đoàn Xe lội nước PT 76. Lực lượng quân đội chúng ta gồm có: Giai đoạn đầu SĐ 3BB, Lữ đoàn 147 TQLC, Thiết đoàn 18, Lực lượng diện địa tỉnh Quảng Trị gồm địa phương quân và nghĩa quân. Giai đoạn sau tăng phái thêm Lữ đoàn 258 TQLC, 2 Liên đoàn Biệt động quân, Lữ đoàn 1 Thiết giáp.
Trong tương quan lực lượng giữa hai bên thì rõ ràng lực lượng Việt cộng vượt trội hơn nhiều: Thiết giáp Việt cộng trang bị T54 tối tân của Liên Xô, Bộ binh Việt cộng gần 4 sư đoàn và Việt cộng chủ động tấn công trong khi chúng ta quân số ít hơn, lại bị thụ động chống trả.
9) Xin anh vui lòng trình bày lại diễn tiến của trận đánh nầy.
- Trận đánh nầy bắt đầu ngày 29-3-1972, thật bất ngờ với chúng tôi. Phía VNCH, chúng tôi không được tin tức tình báo việc chuyển quân của địch. Lúc đó hai trung đoàn của SĐ3BB chúng tôi đang đổi quân. Trung đoàn 2 và Trung đoàn 26 hoán chuyển vị trí. Trong lúc chuyển quân thì chúng ta phát giác Việt cộng cũng đang chuyển quân. Thế là chiến trận xảy ra. Kể từ đó, Cộng quân tấn công liên tục trong vòng một tháng.
Về phía cố vấn Mỹ, ngay từ đầu, do những tin tức tình báo về phía Mỹ, đại tá cố vấn Metcalf đã cho tôi hay là: Đây không phải là cuộc tấn công bình thường như trước đã xảy ra, mà là cuộc tổng tấn công tổng lực toàn diện, cho nên không thể phòng thủ bằng cụm cứ điểm được. Việt cộng đưa quân vượt sông Bến Hải rất đông, sẽ tấn công và tràn ngập các cứ điểm, và sau cùng sẽ tấn công vào căn cứ cuối cùng.
Do đó, đại tá Metcalf đề nghị nên phòng thủ di động mới chống cự được. Tôi cho rằng đây là kế hoạch tốt nhất để áp dụng và tôi đã tự mình soạn thảo và vạch ra kế hoạch di chuyển từ tuyến 1 đến tuyến 3. (Tuyến 1 là khúc sông Cam Lộ hay Đồng Hà. Tuyến 2 là khúc sông Thạch Hãn. Tuyến 3 là sông Mỹ Chánh.)
10) Lúc đó, do áp lực nặng nề của Cộng quân, SĐ3BB phải rút lui. Thưa anh có thể cho biết cuộc rút quân đó do lệnh của ai hay do chính bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định? Lúc đó, bộ Tư lệnh Quân đoàn I có ý kiến gì không?
- Tôi xin nói ngay là chúng tôi không rút lui mà chúng tôi chuyển quân chiến thuật. Trước khi ra lệnh di chuyển về tuyến 3 (sông Mỹ Chánh), tôi đã trình lên Bộ tư lệnh Quân đoàn I, đồng thời khi biết quyết định nầy, đại tá Metcalf điện báo cho thượng cấp của ông là đại tướng Creighton Abrams, thì tướng Abrams trả lời cho Metcalf như sau: “Tướng Giai có toàn quyền hành động”. Phía Quân đoàn I, khi tôi trình kế hoạch chuyển quân, tư lệnh Quân đoàn I là trung tướng Hoàng Xuân Lãm không trả lời, nhưng vì tình hình khẩn cấp tôi đã ra lệnh chuyển quân, thì vào phút chót trung tướng Lãm ra lệnh tử thủ Quảng Trị, nghĩa là không chấp thuận kế hoạch chuyển quân của tôi, nhưng đã trễ vì lệnh chuyển quân đã bắt đầu thi hành rồi nên không thể lấy lại lệnh. Vì vậy tôi đã bị cấp trên quy tội là “Bất tuân thượng lệnh.”.
Tôi nhấn mạnh là chúng tôi không rút lui. Chúng tôi chuyển quân theo chiến thuật cần thiết để đối phó với tình hình lúc đó. Rút lui có nghĩa là mở cuộc hành quân, hay tấn công một nơi nào đó, rồi sau đó rút lui. Đàng nầy, không phải chúng tôi rút lui, tức bỏ đi, mà chúng tôi chỉ chuyển quân, bảo toàn lực lượng và chờ đợi cơ hội phản công. SĐ3BB và các đơn vị tăng phái di chuyển theo kế hoạch đã vạch ra.
Cuộc chuyển quân diễn ra theo đúng kế hoạch. Chỉ có một cuộc chạm súng nhỏ và chúng tôi đã hạ được 2 xe tăng PT76 của Việt cộng. Thương vong về phía chúng ta trong cuộc rút quân rất thấp, vì tất cả đi về phía đông quốc lộ 1, nhưng bị thổi phồng lên hàng ngàn người. Sự chết chóc trên quốc lộ 1 từ Quảng Trị về Mỹ Chánh xảy ra không phải riêng trong cuộc chuyển quân của chúng tôi mà trước đó đã xảy ra trong suốt tháng 4-1972 khi dân chúng di chuyển từ Quảng Trị về Huế, lúc Việt cộng bắt đầu tấn công từ ngày 29-3-1972.
Cuộc chuyển quân của SĐ3BB về tuyến phòng thủ 3 (sông Mỹ Chánh) coi như thành công chứ không thất bại, nhưng tôi không có thời gian để chấn chỉnh đội ngũ SĐ3BB vì sau ngày 30-4-1972, tôi được gọi về bộ Tổng tham mưu phúc trình sự việc. Đại tá Ngô Văn Chung, tư lệnh phó SĐ3BB tạm thay tôi cho đến khi thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh được cử làm tân tư lệnh SĐ3BB.
11) Hậu quả đầu tiên của cuộc chuyển quân nầy là anh bị kỷ luật. Xin anh cho biết rõ những biện pháp kỷ luật đối với anh.
- Về bộ Tổng tham mưu, tôi trình diện ở Phòng thanh tra và bị giữ tại Đại đội Tổng hành dinh một tháng. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh truy tố tôi. Tôi bị chuyển qua Khám Chí Hòa và bị đưa ra Tòa. Tòa án Quân sự kết án tôi năm năm tù vị tội “bất tuân thượng lệnh”. Tôi bị giam giữ ở Khám Chí Hòa. Đang thọ án, biến cố 30-4-1975 xảy ra. Khám Chí Hòa tự động mở cửa cho mọi người ra ngoài. Tôi đi về nhà.
12) Đời sống trong khám Chí Hòa như thế nào, thưa anh?
- Người ta cho tôi sống riêng trong một căn nhà nhỏ như cái thư viện. Sau đó có thêm vài người nữa như chuẩn tướng Trần Quốc Lịch, ông Nguyễn Tấn Đời. Đời sống thoải mái. Cơm nước do gia đình mang vào. Trong thời gian nầy, vị tướng tư lệnh Mỹ ở Thái Lan vào thăm tôi trong Chí Hòa, đề nghị đưa tôi ra cầm quân trở lại, nhưng tôi thấy khó làm việc trong hoàn cảnh lúc đó nên tôi yêu cầu để tôi có thời giờ suy nghĩ.
13) Là một quân nhân, anh im lặng chấp nhận kỷ luật, nhưng trong tận cùng suy nghĩ của anh, anh có thấy mình bị oan ức không? Xin anh thành thật kể ra.
- Tôi nhận trách nhiệm những gì tôi làm. Tôi im lặng chịu đựng tất cả hậu quả những gì tôi đã làm mà tôi cho là đúng với tình hình. Tôi ra lệnh chuyển quân để lập tuyến phòng thủ mới như đã dự định nhằm tạo lại thế phản công thay vì bị động, nhằm tránh thương vong trong sự co cụm, để Việt cộng vào và chúng ta dùng phi pháo tiêu diệt, rồi sẽ tấn công trở lại. Đúng như những gì sau đó xảy ra, cổ thành Quảng Trị là mồ chôn hàng ngàn Việt cộng, sau khi SĐ3BB ra khỏi cổ thành.
Tôi nghĩ rằng tổng thống Thiệu đã không hiểu được tình hình thực tế tại chiến trường mà chỉ khăng khăng giữ từng tấc đất và rồi để mất tất cả. Đó là kết quả của những vị tướng làm việc sau bàn giấy.
14) Sau ngày 30-4-1975, vì sao anh bị kẹt lại ở Việt Nam? Anh bị Cộng sản bắt giam ở đâu, trong bao lâu?
- Sau ngày 30-4-1975, mới ra khỏi tù, tôi về ở nhà, không đi đâu nữa. Tôi sống với gia đình cho đến khi đi “tập trung cải tạo” tức bị đi tù cộng sản ngày 16-5-1975.
Tôi bị giam cùng với các tướng lãnh khác ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung một năm. Trong năm nầy, chúng tôi phải học 10 bài. Tôi nhớ bài thứ nhất là “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, là kẻ thù nhân dân ta”. Bài thứ hai là “Ngụy quân ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”. Tôi quên đề tài mấy bài giữa. Bài số 10, tức bài cuối cùng là “Lao động là vinh quang”.
Sau bài số 10 nầy, Việt cộng bảo rằng ở đây không có đất để chúng tôi thực tập lao động, nên chuyển bọn tù chúng tôi ra Bắc, ở trại 5 Hoàng Liên Sơn. Ở tại đây cho đến năm 1978, Trung cộng đe dọa vùng biên giới, chúng tôi bị di chuyển về Hà Tây biệt giam. Năm 1983, tôi chuyển trại một lần nữa, đến trại tù Nam Hà. Cuối năm 1987, tôi ra tù và được qua Mỹ theo chương trình H.O. 16 năm 1993. Trước khi ra đi, Việt cộng bắt tôi phải ký giấy cam kết không được hoạt động chống đối chúng nó. Có lẽ không phải riêng tôi, mà ai ra đi chúng nó cũng đều bắt buộc như vậy.
15) Là một sĩ quan cấp tướng, khi hỏi cung anh, CS chú trọng đến những vấn đề nào nhất?
- Khi hỏi cung tôi, lúc đầu Việt cộng hỏi nhiều về âm mưu của Mỹ sau ngày 30-4-1975. Mục đích của Việt cộng là tìm bắt những ai còn hoạt động chống cộng và tìm những ai là người do Mỹ cài lại Việt Nam. Việt cộng cũng cho tôi là người của Mỹ, có lẽ là vì lúc tôi bị giữ ở Khám Chí Hòa, có vị tướng Tư lệnh Lực lượng Mỹ ở Thái Lan vào thăm tôi. Có thể chúng được ai đó báo cho biết việc nầy, nên chúng nó nghi ngờ tôi. Chúng cũng hỏi tôi lúc ở Quảng Trị có được “cách mạng móc nối” không? Tôi trả lời là không. Như thế là có thể Việt cộng đã sai người kiếm cách móc nối tôi, nhưng chúng không móc được. Ngoài ra, Việt cộng bắt tôi viết tự thuật lại toàn bộ đời tôi.
16) Cuối cùng, anh ra nước ngoài năm nào? Đời sống của anh hiện nay ra sao?
- Tôi đến Mỹ ngày 3-3-1993, theo chương trình H.O. 16. Đời sống của tôi nay đã ổn định, an dưỡng tuổi già, con cái đã trưởng thành. Thật là hạnh phúc sau 77 năm cuộc sống phiêu bạt: 7 năm thời thơ ấu, 11 năm học đường, 19 năm binh nghiệp, 3 năm tù thời VNCH, 12 năm rưỡi tù cộng sản, 5 năm chờ đợi ở Sài Gòn và 18 năm trên đất Mỹ…
KẾT LUẬN: Cuộc nói chuyện giữa chúng tôi khá lâu, khoảng 4 giờ đồng hồ, rất vui vẻ, chân tình. Xin cảm ơn anh Giai. Kể lại chuyện xưa, cựu chuẩn tướng Giai trình bày rất tự nhiên thoải mái, không có gì là bực bội hay hằn học đối với các cấp lãnh đạo quân đội VNCH đã truy tố và bỏ tù ông.

Ngay sau trận Quảng Trị tháng 4-1972, chuẩn tướng Vũ Văn Giai đã bị “hy sinh”, bị đưa ra tòa, bị ghép tội “bất tuân thượng lệnh” và lãnh án 5 năm tù giam. Vụ án của ông còn bị dư luận thổi phồng vì hai lý do: 1) Người dân chỉ thấy cuộc chuyển quân thất bại và nhiều người chết trên con đường Quảng Trị-Huế, mà không biết diễn tiến nội vụ chuyện chuyển quân, và quên chú ý rằng người ta chết vì suốt một tháng giao tranh trong khi việc chuyển quân chỉ diễn ra một ngày vào cuối tháng 4-1972. 2) Những lãnh đạo của tướng Giai tìm cách tránh né trách nhiệm của chính các ông về những sai lầm trong cuộc hành quân, và đổ hết tội lỗi lên hai vai của tướng Giai. Ông gánh chịu dư luận quốc nội cũng như quốc tế thay cho các cấp lãnh đạo trung ương và Quân đoàn I.
Tuy nhiên, dần dần theo thời gian, những uẩn khúc về trận đánh nầy được làm sáng tỏ. Gần đây nhất, trong cuộc hội thảo “Việt Nam, 35 năm nhìn lại” vào tháng 4-2010 tại Washington D.C., sử gia Dale Andrade, thuộc Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, đã nói như sau:
“Thấy được sự nghiêm trọng của vấn đề, tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ Binh, ra lệnh lui quân về phía Nam để có thể tạo ra một đồn lũy vững chãi hơn. Các cố vấn Hoa Kỳ cho rằng đây là một quyết định hợp lý, có cơ sở, có triển vọng giữ lại được hàng ngũ của ông trong tình thế hiểm nghèo lúc đó. Nhưng tiếc thay, ngay khi kế hoạch chuyển quân bắt đầu, thì nửa đêm hôm đó, tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân đoàn I, gọi phôn ra, ra lệnh tử thủ Quảng Trị…. Sau khi Quảng Trị thất thủ, tướng Giai bị đổ hết tội lỗi lên đầu, và còn bị bỏ tù. Tướng Giai đã bị đối xử bất công. Tôi cho rằng ông đã làm hết sức mình trong một hoàn cảnh rất khó khăn trước quân thù, khi không được cả sự đồng thuận của đồng đội…” (Nhật báo NGƯỜI VIỆT, California, ngày Thứ Hai 26-4-2010, số 8906, tr. A6)
Một người đứng ngoài cuộc chiến như Dale Andrade, với đầy đủ điều kiện nghiên cứu, sàng lọc nhiều tài liệu trong văn khố quân sử Hoa Kỳ, nắm rõ diễn tiến các trận đánh, hy vọng là khách quan và khả tín.
Tuy nhiên, có một điều quan trọng đáng nói hơn hết: cựu chuẩn tướng Vũ Văn Giai, trong cương vị tư lệnh SĐ3BB, năm 1972 đã tận lực chiến đấu với tất cả khả năng của mình nhằm bảo vệ tuyến đầu đất nước. Ông là một tướng lãnh tận trung với Tổ quốc, can đảm, tận tụy, nhưng kết quả không may mắn, ông đành im lặng xuôi theo số phận vào cuối đời binh nghiệp, mà vẫn không thẹn với lương tâm, với đồng đội và với dân tộc.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 3-8-2011

Trò Chuyện Với Cựu Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai

Trò Chuyện Với Cựu Chuẩn Tướng Vũ Văn Giai
Trần Gia Phụng
NĂM 1972 - CHUYỂN QUÂN, KHÔNG RÚT LUI
Trong việc tìm kiếm tài liệu để viết lại giai đoạn 1954-1975, tôi được bác sĩ Phạm Hữu Trác (Montreal) và cựu đại tá Pháo binh Lê Văn Trang (California) giới thiệu với cựu chuẩn tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh đầu tiên của Sư đoàn 3 Bộ binh (SĐ3BB) Quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Trong chuyến đến California vào cuối tháng 7-2011, tôi gặp chuẩn tướng Giai tại nhà đại tá Trang. Cuộc trò chuyện bắt đầu từ 01 giờ đến 05 giờ chiều Thứ Hai 25-7-2011. Sau đây là nội dung cuộc trò chuyện giữa chúng tôi, được trình bày với sự đồng ý của chuẩn tướng Giai. Tôi không dám gọi đây là một cuộc phỏng vấn, mà chỉ là một cuộc trò chuyện với một nhân vật đã tham dự vào những biến cố quân sự ở Quân khu I vào đầu thập niên 70 vừa qua. Để cuộc trò chuyện được thoải mái, thân mật, tôi đề nghị gọi chuẩn tướng Giai bằng anh và được ông đồng ý.
1) Trước hết, thưa anh Giai, xin anh cho biết đôi chút về thân thế của anh?
- Thưa anh, tôi có thể nói đơn giản thế nầy: Tôi sinh năm 1934 tại làng Duy Tắc, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. Cha tôi mất sớm, mẹ tôi làm ruộng, tần tảo nuôi con. Cha mẹ tôi có 4 người con, 1 gái và 3 trai. Tôi là con út trong gia đình.
2) Thưa anh, hoàn cảnh nào đưa anh vào binh nghiệp, và xin anh trình bày các cấp bậc anh đã trải qua trước khi lên tướng.
- Năm 1953, tôi đang theo học lớp Đệ nhị [tức lớp 11 ngày nay] trường Văn Hóa ở Hà Nội, thì tôi nộp đơn thi vào Khóa 10 Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt. Lý do thứ nhất vì mẹ tôi không còn khả năng tiếp tế cho tôi. Làng tôi bị Việt Minh cộng sản kiểm soát. Gia đình tôi bị coi là tư sản, theo văn hóa nô dịch, nên Việt Minh bắt hai người anh của tôi đi tù, và tịch thu hết ruộng đất, cho nên ngay từ thời thiếu niên, tôi không ưa gì cộng sản. Lý do thứ hai là trước sau gì tôi cũng sẽ được gọi động viên dù tôi thi đậu bằng Tú tài I vào cuối năm học ấy. Tôi nghĩ rằng sớm muộn gì tôi cũng sẽ theo đường binh nghiệp, nên tôi tình nguyện đi sớm, trước hết là để tiến thân, sau là để phục vụ quốc gia chống cộng sản.
Tôi ra Trường Võ Bị Liên Quân Đà Lạt tháng 6-1954, cấp bậc thiếu uý hiện dịch. Tôi theo học nhảy dù, và thuyên chuyển về Tiểu đoàn 5 Nhảy Dù (ND) ở cạnh Hồ Tây, Hà Nội, giữ chức trung đội trưởng.
Tháng 7-1954, đất nước bị chia hai, quân đội Quốc Gia rút về Nam Việt Nam. Sau hai năm thiếu uý, tôi được thăng cấp trung uý năm 1956, giữ chức đại đội trưởng Đại đội 3 Tiểu đoàn 5 ND, cùng với trung uý Ngô Quang Trưởng (sau nầy là trung tướng), coi Đại đội 1 TĐ5ND.
Năm 1961, sau trận đánh quận Phú Đức, gần Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, tôi được đặc cách thăng đại uý, rồi lên thiếu tá năm 1964 khi tôi đang làm trưởng phòng 2 Sư đoàn 1 Bộ Binh (SĐ1BB) ở Huế. Năm 1966, tôi thăng trung tá lúc đang giữ chức trung đoàn trưỏng Trung Đoàn 2 SĐ1BB, trấn giữ vùng giới tuyến ở Đông Hà, Quảng Trị. Sau trận Mậu Thân năm 1968, tôi lên đại tá và được đưa giữ chức chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Tiền phương SĐ1BB tại Ái Tử, Đông Hà, Quảng Trị. Sau cuộc hành quân Lam Sơn 1971 ở Hạ Lào, tôi lên chuẩn tướng. Đó là sơ lược sự thăng tiến trong cuộc đời binh nghiệp của tôi.
3) Thưa anh, khi VNCH mở cuộc hành quân Hạ Lào (Lam Sơn 719), anh là Phó tư lệnh Sư đoàn 1 Bộ binh (SĐ1BB), là sư đoàn chính trong cuộc tấn công qua Lào. Xin anh vui lòng cho biết mục đích chính của cuộc hành quân nầy?
- Mục đích chính của cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971 là:
1) Phá hủy con đường xâm nhập và tiếp vận của Việt Cộng từ Bắc vào Nam thông qua con đường Trường Sơn Tây trên đất Lào.
2) Tiêu diệt hết những lực lượng cộng sản trú ẩn trong vùng. Đây là một cuộc hành quân quan trọng có tính cách chiến lược, quyết định chiến tranh Việt Nam.

4) Thế thì diễn tiến cuộc hành quân như thế nào thưa anh?
- Theo kế hoạch, cuộc hành quân chia làm 3 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Ba cánh quân Biệt động quân ở phía bắc, Sư đoàn Nhảy dù và Lữ đoàn 1 Thiết giáp cánh giữa dọc theo đường số 9 và sông Tchepone, SĐ1BB cánh nam sông Tchepone, tiến chiếm các mục tiêu đến tuyến 1 Bản Đông.
Giai đoạn 2: Các cánh quân tiến chiếm các mục tiêu trên tuyến 2 tỉnh Tchepone.
Giai đoạn3: SĐ Nhảy Dù sẽ đổi hướng quét lên phía bắc tận biên giới miền Bắc Việt Nam.
Trong giai đoạn 1 sau khi các cánh quân tiến chiếm được các mục tiêu và lập các căn cứ hỏa lực dọc tuyến 1 thì bắt đầu có giao tranh. Biệt động quân bị tấn công mạnh, Lữ đoàn Dù ở căn cứ 31 bị thiết giáp Việt cộng tràn ngập. Đại tá Thọ, lữ đoàn trưởng, bạn tôi, bị bắt. Vì vậy mà giai đoạn 2 không tiến hành được.
Lệnh hành quân thay đổi. SĐ1BB cánh Nam thay thế SĐND tiến chiếm Tchepone. Sau khi quét xong Tchepone, SĐ1BB rút lên cao địa phía nam sông Tchepone thay vì bọc thẳng về Khe Sanh theo như kế hoạch đã định. Quyết định nầy làm mất thêm thời gian, nên Việt cộng có thời giờ điều động tấn công và bao vây quân ta, làm chúng ta phải vất vả mới bốc được các đơn vị ra khỏi vùng hành quân với nhiều thương vong! Thú thật, trông thấy cảnh binh sĩ phải bám vào cần trực thăng, tôi không cầm được nước mắt.
5) Theo anh, với tư cách là Phó tư lệnh SĐ1BB, lúc đó anh còn là đại tá, anh nhận xét cuộc hành quân nầy thành công hay thất bại như thế nào? Vì lý do gì thành công hay thất bại?
- Theo tôi, cuộc hành quân Lam Sơn 719 năm 1971 không đạt được mục tiêu đã định và có một số ảnh hưởng tinh thần không tốt cho Quân đội VNCH sau đó. Tuy nhiên, quân đội VNCH cũng đã gây cho địch nhiều thiệt hại to lớn về tiếp vận và nhân lực.
6) Lúc đó, người Mỹ bắt đầu thực hiện kế hoạch “Việt Nam hóa” chiến tranh, rút quân dần dần ra khỏi Việt Nam, người Mỹ có tham gia hành quân nầy không? Và người Mỹ có giúp đỡ cho quân đội VNCH không?
- Trong cuộc hành quân Lam Sơn 719, quân đội Mỹ đã yểm trợ tối đa bằng Không quân, kể cả B52, trực thăng đổ quân và tiếp tế tải thương. Tuy nhiên, cố vấn Mỹ không đi theo chúng ta sang Lào. Thông thường trong các cuộc hành quân trước đây, có cố vấn Mỹ đi theo, chúng ta nhờ cố vấn Mỹ gọi yểm trợ không kích. Trong cuộc hành quân Hạ Lào, do vấn đề ngoại giao, Mỹ không theo chúng ta qua Hạ Lào. Không có cố vấn Mỹ, việc gọi Không quân yểm trợ gặp một số trở ngại về chuyên môn kỹ thuật, nên việc yểm trợ không hữu hiệu, nhưng thật sự là không thể phủ nhận là Không quân Mỹ đã yểm trợ chúng ta trong cuộc hành quân nầy.
7) Trong trường hợp nào, anh trở thành tư lệnh SĐ3BB? Đây là một sư đoàn tân lập (thành lập tháng 10-1971), lấy quân từ đâu, huấn luyện như thế nào và bộ chỉ huy ở đâu?
- Có một điểm cần nêu rõ: Do nhu cầu chiến trường, bộ Tổng tham mưu Quân đội VNCH quyết định thành lập một sư đoàn mới để trấn giữ vùng giới tuyến phía Bắc vì SĐ1BB không đủ lực lượng. Tuy nhiên, có thể vì dự tính rút quân theo kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, phía Mỹ không chịu yểm trợ cho việc thành lập nầy. Mỹ đề nghị đưa một sư đoàn cơ hữu từ Nam (VNCH) ra Bắc (VNCH), hoặc điều động Biệt Động Quân ra giữ vùng giới tuyến.
Sau khi bàn bạc, Bộ TTM quyết định lấy Trung đoàn 2 SĐ1BB làm nòng cốt và tăng cường thêm lao công đào binh từ miền Nam ra. Ở đây tôi xin mở ngoặc: Thông thường, một sư đoàn có 3 trung đoàn. Riêng Sư đoàn 1BB có 4 trung đoàn. Vì vậy, cắt bớt Trung đoàn 2 SĐ1BB, thì SĐ1BB vẫn còn 3 trung đoàn. Đặc biệt nữa, Trung đoàn 2SĐ1BB lại có 5 tiểu đoàn, mà mỗi tiểu đoàn có 4 đại đội, nên Trung đoàn 2SĐ1BB có 20 đại đội. Nếu theo cách tức cũ, mỗi sư đoàn có 3 trung đoàn, mỗi trung đoàn có 3 tiểu đoàn, mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội, thì sư đoàn tân lập cần có số đại đội là: 3 X 3 X 3 = 27 đại đội. Trong khi đó Trung đoàn 2 SĐ1BB có 20 đại đội, nên chỉ cần bổ sung thêm 7 đại đội để thành lập sư đoàn mới. Sư đoàn mới nầy là Sư đoàn 3 BB. Về tiếp liệu, SĐ3BB lấy tiếp liệu sẵn có chứ Mỹ không cung cấp đồ mới nữa.
Sư đoàn 3BB không được tập trung huấn luyện mà chỉ tiếp nhận những đơn vị sẵn có và bổ sung thêm quân số từ miền Nam ra. Bộ tư lệnh SĐ3BB và hậu cứ chính ở căn cứ Ái Tử, Quảng Trị do Mỹ để lại. Đó là thực trạng SĐ3BB trước khi đụng trận vào năm 1972.
8) Thưa anh, trong cuộc tấn công vào Mùa hè đỏ lửa, CSBV mở chiến dịch Trị Thiên ở Quân khu I. Sư đoàn 3 BB đóng ở tuyến đầu tại QKI. Lúc đó, tình hình địch như thế nào và tình hình quân đội VNCH như thế nào?
- Trong cuộc tấn công Mùa hè đỏ lửa năm 1972, lực lượng địch gồm có: hai sư đoàn Bộ binh 304 và 308, 5 trung đoàn BB biệt lập số 27, 31, 126, 220 và 246, 01 sư đoàn pháo binh, 2 trung đoàn thiết giáp 203, 204 và 1 trung đoàn Xe lội nước PT 76. Lực lượng quân đội chúng ta gồm có: Giai đoạn đầu SĐ 3BB, Lữ đoàn 147 TQLC, Thiết đoàn 18, Lực lượng diện địa tỉnh Quảng Trị gồm địa phương quân và nghĩa quân. Giai đoạn sau tăng phái thêm Lữ đoàn 258 TQLC, 2 Liên đoàn Biệt động quân, Lữ đoàn 1 Thiết giáp.
Trong tương quan lực lượng giữa hai bên thì rõ ràng lực lượng Việt cộng vượt trội hơn nhiều: Thiết giáp Việt cộng trang bị T54 tối tân của Liên Xô, Bộ binh Việt cộng gần 4 sư đoàn và Việt cộng chủ động tấn công trong khi chúng ta quân số ít hơn, lại bị thụ động chống trả.
9) Xin anh vui lòng trình bày lại diễn tiến của trận đánh nầy.
- Trận đánh nầy bắt đầu ngày 29-3-1972, thật bất ngờ với chúng tôi. Phía VNCH, chúng tôi không được tin tức tình báo việc chuyển quân của địch. Lúc đó hai trung đoàn của SĐ3BB chúng tôi đang đổi quân. Trung đoàn 2 và Trung đoàn 26 hoán chuyển vị trí. Trong lúc chuyển quân thì chúng ta phát giác Việt cộng cũng đang chuyển quân. Thế là chiến trận xảy ra. Kể từ đó, Cộng quân tấn công liên tục trong vòng một tháng.
Về phía cố vấn Mỹ, ngay từ đầu, do những tin tức tình báo về phía Mỹ, đại tá cố vấn Metcalf đã cho tôi hay là: Đây không phải là cuộc tấn công bình thường như trước đã xảy ra, mà là cuộc tổng tấn công tổng lực toàn diện, cho nên không thể phòng thủ bằng cụm cứ điểm được. Việt cộng đưa quân vượt sông Bến Hải rất đông, sẽ tấn công và tràn ngập các cứ điểm, và sau cùng sẽ tấn công vào căn cứ cuối cùng.
Do đó, đại tá Metcalf đề nghị nên phòng thủ di động mới chống cự được. Tôi cho rằng đây là kế hoạch tốt nhất để áp dụng và tôi đã tự mình soạn thảo và vạch ra kế hoạch di chuyển từ tuyến 1 đến tuyến 3. (Tuyến 1 là khúc sông Cam Lộ hay Đồng Hà. Tuyến 2 là khúc sông Thạch Hãn. Tuyến 3 là sông Mỹ Chánh.)
10) Lúc đó, do áp lực nặng nề của Cộng quân, SĐ3BB phải rút lui. Thưa anh có thể cho biết cuộc rút quân đó do lệnh của ai hay do chính bộ Tư lệnh Sư đoàn quyết định? Lúc đó, bộ Tư lệnh Quân đoàn I có ý kiến gì không?
- Tôi xin nói ngay là chúng tôi không rút lui mà chúng tôi chuyển quân chiến thuật. Trước khi ra lệnh di chuyển về tuyến 3 (sông Mỹ Chánh), tôi đã trình lên Bộ tư lệnh Quân đoàn I, đồng thời khi biết quyết định nầy, đại tá Metcalf điện báo cho thượng cấp của ông là đại tướng Creighton Abrams, thì tướng Abrams trả lời cho Metcalf như sau: “Tướng Giai có toàn quyền hành động”. Phía Quân đoàn I, khi tôi trình kế hoạch chuyển quân, tư lệnh Quân đoàn I là trung tướng Hoàng Xuân Lãm không trả lời, nhưng vì tình hình khẩn cấp tôi đã ra lệnh chuyển quân, thì vào phút chót trung tướng Lãm ra lệnh tử thủ Quảng Trị, nghĩa là không chấp thuận kế hoạch chuyển quân của tôi, nhưng đã trễ vì lệnh chuyển quân đã bắt đầu thi hành rồi nên không thể lấy lại lệnh. Vì vậy tôi đã bị cấp trên quy tội là “Bất tuân thượng lệnh.”.
Tôi nhấn mạnh là chúng tôi không rút lui. Chúng tôi chuyển quân theo chiến thuật cần thiết để đối phó với tình hình lúc đó. Rút lui có nghĩa là mở cuộc hành quân, hay tấn công một nơi nào đó, rồi sau đó rút lui. Đàng nầy, không phải chúng tôi rút lui, tức bỏ đi, mà chúng tôi chỉ chuyển quân, bảo toàn lực lượng và chờ đợi cơ hội phản công. SĐ3BB và các đơn vị tăng phái di chuyển theo kế hoạch đã vạch ra.
Cuộc chuyển quân diễn ra theo đúng kế hoạch. Chỉ có một cuộc chạm súng nhỏ và chúng tôi đã hạ được 2 xe tăng PT76 của Việt cộng. Thương vong về phía chúng ta trong cuộc rút quân rất thấp, vì tất cả đi về phía đông quốc lộ 1, nhưng bị thổi phồng lên hàng ngàn người. Sự chết chóc trên quốc lộ 1 từ Quảng Trị về Mỹ Chánh xảy ra không phải riêng trong cuộc chuyển quân của chúng tôi mà trước đó đã xảy ra trong suốt tháng 4-1972 khi dân chúng di chuyển từ Quảng Trị về Huế, lúc Việt cộng bắt đầu tấn công từ ngày 29-3-1972.
Cuộc chuyển quân của SĐ3BB về tuyến phòng thủ 3 (sông Mỹ Chánh) coi như thành công chứ không thất bại, nhưng tôi không có thời gian để chấn chỉnh đội ngũ SĐ3BB vì sau ngày 30-4-1972, tôi được gọi về bộ Tổng tham mưu phúc trình sự việc. Đại tá Ngô Văn Chung, tư lệnh phó SĐ3BB tạm thay tôi cho đến khi thiếu tướng Nguyễn Duy Hinh được cử làm tân tư lệnh SĐ3BB.
11) Hậu quả đầu tiên của cuộc chuyển quân nầy là anh bị kỷ luật. Xin anh cho biết rõ những biện pháp kỷ luật đối với anh.
- Về bộ Tổng tham mưu, tôi trình diện ở Phòng thanh tra và bị giữ tại Đại đội Tổng hành dinh một tháng. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh truy tố tôi. Tôi bị chuyển qua Khám Chí Hòa và bị đưa ra Tòa. Tòa án Quân sự kết án tôi năm năm tù vị tội “bất tuân thượng lệnh”. Tôi bị giam giữ ở Khám Chí Hòa. Đang thọ án, biến cố 30-4-1975 xảy ra. Khám Chí Hòa tự động mở cửa cho mọi người ra ngoài. Tôi đi về nhà.
12) Đời sống trong khám Chí Hòa như thế nào, thưa anh?
- Người ta cho tôi sống riêng trong một căn nhà nhỏ như cái thư viện. Sau đó có thêm vài người nữa như chuẩn tướng Trần Quốc Lịch, ông Nguyễn Tấn Đời. Đời sống thoải mái. Cơm nước do gia đình mang vào. Trong thời gian nầy, vị tướng tư lệnh Mỹ ở Thái Lan vào thăm tôi trong Chí Hòa, đề nghị đưa tôi ra cầm quân trở lại, nhưng tôi thấy khó làm việc trong hoàn cảnh lúc đó nên tôi yêu cầu để tôi có thời giờ suy nghĩ.
13) Là một quân nhân, anh im lặng chấp nhận kỷ luật, nhưng trong tận cùng suy nghĩ của anh, anh có thấy mình bị oan ức không? Xin anh thành thật kể ra.
- Tôi nhận trách nhiệm những gì tôi làm. Tôi im lặng chịu đựng tất cả hậu quả những gì tôi đã làm mà tôi cho là đúng với tình hình. Tôi ra lệnh chuyển quân để lập tuyến phòng thủ mới như đã dự định nhằm tạo lại thế phản công thay vì bị động, nhằm tránh thương vong trong sự co cụm, để Việt cộng vào và chúng ta dùng phi pháo tiêu diệt, rồi sẽ tấn công trở lại. Đúng như những gì sau đó xảy ra, cổ thành Quảng Trị là mồ chôn hàng ngàn Việt cộng, sau khi SĐ3BB ra khỏi cổ thành.
Tôi nghĩ rằng tổng thống Thiệu đã không hiểu được tình hình thực tế tại chiến trường mà chỉ khăng khăng giữ từng tấc đất và rồi để mất tất cả. Đó là kết quả của những vị tướng làm việc sau bàn giấy.
14) Sau ngày 30-4-1975, vì sao anh bị kẹt lại ở Việt Nam? Anh bị Cộng sản bắt giam ở đâu, trong bao lâu?
- Sau ngày 30-4-1975, mới ra khỏi tù, tôi về ở nhà, không đi đâu nữa. Tôi sống với gia đình cho đến khi đi “tập trung cải tạo” tức bị đi tù cộng sản ngày 16-5-1975.
Tôi bị giam cùng với các tướng lãnh khác ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung một năm. Trong năm nầy, chúng tôi phải học 10 bài. Tôi nhớ bài thứ nhất là “Đế quốc Mỹ xâm lược nước ta, là kẻ thù nhân dân ta”. Bài thứ hai là “Ngụy quân ngụy quyền, tay sai của đế quốc Mỹ là kẻ thù của nhân dân ta”. Tôi quên đề tài mấy bài giữa. Bài số 10, tức bài cuối cùng là “Lao động là vinh quang”.
Sau bài số 10 nầy, Việt cộng bảo rằng ở đây không có đất để chúng tôi thực tập lao động, nên chuyển bọn tù chúng tôi ra Bắc, ở trại 5 Hoàng Liên Sơn. Ở tại đây cho đến năm 1978, Trung cộng đe dọa vùng biên giới, chúng tôi bị di chuyển về Hà Tây biệt giam. Năm 1983, tôi chuyển trại một lần nữa, đến trại tù Nam Hà. Cuối năm 1987, tôi ra tù và được qua Mỹ theo chương trình H.O. 16 năm 1993. Trước khi ra đi, Việt cộng bắt tôi phải ký giấy cam kết không được hoạt động chống đối chúng nó. Có lẽ không phải riêng tôi, mà ai ra đi chúng nó cũng đều bắt buộc như vậy.
15) Là một sĩ quan cấp tướng, khi hỏi cung anh, CS chú trọng đến những vấn đề nào nhất?
- Khi hỏi cung tôi, lúc đầu Việt cộng hỏi nhiều về âm mưu của Mỹ sau ngày 30-4-1975. Mục đích của Việt cộng là tìm bắt những ai còn hoạt động chống cộng và tìm những ai là người do Mỹ cài lại Việt Nam. Việt cộng cũng cho tôi là người của Mỹ, có lẽ là vì lúc tôi bị giữ ở Khám Chí Hòa, có vị tướng Tư lệnh Lực lượng Mỹ ở Thái Lan vào thăm tôi. Có thể chúng được ai đó báo cho biết việc nầy, nên chúng nó nghi ngờ tôi. Chúng cũng hỏi tôi lúc ở Quảng Trị có được “cách mạng móc nối” không? Tôi trả lời là không. Như thế là có thể Việt cộng đã sai người kiếm cách móc nối tôi, nhưng chúng không móc được. Ngoài ra, Việt cộng bắt tôi viết tự thuật lại toàn bộ đời tôi.
16) Cuối cùng, anh ra nước ngoài năm nào? Đời sống của anh hiện nay ra sao?
- Tôi đến Mỹ ngày 3-3-1993, theo chương trình H.O. 16. Đời sống của tôi nay đã ổn định, an dưỡng tuổi già, con cái đã trưởng thành. Thật là hạnh phúc sau 77 năm cuộc sống phiêu bạt: 7 năm thời thơ ấu, 11 năm học đường, 19 năm binh nghiệp, 3 năm tù thời VNCH, 12 năm rưỡi tù cộng sản, 5 năm chờ đợi ở Sài Gòn và 18 năm trên đất Mỹ…
KẾT LUẬN: Cuộc nói chuyện giữa chúng tôi khá lâu, khoảng 4 giờ đồng hồ, rất vui vẻ, chân tình. Xin cảm ơn anh Giai. Kể lại chuyện xưa, cựu chuẩn tướng Giai trình bày rất tự nhiên thoải mái, không có gì là bực bội hay hằn học đối với các cấp lãnh đạo quân đội VNCH đã truy tố và bỏ tù ông.

Ngay sau trận Quảng Trị tháng 4-1972, chuẩn tướng Vũ Văn Giai đã bị “hy sinh”, bị đưa ra tòa, bị ghép tội “bất tuân thượng lệnh” và lãnh án 5 năm tù giam. Vụ án của ông còn bị dư luận thổi phồng vì hai lý do: 1) Người dân chỉ thấy cuộc chuyển quân thất bại và nhiều người chết trên con đường Quảng Trị-Huế, mà không biết diễn tiến nội vụ chuyện chuyển quân, và quên chú ý rằng người ta chết vì suốt một tháng giao tranh trong khi việc chuyển quân chỉ diễn ra một ngày vào cuối tháng 4-1972. 2) Những lãnh đạo của tướng Giai tìm cách tránh né trách nhiệm của chính các ông về những sai lầm trong cuộc hành quân, và đổ hết tội lỗi lên hai vai của tướng Giai. Ông gánh chịu dư luận quốc nội cũng như quốc tế thay cho các cấp lãnh đạo trung ương và Quân đoàn I.
Tuy nhiên, dần dần theo thời gian, những uẩn khúc về trận đánh nầy được làm sáng tỏ. Gần đây nhất, trong cuộc hội thảo “Việt Nam, 35 năm nhìn lại” vào tháng 4-2010 tại Washington D.C., sử gia Dale Andrade, thuộc Trung Tâm Lịch Sử Quân Đội Hoa Kỳ, đã nói như sau:
“Thấy được sự nghiêm trọng của vấn đề, tướng Vũ Văn Giai, tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ Binh, ra lệnh lui quân về phía Nam để có thể tạo ra một đồn lũy vững chãi hơn. Các cố vấn Hoa Kỳ cho rằng đây là một quyết định hợp lý, có cơ sở, có triển vọng giữ lại được hàng ngũ của ông trong tình thế hiểm nghèo lúc đó. Nhưng tiếc thay, ngay khi kế hoạch chuyển quân bắt đầu, thì nửa đêm hôm đó, tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân đoàn I, gọi phôn ra, ra lệnh tử thủ Quảng Trị…. Sau khi Quảng Trị thất thủ, tướng Giai bị đổ hết tội lỗi lên đầu, và còn bị bỏ tù. Tướng Giai đã bị đối xử bất công. Tôi cho rằng ông đã làm hết sức mình trong một hoàn cảnh rất khó khăn trước quân thù, khi không được cả sự đồng thuận của đồng đội…” (Nhật báo NGƯỜI VIỆT, California, ngày Thứ Hai 26-4-2010, số 8906, tr. A6)
Một người đứng ngoài cuộc chiến như Dale Andrade, với đầy đủ điều kiện nghiên cứu, sàng lọc nhiều tài liệu trong văn khố quân sử Hoa Kỳ, nắm rõ diễn tiến các trận đánh, hy vọng là khách quan và khả tín.
Tuy nhiên, có một điều quan trọng đáng nói hơn hết: cựu chuẩn tướng Vũ Văn Giai, trong cương vị tư lệnh SĐ3BB, năm 1972 đã tận lực chiến đấu với tất cả khả năng của mình nhằm bảo vệ tuyến đầu đất nước. Ông là một tướng lãnh tận trung với Tổ quốc, can đảm, tận tụy, nhưng kết quả không may mắn, ông đành im lặng xuôi theo số phận vào cuối đời binh nghiệp, mà vẫn không thẹn với lương tâm, với đồng đội và với dân tộc.
TRẦN GIA PHỤNG
(Toronto, 3-8-2011

Wednesday, October 1, 2014

VIENNA


Hôm qua, tôi vẫn còn hít hà khi ăn bánh mì chấm tương ớt Hung Gia Lợi cay xé lưỡi ở Budapest thì hôm nay đã có mặt ở Vienna, thủ đô của nước Áo thật nên thơ, hữu tình. Nằm lưng chừng giữa Châu Âu cổ kính, Vienna luôn được xem là vùng đất hiền hòa của các tao nhân, mặc khách, của những giấc mơ thần tiên qua vẻ đẹp cổ kính, nên thơ như truyện tranh thần thoại. Ở đây có nhiều lâu đài vương giả xưa, có dòng sông huyền thoại Danube xanh lơ hững hờ bao bọc quanh thành cổ, có những đồi núi hữu tình... lịch sử dường như đã ngừng lại mãi mãi nơi này cùng thế kỷ XVIII và XIX. Trong cái khung cảnh đẹp như những họa phẩm sơn dầu ấy còn có tiếng nhạc thánh thót óng ả vang lên ở mỗi góc phố nghe như những vũ khúc từ tiên cảnh vọng xuống...Tôi tự nhủ: thôi đừng vội vã nữa, hãy đi chậm lại một chút, dừng lại đây ít hôm, tắm gội những nhọc nhằn, để cho những nốt nhạc xanh xoa dịu và mơn trớn những tủi hờn trong đời...và trong cái êm ả của Vienna ấy, tôi đã tìm được sự bình an tuyệt đối...


Vùng đất của những thiên tài âm nhạc
Bắt đầu có lẽ là nhờ ở thiên hòa, địa lợi với thời tiết và khí hậu mát mẻ, rồi cái hanh hanh, không quá nóng, không quá lạnh, kế đến là non nước hữu tình với giòng sông Danube xanh trong hững hờ bao quanh thành phố, xa xa là những ngọn núi cao thơ mộng...cho nên con người sống nơi này ai cũng là những nghệ sĩ, họ rất yêu thiên nhiên và trân trọng nghệ thuật.  Cổ nhân của thành Vienna đã xây dựng nên một kinh thành thật thơ mộng với những đường nét kiến trúc đẹp như những bài thơ.  Rất nhiều các thiên tài của âm nhạc của nhân loại đã xuất thân từ đây, hoặc đã chọn Vienna để sống và sáng tác như  Franz Schubert, Johann Strauss I, Johann Strauss II, Arnold Schönberg, Fritz Kreisler, Alban Berg,Anton Webern, Louie Austen, Falco, Joe Zawinul, Johann Joseph Fux, Joseph Haydn, Wolfgang Amadeus Mozart, Ludwig van Beethoven, Antonio Salieri, Carl Czerny, Johann Nepomuk Hummel, Franz Liszt, Franz von Suppé, Anton Bruckner, Johannes Brahms, Gustav Mahler and Rainhard Fendrich... Tại đây có rất nhiều các rạp hát dành để biểu diễn nhạc cổ điển, nhạc kịch, múa ballet, múa cabaret, chiếu phim ảnh....  Các hý viện có thể kể như Burgtheater, Akedemietheater, Volkstheater Wien, Theater in der Josefstadt … là những rạp hát được xem là cổ kính, sang trọng, có tầm cỡ nổi tiếng trên thế giới mà những nghệ sĩ trình diễn khắp năm châu luôn mong có cơ hội được đến đây một lần biểu diễn, xem như một hình thức được công nhận tài năng.....Nói một cách không cường điệu, người dân ở đây ai cũng đều có thể xử dụng được ít nhất một loại nhạc cụ cũng như có khả năng đọc được nốt nhạc.  Không hiểu có phải vì âm nhạc đã ngấm vào trong từng con người của họ hay không mà ai trông cũng rất hiền lành, luôn có nụ cười nở trên môi.  Khi nhìn kỹ vào từng nét mặt của họ, tôi không hề thấy sự lo lắng, căng thẳng mà chúng ta, có thể đôi khi thấy hiện hữu ở những người đang sinh sống tại các đô thị lớn khác trên thế giới.
Cầm tờ danh mục giải trí, tôi đếm được 108 rạp hát tại Vienna luôn sáng đèn về đêm.  Ban ngày tại khu trung tâm phố cổ, luôn có những thanh niên, thiếu nữ trẻ đẹp trong y phục lễ hội của triều đình xưa đứng giới thiệu các tiết mục trình diễn, các buổi dạ tiệc, dạ hội dành cho du khách tại nhiều hý viện khác nhau.  Những tác phẩm của các thiên tài âm nhạc tại Vienna luôn được người đời nay giới thiệu hàng đêm, có thể kể là Mozart, Beethoven, Schubert, Strauss I, Strauss II... Nhạc phẩm Blue Danube của Johann Strauss II được viết năm 1866 luôn vang lên ở khắp hang cùng ngõ hẻm tại Vienna, từ những hý viện sang trọng cho đến các quán nhạc nhỏ trong hẻm sâu, từ những dàn nhạc giao hưởng cả trăm người cho đến chỉ một nghệ sĩ kéo violin trên hè phố.  Cứ mỗi lần điệu nhạc này trỗi lên là khán giả và du khách lại vỗ tay không ngớt.  Dường như bản nhạc đã trở thành một loại “nhạc hiệu” đi kèm với địa danh Vienna.  Du khách đến đây luôn ai cũng muốn được nghe Blue Danube vang lên ngay tại Vienna, do chính những nghệ sĩ địa phương trình diễn. Khi điệu nhạc này đến Việt Nam hơn 50 năm trước, nhạc sĩ Phạm Duy đã viết thêm lời để khúc nhạc trở thành bài hát Giòng Sông Xanh qua các tiếng hát như Hà Thanh, Thái Thanh ...từng gây bao nhiêu thổn thức và gần gũi hơn cho nhiều thế hệ và hàng chục triệu khán thính giả Việt Nam.


Thành phố lưu giữ quá khứ và nghệ thuật
Tại Vienna có 104 viện bảo tàng lớn nhỏ và rất nhiều những viện bảo tàng được xem là có tầm vóc quy mô trên thế giới.  Trong số này có những viện bảo tàng do chính phủ quản lý, có nơi do các tổ chức văn hóa điều hành và rất nhiều những viện bảo tàng tư nhân lớn nhỏ.  Du khách đến đây không thể bỏ khu vực các bảo tàng nằm ngay bên trong kinh thành cổ, gọi là Imperial Treasury (tiếng Đức là Schatzkammer).  Quý vị có thể chiêm ngưỡng toàn bộ các bộ sưu tập bằng vàng ròng, bạch kim, bạc, cũng như các đồ dùng quý giá khác bằng gốm sứ, tơ lụa của hoàng gia Áo qua các triều đại, đặc biệt là của vị nữ hoàng Sisi.  Một viện bảo tàng khác của quốc gia láng giềng (Liechtenstein Museum), nhưng có mặt tại Vienna, mà tôi nghĩ cũng nên nhắc đến là viện bảo tàng của hoàng gia Liechtenstein.  Liechtenstein là một trong năm vương quốc nhỏ bé nhất thế giới nhưng viện bảo tàng và bộ sưu tập hoàng gia của họ được xem là có quy mô vĩ đại trên thế giới.  Hiện nay, Liechtenstein Museum chỉ mở cửa tiếp những đoàn khách lấy hẹn trước mà thôi.  Nếu là những người yêu nghệ thuật, say mê viện bảo tàng, quý vị có thể ở đây hàng tháng trời mới có thể xem hết 104 viện bảo tàng hiện hữu tại hầu như ở mỗi góc phố của Vienna với nhiều chủ đề khác nhau như lịch sử, thiên nhiên, địa chất, nghệ thuật cổ điển, nghệ thuật đương đại, khoa học kỹ thuật, chiến tranh, quân đội, hàng hải, điện ảnh, ....
Nếu quý vị không có nhiều thời gian, tôi nghĩ Imperial Treasury (tạm dịch là Bộ Sưu Tập của Hoàng Gia) ở ngay bên trong lâu đài chính của hoàng cung là quan trọng nhất mà chúng ta không thể bỏ qua, cũng như không thể thiếu trong chuyến tham quan của quý vị tại Vienna.


Vài nét sơ lược về lịch sử
Theo các tài liệu và các cổ vật khai quật bởi các nhà khảo cổ, nơi đây đã từng có làng mạc, cộng đồng con người sinh sống từ trên 2500 năm trước.  Nhiều nền văn hóa cổ khác nhau đã đến đây như Ái Nhĩ Lan, Đức, Roman.  Vào thế đầu thế kỷ XV, Vienna đã được chọn làm kinh đô của triều đại Habsburg, rồi Holy Roman.  Quân Hung Gia Lợi cũng đã chiếm Vienna vào cuối thế kỷ một thời gian ngắn khoảng 5 năm.  Trong thế kỷ XVI và XVII, quân Ottoman (hiện nay là Thổ Nhĩ Kỳ) đã chiếm cổ thành này, tàn sát rất nhiều dân lành vô tội, văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ cũng để lại nhiều ảnh hưởng lên văn hóa Vienna hiện nay.
Trong thế kỷ XIX, để chống lại sức mạnh như vũ bão và hùng mạnh của hoàng đế Pháp - Napoleon, quân đội của hai đế chế Áo và Hung Gia Lợi đã hợp tác cùng nhau nhằm biểu dương sức mạnh và cùng bảo vệ biên giới.  Nhờ sự hợp tác này mà hai vương quốc đã không bị Napoleon xâm chiếm.  Cũng trong thời gian này, văn hóa và nghệ thuật tại Vienna đã phát triển vượt bực trong thế kỷ XIX.  Các công trình kiến trúc, lâu đài, thành quách đã được xây dựng thêm, trường nghệ thuật đầu tiên đào tạo các nghệ sĩ một cách bài bản đã được thành lập.  Bước sang đầu thế kỷ XX, sau Thế Chiến thứ I, nền quân chủ phong kiến chấm dứt, nước Cộng Hòa Áo Đầu Tiên (First Republic Austria) được hình thành vào năm 1919.
Xuyên suốt trong Thế Chiến Thứ II, nước Áo luôn bị nhiều thế lực khác tranh giành ảnh hưởng.  Vì Adolf Hitler là người Áo, cho nên hắn ta luôn muốn sát xập Áo vào Đức khi lực lượng Phát Xít đang hùng mạnh. Quân đội của Nga Xô, Pháp, Anh và quân Đồng Minh cũng đều muốn có ảnh hưởng tại Áo và đã đưa quân vào đóng tại Vienna trong 10 năm.  Khoảng thời gian này, cặp đôi chính trị Áo và Đức luôn đi cùng nhau trên các cuộc đàm phán quốc tế.  Khi hòa Đàm Berlin xảy ra, nước Áo may mắn đã không bị chia cắt như nước Đức.  Cũng vì nước Áo ở ngay vùng Trung Âu có địa thế quá lợi hại về giao thông và quân sự, nên trên các bàn đàm phán, cả Liên Xô lẫn Hoa Kỳ đều không ai muốn nước Áo lọt về phe phái của đối phương.  Cuối cùng các bên đã ra quyết định: nước Áo sẽ ở vị trí gần như trung lập, về quân sự sẽ không tham gia vào khối NATO, cũng như không ngã về phe Cộng Sản do Liên Xô đứng đầu.  Đây cũng là điều may mắn cho nước Áo vì đã tránh được những cuộc chiến tranh đẫm máu, và quan trọng hơn cả là nước Áo và Vienna, một di sản văn hóa của nhân loại đã may mắn không lọt vào tay người Cộng Sản.  Các giá trị văn hóa và tri thức văn hóa ở đây đã không bị chung số phận tan hoang và cào bằng như chúng ta đã thấy ở Đông Bá Linh, Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungary….Cũng vì ở vị trí có thể xem như trung lập, nước Áo đã được chọn để tổ chức rất những hội nghị mang tính cách quốc tế cho cả hai phe tham dự trong suốt những năm của cuộc chiến tranh lạnh.

Chất lượng đời sống tại Vienna và nước Áo
Tiếng Đức là ngôn ngữ chính thức tại Áo, đồng Euro là đơn vị trao đổi.  Dân số tại Vienna có khoảng 2 triệu 400 người, nếu tính luôn khu vực ngoại ô (toàn nước Áo là 8 triệu 500 ngàn người).  Vienna được mệnh danh là thành phố của âm nhạc và văn hóa rất đặc biệt trên thế giới.  Theo bảng xếp hạng của Ngân Hàng Thế Giới năm 2013, thu nhập người dân Áo trung bình là $49.074 ngàn Mỹ kim hàng năm (cũng trong bảng xếp hạng này, Canada là 51,911 và Mỹ là $53,143).  Tại Áo, giáo dục trung học, cao đẳng và đại học hầu như miễn phí hoàn toàn, trừ các ngành liên quan đến sức khỏe thì sinh viên phải đóng một phần học phí.  Y tế hoàn toàn miễn phí dành cho người dân tương tự như nền y tế ở Canada.  Cũng như Thụy Sỹ, nước Áo có nhiều núi cao nhiều tuyết, và hệ thống dẫn nước khoáng tinh khiết thẳng từ núi cao đưa về thành phố cho dân chúng xử dụng mà không cần qua lắng lọc hoặc sát trùng.  Tôi đã uống thử và thấy rất ngon và ngọt như nước khoáng đóng chai vậy.
Vienna đã nhiều lần được bầu chọn và nằm trong bảng xếp hạng cao với nhiều danh mục khác nhau, có thể kể như Thành Phố Đáng Sống Nhất Thế Giới (2005 – của tổ chức Economist Intelligent Unit), Thành Phố Có Đời Sống Thoải Mái Nhất (bốn năm liền, từ 2009-2012 – của tổ chức Mercer), Thành Phố Của Sáng Tạo (hai năm liền 2007-2008 – Innovation Cities Index), Vienna cũng đứng đầu là thành phố có những hội nghị được tổ chức nhiều nhất thế giới trong 5 năm liền, từ 2005-2010.


Cung Điện Mùa Hè
Cũng như các hoàng gia khác tại Châu Âu, hoàng gia tại Áo cũng có cung điện chánh là nơi tổ chức những nghi lễ và phô trương quyền lực.  Cung điện này khi nào cũng uy nghi và lộng lẫy như là một biểu tượng của sức mạnh.  Thông thường nhà vua và hoàng gia thường có mặt tại đây vào mùa đông nên cung điện này đôi khi còn được gọi bằng tên không chính thức là “cung điện mùa đông”.  Ngoài ra, vào mùa hè, nhà vua, hoàng hậu và các công chúa, hoàng tử thường đi nghỉ mát ở xa tại “cung điện mùa hè”.  Với hoàng gia Áo, cung điện mùa hè có tên chính thức là Schonbrunn Palace.  Từ khu trung tâm phố cổ đi đến cung điện này cũng khá xa. Du khách có thể ghi danh với các công ty du lịch, họ có thể đón khách từ các khách sạn gần khu vực trung tâm, hoặc nếu tự đi thì hệ thống xe điện ngầm sẽ tiện lợi và nhanh nhất, không nên dùng taxi.
Bên trong “cung điện mùa hè” vẫn còn nguyên vẹn tất cả đồ đạc, trang trí của hoàng gia thuở xưa, không hề bị hư hại.  Tôi cũng khá thú vị khi nghe thuyết minh về hoàng hậu Maria Theresa (1717-1780) rằng bà có đến 16 người con, trong đó con gái là đa số và tất cả các công chúa này đã được gả cho nhiều hoàng tử hoặc các ông hoàng khác tại Châu Âu.  Các học sinh khi học về môn sử cũng thường đùa, rằng bà là “nhạc gia”, hoặc là “bà ngoại” của cả thế giới.  Nhiều người đã tin rằng, nhờ vào đó, các mối giao hảo nước Áo và các vương quốc khác luôn luôn tốt đẹp.  Trong một thời gian dài, Áo không hề bị quốc gia nào xâm lấn hay gây hấn gì cả.  Khi nghe kể về những câu chuyện này, tôi chợt nghĩ về tình trạng hôn nhân sắp đặt giữa các vương triều cũng từng rất phổ biến tại Châu Á, mang nặng tính chính trị, ví dụ như Huyền Trân Công Chúa của Việt Nam kết hôn với vua Chế Mân ở Chiêm Thành, hoặc công chúa Văn Thành của Trung Hoa đời nhà Đường đã kết hôn với vua Thổ Phồn xứ Tây Tạng ....


Từ giã Vienna
Tôi lưu lại Vienna được 3 hôm và cảm thấy thật khỏe khoắn bởi môi trường, khí hậu và xã hội.  Người Áo và nước Áo cái gì đối với tôi cũng chừng mực, họ không quá vồn vã, không lạnh lùng, không thô lỗ.  Vật giá ở đây so với Pháp hay Thụy Sỹ thì có phần rẻ hơn nhiều.  Nếu quý vị có ý định muốn tìm hiểu Vienna, có thể bay trực tiếp từ Bắc Mỹ đến, hoặc đi xe lửa từ Châu Âu vào.  Khách sạn ở đây cũng không quá đắt, cách nhau một ngã tư có thể có giá chênh lệch khá lớn.  Nếu có dịp quay lại, tôi sẽ chọn một khách sạn ngay bên ngoài cổ thành hơn là bên trong, bởi vì vẫn có thể thả bộ từ đầu này qua đầu kia, cách nhau không xa nhau lắm.
Với cuộc sống căng thẳng và mệt mỏi ở Bắc Mỹ, thiết nghĩ Vienna sẽ là một thành phố mà chúng ta có thể đến để thư giãn và tịnh dưỡng tinh thần. Dường như những yếu tố như âm nhạc vô cùng lãng mạn, giòng sông Danube quá trữ tình, không khí thật trong lành, nước uống đầy khoáng chất từ núi cao chảy xuống, kiến trúc và thiên nhiên hài hòa, con người thân thiện, vật giá phải chăng, an sinh xã hội cao... đã giúp cho thần kinh con người luôn ở trạng thái cân bằng, ít bị căng thẳng.  Và như tôi đã nói, bất cứ ai sống ở Vienna cũng đều có thể trở thành một nghệ sĩ...
Tôn Thất Hùng