Friday, July 4, 2014

Các Lữ Đoàn Nhảy Dù trong tháng ngày cuối cùng

Hàng năm, cứ mỗi độ tháng Tư về, là thiên hạ lại thấy xuất hiện trên báo chí và mạng lưới, những tin tức hình ảnh liên quan đến biến cố tháng Tư năm 1975. Năm nay, cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn bỗng được thấy đặc biệt chiếu cố, khai thác đều trên các mạng lưới. Và tên tuổi Phạm Huấn được đặc biệt nhắc nhở, đề cao. Một nét đặc biệt hơn nữa : đến những chữ nghĩa trong cuốn “Đại Thắng Mùa Xuân” của răng-đen-mã-tấu Văn Tiến Dũng, cũng được trang trọng trưng bày, xen kẻ với chữ nghĩa của Phạm Huấn! .. Lý do tại sao, xin dành quyền thẩm định phê phán khách quan lại cho quý độc giả, sau khi đọc xong bài viết nhỏ bé này.
Khoan thai mà nhận diện tin tức, chúng ta thấy có hai phần khác nhau :
Phần 1 là những trích dẫn từ ngay trong chính cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn. Và phần 2, là những bài viết khác, nhưng cũng nhằm vào một hướng: mạt sát Miền Nam Việt Nam ngày trước !
Hãy bắt đầu bằng những trích dẫn từ ngay trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”.
Trong phần này, trên nhiều mạng lưới, thấy có trích ra nhiều đoạn, mô tả nhiều diễn tiến dồn dập, ào ạt, nóng bỏng. Trong dòng diễn tiến cuồn cuộn đó, có một đoạn trích dẫn “bắt mắt” tôi nhất. Bắt mắt tôi, vì cường độ chữ nghĩa của tác giả cũng có, và vì giá trị xác tín của nguồn tin cũng có.
Xin chép lại nguyên văn đoạn này :
“Lữ đoàn 3 Nhẩy Dù tăng phái cho Mặt trận Khánh Dương, buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn ngập, và không còn được tiếp tế, liên lạc được với quân đoàn II. Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù bị tổn thất 70% lực lượng. Đó là thực trạng và tinh thần chiến đấu của các đơn vị chủ lực Quân Đoàn II, và Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên, Pleiku, Kontum, Nha Trang : Chưa đánh đã bỏ chạy ! Đúng !”…
Nếu là người dưng nước lã, đọc thoáng qua, chắc tôi cũng chỉ dững dưng đọc tiếp. Nhưng riêng tôi, không là người dưng nước lã với LĐ3ND. Tôi đã có những tháng năm phục vụ trong đơn vị này. Sự thật không phải như vậy. Hoàn toàn không.
Nhân đây, tôi cố gắng trình bày lại, hầu quý độc giả, tất cả những diễn tiến, mà các đơn vị Nhảy Dù Việt Nam có tham dự trong những tháng ngày cuối cùng của cuộc chiến. Trước khi mổ xẻ đoạn văn của Phạm Huấn trên đây, tôi xin thưa trước một điều.
Vì nhu cầu trình bày mạch lạc tin tức dữ kiện, để Quý Vị dễ theo dõi, sẽ có đôi lúc tôi phải viết lên liên hệ của cá nhân tôi với các đơn vị này. Xin đừng hiểu lầm, là người viết muốn nói về “cái tôi” của mình.
Trong biển lửa mênh mông và cường độ khốc liệt của cuộc chiến bất hạnh đó, tôi nghĩ, và tôi chắc rằng, mỗi chúng ta chưa đáng là con đom đóm. Từ các cấp lãnh đạo, chỉ huy của Việt Nam, cho đến cả Đại Sứ Mérillon của Pháp, ngay cả chính Đại sứ Graham Martin của Mỹ, cũng chỉ là nạn nhân, phục vụ cho quyền lợi kinh tế và chiến lược tối thượng của Hoa Kỳ và Trung Cộng. Ra hải ngoại này, “cái tôi” là điều mà đại đa số qúy vị độc giả, trong đó có chính tôi, đã quá kinh tởm, trong rừng lúc nhúc các “Bút ký chán chường” !
Trọn năm 1973, tôi là Lữ Đoàn Phó LĐ này, hành quân vùng “Động Ông Đô” ở Quảng Trị. Đụng chạm suốt năm, nhiều kỷ niệm mồ hôi xương máu, ký ức còn nóng hổi như mới ngày hôm qua.
Tháng Giêng năm 1974, Bộ Tư Lệnh Nhảy Dù bổ nhậm tôi làm Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 2 Nhảy Dù, thay thế Đại Tá Nguyễn Thu Lương (K4TĐ).
LĐ2ND ở lại bắc Quảng Trị, trách nhiệm vùng khoảng phía tây Phong Điền/La Vang, dưới sự phối hợp và kiểm soát hành quân của Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh/TQLC. Còn lại, SĐND(-) được Trung Tướng Ngô Quang Trưởng TL/QĐI điều động về nam đèo Hải Vân để giúp trấn giữ Đà Nẵng.
Hòa Đàm Ba-Lê kết thúc ngày 27 tháng giêng năm 1973 : Henry Kissinger và Lê Đức Thọ được giải “Nobel Hòa Bình” sau đó, là bản án bức tử cho “đồng minh” Nam Việt Nam, vì quyền lợi chính trị và chiến lược của chính “đồng minh” Hoa Kỳ ! Cộng sản Hà Nội không còn có nhu cầu nhắm chiếm Huế để làm “Thủ đô” cho Nguyễn Hữu Thọ và Nguyễn Thị Bình nữa. Họ dồn áp lực tối đa vào Đà Nẵng và Ban Mê Thuột, và mục tiêu tối hậu là … Saigòn.
Sau đúng 1 năm ở lại Quảng Trị, tháng 12 năm 1974, tôi bất thần lại được Chuẩn Tướng Lê Quang Lưỡng, Tư Lệnh Dù sau cùng, cho lệnh tôi bàn giao LĐ2ND ngược lại cho Đại Tá Nguyễn Thu Lương.
Tôi trở về BTL/Phòng 3 Hành Quân (ở Non Nước, Đà Nẵng) nhận lệnh mới. Tiễn tôi ra trực thăng Chỉ huy, là “Moshe Dayan” Tr/tá Lữ Đoàn Phó Trần văn Sơn K8TĐ. Anh em Dù gọi Sơn như vậy, vì Sơn đã bị thương mất một mắt, ngày còn là ĐĐT ở TĐ5ND, nhưng vẫn tình nguyện ở lại với đơn vị.
Tại căn cứ Non Nước, công việc của tôi hằng ngày, là bay đi kiểm soát phần Huấn luyện của các đơn vị Nhảy Dù “Đa Năng”. Đây là những Trung đội và Đại đội, được rút ra từ 6 Tiểu đoàn Nhảy Dù cũ đang tham chiến trong vùng Thường Đức và Đại Lộc, phía tây Đà Nẵng, thuộc các LĐ1ND (Tr/Tá Nguyễn Văn Đỉnh K15VB) và LĐ3ND (ĐT Lê Văn Phát). Khi tôi còn trách nhiệm LĐ2ND tại bắc Hải Vân trong năm 1974, chính tôi cũng nhận được lệnh rút các Trung đội và Đại đội từ các Tiểu đoàn Cơ hữu của tôi (TĐ5, 7, và 11ND), gởi đi Huấn luyện “Đa Năng”.
Địa điểm Huấn luyện nằm ngay trong vùng trách nhiệm hành quân của LĐ3ND, phía Tây Đà Nẵng, nên tôi gặp “Bố Già” Phát rất thường xuyên.
Các đơn vị Huấn luyện, đi “bứng chốt” ban ngày, và chạm địch ban đêm như cơm bữa.
Hạ tuần tháng Giêng năm 1975, tôi được lệnh Chuẩn tướng LQ Lưỡng, đưa “Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù”, đơn vị có cái tên mới cáo cạnh, về Saigon nhận lệnh Bộ Tổng Tham Mưu (vì Bộ Tư Lệnh/SĐND còn ở Đà Nẵng).
Khi kéo quân ra khỏi vùng hành quân của LĐ3ND, tôi hỏi “Bố Già” Phát :
“Đại Tá Lương đang ở đây, sao ông Tướng không để Đại Tá Lương đi, mà kéo tới kéo lui chi rắc rối vậy, Đại Tá có biết không” ?
Tôi hỏi vậy, vì các Tướng Bùi Thế Lân, Tướng Lê Quang Lưỡng, Tướng Ngô Quang Trưởng, và hai ông Đại Tá này là bạn cùng khóa 4 TĐ với nhau. Giọng Bố Già Phát bỗng nghiêm trọng hơn thường ngày :
“Ở đây nặng, nhưng đơn giản. Chỉ có thằng Việt cộng trước mặt thôi. Mấy năm nay, TQLC và Dù không được về Saigòn. Về đó, Ngọc nhớ phải thận trọng mọi mặt … ”
Sáng ngày 20 tháng Giêng năm 1975, tôi đang ngồi trên xe Jeep tại bến tầu Đà Nẵng để xem các Tiểu đoàn chuyển quân xuống Chiến hạm của HQVN để về Vũng Tầu, thì Chuẩn Tướng Lưỡng đến nơi bằng xe. Ông hỏi diễn tiến công việc ra sao. Tôi trình bày vắn tắt, là suông sẻ như kế hoạch. Và nhân đó, có hỏi “mi mí” ông Tướng, xem nhiệm vụ của tôi ở Saigon trong vài ngày sắp tới, đại khái như thế nào.
Tướng Lê Quang Lưỡng đăm chiêu :
“Đánh rắn, phải đánh giập đầu. Đáng lẽ phải có Tổng Trừ Bị bảo vệ Biệt Khu Thủ Đô và Tổng Tham Mưu từ sớm hơn, như hồi Mậu Thân vậy. Anh về đó, tình hình sẽ không nhẹ nhàng gì hơn ngoài này đâu. Khác với các Lữ Đoàn còn lại đây, là tình hình có thể đột biến bất ngờ, mà anh chỉ có một mình. Ngoài việc điều binh ra, anh phải cảnh giác luôn luôn, báo cáo chặt chẻ với tôi. Trường hợp thật đặc biệt, phải có lệnh của tôi”.
Ông Tướng không nói rõ, nhưng tôi đã hiểu mi mí, qua câu nói của ông anh “Bố Già” Lê Văn Phát. Dĩ nhiên, chuyện loại này, chả ông nào nói rõ trước cả. May quá, thời cuộc không xoay chuyển về hướng đó. Sau này, đọc Hồi ký của Tướng Lê Quang Lưỡng ở hải ngoại, mới thấy ông nói rõ hơn.
Và ông tướng vội vả ra đi, trước khi bảo tôi giao cho các Tiểu Đoàn Trưởng đôn đốc việc hải hành. Còn tôi, thì ra ngay phi trường, đã có nhân viên BTL/Phòng Tư lo phương tiện C-130 bay về trước, trình diện Bộ Tổng Tham Mưu nhận lệnh.
Tôi ghi lại đoạn này, để quý độc giả theo dõi mạch lạc hơn, vì trong những biến cố sau cùng, các LĐ2ND và LĐ4ND vừa kể, lại sẽ còn dính líu đến hoạt động của LĐ3ND, đơn vị đã bị Phạm Huấn khai tử trước, trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, trước khi lịch sử của cuộc chiến tranh lạnh thế kỷ thứ 20 bức tử Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sau đó.
Tôi rời Bố Già Phát, nhưng không phải vì thế mà tôi “mất dấu” LĐ3ND.
Tình hình điều động và tham chiến của các Lữ Đoàn và Tiểu Đoàn bạn trong binh chủng, đều được ban tham mưu Lữ Đoàn thuyết trình hằng ngày. Sau nhiều trận chạm địch, các Tiểu đoàn được hoán chuyển, để Binh sĩ được về thăm gia đình, đơn vị được bổ sung và chỉnh bị. Cho nên tại vùng hành quân, ít khi các Bộ Chỉ Huy Lữ Đoàn có được đủ mặt các Tiểu đoàn Cơ hữu của mình.
Thường thì mỗi Lữ Đoàn Nhảy Dù tham dự hành quân với 3 Tiểu đoàn tác chiến, một Tiểu đoàn Pháo Binh ND, một Đại đội Công Binh ND, một Đại đội Truyền Tin ND, một Đại đội Quân Y ND, một Đại đội Trinh sát ND, và Đại đội Chỉ Huy Công Vụ (Các ban Tham mưu Lữ Đoàn, Quân cảnh, An ninh, Súng cối ..)
Đúng 2 tháng sau khi tôi rời Vùng I Chiến Thuật, thì SĐND cũng được Bộ TTM điều động về Saigòn. LĐ3ND xuống tầu Hải Quân, rời Đà nẵng ngày 15 tháng 3. Đang lênh đênh trên biển, thì được lệnh tấp vào Cầu Đá Nha Trang : LĐ3ND được tăng phái cho QĐII, theo đơn xin của Thiếu Tướng Tư Lệnh Phạm Văn Phú. Bộ Tư Lệnh/SĐND cùng các Lữ Đoàn 1 và 2 tiếp tục hải hành về hướng Nam.
ĐT Lê Văn Phát được lệnh di quân gấp lên đèo Khánh Dương, lập phòng tuyến. Nhiệm vụ là : trì hoãn trục tiến của các đơn vị Cộng quân, bọc hậu cho các đơn vị bạn trong vùng giao phó.
Sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, lực lượng Cộng quân ào ạt trên các trục đông tiến này, gồm có các các Sư đoàn F10, 316 và 320 CSBV.
Trục địch quân đi ngay vào tuyến án ngữ của LĐ3ND trên đèo Khánh Dương, chính là Sư đoàn F10, cùng với một Trung-đoàn chủ lực miền, và Đặc công, Giao liên. Tổng cộng đông gấp 5 lần lực lượng của Nhảy Dù tại đây. Cộng quân có đầy đủ pháo yểm, trong khi LĐ3ND chỉ có hỏa lực của 1 Tiểu Đoàn Pháo binh 105 ly cơ hữu. Đó là tương quan lực lượng chính xác tại đèo Khánh Dương ngày 17/3/75.
Lúc bấy giờ LĐ3ND của Bố Già Phát gồm có TĐ2ND (Th/tá Trần Công Hạnh K20/VB), TĐ5ND (Tr/Tá Bùi Quyền K16VB), và TĐ6ND (Tr/tá Nguyễn Văn Thành, K9TĐ). Th/tá Nguyễn Ngọc Triệu là TĐT/TĐ2 Pháo Binh/ND. Lữ Đoàn Phó là Trung tá Trần Đăng Khôi K16VB.
Quân Nhảy Dù giữ vững đèo Khánh Dương, chận đứng Sư Đoàn F10 tại đây cho đến ngày 22 tháng 3. Sáng hôm đó, địch giảm cường độ tấn công, chỉ bám sát tuyến đang chạm, nhưng lại tung 2 trung đoàn đánh bọc hông. ĐT Phát xin không yểm. Tướng Phú chấp thuận, nhưng lại không có phi tuần để thỏa mãn yêu cầu. Tướng Phú cho lệnh LĐ3ND tuần tự lui quân về nam, xa nhất là dừng lại Cam Ranh chờ lệnh.
Khi về ngang Huấn Khu Dục Mỹ, ĐT Phát có gặp ĐT Nguyễn Hữu Toán, Chỉ Huy Trưởng Huấn Khu Dục Mỹ và Đại Tá – BĐQ Nguyễn Văn Đại, CHT/Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động Quân, K8VB.
ĐT Phát ND cho ĐT Nguyễn Văn Đại BĐQ biết về tình hình địch trước mặt, nói thẳng với ĐT Đại hai điều. Một là, địch đông hơn mình nhiều lần, có đủ tiếp liệu và hỏa yểm hùng hậu. Còn mình thì đến hôm nay, khó còn trông cậy gì vào “ở trên” và “sau lưng” nữa. ĐT Phát hỏi ĐT Đại có phụ giúp được gì trong việc giữ an ninh trục lộ phía sau, dẫn về Ninh Hòa hay không, vì địch thế nào cũng bọc hông đặt chốt để gây khó khăn cho điều động chung của các đơn vị thuộc huấn khu này.
Đại Tá Đại đồng ý, và gửi Viễn Thám BĐQ đi thi hành. Nhờ vậy, cuộc lui binh tại đây, thảm cảnh ở Quốc Lộ 7 đã không xảy ra.
LĐ3ND chưa về đến Cam Ranh. Ngày 30 tháng 3, mới về đến đèo Rù Rì, phía Bắc Nha trang, thì mất liên lạc với Bộ Tư Lệnh/QĐ II. ĐT Phát không còn cách nào khác hơn, là phải liên lạc thẳng về BTL/SĐND ở Saigon bằng máy GRC-106 để xin lệnh.
Lệnh của Tướng Lưỡng cho LĐ3ND là trực chỉ Phi trường Bửu Sơn Phan Rang, để phối hợp với Chuẩn Tướng Phạm Ngọc Sang, Tư Lệnh SĐ6KQ, tổ chức phòng thủ phi trường này, và tái lập an ninh trật tự tại hai Thị xã Phan Rang và Tháp Chàm.
Ổn định vừa được Nhảy Dù phục hồi tại đây, thì Trung Ương cử Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi ra đến, đặt Bộ Tư Lệnh nhẹ của Quân Đoàn III tại Bửu Sơn đúng ngày 1 tháng 4 năm 1975.
Trước mặt Trung tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, LĐ3ND vẫn còn cầm súng trên tay, và đang hiển hiện là niềm tin tưởng, là nỗi vững tâm của Quân dân Tháp Chàm Phan Rang, của Tiểu Khu Ninh Thuận.
Vậy LĐ3ND nào chưa đánh, đã buông súng bỏ chạy, đầu hàng ?!
Ngày 4 tháng 4, LĐ3ND được tướng LQ Lưỡng cho thay thế bằng LĐ2ND, do ĐT Nguyễn Thu Lương đưa ra Bửu Sơn bằng vận tải cơ C-130. Không Quân VN chuyển các Tiểu đoàn 3, 7 và 11 Nhảy Dù đến Bửu Sơn, và bốc các Tiểu đoàn 2, 5 và 6 Nhảy Dù về Tân Sơn Nhất.
Lập tức LĐ3ND được bổ sung và chỉnh bị nhanh chóng. Tr/tá Trần Đăng Khôi được bổ nhậm làm Lữ Đoàn Trưởng/LĐ3ND, thay thế Bố Già Phát (lên Tham Mưu Phó Hành Quân BTL/SĐND).
Trở lại với Lữ Đoàn 4 Nhảy Dù tại Vùng III Chiến Thuật. Tôi từ Đà Nẵng bay C-130 về Saigon ngày 20 tháng giêng/75, trình diện Bộ TTM. Gặp Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Trưởng Phòng 3. Ông ta hỏi tôi ngay về khả năng tham chiến của LĐ4ND.
Tôi thưa, có 2 Tiểu đoàn sẵn sàng ngay, ba Tiểu đoàn nữa (15, 16 và 18) sẽ về đến và sẵn sàng khoảng 2 tuần sau. Và tôi cũng không quên khai thật, là tôi chưa có hậu cứ, chưa có Lữ Đoàn Phó, nhất chưa có Pháo binh Nhảy Dù cơ hữu như các Lữ Đoàn cũ.
Tướng Thọ vào đề : “Tôi ghi nhận những điều đó. TTM sẽ phối hợp với hậu cứ Sư Đoàn Nhảy Dù lo tiếp cho anh. Bây giờ tình hình phía tây bắc Biệt Khu Thủ Đô nghiêm trọng. Địch đã vượt sông Vàm Cỏ, chiếm xã Lương Hòa. Vùng Đức Hòa Đức Huệ bị uy hiếp nặng nề. Phải nhờ anh lên đó giúp họ ngay. Anh sang Phòng 2 nghe tình hình chi tiết vùng này. Tôi nhờ Phòng Tư lo phương tiện cho anh lên đó”.
Hai ngày sau, tàu HQ cập bến Saigon. Tôi hướng dẫn hai Tiểu Đoàn 12 và 14ND về tạm trú tại sân cờ của TĐ8ND trong Hoàng Hoa Thám. Các Phòng sở của BTL/Hậu cứ đến, nhanh chóng giúp đỡ các trang bị cần thiết. Tôi gọi các Tiểu Đoàn Trưởng đến, trải bản đồ ra, chỉ tình hình và mục tiêu.
Và tôi nhấn mạnh trang bị : Bản đồ, Điện trì, Lựu đạn M-26 tối đa, phóng lựu M-79, và ống phóng M-72 (Vì không có pháo binh, khi hữu sự, sẽ phải đánh như đơn vị khinh chiến).
Đoàn xe đến, LĐ4ND “xuất hành” trận đầu tay, trực chỉ lên hướng Tây Ninh. Đến “Thành Ông Năm” (Một trại Công Binh trên Quốc lộ 13), xưống xe, lấy đội hình hướng về mục tiêu Vàm Cỏ Đông.
Quần thảo 2 ngày ven bờ con sông nổi tiếng, đẩy lui được đầu cầu vẹm về bên kia, tái chiếm được Lương Hòa, an ninh lại trục lộ. Trận đầu tay này, cũng như những lần chạm địch mấy tháng sau đó, LĐ4ND đã “đánh khô”, vì không có pháo cối yểm trợ.
Hai Tiểu Đoàn 12 và 14ND bắt được rất nhiều vũ khí đạn dược, dọc theo dãy lùm bụi, ngay vùng đầu cầu mà địch vượt sông hai đêm trước, còn nguyên trong nhiều thùng gỗ bọc giấy dầu, bôi đầy mỡ bò màu vàng của Trung cộng : AK47, B-41, và “Thượng liên nồi” mới toanh (Hộp băng đạn bự và tròn).
Tôi cho Ban 2 và Ban 5 đi tìm, liên lạc với giới chức địa phương, để phối hợp việc an ninh, cứu trợ và bình định. Tưởng là ai, hóa ra người trai khói lửa, lại là Thiếu tá Tô Công Thất, cùng khóa 16 với tôi ở Đàlạt !
Bắt tay bắt chân qua loa, hỏi cần gì không? M-79, M-26, Claymore! Tôi kêu đệ tử để hết các loại này lại, rồi bái biệt người trai khói lửa, lội ngược ra Quốc lộ, vì truyền tin báo có Ch/tướng Trần Đình Thọ sắp lên Thành Ông Năm.
Tướng Thọ bắt tay tôi : “Đơn vị anh không cần huấn luyện nữa. Vả lại, tình hình không cho phép”.
Và ông xỉa cho tôi một phóng đồ hành quân, cho đất đai làm ăn, án ngữ về hướng Bắc và tây Bắc Thủ đô.
LĐ1ND vừa đặt chân đến hậu cứ khoảng giửa tháng 3/75, là liền được bổ sung, tái tiếp tế nhanh chóng. Và Tr/Tá Nguyễn Văn Đỉnh được lệnh trực chỉ lên Xuân Lộc ngay, để tăng cường cho SĐ18BB. Theo dõi phần thuyết trình hằng ngày, tôi được biết TĐ8ND của Thanh Râu, tức Thiếu tá Nguyễn Viết Thanh K19VB, đã làm ăn một trận để đời tại “Vườn cây Ông Tỵ”.
Trong tháng này, có Tr/tá Nguyễn Đình Ngọc cầm công điện mang tay, về trình diện tại Thành Ông Năm. Nội dung công điện: “Chỉ định Tr/tá NĐ Ngọc giữ chức vụ Phụ tá Hành Quân LĐ4ND. Quyết định hợp thức hóa Lữ Đoàn Phó sẽ theo sau”. Có ông này về, thật đỡ cho tôi quá. K19VB, nguyên TĐT/TĐ2ND ngày còn ở Động Ông Đô với LĐ3ND hai năm trước.
Giữa tháng 3, Biệt Khu Thủ Đô cũng có yêu cầu đến giúp Tiểu Khu Gia Định, giải tỏa xóm Cư Xá Thanh Đa (Bị một đại đội đặc công xâm nhập), đến đầu cầu Thương cảng Xa lộ. Th/tá Nguyễn trọng Nhi K20VB được gởi đi với 2 đại đội của TĐ12ND, và đã thanh toán xong trong cùng ngày 22 tháng 3.
Ngày 10 tháng 4, tôi được gọi về họp ở BTL/BKTĐ. Tại đây, tôi gặp Trung tá Trần Đăng Khôi, LĐT/LĐ3 ND, cũng đến họp nhận lệnh.
Lữ Đoàn 3 được tăng cường hoạt động cho BKTĐ, thay thế LĐ4ND. Còn tôi được lệnh di quân LĐ4ND xuống tăng phái cho BTL/Quân Đoàn III, trách nhiệm khu vực từ Tam Hiệp, Biên Hòa, vắt qua sông Đồng Nai, hướng về Long Thành. Đấy là lần sau cùng tôi gặp, lần cuối tôi thấy LĐ3ND điều động đi thi hành một nhiệm vụ chiến thuật khác : bảo vệ khu kho xăng Nhà Bè, và an ninh trục thủy lộ Rừng Sát.
Tối 13 tháng 4, tôi được tin LĐ2ND chạm địch nặng nề tại Bửu Sơn Phan Rang. Lực lượng tấn công, vẫn là Sư Đoàn F-10, bị chận khựng lại.
Ngày 15 tháng 4, Sư Đoàn 325 Cộng Sản Bắc Việt từ quốc lộ 11 tăng cường đến, cùng với đông đảo chiến xa và pháo nặng. Tối 16 rạng ngày 17, ĐT Nguyễn Thu Lương và Tr/tá Trần văn Sơn bị báo cáo mất tích, cùng với Tr/Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi và Ch/Tg Phạm Ngọc Sang KQ.
Bửu Sơn thất thủ, tiếp theo là Tháp Chàm và Phan rang !
Sau cùng, LĐ3ND cũng đã buông súng, cùng với tất cả các đơn vị khác, khi hai ông Vũ Văn Mẫu và Dương văn Minh tuần tự cho lệnh buông súng chiều 29 và sáng 30 tháng 4 năm 1975.
Tôi không phải là người xa lạ đối với LĐ3ND. Mặc dù vậy, để đảm bảo sự chính xác của dữ kiện, tôi vẫn điện thoại kiểm chứng chi tiết kỹ lưỡng với những nhân vật trong cuộc, trước khi viết lại những diễn tiến cuối cùng của cuộc chiến, mà các đơn vị Nhảy Dù VN có can dự.
Tất cả vẫn còn đấy, chỉ trừ có Ch/tướng Phạm Ngọc Sang SĐ6KQ đã qua đời cách đây 3 năm, và “Moshe Dayan” Tr/tá Trần Văn Sơn đã nằm xuống trong những năm tháng tù đày ngoài Bắc.
Bây giờ, mời Quý Vị hãy nhìn lại câu chuyện, kể về cùng một đơn vị đó, trong cùng thời gian đó, bởi đại ký giả chiến trường Phạm Huấn trong cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, đã phổ biến khắp thế giới, để mà ngán ngẩm cho điều mà chính các ngài viết lách này, gọi là .. Lương Tâm Ngòi Bút :.. “ Buông súng trưa ngày 1.4.1975, sau khi vỡ tuyến, bị tràn ngập… Lữ Đoàn 3 Nhẩy Dù trong những ngày sau cùng trên chiến trường Cao Nguyên,Pleiku, Kontum, Nha Trang : Chưa đánh đã bỏ chạy ! Đúng !” !!!
Trong khi đó, chính Đại Tá Nguyễn văn Đại BĐQ, người cùng có mặt tại trận với LĐ3ND lúc bấy giờ, hiện đang cư ngụ tại Oregon, vừa nói điện thoại với tôi đêm qua :
“Tình hình đó, địa thế đó, nhiệm vụ đó, LĐ3ND đã làm quá sức mình. Và ĐT Phát còn về ổn định lại Phan Rang Tháp Chàm, giúp Tướng Phạm Ngọc Sang, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi nữa, trước khi được thay thế ..”.
Đến tháng cuối cùng của chiến cuộc, tác giả Phạm Huấn vẫn còn lĩnh lương Thiếu Tá của QLVNCH, sao lại có thể ăn nói khinh bạc đến vậy ? Đành rằng, chung cuộc vẫn là sự sụp đổ của Miền Nam Việt Nam, nhưng vẫn phải xin để cho, sự thật còn được là sự thật …
Chỉ trong một đoạn viết ngắn khoảng nửa trang giấy, tác giả đã đề cập đến diễn tiến và số phận của mấy chục đơn vị, một cách ngắn gọn, dễ dàng và tàn nhẫn : Thảm sát hết : “Từ các trung đoàn 41, 42, 47 Bộ Binh, mấy Liên đoàn BĐQ, Lữ đoàn 2 Thiết kỵ, Liên đoàn 6 Công Binh Chiến Đấu, các đơn vị Pháo Binh, đến các đơn vị Lôi Hổ, Thám kích và LĐ3ND”.
Đơn vị Nhảy Dù này, sự thật ra sao, tôi là người trong cuộc, đã vừa thưa cùng Quý Vị.
Từ sau ngày rời Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, tôi về trình diện Liên Đoàn Nhảy Dù Việt Nam. Và tuần tự phục vụ qua các TĐ3ND, TĐ7ND, LĐ3ND, LĐ2ND, LĐ4ND. Tôi chưa hề được gặp gở ký giả chiến trường Phạm Huấn lần nào. Chỉ thỉnh thoảng đọc sách, thấy hình ông ta mặc quân phục Nhảy Dù !
Còn mấy chục đơn vị khác, mà Phạm Huấn nêu tên ra trên đây, thì sao ? Tôi không rõ là Phạm Huấn hiểu biết thế nào về các đơn vị đó. Và càng không biết, các đơn vị đó, có được Phạm Huấn đến thăm viếng lần nào chưa. Nhưng khi trên giấy trắng mực đen, Phạm Huấn đã viết truyện chiến trường như đoạn viết về LĐ3ND trên đây, thì nếu người đời họ có chọn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên”, để sắp chung với “Đại Thắng Mùa Xuân” của Văn Tiến Dũng, cũng là điều hiểu được mà thôi !
Thiếu tá Phạm Huấn suốt đời ở thiên cung, mới trở thành tiên đọa xuống trần-gian Quân Khu II, chỉ vài tháng trước cuộc dầu sôi lửa bỏng, làm sao nắm vững được từng ấy tin tức dữ kiện ? Rừng dữ kiện này, nếu được trình bày bởi các Vị Đại Tá, chức vụ tối thiểu từ Trưởng Phòng Nhì, Trưởng Phòng 3 Quân Đoàn trở lên, thì họa may mới khả tín …
Chua chát chưa chịu dừng lại tại đó.
Mãi đến nay, vài chục năm sau, tại hải ngoại, vẫn có những nhà văn, nhà báo, viết theo, lên án gắt gao tất cả, từ lãnh đạo đến thứ dân, từ Tướng xuống Quân ! Và khôi hài đen ở chỗ là, hầu hết đều nhập đề bằng câu “Có đọc Phạm Huấn, chúng ta mới thấy …”, hoặc là : “Cuốn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” của tác giả Phạm Huấn đã phơi bày ra tất cả “Sự thật …” !
Với các ông gọi là Nhà báo, Nhà bình luận này, chữ nghĩa cẩu thả trên đây của Phạm Huấn, đã trở thành chữ nghĩa của Thánh kinh ! Rồi tất cả những văn chương, tư tưởng siêu việt này, rốt cuộc hội tụ về một đoạn tiểu sử, được phổ biến rộng rãi trên khắp các mạng lưới toàn cầu.
Xin chép lại nguyên văn, để Quý Vị thưởng lãm :
“Phạm Huấn là một nhà báo quân đội và trong “Bộ Biên Tập Diều Hâu”, Thành viên Ban Liên Hợp Quân Sự 4 Bên và 2 Bên, đặc trách về Báo Chí, khi Hiệp Định Paris 1973 được ký kết, Chủ tịch Hội Phóng Viên Chiến Tranh Việt Nam, 1972-1975.
Tác giả đã theo học … Trường Đại Học Quân Sự năm 1963. Và cả Trường Quân sự tại Hoa Kỳ : Infantry School (Fort Benning, GA, 1958), Civil Affairs School (Fort Gordon, GA) và Special Warfare School (Fort Braggs, NC, 1965)…
Trong nghề Phóng viên Chiến tranh, Phạm Huấn có một chỗ đứng riêng biệt, dù đi chung với những Phóng viên nổi tiếng hàng đầu của thế giới như Moshe Dayan, Dickey Chapel, hay chỉ đi có một mình, bao giờ anh cũng được đón nhận nồng nhiệt của mọi chiến hữu ở ngoài mặt trận … ”
Đọc qua đoạn trên, quý vị có thấy độc giả bị coi thường quá hay không ?
Cùng một “Văn phong” này, tôi nhớ đã được đọc đâu đó vài lần.
Lần đầu, năm 2005 thì phải. Anh Bùi Đăng, bạn cùng khóa 16 Đàlạt với tôi, ở San Jose bắc Cali, gởi cho tôi nguyên một trang Nhật báo Việt Ngữ khổ lớn. Nguyên trang báo, là bài Phân Ưu Trung Tá Phạm Huấn. Với nửa trang trên, đầy đủ sự nghiệp vĩ đại của người nằm xuống. Toàn là các khóa du học Ngoại quốc, và các việc Văn phòng. Anh Huấn quả đã được Quân đội đãi ngộ, ưu ái, và đầu tư vào kỹ hơn ai hết.
Và nửa trang dưới, đầy đủ tên tuổi Quân nhân Nhảy Dù, từ Đại Tướng Cao văn Viên, Trung Tướng Nguyễn Chánh Thi … cho đến em út cấp Úy, trong đó có tên tôi. Cầm tờ báo, tôi mới hay tin ông anh qua đời vì bạo bệnh.
Anh bạn Bùi Đăng gởi báo cho tôi, không họ Bùi, mà cũng chẳng tên Đăng. Mùa hè 1972, anh dẫn TĐ6ND nhảy xuống Đồi Gió Bình Long, mở đường máu vào cứu An Lộc. Bị trận địa pháo, Phạm Kim Bằng bỏ lại Đồi Gió một con mắt, đi vào An Lộc với một con. Trở thành Bằng đui, nhưng Bùi Đăng không chịu rời tiểu đoàn tác chiến Nhảy Dù.
Đầu năm 2007, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng lại ra đi.
Trên Internet và báo chí, liền ngay dưới sự nghiệp của Trung Tướng Trưởng, lại có hàng chữ: “tài liệu của Đại Tá Phạm Huấn, Chủ Tịch Hiệp Hội Ký Giả Chiến Trường”(!).
Ông lỏi tì nào đó ơi, “Văn phong” này nặng mùi lắm, xin ông dừng tay lại, đừng đem tên tuổi của ông anh mình ra mà diễu dở. Cấp bậc, thì ai cho bằng Thiếu Tướng Nguyễn cao Kỳ và Đại Tướng Nguyễn Khánh. Chức vụ, thì ai sánh nổi với Quốc Trưởng Nguyễn Khánh và Thủ Tướng Nguyễn cao Kỳ ! Có thơm tho chi đâu. Phải nói ngay từ bây giờ, kẻo nay mai, có một vì sao sáng nào khác rơi rụng, ông lỏi tì lại lôi ông anh Phạm Huấn dậy, mà truy thăng lên Chuẩn Tướng ! Tội nghiệp cho ông anh.
Ông anh đã và đang sám hối về cuốn “Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên” dưới kia. Khó ăn, khó ở khi “hội ngộ” với anh em lính tráng người phàm, đã tham dự Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên ngày xưa lắm.
Hởi ông lỏi tì ơi, hãy để cho ông anh được yên nghỉ.
Dậu đổ, bìm leo. Viết lách chưởi bới, mạt sát, mọi thứ thuộc Miền Nam Việt Nam ngày trước, đã và vẫn đang là kiểu thời trang thịnh hành.
Có nhiều người viết, để vẽ lên hình ảnh mình là … người hùng ! Một số khác viết lên, để tỏ ra mình là người trí giả, là nhà tư tưởng, dựa vào cuốn Kinh Tân Ước Phạm Huấn ! Riêng nhà báo vĩ đại Phạm Huấn, thì hùng dũng tỏ ra mình là nhà siêu Quân sự, siêu lãnh đạo, chê bai xoa đầu từ trên xuống dưới, chả chừa một ai.
Chỉ nửa trang giấy, dẹp hết cả lực lượng một Quân đoàn. Phạm Huấn luận về các ông anh, ông thầy, các ân nhân của chính anh ta, như Gia Cát Khổng Minh nói về các mạt Tướng Trương Phi, Ngụy Diên !
Anh Phạm Huấn chỉ quên có một đôi điều nho nhỏ. Thật nhỏ. Nhỏ xíu. Vì tầm mắt anh không thấy. Mặc dù anh vẫn mặc Quân phục tác chiến Nhảy Dù, mang lon Thiếu tá của QLVNCH làm việc tại Ủy Ban Quân Sự 2 bên, 4 bên. Đó là việc Lập Pháp Mỹ, qua Quốc Hội Dân Chủ ngày đó, đã cúp hết Viện trợ Quân sự cho QLVNCH từ mùa Hè 1973 !
Đó là việc Hành Pháp Mỹ, qua tên Do Thái nói ngọng Henry Kissinger, đã công khai đứng về phía Lê Đức Thọ và Nguyễn Thị Bình, để bức thúc Hòa Đàm Ba Lê, bức tử VNCH. Cho nên, chuyện gì phải đến, đã đến. Theo Mỹ và Trung Cộng, chuyện đó, đáng lẽ phải xảy ra sớm hơn …
Trong hoàn cảnh đó, nếu rước đại Ký giả Phạm Huấn vào Dinh Độc Lập, liệu đương sự gồng được mấy phút ? Trong hoàn cảnh đó, nếu mời nhà báo Phạm Huấn sang Bộ Ngoại Giao, liệu ông anh gồng được mấy giờ ? Trong hoàn cảnh đó, nếu phong cho Thiếu tá Phạm Huấn thay thế Đại Tướng Cao Văn Viên, Thiếu Tá Huấn có lãnh đạo một Tiểu đội ngày giờ nào chưa ?
Các ông lính thợ vịn, ăn lương Quân đội Miền Nam, mạt sát các đơn vị Quân đội Miền Nam, nhưng chả bao giờ biết chút gì về các Đơn vị này. Mạt sát, vì ganh tị, vì mất mát.
Bất cứ ai thật sự có trải qua những tháng ngày gạo sấy nước ruộng, đều biết rằng, cùng một cỡ Đơn vị, cùng hỏa lực xấp xỉ nhau, Bộ đội Cộng sản chưa hề là đối thủ của Quân Đội Quốc Gia, dù là Chính quy, hay Địa phương, dù là TQLC, BĐQ, hay Bộ Binh, Không Quân, Hải Quân. Chiến thuật của Cộng sản, có hai chữ “biển người”, là vì vậy.
Một phần ba thế kỷ đã trôi qua, bao nhiêu tài liệu đã được giải mật. Henry Kissinger trước sau ba lần thú nhận, đã bán đứng Nam Việt Nam. Lính tráng chúng tôi, là người phàm mắt thịt, chả nói làm chi. Còn các ông nhà văn, nhà báo, nhà bình luận : chất xám các ông để đâu, nấu bún ốc hết rồi sao ? Bây giờ không có bom rơi đạn réo, mà còn phù thịnh, còn nói vuốt theo Văn Tiến Dũng, thì làm sao ngày xưa các ông dám phù suy, mà đỡ đần phần tí ti nào cho Quân Dân Miền Nam ? Bây giờ mà còn nói vuốt theo Văn Tiến Dũng, là vô liêm, là bất trí …
Thảm cảnh tháng Tư, người khách quan, không ganh tị, không càm ràm bệnh hoạn, ai cũng thấy là vì hai lý do : Thứ nhất : Dân chúng nghe quân Cộng sản tiến đến gần, đã kinh hoảng, đưa tới náo loạn. Có đúng vậy không, thưa Quý Vị ? Và thứ hai : các đơn vị Quân đội lại không có được những tiếp liệu, yểm trợ và hỏa lực tối thiểu nữa, để chu toàn nhiệm vụ chiến thuật được giao phó, vì QLVNCH đã bị cúp Quân viện từ năm 1973, chỉ còn cầm hơi, “Liệu cơm gắp mắm”.
Mùa Hè năm sau, Trung Tướng Tùy Viên Quân Sự tòa Đại Sứ Anh Quốc ra thăm hỏa tuyến, có ghé qua Bộ Chỉ Huy/LĐ2ND ở phía Nam sông Thạch Hãn. Nghe thuyết trình xong, ông đứng lên trước bản đồ, quay lại nói trước mặt tôi và đông đủ Sĩ quan Tham mưu hiện diện :
“Giới quan sát Quốc tế cho rằng, các ông không tồn tại nổi quá 6 tháng, sau Hiệp Định Ba Lê. Bây giờ, hơn một năm đã trôi qua ..”. Bấy giờ, là tháng 7 năm 1974.
Suốt chiều dài cuộc chiến, người lính mồ hôi, xương máu. Người dân quằn quại, thống khổ điêu linh.
Còn các ông thợ vịn, lính kiểng, sống phè phỡn ngay trong lòng Hòn Ngọc Viễn Đông, ăn tục nói phét, làm chơi ăn thiệt. Bây giờ, mồ ma Miền Nam Việt Nam không còn nữa, các ông muốn ăn thiệt, thì phải bò ra làm thiệt, dù là ăn … welfare ! Nên các ông tiếc nuối cái thời vàng son, sáng Thanh Thế, trưa Givral, chiều Đồng Khánh. Và các ông cay cú, các ông hằn học…
Có nhiều lý do làm sụp đổ Miền Nam.
Trước hết, là bàn tay lông lá của Mỹ Nga Tàu, và xuẩn vọng của tên đồ tể họ Hồ.
Kế đến, là những tham nhũng thối nát, mà các ông đã ngoắc mồm ra chửi bới hơn ba chục năm qua.
Mỹ, Pháp, Nga, Tàu, và nhất là Cộng sản Việt Nam bây giờ, có thối nát tham nhũng hay không ?
Lý do thứ ba là ai ? Là đám làm chơi ăn thiệt, là lũ kiêu binh hàm thụ. Là đám sâu bọ, dòi mọt, cặn bã của một Quân Đội hào hùng. Quân Đội “cao số” đã bị lịch sử cận đại trao cho một sứ mạng oan khiên, một “Mission impossible” .. Những tên né tránh, đánh bóng chữ thọ, những bụi chùm gởi nặng trĩu trên thân cây gầy yếu Nam Việt Nam trước cơn giông bão, không có tư cách mở mồm về đoàn quân này …
Các cụ thường nói “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Các ông suốt đời chỉ trích ta bà thế giới. Sao các ông không dám nói, chính các ông mới là thủ phạm, mới là tội đồ thiên thu, làm Miền Nam nước Việt sụp đổ vào tay Cộng sản.
Nhân vô thập toàn, ai cũng có lúc lầm lỗi. Vả lại, cái “lỗi lầm” của Miền Nam Việt Nam, nếu có, là phần chính do cái thân phận nhược tiểu mà ra. Hàng trăm nước nhỏ trên thế giới, đã và còn đang đau khổ về cái “lỗi lầm” này. Miền Nam Việt Nam không còn nữa. Bây giờ đây, trách nhiệm đối với Lịch sử và Dân tộc, đang treo trên đầu bọn cầm quyền ở Hà Nội.
Năm 1965, tôi đi học khóa “Tác Chiến Trong Rừng” ở Mã Lai, Singapore. Việt Nam lúc bấy giờ đang khói lửa mịt mùng, nhưng tôi thấy vẫn còn “văn minh” hơn năm nước Đông Nam Á. Bây giờ, các nước đó đã là “Ngũ Long Thái Bình Dương”. Cộng sản chiếm trọn lãnh thổ hình chữ “S” đã một phần ba thế kỷ qua, không còn chiến tranh, lại được “Việt Kiều Phản Động” hằng năm giúp nhiều tỉ đô-la. Vậy mà bọn cầm quyền Cộng sản đã đưa Việt Nam, cũng vào thứ hạng số 5 trên thế giới : nhưng là thứ năm, đếm từ dưới lên trên !
Tiếng nói của Hải ngoại rất cần thiết. Quý Vị nào có sức, có trí, có “gu”, muốn phân tách, muốn sửa sai, muốn dạy dỗ, thì Hà Nội mới là hướng để quý vị trổ tài. Xin hãy thôi đè Miền Nam Việt Nam ra mà xỉa xói, mà kiêu binh cái lổ mồm ! Thê thảm thay, chỉ vì một lý do : dối gạt luôn chính lòng mình. Tôi không dám nói là, dối gạt chính lương tâm mình ! Vì chỉ có trời, họa chăng mới biết, các ông có lương tâm hay không !
Tội nghiệp cho Miền Nam Việt Nam, đã bao năm tháng cưu mang, nâng niu, đãi ngộ các ông, kaki cũng như dân chính ! Hít thở không khí tự do của Miền Nam, Trịnh Công Sơn đã dệt lên được những tình khúc bất hủ. Ngày Miền Nam sụp đổ, Trịnh Công Sơn lên đài phát thanh, phừng phừng Guitar hát bài “Nối Vòng Tay Lớn”. Rồi lặn ngụp trong vòng tay lớn của Xã hội Chủ nghĩa một thời gian, Trịnh Công Sơn đã mửa ra một ca khúc, chưa bao giờ nghe thấy trong Âm nhạc nhân gian : “Tiến Thối Lưỡng Nan” !
Sau cùng, trên đỉnh cao trí tuệ của thời trang mạt sát Miền Nam Việt Nam, là các … Chiến lược gia.
Thôi thì, Xuân Thu nhị kỳ, luận đủ thứ chuyện chiến lược Thiên trời địa đất. Cũng chỉ cùng một kiểu : mạt sát hết mọi sự của Miền Nam Việt Nam. Để mình cố nhón cao lên. Vì biết chắc rằng mình không đủ cao. Để tỏ ra mình là người thức giả. Vì biết mình đang tơ lơ mơ, không thức thật. Càng phải trực diện với việc áo cơm thân phận hằng ngày, nổi nuối tiếc mất mác thời vàng son, càng điên cuồng gào thét, dằn vặt, gậm nhắm.
Khổ một điều, không biết đọc địa bàn, nên không phân biệt nổi hướng Đông với hướng Tây, để mà bắn cái hỉ-nộ ái-ố vô duyên đó đi. Và cứ nhằm mọi thứ của Miền Nam Việt Nam mà phạng …
Đại Sứ Graham Martin, không như vậy. Ông đâu có muốn sự nghiệp Ngoại giao trọn đời của ông, kết thúc cái kiểu này. Giờ phút cuối của Miền Nam Việt Nam, ông cũng chỉ kịp cuốn lấy lá cờ hoa. Bộ Tư Lệnh Quân Sự Mỹ (MACV) tại Saigon, thì đã nhanh chân “Rút lui trong danh dự” ra soái hạm của Đệ Thất Hạm Đội từ năm trước !
Cho nên, xin lỗi Quý Vị, ông Đại Sứ cũng chạy sút quần, ra tàu USS Blue Ridge ngoài biển Đông, bước đến boong tàu ngồi thở. Được cái là, ông Đại Sứ biết đọc địa bàn. Ông biết rõ phương, để mà ngậm ngùi. Ông biết rõ hướng, để mà trách móc. Thở xong, ông chỉ vào lá cờ hoa, mà mắng cho mấy mắng :
“That’ s not the way I saw American Honor” !
 
Trích từ báo Con Ong Việt số tháng 5.2007
Trung Tá Lê minh Ngọc – Thiếu Tá Nguyễn đức Tâm
Tháng tư 2007.
Lê minh Ngọc
Tháng 4/2007.

Thursday, July 3, 2014

The Tomb of The Unknown Soldier / Arlington Washington D.C.

Arlington National Cemetery
Arlington, VA 22211
Hours:
7 Days a week: 365 days
8am - 7pm (April - September)
8am - 5pm (October - March)

Parking garage closes 1 hour after cemetery
Phone: 877-907-8585





The Tomb of 2,000 Unknown Soldier 




 















 President John F. Kennedy graveside


Một ngày khó quên

Ac Dieu
ImageProxy.gif
    Một ngày khó quên
 Mùa xuân năm 1972, để chuẩn bị cuộc tấn công mùa hè đỏ lửa, Việt Cộng đã gia tăng các cuộc tấn công và vây hãm tiền đồn của ta ở khắp các vùng chiến thuật. Riêng tại vùng 4, chúng thường áp dụng chiến thuật công đồn đả viện, khiến cho việc di chuyền bằng đường bộ rất khó thực hiện.
Đối với lính đóng đồn miền xa, vấn đề tiếp tế là một vấn đề sinh tử.Chỉ có phương tiện duy nhất là phi cơ. Các vận tải cơ thả đồ tiếp tế, thường không mấy hiệu quả. Dù cho các phi hành đoàn đã can đảm bay thấp hết cỡ để hất hàng xuống ‘không dù’ khiến cho quân bạn ở dưới đất rất cảm kích, nhiều khi còn lo sợ cho sự gan lỳ và lòng dũng cảm của các phi hành đoàn vận tải…Nhưng vì tốc độ khá nhanh, máy bay lại cồng kềnh, đồn lại quá nhỏ nên các kiện hàng phần nhiều bị rơi lạc ra ngoài vòng đai… vào tay giặc! Trong lúc đó, tiếp tế bằng trực thăng tỏ ra hữu hiệu hơn vì nó bay chậm, đứng được một chỗ, xoay trở lanh lẹ…imagesCA0VMRTE.jpg
Tờ mờ sáng, khi mặt trời chưa ló dạng, chúng tôi đã xách áo giáp, nón bay, súng đạn, bản đồ, ra bãi đậu phi cơ để làm tiền phi, chuẩn bị cất cánh. Bắt đầu một ngày mới, một ngày bay trên chiến trận đầy những bất trắc, hiểm nguy đợi chờ…
Chúng tôi, bốn chiếc trực thăng rời phi trường Sóc Trăng, họp thành đội hình « quả trám » trực chỉ Cà Mâu để làm việc cho tỉnh này…
Vừa đáp xuống Cà Mâu là được phân phối đi tiếp tế ngay cho các tiền đồn thuộc các quận Cái Nước, Đầm Dơi, U Minh, Thới Bình…
Mấy anh lính Địa Phương Quân đã chất xong hàng lên phi cơ,chúng tôi sửa soạn cất cánh đến tiếp tế cho một đồn nhỏ nằm về phía Bắc của U Minh chừng ba cây số đường chim bay. Nơi mà những người lính trấn thủ lưu đồn đang chờ đợi từng viên đạn, từng gói gạo sấy, từng cuộn băng cứu thương…magesCAGMBB4Q.jpg
Vừa đổi qua tần số Bộ Binh, đã nghe tiếng của trưởng đồn sốt ruột réo gọi.
« Ác điểu đây sơn ca…Ác điểu đây sơn ca  »
« Ác điểu nghe Sơn ca 5/5 nói đi » tôi trả lời.
Gịong Sơn ca mừng rỡ.
« Ác điểu còn mấy phút nữa đến chổ Sơn ca …trả lời ? »
« Ba phút nữa sẽ đến bạn, cho biết tình hình bãi đáp. Khi nào thấy, cho trái khói, nghe rõ trả lời? »
«Thẩm quyền yên chí, con cái tôi đã làm an ninh cho thẩm quyền rồi » …
 « Ác điểu đây Sơn ca, tôi đã thấy thẩm quyền rồi, tôi sẽ cho con cái ra bãi đáp nhận hàng »
Tiếng ông đồn trưởng sang sảng trong máy chào đón người bạn KQ đem qùa đến tặng…
Phi cơ đã đến gần đồn, chúng tôi tất cả đều căng mắt ra quan sát địa thế, tình hình địch, hướng gió để áp dụng cách đáp cho nhanh và an toàn.
Từ cao độ 1500 bộ, nhìn xuống đồn vắng hoe không một bóng ngưòi, tất cả binh sĩ đều ở dưới giao thông hào.Chúng tôi dự đoán phiá ngoài đồn là do địch kiểm soát, nên không ai dám nhởn nhơ ra bãi đáp để nhận hàng. Mọi người đang ngước nhìn trực thăng bay vòng vòng trên trời. Lá cờ vàng ba sọc đỏ rách bươm, bạc màu phần phật tung bay trong gió.
Nhận thấy tình hình không được an ninh như ông trưởng đồn đã nói, tôi cho phi cơ đáp theo vòng xoắn ốc xuống thật nhanh ngay trên sân đồn. (Với lối đáp này có thể vô hiệu hóa hỏa lực nhỏ của địch ở đâu đó chung quanh khu rừng, còn ăn pháo hay không là do may rủi).Vừa chạm đất, tất cả thùng hàng được tuôn xuống thật nhanh. Phi cơ lại vội vã bốc lên.
 Đáp trở lại U Minh, ông Quận trưởng cho biết là phải trả chúng tôi về lại Cà Mâu vì có lệnh. Khi đến Cà Mâu, ba chiếc kia cũng đã đáp rồi.Tại đây sĩ quan tiểu khu bảo chúng tôi liên lạc với Không Quân vùng 4 để nhận chỉ thị. Gọi phòng Hành Quân Chiến Cuộc KQ,chúng tôi được lịnh cấp tốc đến tăng cường cho Biệt Động Quân ở phi trường Tô Châu thuộc Hà Tiên.
Lấy thêm xăng để đi Hà Tiên,sau gần một giờ bay,chúng tôi vào đáp phi trường Tô Châu.Từ trên cao nhìn xuống thấy đã có sẵn mười chiếc trực thăng đậu ở hai bên phi đạo.
Chúng tôi tự hỏi, không hiểu tại sao ở đây, hôm nay lại tập trung nhiều trực thăng thế, chắc có cuộc hành quân quan trọng? Chúng tôi được biết một nửa phi cơ là của phi đoàn bạn do một thiếu tá VN chỉ huy, nửa kia thuộc đơn vị Hoa Kỳ do một thiếu tá Mỹ dẫn đầu.Ông đại úy liên lạc của BĐQ cho hay là BĐQ và Thiết kỵ đang bị VC vây hãm tại vùng Kâm –pông- Trạch bên Miên. Cần được tiếp viện để giải tỏa áp lực địch gấp.
Kâm –pông- Trạch là một thị trấn nhỏ thuộc tỉnh Kâm-Pôt của Cambodia, về phía Bắc, Tây Bắc Hà Tiên, cách phi trường Tô Châu chừng mười lăm phút trực thăng.
Trong vùng rừng núi khô cằn nằm trên đường đi từ thị trấn này tới biên giới Hà Tiên, liên đoàn 7 Biệt Động Quân (800 người) cùng thiết đoàn 12 (hơn 80 chiếc thiết vận xa M113+ 250 người) đã bị bao vây bởi sư đoàn Sao Vàng CSBV tăng viện một phần của sư đoàn Thép 320 và hai trung đoàn đặc công 51 và 52, tổng cọng quân số Cộng sản trên bảy ngàn người.
Với quân số chênh lệch 1 chọi 7, các chiến sĩ anh dũng Biệt Động Quân và Thiết Giáp của QL/VNCH đã kiên cường chống trả bao đợt xung phong, pháo kích của địch, ròng rã gần một tháng trời mà căn cứ vẫn đứng vững. Dù đêm đêm, Việt Cộng thường bắt loa kêu gào « hàng sống, chống chết »vẫn không làm sờn lòng các chiến sĩ BĐQ và Thiết kỵ. Để rồi về sau bị quân tiếp viện của ta từ Hà Tiên qua đánh lui, giải tỏa áp lực cho căn cứ.Tiếc thay, khi liên đoàn 7 rút lui đã để lại tiểu đoàn 94 BĐQ đóng ở phiá bắc Kâm Pông Trạch khiến tiểu đoàn này bị Việt Cộng tràn ngập. Chỉ có tiểu đoàn trưởng và một số ít binh sĩ sống sót chạy về !!!
 Tôi được đưa đến trình diện trung tướng Ngô Quang Trưởng từ vùng 1 đổi về làm tư lệnh Quân đoàn 4 và Quân khu 4, đang đứng cùng với nhóm sĩ quan tham mưu bên cạnh phi đạo của phi trường Tô Châu.
Tướng Trưởng nói với tôi là ông chỉ cần một chiếc trực thăng để bay vào chổ quân ta đang bị bao vây và thi hành hai nhiệm vụ sau đây:
1. Đón phi hành đoàn trực thăng bốn người bị bắn rớt ngày trước, đang ở với BĐQ và Thiết Giáp trong căn cứ.
2. Chở vào một số thuốc men cần thiết và một số súng bắn xe thiết-vận -xa, cho quân ta dùng để triệt hạ 5 chiếc M113 đã bị địch chiếm được và đang xử dụng bắn lại quân ta.
Có lẽ vì giao cho chúng tôi một việc làm đơn độc, nguy hiểm, mà hy vọng thành công rất mong manh, nên tướng Trưởng dặn thêm: « phòng không địch được ghi nhận là rất mạnh chung quanh căn cứ, các em phải cẩn thận, nếu vào không được thì thôi, còn nếu vào được nhớ đừng quẹo rộng quá coi chừng bị bắn ».
Tôi nhận lệnh và trở về tàu mình.Trong lòng đầy ưu tư, lo lắng và thắc mắc tại sao mười chiếc trực thăng vừa Mỹ vừa Việt, không một chiếc nào cất cánh mà lại bắt chúng tôi phải hủy bỏ phi vụ đang tiếp tế cho các đồn bót ở Cà Mâu để về đây nhận lấy mission này?
 Tôi tập họp bốn phi hành đoàn lại, thuyết trình cho họ biết ý định của tướng Trưởng và nói là tôi sẽ bay chuyến này. Tất cả có vẻ lo ngại cho chúng tôi nhưng không nói gì và trở về tàu của họ.
Trải tấm bản đồ xuống bãi cỏ và ngồi bệt xuống cùng ông trung úy hoa tiêu phụ nghiên cứu xem đường bay nào có thể đánh lạc hướng địch, thế bay nào có thể cứu mạng chúng tôi khỏi những dàn phòng không đang chĩa lên trời chờ làm thịt con tàu chậm chạp, mong manh, không có khả năng tự vệ này!
Nếu bay trên đất liền, dù ở bất cứ cao độ nào, khi vào vùng kiểm soát của địch, mà đường ta ta cứ bay thì trưóc sau gì cũng bị phòng không chiếu cố. Phản lực bay nhanh mà còn bị bắn te tua! Chúng tôi bay thấp, nằm trong tầm súng từ cá nhân AK47,phòng không 12ly 7 đến hỏa tiển tầm nhiệt SA7.Trực thăng bay chậm, chở nặng, không có vũ khí tự vệ mà còn đưa cái bụng phệ ra thì chỉ có nước chờ…chết. 
Bay sát ngọn cây, trên đầu địch bên đất Cam Bốt lại càng không được an toàn vì phần lớn là đồng trống, rừng cây thưa thớt không đều và khô cằn, ngoại trừ những vùng có sông rạch… Đây qủa là là một phi vụ tiến thối lưỡng nan!
 Có một con sông nhỏ mà dài, chảy quanh co từ biển Hà Tiên vào tận Châu Đốc. Một con sông khác ngắn hơn nối với sông này chảy vào Kâm Pông Trạch, gần căn cứ của BĐQ và Thiết Kỵ.
Anh binh sĩ BĐQ có nhiệm vụ theo tàu để phụ hai anh cơ phi, xạ thủ vứt đồ xuống cho nhanh khi tàu đáp, đã từ chối đi với chúng tôi vì quá sợ hãi. Ông đại úy BĐQ phải cự nự, chửi thề, xô anh này lên tàu và nói: « phi công người ta không sợ mà mày sợ cái gì? », anh ta mới miễn cưỡng leo lên.
Nếu ông đại úy tinh ý, chắc sẽ thấy chúng tôi cũng không hơn gì anh lính kia, nhưng vì kỷ luật Quân đội, danh dự Quân chủng, danh dự cá nhân và truyền thống của Không Quân là “không bỏ anh em, không bỏ bạn bè”mà phải thi hành thôi…Có ai bình thường mà không sợ chết ?
Trước khi cất cánh, toàn thể phi hành đoàn chúng tôi đều cởi bỏ áo Nomex (một loại phi bào chống lửa mà pilot của US Army xài), chỉ bận áo thun, và quần Nomex mà thôi. Bỏ lại bóp tiền bạc, giấy tờ cho bạn giữ.Vì nếu bị bắn rơi, bị bắt làm tù binh thì nhất thời địch sẽ không biết chúng tôi là ai, mang cấp bậc gì.
Còn nếu bị bắt, bị dẫn ra bờ sông sắp hàng… bắn bỏ thì hết chuyện!
Trong đời bay bổng, tôi chưa hề thấy một hình ảnh vừa khôi hài vừa bi tráng và kém an phi như phi hành đoàn “áo thun” của chúng tôi như lúc này.

uh-1_047.jpg
Cất cánh ra hướng biển, bay trên phi đạo để lấy cao độ, chúng tôi nhìn xuống thấy vài người cả Mỹ lẫn Việt dỡ nón phất chào. Không biết họ chúc thượng lộ bình an, vẫy chào tạm biệt hay vĩnh biệt ?
Bay vài vòng trên không phận Tô Châu để đưa tàu lên đến một độ cao khả dĩ có thể quan sát chiến trường xa tít, đồng thời nhận diện địa thế...Chúng tôi quyết định bay bên hữu ngạn con sông trên địa phận Hà Tiên, hướng về ngã ba sông để vào Kâm pông Trạch.Tôi nhắc nhở mọi người phải ráng nhìn ở dưới những lùm cây, hể phát hiện đốm lóe hay những cụm khói đen nhỏ bắn lên thì báo động ngay.
Bốn cặp mắt lo lắng trừng trừng nhìn xuống những khoảng rừng thưa và đồng trống ở dưới để canh chừng phòng không địch.
Từ giờ phút này, chúng tôi thật sự đang đánh đu với tử thần…! Sự may mắn của chúng tôi không kéo dài được bao lâu, vì khi vừa vào không phận Cam Bốt, địch đã nghe tiếng trực thăng, đã phát hiện chúng tôi và đang sẵn sàng bắn hạ…
Bổng anh trung sĩ xạ thủ hốt hoảng la lớn: « phòng không nó bắn mình đó ông ơi, tui thấy nhấp nháy hướng… ».Như đã dự định,lập tức tôi cho phi cơ rơi tự do, đảo qua đảo lại, nghiêng ngã như sắp bị rớt. (Mẹo này có lẽ làm những tên xạ thủ VC tưởng đã hạ được trực thăng nên ngưng bắn, hay vì bay không đường lối, lại rơi nhanh khiến chúng bắn không trúng?).
Với độ rơi của phi cơ ở 3000 bộ một phút, con tàu rung bần bật tưởng như sắp rớt ra từng mảnh, mà chúng tôi vẫn cảm tưởng như đứng một chỗ. Những giây phút chờ đợi trúng đạn nổ tung, bốc cháy, hoặc một viên đạn oan nghiệt bắn vỡ mặt, văng óc thật là căng thẳng…
Khi tàu xuống trên ngọn cây, tôi quẹo gắt để cắm vào giữa giòng sông, bay giữa hai hàng cây mọc cao bên sông, cứ thế lướt trên mặt nước và lượn theo những khúc ngoặc của sông.
liếc nhanh qua bên trung úy hoa tiêu phụ, thấy anh đang gồng mình ngồi, nhìn thẳng về phía trước,tay cầm Thánh giá, miệng lẩm nhẫm đọc kinh. Tự nhiên tôi trở nên bình tỉnh hơn, tin tưởng sẽ được các bề trên che chở bởi lời cầu nguyện và nét mặt thành khẩn của anh.
(Anh Vân, nếu anh tình cờ đọc được bài này, một lần nữa xin cám ơn anh, người trung úy hoa tiêu phụ hiền lành, đã cầu nguyện bình an cho cả phi hành đoàn chúng ta ngày đó).
Sắp đến chỗ quân bạn bị vây rồi mà chúng tôi vẫn chưa thấy phản ứng của địch trên khúc sông này. Có lẽ chúng tôi đột nhập bất ngờ bằng đường sông nên địch không kịp trở tay. Hay là bộ đội VC quá ngạc nhiên vì chưa bao giờ thấy giặc lái của KLVNCH bay trên sông như tàu cao tốc mà còn nhấp nhô lã lướt uốn lượn quanh co, nên mải mê xem mà quên cả bắn?
Quẹo trái để tiến về căn cứ. Vừa lấy lại thăng bằng, tôi bổng giật nảy người.Trên một cành cây cao chắn lối, một tên VC đang đứng cheo leo núp sau thân cây, có lẽ đang quan sát hoạt động của quân bạn bên trong căn cứ bị vây. Hắn ngạc nhiên nhìn xuống, tôi chới với nhìn lên.Việc thấy tên VC chần dần trước mặt xãy ra quá nhanh khiến tôi ú ớ, không kịp báo động cho hai xạ thủ, và do phản ứng tự nhiên, tôi kéo tàu vọt lên, ngang qua đầu hắn, bụng phi cơ lướt ào ào trên ngọn cây với hy vọng là hắn không có thì giờ phản ứng…Tôi chờ đợi tiếng
AK của hắn bắn đuổi theo nhưng hoàn toàn im lặng.
Tàu ngóc lên cao, ngay phía dưới, trước mặt là căn cứ của BĐQ và Thiết Kỵ đã hiện ra.
Nhớ lời dặn của tướng Trưởng, tôi quẹo thật gắt đến độ sợ cánh quạt chém mấy cây antenna của thiết giáp bên dưới. liếc mắt xuống, chúng tôi thấy các thiết vận xa M113 làm thành môt vòng tròn bao quanh căn cứ, nằm sau những ụ đất, bên trong có rất nhiều luống đất đỏ như những nấm mồ vừa chôn vội vã ?
Đã thấy tấm panneau đánh dấu bãi đáp đàng xa nhưng vì quẹo qúa gắt, tàu chở nặng trì xuống nên tôi không kịp đưa tàu đến đáp.
Tôi quyết định đặt tàu xuống bên dãy ụ đất đỏ,như vậy sẽ gần hơn cho phi hành đoàn trực thăng võ trang bị bắn rơi ngày hôm qua khỏi phải mất công chạy ra tận bãi đáp và cũng tiện cho việc hất đồ tiếp tế xuống gần quân bạn hơn…
Trong chốc lát các thùng hàng đã được liệng xuống. Tôi nhìn lại phía sau, đã thâý lố nhố mấy người bận áo bay ngôì trên tàu.Anh trung sĩ cơ phi báo cáo là phi hành đoàn đã lên đủ. Một ông lính BĐQ khác râu ria lởm chởm, không biết từ đâu, nhảy vội lên tàu và la lớn với chúng tôi : « cất cánh nhanh lên,chúng nó đông lắm 6,7 nghìn tên chung quanh,nhanh lên, nhanh lên».Tôi nhìn lên bờ đất, thấy một số binh sĩ  đang dìu đồng bạn vượt ụ đất chạy về phía tàu, dường như là thương binh? Cùng lúc đó có một tiếng nổ ầm vang gần tấm panneau.Thì ra VC phát hiện chúng tôi đã đáp nên đang pháo vào từ những núi đá thấp gần đó, nhưng lại rơi ra xa…
Mọi sự xảy ra trong nháy mắt.Không chậm trễ một giây, tôi nhấc bổng tàu lên vì sợ địch điều chỉnh tác xạ, sợ bị lính leo lên thêm vì trên tàu đã có sẵn mười người rồi sẽ không bay ra được vì quá nặng.
Tôi chúi mũi lủi về phía trước, thoát đi thật nhanh để lại sau lưng một đám bụi mù…
Trên đường bay ra, vừa đưa tàu lên cao để né tên trinh sát, tôi lại thấy hắn nhưng không phải đứng trên cây mà đã té nằm thẳng cẳng dưới đất. Chắc đã bị tàu bay đụng và đã…sinh Bắt tử Miên.
Không còn bị ai cản trở, tôi cho tàu lạng xuống trên mặt nước, chổng đuôi bay thật nhanh.Sợ lần này bộ đội VC đã đề cao cảnh giác sẽ chận đường thối lui, tôi thay đổi lối bay liên tục. Khu nào dọc theo bờ sông có nhiều cây rậm rạp thì tôi bay sát trên ngọn cây để tránh tầm quan sát và hỏa lực của địch. vùng nào trống trãi thì tôi lại nhào xuống nước làm cao tốc đĩnh…Có nhiều khi đã tính bỏ giòng sông mà bay ngang rừng thì sẽ thâu ngắn đoạn đường về Tô Châu vài cây số, nhưng biết đâu chính đoạn đường rừng thưa thớt này sẽ thâu ngắn tuổi thọ chúng tôi !
Khi thấy ngã ba sông hiện ra trước mặt, tôi biết là mình sắp thoát, vì bên kia sông là Hà Tiên xinh đẹp, an lành.
Kéo tàu vọt lên cao, tôi trao cần lái cho trung úy hoa tiêu phụ.
Bình an trở lại Tô Châu.Các phi hành đoàn bị bắn rớt được chúng bạn đón mừng, chúng tôi được các anh em cùng phi đoàn ân cần thăm hỏi.
Phi vụ hoàn tất mỹ mãn.Tôi lại được đưa đến gặp tướng Trưởng, vẫn còn đứng ngoài phi đạo theo dõi chuyến bay của chúng tôi.Tôi rất ngạc nhiên vì lần này lại có sự hiện diện cuả  tướng Tư lệnh SĐ 4 KQ là tướng nguyễn Huy Ánh.
Tôi đứng nghiêm chào hai Vị Tướng đáng kính này. Mấy ông bắt tay khen ngợi, tướng Trưởng nói với một đại tá Bộ binh đứng bên lấy tên phi- hành- đoàn để cho huy chương. Ông nói với tướng Ánh KQ cũng nên cho chúng tôi huy chương tương xứng.Tướng Ánh hứa là sẽ cho.
Không lâu sau đó tướng Trưỏng lại đỗi ra vùng 1 CT.Tướng Ánh bị tử nạn trong một phi vụ câu máy bay quan sát. Sư Đoàn 4 nói riêng và KLVNCH nói chung đã mất một vị tướng văn võ song toàn, tài năng và đức độ hơn người.
Tờ báo Lý Tưởng của bộ tư lệnh KQ có viết một bài tường thuật phi vụ Kâm Pông Trạch của chúng tôi. Còn mấy cái “anh dũng bội tinh với nhành dương liễu” thì mấy tháng sau đã có người khác không bay… thay mặt đeo giùm.
Cali

PHI ĐOÀN 225 ÁC ĐIỂU.

 

Tiểu sử PHI ĐOÀN 225 ÁC ĐIỂU.

                 Nằm trong kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh của Hoa Kỳ, thì Sư Đoàn IV/KQ cần phải có thêm một vài phi đoàn trực thăng hầu tiếp thu và thay thế cho 3 Đại Đội Trực Thăng của họ hiện đang đồn trú tại Đồng Tâm, Vỉnh Long, Sóc Trăng và phải như vậy mới đáp ứng nổi nhu cầu yểm trợ hành quân cho các sư đoàn 7, 9, 21 Bộ Binh, Biệt Khu 44 và các Tiểu Khu trực thuộc Quân Đoàn IV. Sư Đoàn IV/KQ có tất cả 4 Không Đoàn (KĐ). Nói cho dễ hiểu, gồm 2 KĐ làm việc dưới đất, đó KĐ Bảo Trì - Tiếp Liệu, KĐ Yểm Trợ - Phòng Thủ và 2 KĐ làm việc trên không: KĐ 74 bao gồm 1 phi đoàn (PĐ) quan sát và 2 PĐ phản lực cơ A37, KĐ 84 bao gồm 2 PĐ trực thăng, do vậy nếu cần thành lập thêm 2 PĐ trực thăng nữa thì trách nhiệm nầy là phải do KĐ 84 đảm nhận.

225
              

Bộ chỉ huy của KĐ 84 đã chọn lựa các sĩ quan hoa tiêu cao cấp, đầy kinh nghiệm từ 2 PĐ 211 và 217 là: Th/t L.v.Châu (217), Đ/u H.v.Đông (211), Đ/u Đ.đ.Đạt (217) để nắm bộ chỉ huy của PĐ 225 sẽ thành lập vào tháng 10 năm 1970 tại phi trường Sóc Trăng.  Về phần hoa tiêu thì BTL/KQ chỉ thị cho những PĐ kỳ cựu, mỗi PĐ phải gởi về năm, ba hoa tiêu để giúp đở PĐ 225 trong giai đoạn thành lập. Để thi hành chỉ thị đó, PĐ 211 đã gởi: Thành.P, Khánh, Quang.N. PĐ 213 gởi: Đạt.H, Hậu.B, Chữ, Xuân, Chánh, Hảo. PĐ 215 gởi: Chờ, Dương, Thưởng, Đức.T, Đức.H, Đức.N và PĐ 217 gởi: Trung.T, Hoàng, Ngọc.N. Nhìn vào danh sách  nầy, thì chỉ có 2 anh Đạt.H thuộc khóa 21VB, Hậu.B khóa 19 TĐ còn lại là các anh xuất thân từ SVSQ/KQ của các niên khóa: 1965, 66, 67. Họ đã là những trưởng phi cơ hoặc hoa tiêu chánh có số giờ bay hành quân trên một nghìn đến hai nghìn giờ. Sau đó, PĐ được bổ sung một lượng lớn các hoa tiêu mới tốt nghiệp từ Mỹ về, đó là các SVSQ/KQ thuộc niên khóa 1968. Bên hoa tiêu là như thế, còn bên cơ phi, xạ thủ thì sao, dường như cũng giống bên hoa tiêu nghĩa là có một số các anh đã bay cho các PĐ khác trước rồi sau đó về 225 và rồi PĐ cũng tiếp nhận thêm một số các anh cơ phi, xạ thủ mới ra trường. Trưởng toán cơ phi là anh Tr/s nhất Ba và trưởng toán xạ thủ là Tr/s Điệp.
               Quân số đã đầy đủ, bây giờ các chức vụ được cắt đặt như sau: Th/t Châu làm PĐT, Đ/u Đông làm PĐ phó, Đ/u Đạt.Đ làm SQ/HQ, Tr/u Chờ làm SQ Huấn Luyện, Tr/u Hậu.B làm SQ An Phi. Phi Đội I: Tr/u Đạt.H kiêm luôn phụ tá SQ/HQ, P. Đội II: Tr/u Chữ, P. Đội III: Tr/u Trung.T, P. Đội IV: Th/u Dương. Mỗi phi đội khoảng chừng trên dưới 20 hoa tiêu. Bên cơ phi, xa thủ cũng chia làm bốn phi đội như hoa tiêu cho dễ làm việc và nghĩ phép. PĐ lấy danh hiệu là ÁC ĐIỂU và danh hiệu Gunship là DIỀU HÂU, tạm thời PĐ 225 đảm nhận những phi vụ nhẹ như bay liên lạc, tiếp tế v.v…cho các Tiểu Khu để chia bớt gánh nặng cho hai PĐ đàn anh. Các hoa tiêu đến từ vùng I và vùng II được biệt phái cho 2 PĐ 211, 217 để bay cho quen vùng và học hỏi thêm cách thức đổ quân của vùng đồng bằng, sông nước. Đồng thời các hoa tiêu mới về cũng cần phải huấn luyện lại mỗi anh bay 3 hoặc 4 giờ để làm quen vị thế ghế trái. Sau bảy, tám tuần chỉnh đốn, đầu năm 1971 PĐ bắt đầu xuất quân.  Ngày đầu tiên PĐ đổ quân cho Tr/đoàn 32 của Tr/t V.v Trổ thuộc S/đoàn 21BB. Hôm nầy được cắt bay như sau: Th/t PĐT bay C & C; Đạt.Đ bay Gun I, Chờ bay Gun II; Chữ lead hợp đoàn V5.  Cũng đặc biệt hôm nầy có vị Tr/t Hoa Kỳ, chỉ huy phó căn cứ Sóc Trăng bay vị thế copil của chiếc trail để giám sát PĐ 225 ra quân lần đầu. Hợp đoàn slick bốc một Tiểu đoàn tại Rạch Gòi và đổ vào đông-bắc Phụng Hiệp, lúc vào Final trong vài Lift đầu hợp đoàn đều bị địch bắn sẻ, vài tàu bị trúng đạn Aka nhưng cũng may tất cả các phi hành đoàn đều vô sự.
               Người Mỹ bắt đầu rút quân vào đầu năm 1971. Lợi dụng ưu thế đó,Việt Cộng gia tăng áp lực mạnh về phiá VNCH. Phi đoàn 225 cũng vì thế bắt buộc phải trưởng thành mau lẹ, chuyện nầy không khó lắm vì từ hoa tiêu đến cơ phi, xạ thủ của 225 đều là thành phần trẻ, họ tốt nghiệp vào những niên khóa 1965 đến 1968, trong người luôn mang đầy nhiệt quyết, luôn chịu học hỏi để tiến nhanh, tiến mạnh hầu bắt kịp các phi đoàn đàn anh. Phi đoàn 225 đã tham dự hầu hết các chiến trường quốc nội và đã có mặt những điểm nóng như: Đầm Dơi, Cái Nước, Miệt Thứ, Cạnh Đền, Chắc Băng, Thới Bình, Hậu Mỹ, Bà Bèo, Sầm Giang v.v… toàn là những địa danh mà “tên vẫn chưa quen người dân thị thành”. Còn ở chiến trường ngoại biên, PĐ 225 đã có mặt khắp các mặt trận nếu tính từ đông qua tây là: Kompong Ro, Svay Rieng, Prey Veng, Ta Keo, Kompong Trach, Kampot, Kompong Som, đôi khi còn giúp đổ quân cho lính Miên từ phi trường Pochengtong đến Kompong Thom, quảng đường thật quá xa, mỗi Lift đi về phải mất 2 giờ bay cũng có nghĩa mỗi Lift, mỗi tàu đốt trọn một bình xăng 1,400lbs. Hôm nào hợp đoàn thi hành phi vụ loại nầy, anh em về tới nhà không trước 8:00 PM, thế rồi sau cơm nước, tắm rửa, phải nghỉ ngơi liền để có sức bay cho phi vụ ngày mai, kể ra thì lắm gian truân nhưng nụ cười không bao giờ thiếu trên môi của người chiến sĩ 225. Đầu năm 1972, PĐ thuyên chuyển về phi trường Bình Thủy.
               Tính cho đến ngày quốc hận 30 tháng 04 năm 1975, PĐ 225 đã có mặt 4 năm rưỡi ở chiến trường tức 54 tháng chiến đấu. Phi đoàn đã lập nhiều chiến công hiển hách đó là công lao chung của tất cả các anh em, từ slick chở quân đã nhanh nhẹn, nối ráp hộp đoàn thật khít khao, tạo sự dễ dàng cho Diều Hâu bảo vệ hai bên cạnh sườn trong khi ra vào bãi đáp, Hồng Mã lead khéo léo dẫn hợp đoàn đáp nhanh - ra lẹ, tránh bị pháo kích ở bãi đáp và bị bắn sẻ ở Final. Hoa tiêu và xạ thủ của Diều Hâu là những tay cục kỳ gan dạ, giết chết giặc cộng dám liều lĩnh đáp xuống lấy súng, số chiến lợi phẩm gồm pistol K54, súng trường AKA 47, CKC do Diều Hâu lấy được, đủ để trang bị cho một tiểu đội tấn công. Đây là thành tích quá nổi bật của  PD 225 mà các phi đoàn khác chưa làm được. Phi đoàn đã nhận được rất nhiều huy chương cũng như lời khen ngợi từ các Tr/đoàn trưởng BB và sự ngưỡng mộ của binh chủng khác khi đã được  phi đoàn 225 yểm trợ. Thêm một điểm son ghi dấu nữa là đầu tháng ba năm 1975, PĐ 225 được lệnh tăng phái cho SĐVI/KQ đóng ở PleiKu, theo dự định sẽ có một cuộc đổ quân đại qui mô để tái chiếm Ban Mê Thuột, nhưng cuối cùng cuộc hành quân nầy phải hủy bỏ thay bằng lệnh triệt thoái cao nguyên - bảo vệ vùng duyên hải. Rồi trong những ngày biệt phái còn lại, chiến sĩ 225 đã làm nghĩa cử cao đẹp là bay lên vùng Hậu Bổn chở giúp đồng bào tản cư lánh nạn trên Liên tỉnh lộ 7, đem họ về Tỉnh Phú Yên. Vậy như thế ngoài phương châm “Vì bạn, quên mình”, chiến sĩ 225 lại tạo thêm cho mình một phương châm mới nữa “Yêu đồng bào, không nệ nguy nan”.
               Đoạn Kết. Cuộc chiến nào dù thắng hay bại cũng tạo nhiều tổn thất, thiệt hại cho cả đôi bên, PĐ 225 không là ngoại lệ, chúng tôi đã phải ngậm ngùi thương tiếc một số niên trưởng đã anh dũng hy sinh nơi chiến trường để điểm tô cho màu cờ của Không Quân, của PĐ 225 luôn sáng ngời, rực rỡ. Chúng tôi tưởng chừng vong linh các liệt vị đó luôn phù hộ cho PĐ rồi cộng với phong cách chỉ uy tài ba và đức độ của chim đầu đàn đã nhiều phen dẫn dắt Phi Đoàn vượt qua bao cơn nguy khốn. Sau cùng, với tinh thần đoàn kết và kỷ luật cao độ của chung anh em thì vào ngày PĐ 225 buột phải buông súng bất đắc dĩ, anh em  đã di tản gần như trọn vẹn. Rồi trên đất người, anh em vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, họ đổi từ tình chiến hữu thành tình bạn hữu bất diệt luôn sẵn có trong tâm huyết của mỗi con người 225.

                                                                                                                                                                       Người của 225.