Thursday, March 15, 2012

PHẠM HUẤN tái ngộ Hà-nội sau 19 năm trong chuyến hành-trình đặc-biệt ngày 18-2-1973 và những hình ảnh Hà-nội ngày nay (1973)


Cuốn sách mỏng này được hoàn tất và ấn hành trong một thời gian kỷ lục, chắc chắn nó có những thiếu sót. Nhưng chúng tôi hy vọng nó vẫn đáp ứng được phần nào sự mong đợi của tất cả những ai muốn biết những tin tức xác thực về Hà Nội, sau 19 năm Hà Nội bị đặt dưới sự thống trị của chế độ Cộng Sản Bắc Việt.

Cũng như tất cả những người yêu Hà Nội, tất cả những người Việt Nam yêu nước, mong ước một ngày tổ quốc thống nhất, dù được chỉ định thi hành một công tác với những nhiệm vụ rõ rệt, chúng tôi vẫn cảm thấy một nỗi bồi hồi và sung sướng riêng của một người được trở lại cố hương sau gần hai mươi năm cách biệt.

Cố hương ? Vâng, đúng như thế, không còn cái chỗ nào khác để chỉ Hà Nội, đối với một triệu người rời bỏ đất Bắc vào năm 1954. Nhưng với cuộc chiến tranh khốc liệt kéo dài gần hai mươi năm đó, với kinh nghiệm của tất cả các nước bị phân chia vì cuộc tranh chấp giữa chủ nghĩa Cộng Sản và chủ nghĩa Quốc Gia, ở đâu và người nào phía nào cũng vẫn chỉ muốn coi đó như một cuộc chia cắt tạm thời, song người ta đều hiểu rằng, chưa biết đến bao giờ mới có thể giải quyết được cái tình trạng chia cắt tạm thời ấy, sự tạm thời do đó, tự nó, đã nhuốm tính cách vĩnh viễn.

Chính ở trong các Quốc Gia mà sự mong ước thống nhất bộc phát tích cực nhất — thường thường là phía Cộng Sản muốn thôn tính nốt phần đất còn lại, phía quốc gia ôn hòa hơn, chỉ làm công việc tự vệ, — nghĩa là có chiến tranh, mà cuộc chiến tranh tại Việt Nam có thể coi như điển hình, về cả hai phương diện : sự quyết tâm của hai bên và sự thiệt hại do cuộc chiến gây ra, đã chiếm hết những kỷ lục của lịch sử chiến tranh nhân loại.

Miền Nam nhận được sự ủng hộ tích cực và công khai của phe thế giới tự do, miền Bắc cũng nhận được sự viện trợ không kém của phe Cộng Sản, dù kín đáo hơn.

Thỏa ước ngưng bắn – nhưng bắn tại chỗ và nguyên trạng – vừa được các phe tham chiến ký kết, đạt được, sau mười chín năm đánh nhau không ngừng nghỉ, và từ ngày thỏa ước ngưng bắn được chính thức ký kết, sự vi phạm của phe Cộng Sản đã làm cho Ủy Hội Quốc Tế nản chí, thậm chí có phái đoàn phải tuyên bố bất lực, dự định bỏ về nước, như phái đoàn Gia Nã Đại.

Nhưng bắn đã được ký kết nhưng số người chết vì chiến tranh vẫn không giảm sút.

Một thực trạng tranh chấp như vậy, viễn tượng một ngày hòa bình cả muôn chung ngàn khó, ngày thống nhất đất nước, gần như chỉ còn là một ảo tưởng.

***

Tuy nhiên, sự tuyệt vọng quá sớm ấy, hình như chỉ là bài học của cuộc chiến tranh cay đắng đang diễn ra trên đất nước dạy cho chúng ta.

Cuộc trở về Hà Nội ngày 18 tháng 2 năm 1973 vừa qua, của ba sĩ quan VNCH, mà tôi là một, giống như một hy vọng lớn lao, lớn lao nhất ở chỗ hình như cái niềm hy vọng ấy đã thay thế được cho sự tuyệt vọng.

Thật chẳng khác một giấc mơ, khi máy bay đáp xuống phi trường Gia Lâm, chúng tôi với quân phục và huy hiệu của QLVNCH trên người, và bước xuống giữa một rừng sĩ quan và cán bộ Bắc Việt, mà không phải nổ súng và ngược lại, đối với tôi, một người ở trong quân ngũ 17, 18 năm liên tiếp, một sĩ quan với huy hiệu Nhảy Dù trên ngực áo, đã có quá nhiều kinh nghiệm với Cộng Sản, cái giây phút chúng tôi đặt chân xuống Gia Lâm là một giây phút kỳ lạ đáng ghi nhớ.

Ngồi trên chuyến xe di chuyển từ Gia Lâm về Hà Nội, nhìn thấy Hồ Gươm, Tháp Rùa, tôi có trong lòng một nỗi xao xuyến muốn làm ứa lệ.

Tôi biết rằng, nhìn thấy Hà Nội đây, là nhìn thấy bằng một triệu đôi mắt của người xa Hà Nội năm nào. Tôi đang di chuyển an lành trên những đường phố Hà Nội đây, là đòi hỏi bằng xương máu của bao nhiêu bằng hữu, bao nhiêu huynh đệ, bao nhiêu người quen biết và không quen biết, đã chết và còn sống, của 17 triệu dân miền Nam yêu nước đang trông ngóng một ngày hòa bình, thống nhất, nhưng không phải là hòa bình với bất cứ giá nào, thống nhất với bất cứ giá nào. Tôi hiểu được tại sao con người có tình riêng nhưng không thể tách rời ra khỏi tập thể. Con đường này, xưa chúng tôi hằng ngày đi qua, cắp sách đến trường. Căn nhà này, xưa, tôi đã ở. Bạn bè tôi xưa, những ai còn, ai mất ? Người yêu tôi xưa bây giờ bao tuổi, bao già ? Tôi có thể gọi tên từng đứa bạn, gọi tên từng người con gái đẹp của Hà Nội khi xưa, tôi có thể chỉ đúng căn nhà họ ở, bây giờ họ còn ở đấy chăng ? Ngồi trên máy bay nhìn xuống, Hà Nội giống như một khuôn mặt kiều diễm, Tháp Rùa chẳng khác cái nốt ruồi của thành phố ! Tôi biết rằng, nếu biết được tôi nghĩ như thế, ai sẽ mỉm cười. Cái cậu con ttrai nhảy chân sáo trên lối đi này khi xưa là tên vẫn còn ẩn núp trong tôi thật sao ? Tôi mừng biết bao, khi nhận ra, vài ba mươi năm liền nghe tiếng nổ, nhìn thấy khói, ngửi mùi tử khí, tai tôi chưa điếc, mắt tôi chưa mờ, mũi tôi vẫn còn phân biệt được những mùi hương phảng phất của sương mù tháng giêng Hà Nội.

Nỗi nhớ thương Hà Nội đã choán ngợp tâm trí đến độ trong khoảnh khắc tôi không còn nhận ra Hà Nội đã không còn là Hà Nội nữa.

Nước hồ vẫn xanh. Tháp Rùa vẫn như tự bao giờ giữ màu vôi cũ kỹ. Nhưng tất cả vẻ đẹp của Hà Nội, màu sắc của Hà Nội đã mất hết. Những người dân tôi nhìn thấy quanh hồ, chỉ còn là những người dân lam lũ, nghèo khổ, quần thâm, áo cánh, cắm cúi đi lại, hoặc đứng đợi những chuyến tàu điện, khăn gói vắt vai, quang gánh xếp bên lề đường, người nào cũng chỉ còn lại trên vẻ mặt một sự âm thầm, tất tưởi, gần như không còn ai có thì giờ hoặc muốn trò chuyện với ai nữa.

Ngày 18 tháng 2 chúng tôi trở về Hà Nội là ngày chủ nhật, nhưng Hà Nội không có một vẻ gì là được nghỉ ngơi cả.

Không phải chúng ta chỉ biết đo sự thịnh vượng của một quốc gia bằng những chiếc xe hơi, nhưng quả thật suốt một ngày ở Hà Nội chúng tôi chỉ nhìn thấy độ một chục chiếc xe hơi, hầu hết đều của các phái đoàn ngoại giao ở Hà Nội, còn toàn thể dân Hà Nội đều di chuyển bằng xe đạp, tàu điện hoặc đi bộ. Năm 1954, số xe hơi ở Hà Nội đâu có ít ?

Những thiếu nữ yêu kiều, thướt tha của Hà Nội xưa, đã biến hết, chỉ còn lại mấy cô nữ cán bộ mặc đồng phục màu xám nhạt, hoặc những nữ công nhân quần đen bạc, áo cháo lòng. Cả thành phố không có lấy một người mặt áo dài.

Như thế, chẳng phải là nhà chuyên gia về kinh tế, người ta cũng nhận thấy ngay rằng, Hà Nội đã quá nghèo khổ mất rồi. Cả thành phố không lấy một cửa hàng mở cửa. Tất cả sinh hoạt thương mãi của thủ đô tập trung ở một cửa hiệu bách hóa của nhà nước. Một nền kinh tế như thế còn lấy đâu ra cơ hội phát triển ?

Khi đi qua công viên Thống Nhất, công viên mới được nhà nước Cộng Sản Bắc Việt lấp một phần hồ Bẩy Mẩu, lập nên sau 1954 và đó cũng là kiến trúc duy nhất tại Hà Nội kể từ 1954 đến giờ, chúng tôi đã nhìn thấy những em bé, trong cái rét tháng giêng ở Hà Nội, cái rét cắt thịt như vậy, nhưng các em chỉ mặc phong phanh có một chiếc áo cánh mỏng hoặc một chiếc áo len cũ, và đi chân đất.

Thấy khách lạ, các em chỉ giương những cặp mắt ngây thơ ngó nhìn, chứ không nói cũng không em nào cười, như bản tính hồn nhiên thường thấy ở các em nhỏ.

Nói chuyện với các cán bộ, sĩ quan Bắc Việt được đề cử đón tiếp phái đoàn tới quan sát và dự lễ trao đổi tù binh tại Hỏa Lò Hà Nội là một việc hết sức chán nản. Đó không phải là những lời nói chuyện. Họ chỉ muốn hỏi, hỏi những câu hỏi đã được học sẵn, vì quanh đi quẩn lại, chỉ có ngần ấy câu hỏi, chốc chốc lại được nghe một người nhắc lại.

Ở khía cạnh nào tôi cũng cảm tưởng như đời sống của người dân miền Bắc đang tự thắt lại.

Khi nỗi nhớ Hà Nội như một kỷ niệm riêng, đã tạm lắng xuống, nhìn Hà Nội như một thủ đô chính trị, đối nghịch với chúng ta, có lẽ tôi nói như vậy không được chính xác lắm đối với tâm trạng của tôi lúc đó, mà phải nói rằng, nhìn Hà Nội như một thủ đô, một căn cứ, nơi những người cầm quyền Cộng Sản đặt cái guồng máy cai trị non một nữa dân tộc chúng ta, tôi cảm thấy ớn lạnh khắp người.

Tôi không biết có bao nhiêu người hiện sống ở miền Bắc thực sự tin theo chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng nghĩ đến những người bạn, những người quen, họ hàng thân thích, năm 1954 đã không rời bỏ được Hà Nội để ra đi, vì lý do này hay lý do khác, tôi rùng mình kinh sợ.

Tôi muốn gặp và hỏi thẳng một vài người, nhưng tôi đã không làm được việc ấy. Người ta đã không cho chúng tôi ra khỏi những lộ trình đã được định trước. Mà giả thử người ta có đi được, gặo được những người mình muốn gặp, chúng tôi cũng không dám làm việc này, bởi vì, chúng tôi không thể biết liệu những người ấy có dám nói thật những điều họ nghĩ không, và nhất là sau khi chúng tôi đi khỏi, những người cầm quyền Cộng Sản sẽ làm gì họ ?

Không còn phải là những lời tuyên truyền hay đồn đãi nữa, tôi đã về tận nơi, đến tận chốn, đang đứng trên Hà Nội, nhìn Hà Nội bằng chính mắt mình, một nửa ngày ở tại Hà Nội, tôi thấy hơi thở của tôi không còn được điều hòa nữa, tôi nhận ra Hà Nội bằng mỗi đầu cảm giác của mình, bằng linh tính và trí óc của một người đã vào sinh ra tử 17, 18 năm trên khắp mọi chiến trường, chỉ huy và lăn mình vào những chốn tai họa, cạm bẫy đó, tôi có thể quả quyết rằng, Hà Nội không còn là chỗ có thể sống được nữa. Chủ nghĩa Cộng Sản bị áp đặt lên Hà Nội đã nặng hơn cả không khí người ta thở.

Hà Nội phải được giải thoát khỏi cái bầu không khí nhiễm độc đó.

Đó là một công việc gian nan, lâu dài. Hai mươi năm chưa đủ lâu dài, vậy cái thời gian cần thiết đó, độ bao lâu ? Hai mươi năm quả thật là một thời gian đáng kể đối với một đời người. Nhưng đối với lịch sử lập quốc của một dân tộc có đáng kể chăng ?

Chính cái câu hỏi đau đớn đó đã thắp lên như một hy vọng trong cùng tận đáy hồn chúng tôi, khi chúng tôi rời bỏ Hà Nội một lần nữa, trên chiếc phi cơ trở lại Sài Gòn.

Tôi nhớ lại khuôn mặt những sĩ quan Cộng Sản tôi đã gặp tại Hà Nội. Họ có những cung cách đi đứng, nói năng, biểu lộ thái độ một cách tưởng chừng như họ chỉ còn là những người nộm.

Tôi nhớ đến Huế, đến Sài Gòn, đến cái tết Mậu Thân, đến đại lộ Kinh Hoàng, đến những sĩ quan, cán bộ cao cấp của Cộng Sản đã về hồi chánh.

Tôi nhớ đến nụ cười, tôi cho là nụ cười thật sự độc nhất tôi nhìn thấy trong suốt một ngày ở Hà Nội, là nụ cười của cô nữ phục dịch trong một bữa ăn của phái đoàn ở Hà Nội.

Có bao nhiêu nụ cười bị giam giữ trong Hà Nội như thế ?

Hà Nội trong thơ văn, Hà Nội trong âm nhạc, Hà Nội trong trí nhớ, một lần nữa lại làm dấy động tâm khảm tôi. Cái Hà Nội thơ mộng tuyệt vời mới chỉ trong vòng hai mươi năm đã bị người ta làm cho biến đi không còn một dấu vết nào đó, liệu còn có một ngày nào có thể sống lại ?

Những ý nghĩ không mạch lạc đó đã chiếm trọn đầu óc tôi trong suốt chuyến bay trở lại Sài Gòn.

Tôi cho ấn hành nguyên vẹn bài phỏng vấn của các phóng viên Đài Phát Thanh Sài Gòn ngay khi tôi từ Hà Nội trở về, không sửa chữa một câu nào. Vì đó là những câu nói, câu trả lời hoàn toàn xuất phát từ những xúc động và suy nghĩ thành thật của tôi trong ngày trở lại chốn cũ.

Những tấm hình in trong tập sách này, là quà tặng cho những người yêu Hà Nội, một vài hình ảnh còn sót của Hà Nội, tôi đã đem ra được khỏi Hà Nội.

Tôi rất muốn được ấn hành cuốn sách này đẹp đẽ và đầy đủ, xứng đáng với thành phố nay đã trở thành một biểu tượng của những người đã bỏ Hà Nội, và vì họ đã bỏ Hà Nội cho nên Hà Nội không còn là Hà Nội nữa, cái Hà Nội của họ, họ đã mang theo trong lòng, — đúng nhứ ý muốn của các anh Mai Thảo, Pham Duy, và Văn Quang đã nói với tôi.

Nhưng cuốn sách này không phải là một tác phẩm văn chương, nó chỉ nhằm đưa đến tay bạn đọc những tin tức và hình ảnh xác thực về một thành phố, một thủ đô chính trị, đã gây ra không biết bao nhiêu đau thương tang tóc trên đất nuớc, sau hai mươi năm bị che kín lần đầu tiên được vén mở lên, chúng tôi nghĩ rằng, những tin tức và hình ảnh ấy chỉ cần được đưa đến tay người đọc một cách nhanh chóng.

Thành phố Hà Nội đẹp, thời tiết Hà Nội đẹp, người Hà Nội đẹp, đẹp cho đến nỗi, hầu như tất cả các văn nghệ sĩ của chúng ta, đã sống ở Hà Nội hay có dịp nhìn thấy Hà Nội, đều không ít thì nhiều không tiếc lời ca ngợi Hà Nội.

Chúng tôi đã xin phép được nhiều vị để trích dẫn một vài điều quý vị ấy viết về Hà Nội, nhân đây chúng tôi cũng xin ngỏ lời xin phép chung quý vị có tác phẩm trích dẫn trong tập sách này mà chúng tôi đã nhiều lần tìm gặp không gặp được, hoặc vì đường xá xa xôi, hoặc vì có người đã mất như thi sĩ Đinh Hùng, chúng tôi tin rằng quý vị cũng vui lòng lượng thứ và cho phép chúng tôi làm công việc này, vì cái ý nghĩa mất, còn của Hà Nội.

Riêng đối với bạn đọc, chúng tôi xin xác định, phần thứ hai của tập sách này là phần văn chương, nghệ thuật nói về Hà Nội, chúng tôi rất tiếc vì khuôn khổ của cuốn sách chúng tôi không thể trích dẫn nhiều hơn các tác phẩm của nhiều tác giả khác nữa. Nhưng bấy nhiêu đây thiết tưởng cũng đủ để quý vị so sánh một Hà Nội xưa và nay.

Sau cùng tôi xin cám ơn nhà văn Nguyễn Đình Toàn và nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm hết sức giúp tôi hoàn thành cuốn sách này.

Sài Gòn, ngày 20 – 2 – 1973

PHẠM HUẤN

****

HÀ NỘI SAU 19 NĂM

Thiếu tá Phạm Huấn, thiếu tá Đinh Công Chất, thiếu úy Dương Phục, 3 sĩ quan QLVNCH đầu tiên, thành viên của ban liên hợp quân sự 4 bên đã đi Hà Nội để quan sát vụ trao trả tù binh Mỹ ngày 18-2-1973. Ba sĩ quan trên là những người đã ở Hà Nội nhiều năm, và nay trở lại Hà Nội để thấy sự tiêu điều, buồn thảm của Hà Nội. Thành phố Hà Nội còn nguyên vẹn, nhưng gần 20 năm dưới chế độ Cộng Sản, Hà Nội 36 phố phường của những ngày trước năm 1954 không còn nữa; hay nói cách khác Hà Nội của chúng ta, của những người không Cộng Sản, đã chết thật.

Thiếu tá Phạm Huấn và thiếu úy Dương Phục trong hơn một giờ đồng hồ đã cho biết rất nhiều hình ảnh của Hà Nội ngày nay trong cuộc mạn đàm với các văn nghệ sĩ. Chương trình này được đài Saigon truyền đi tối thứ hai 19-2-1973. Dưới đây là các chi tiết trong chuyến trở lại Hà Nội của ba người Việt Nam tự do đầu tiên trong cuộc hành trình đặc biệt.

Hà Nội bài hát của Hoàng Dương là Hà Nội 20 năm trước, Hà Nội của một triệu người rời bỏ vào năm 1954, Hà Nội với những tà áo màu tung gió, với những tiếng guốc reo vui. Hà Nội mà những người đứt ruột bỏ đi, đã nuôi nấng một mong ước, giữ chặt một niềm tin, Hoàng Dương đã nói trong bài hát của ông : “hãy tin ngày ấy anh về”. Hà Nội 36 phố phường, Hà Nội mà nhạc sĩ Trần Văn Nhơn của chúng ta đã gọi là “Trái tim của Việt Nam”, Hà Nội mà với mùa thu cuối cùng ta bỏ đi xanh xao như mất máu đó, Hà Nội bây giờ ra sao ? Trong hai mươi năm chiến tranh tàn phá, trong hai mươi năm người Hà Nội bỏ đi, hai mươi năm Hà Nội sống dưới chế độ Cộng Sản cái trái tim của Việt Nam đó đã đập như thế nào, những Hàng Ngang, Hàng Đào, Hàng Bông, Hàng Gai, Hồ Gươm, Hồ Trúc Bạch, Hồ Bẩy Mẫu có những gì thay đổi. Người Hà Nội bây giờ sinh sống ra sao, trong phóng sự này chúng tôi xin mời quý vị độc giả trở lại Hà Nội, nhìn lại Hà Nội qua những tiết lộ của thiếu tá Phạm Huấn và thiếu úy Dương Phục, hai trong số ba sĩ quan VNCH đầu tiên đã đáp máy bay ra Hà Nội dự cuộc phóng thích tù binh ngày 18-2-1973.

Hỏi : Thưa anh Phạm Huấn, hôm chúa nhật vừa qua, anh là một trong những người Việt Nam tự do đầu tiên đã ở Hà Nội, trở lại Hà Nội, xin anh cho biết cuộc hành trình từ Saigon đi Hà Nội như thế nào và anh đã ghé những đâu ở Hà Nội?

Đáp : Trước hết, tôi phải nói ngay với các anh, đối với những người khác thì chuyến đi vừa qua người ta có thể nói là ra Bắc hay ra Hà Nội, nhưng đối với tôi một người từng sống ở Hà Nội nhiều năm, thì tôi gọi đó là một chuyến trở về Hà Nội. Tôi được lệnh đi vào lúc 10 giờ sáng ngày 17-2-1973, sau khi sửa soạn cũng như thông báo cho một số bạn bè thân của tôi, dù biết trước giờ khởi hành là 5 giờ sáng 18-2-1973, nhưng tôi đã vào căn cứ Tân Sơn Nhất lúc 10 giờ đêm để ngủ tại đó. Khoảng thời gian từ 10 giờ đêm đến 5 giờ sáng tôi chỉ chợp mắt được hơn một tiếng đồng hồ, còn lúc nào cũng trằn trọc nghĩ đến chuyến trở về Hà Nội của mình. Cũng nói thật với các anh đây là chuyến đi đặc biệt, bất ngờ và kỳ thú nhất trong cuộc đời của tôi. 5 giờ sáng thì các phái đoàn tới Tân Sơn Nhất, và đúng 5g30 máy bay cất cánh.

Chúng tôi trở về Hà Nội bằng chiếc C130 của không lực Hoa Kỳ, sau 3 giờ rưỡi bay thì tới phi trường Gia Lâm của Hà Nội. Đây là một chuyến đi rất sớm cho nên những người khác thì đều ngủ, nhưng tôi và hai sĩ quan Việt Nam khác thì hầu như không có phút nào chúng tôi nhắm mắt được, bởi vì, lòng lúc nào cũng bồi hồi xúc động và chỉ mong cho sớm đến Hà Nội.

Chúng tôi đến phi trường Gia Lâm lúc 9 giờ sáng. 9 giờ trong Nam tức là 8 giờ ở ngoài Bắc.

- Khi anh tới phi trường Gia Lâm, anh có thấy phi trường và nhà cửa chung quanh bị hư hại nhiều không ?

- Phi trường Gia Lâm bây giờ, sau những trận mưa bom của HK trước đây, nhà ga chính bị sập một góc cũng như phi đạo đầy những vết bom mới được sửa chữa tạm. Tôi nhìn thấy ở một góc phi trường có vài ba cái máy bay tương tự như loại DC3, tức là C47 của quân đội mình, các máy bay dân sự hầu như không có một cái nào hết. Chúng tôi ở đó khoảng một giờ đồng hồ và đến buổi chiều khi trở lại Gia Lâmdự lễ phóng thích tù binh, cũng không có một máy bay nào khác hơn mấy cái máy bay của Hoa Kỳ, trong đó có một chiếc C141 đón tù binh.

- Từ Gia Lâm anh về Hà Nội bằng xe gì ?

- Chúng tôi di chuyển bằng loại xe bus nhỏ, tương tự như xe Air Việt Nam để chở các phi công và nữ tiếp viên của mình ở Saigon.

- Tôi xin lỗi được cắt ngang câu trả lời của anh để hỏi thêm anh về hình ảnh của thị trấn Gia Lâm tức khu vực mà anh từ phi trường Gia Lâm qua đó lên cầu Long Biên về Hà Nội đó ?

- Thị trấn Gia Lâm hiện bị ảnh hưởng rất nặng sau các vụ không tập phi trường Gia Lâm trước kia, khu vực này hoang tàn sụp đổ. Những thửa ruộng hai bên đường từ thị trấn Gia Lâm về tới Sông Hồng đầy những hố bom, các cơ sở quân sự, theo tôi biết, đã bị tàn phá rất nặng.

- Ở ngay cuối thị trấn Gia Lâm tức là cái dốc nối liền cầu Long Biên, ngày xưa có một nhà máy rượu, thời kỳ người Pháp ở Việt Nam, họ dùng đó làm trụ sở phòng Nhì. Bây giờ nhà máy rượu đó họ làm rượu trở lại hay vẫn là cơ quan Quân Sự và có bị oanh lạc không ?

- Thưa anh, tôi không có nhận rõ, nhưng các sĩ quan Bắc Việt chỉ cho tôi một số cơ sở, họ nói cơ sở dệt, có thể họ nói khác đi chăng (?). Nhưng hầu hết các cơ sở quân sự ở khu vực này đều bị hủy diệt.

- Thưa anh, họ đưa phái đoàn quân sự của mình về Hà Nội thì họ đưa tới đâu ?

- Tôi kể tiếp chặng đường từ Gia Lâm về Hà Nội. Chúng tôi di chuyển bằng loại xe buýt nhỏ, khi tới sông Hồng thì cầu Long Biên ngày xưa của mình đã bị máy bay dội bom sập mất ba, bốn nhịp rồi. Bây giờ có một vài đoạn đã được sửa chữa, tôi thấy những đoạn rất dài vẫn chưa sửa xong. Thành thử ngang sông Hồng Hà _ các anh nhớ sông Hồng rất rộng, bề ngang tới non hai cây số_ họ làm hai cái cầu nổi, cũng như cầu dã chiến của công binh QLVNCH làm để vượt sông trong các cuộc hành quân, một cái đi về Hà Nội và một cái ngược lại. Ngày xưa mỗi lần đi từ Gia Lâm về Hà Nội, chúng mình di chuyển mất mười phút xe chạy, bây giờ thì mất khoảng độ nửa giờ; và con đường từ ở bên kia sông vào thành phố cho đến khi tôi nhìn thấy nhà Bác Cổ, đây là một con đường rất nhỏ, bụi mù và bẩn thỉu.

- Như vậy, họ đưa các anh về nơi trú ngụ bằng đường bờ Sông chứ không phải dốc hàng Đậu ?

- Không phải chúng tôi ra Hà Nội để được đi chơi hay được cư ngụ tại đâu hết. Đây là một chuyến công tác hẳn hoi và chúng tôi chỉ đến địa điểm chính tại Hà Nội tức là Gia Lâm (nơi trao trả tù binh Mỹ) và Hỏa Lò mà chính quyền Hà Nội đặt là khách sạn Hilton của Mỹ để nhốt tù binh tại Hà Nội. Chỉ có 2 địa điểm thôi, nhưng vì tôi, như các anh đều biết, chúng mình ở Hà Nội quá lâu thành thử những con đường, những danh lam thắng cảnh của Hà Nội mình đều nhớ tất cả. Cho nên tôi cũng lợi dụng lúc di chuyển từ Gia Lâm về Hỏa Lò quan sát để biết rõ Hà Nội ngày nay.

- Thế anh đi bằng con đường đó, cây cột Đồng Hồ ở đường bờ sông có còn không ?

- Chỗ đó tôi không được đi qua. Tôi có thể nói ngay với các anh là trung tâm thành phố Hà Nội, ngoài tòa tổng lãnh sự Pháp ở đường Trần Hưng Đạo (Gambetta cũ) là bị sập, còn những đường phố chính mà trước kia mình biết rất sang trọng như đường Trần Hưng Đạo, Lý Thường Kiệt, Gia Long, Tràng Tiền, chung quanh hồ Hoàn Kiếm v.v… thì còn nguyên vẹn. Nhưng rất tiếc tôi không hiểu tại sao, thủ đô Hà Nội sau 19 năm dưới chế độ Cộng Sản, bây giờ tiêu điều và xơ xác quá. Không có một kiến trúc nào đặc biệt tại Hà Nội so với trước năm 1954. Tôi tưởng Hà Nội tiêu điều nhưng không ngờ đến quá sức tưởng tượng như tôi nghĩ. Khu trung tâm thành phố như Gia Long, Lý Thường Kiệt, Tràng Tiền … nhà cửa trông rất là cũ kỹ, không có sửa sang quét vôi gì hết. Tôi có cảm tưởng như đã 10, 15 năm nay không được quét vôi lại. Những con đường đó đi đường nhìn thấy dân chúng phơi quần áo, tôi xin lỗi được tả chân, phơi cả những cái quần đen, những áo màu cháo lòng trên cửa sổ thì còn gì là phố xá, nhà cửa của Hà Nội ?

- Anh có đi ngang qua căn nhà mà anh ở khi xưa không ?

- Tôi có được đi ngang qua căn nhà trước khi di cư vào Nam tôi trọ học, tôi xúc động lắm, muốn khóc được. Còn y hệt nhưng tiêu điều xơ xác hơn nhiều.

- Nói như vậy Hà Nội của ba mươi sáu phố phường thuở xưa bây giờ không còn nữa ?

- Hà Nội thuở xưa bây giờ không còn nữa, so sánh Hà Nội trước năm 1954 với bây giờ, nghĩa là sau 19 năm, sinh hoạt của Hà Nội, quang cảnh của Hà Nội – dù là khu trung tâm thành phố – không bị phá hủy bằng bom đạn, nhưng hiện nay trông tiêu điều và so với trước tôi nghĩ chỉ bằng 2 phần 10. Các anh tưởng tượng một ngày ở Hà Nội, khoảng năm, sáu giờ đồng hồ đi ngoài phố, tôi chỉ đếm được mười hai, mười ba cái xe du lịch loại nhỏ, và theo các sĩ quan Bắc Việt, thì hầu hết là xe của chính quyền Hà Nội. Và tôi cũng không nhìn thấy một thiếu nữ nào mặc áo dài, thiếu nữ duy nhất của miền Bắc mặc áo dài mà tôi nhìn thấy trong ngày công tác ở Hà Nội là cô nữ ký giả gặp ở Gia Lâm. Còn tất cả là quần đen, áo cánh vải thô màu xám, hoặc màu trắng cháo lòng. Cũng như phương tiện di chuyển “văn minh” của Hà Nội bây giờ là những chiếc xe đạp cũ kỹ.

- Những tàu điện thuở xưa có còn hay không ?

- Có, khi đi ngang hồ Hoàn Kiếm tôi chụp được hình 2 cái tàu điện. Đây, các anh có thể nhìn quang cảnh tàu điện. Trời lạnh các anh biết đầu năm miền Bắc của mình “rét tháng ba bà già còn chết rét”, thế mà ngày đầu năm có người đi chân không, mặc áo mỏng manh.

- Cái hình anh chụp đây ở đường Bờ Hồ còn thấy rõ cả nhà Bưu Điện và hình như còn xích lô đạp nữa, chếch sang đây là nhà Godard này, như thế vẫn còn cả, anh chụp bức hình này vào lúc nào mà hình như tôi thấy ở trên hồ Hoàn Kiếm có sương mù nữa.

- Thưa anh, tôi được đi qua hồ Hoàn Kiếm, có lẽ nhờ sự khéo léo của chúng tôi và sự may mắn của 3 sĩ quan QLVNCH sinh trưởng tại miền Bắc muốn được thấy lại hồ Hoàn Kiếm thân yêu của mình ngày xưa. Cho nên khi ăn bữa trưa chung với các phái đoàn, tôi có gạ với một ông trung tá của BV, tôi nói nịnh ông ta : “Trung tá đáng lẽ phải là một nhà ngoại giao mới đúng”. Tại vì ông ta nói rất nhiều, từ lúc chúng tôi rời Saigon cho đến khi tới Gia Lâm, rồi Hỏa Lò trong các phái đoàn chỉ có một mình ông ấy nói nhiều nhất mà thôi. Tôi nói : “Trung tá là một sĩ quan cao cấp của BV không đúng, trung tá phải là một nhà ngoại giao và một nhà ngoại giao rất giỏi mới phải”. Vì thế, mà ông ta ra lệnh cho xe đi một vòng Hồ Gươm. Xe chạy với một tốc độ rất mau nhưng nhờ ngồi sát cửa sổ, mấy bức hình tôi chụp được thấy rõ cả Tháp Rùa, đền Ngọc Sơn, cầu Thê Húc. Và khi thấy tàu điện ở đầu hồ mừng quá, tôi bấm hình liền, anh thấy mấy tấm hình bị hư đó.

- Đó là xe điện chạy từ phía chợ Hôm lên không phải hàng Đào xuống ?

- Vâng đúng như vậy, nhìn hình ảnh hai chiếc xe điện và đồng bào miền Bắc bây giờ các anh thấy có đau xót không. Giữa trung tâm thủ đô Hà Nội, đồng bào toàn quần đen, áo xám chân đất, mong manh, đội nón đi xe đạp. Hà Nội không bao giờ kẹt đường hết, tại vì xe đạp bây giờ vẫn như hồi trước bọn mình đi học; trước mình đi hàng ba, bây giờ họ đi hàng bốn, hàng năm, vì đường xá đâu có xe cộ gì. Chẳng hạn như khi chúng tôi đi qua khách sạn Métropole hồi trước, bây giờ họ gọi là khách sạn Hòa Bình, những con đường rất lớn, như đường Lý Thường Kiệt, đường Ngô Quyền, bây giờ trống trơn, như các anh nhìn mấy bức hình, tôi có chụp bức hình tôi đứng ở giữa ngã tư hai đường đó.

- Đúng như bức hình này, đây là kế cận với khách sạn Phú Gia nếu tôi không lầm, Pharmacie Vũ Đỗ Long, Vũ Đỗ Thìn ngày xưa đó, tức là trước nhà của nhiếp ảnh gia Nguyễn Cao Đàm, bây giờ anh đi ngang đó anh có thấy cái cầu Thê Húc thay đổi ? Đền Ngọc Sơn vẫn như thế, cái cầu có còn sơn màu đỏ không ?

- Nó không có màu gì cả, nó xám theo với thời gian, cũ kỹ … và không là màu gì hết. Tôi đã quan sát kỹ lưỡng cầu Thê Húc, đền Ngọc Sơn nhưng cái nổi bật nhất ở hồ Hoàn Kiếm bây giờ, nói ra thì các anh buồn, nhưng sự thật cái nổi bật nhất ở hồ Hoàn Kiếm bây giờ không phải là Tháp Rùa, mà là cái khẩu hiệu tuyên truyền của nhà nước Cộng Sản, họ làm một cái bảng rất lớn sơn màu đỏ chót viết khẩu hiệu tuyên truyền. Và tại đền Ngọc Sơn cũng thật vắng vẻ, hôm chúng tôi ra là 16 tháng giêng mà không thấy các bà mẹ, các cô gái đi lễ đầu năm như trước kia.

- Thưa anh có lẽ anh chú ý về phía mặt hồ quá, phía tay trái phía rạp xi nê Philarmonique có còn không ?

- Còn nguyên, tôi đã nói với các anh cả khu trung tâm thành phố Hà Nội trừ tòa tổng lãnh sự Pháp, và theo các sĩ quan Bắc Việt, phía sau chợ Hôm, khu Khâm Thiên, các phi trường Bạch Mai, Gia Lâm bị bom mà thôi. Hà Nội vẫn còn đây nhưng buồn nản, Hồ Gươm với những ghế đá từ mấy chục năm về trước nhưng không có một ai ngồi cả.

Trước khi tôi tới Hà Nội, tôi chờ đợi và bị xúc động đến cùng cực khi biết được Hà Nội của mình tiêu điều. Tất nhiên tình cảm của mình để trong lòng, mình thấy đau đớn, cái đau đớn riêng tư của những người đã xa Hà Nội 19, 20 năm, trở về mà thấy thành phố yêu dấu ngày xưa bây giờ tiêu điều xơ xác, rách nát như vậy. Khi trả lời các cán bộ Cộng Sản khi họ đề cao Hà Nội, họ nói : “Một ngày về Hà Nội của các anh, một ngày về Hà Nội huy hoàng. Đây công viên Thống Nhất đẹp như thế này, hy vọng lần sau vợ anh sẽ được ra, anh sẽ dắt vợ con anh trong những buổi sáng chủ nhật hay là những ngày nghỉ ra đây để tâm sự hàn huyên …” Tôi thấy đó là cả một sự tuyên truyền rỗng tuếch không thể nghe được, tất cả Hà Nội bây giờ nói ra càng thêm đau lòng, vì ngay cả cái công viên Thống Nhất trong một sáng chủ nhật đầu năm cũng vắng hoe rất ít người tới.

- Anh đi qua đường phố có cón thấy các cô gái má hồng nữa không ?

- Hết rồi, các anh ạ. Hồi trước không biết các anh học ở trường nào. Tôi học ở trường Chu Văn An, có những buổi “bát” một vài giờ để đi đón các cô nữ sinh Trưng Vương. Bây giờ ngay cả các nữ sinh của hai trường nổi tiếng nhất của Hà Nội ngày trước là trường trung học Trưng Vương, Tây Sơn, theo các sĩ quan Bắc Việt cho biết, Trưng Vương không còn đồng phục áo dài màu lam, và các cô Tây Sơn cũng không còn thướt tha áo dài trắng nữa. Tất cả quần đen, áo cánh.

Trước kia, khi chưa được trở lại Hà Nội tôi tưởng phụ nữ miền Bắc ăn mặc như phụ nữ Trung Cộng đều mặc áo cổ cao hoặc áo ngắn đồng màu. Tôi nghĩ như vậy coi còn gọn ghẽ trông được, ai ngờ bây giờ học mặc quần đen áo cánh màu cháo lòng, hoặc màu xám nhạt vải Nam Định.

- Theo như hình ảnh công viên này thì trước năm 1954 không có, hoặc một công viên khác được sửa đổi đi phải không ?

- Đúng, công viên này là công viên được kiến tạo sau này, với một phần của hồ Bẩy Mẫu, nhưng các anh thấy vắng hoe không có ai hết, chỉ có số cán bộ của họ.

- Trong dịp anh đi ra ngoài đó anh có dịp tiếp xúc với người dân nào hay không ?

- Tôi lạc vào rừng cán bộ của họ từ Gia Lâm cũng như ở Hỏa Lò, lúc nào tôi cũng bị họ vây lấy.

Họ hỏi và đặc biệt nhất là ai cũng hỏi tôi những câu hỏi giống nhau hệt như đã học thuộc lòng trước. Tôi cảnh giác tránh được những chuyện họ gài bẫy tuyên truyền. Cũng như các anh em phóng viên ở Saigon mỗi người có một cái cassette; nhưng họ thì không thẳng thắn như mấy anh em phóng viên đài Saigon đâu. Máy thu bande họ dấu trong áo lạnh, trong áo mưa mặc ngoài. Micrô họ đút túi khi nào bất thình lình mở ra, để thâu lén. Nhưng khi tôi trả lời họ thì với tư cách một người ở Hà Nội, sống ở Hà Nội rất lâu, tôi trả lời họ một cách cởi mở, còn chuyện họ gài tôi để tuyên truyền, để mua chuộc thì tôi đã có chuẩn bị trước, tôi hóa giải ngay. Cũng có thể với cái nghệ thuật cắt xén, các phóng viên đài Hà Nội có thể làm được một vài điều. Chẳng hạn như câu tôi nói : “tôi cũng như nhiều người khác mơ ước được thấy lại Hà Nội, nhưng trở lại đây, thấy thành phố tiêu điều tôi lẻ loi cô độc, và thương Hà Nội ngày xưa của tôi nhiều quá”. Tôi nói với một phóng viên của đài Hà Nội như vậy và tôi hy vọng họ không cắt câu này ra làm hai.

Tôi cũng đã nhiều lần bảo họ đừng tuyên truyền tôi vô ích. Tôi ở trong quân đội 17, 18 năm rồi, tôi biết họ là cán bộ chìm, là những phóng viên của đài Hà Nội, đấy là một bộ máy tuyên truyền rất là ngược ngạo (tôi nói nguyên văn với họ như vậy); trong những cuộc hành quân ở Hạ Lào, hồi đánh nhau lớn ngoài Quảng Trị tôi thỉnh thoảng có vặn đài Hà Nội nghe, để thấy sự thật họ tuyên truyền như thế nào ? Nghe riết rồi chúng tôi muốn đập bể cái máy thu thanh ra.

Các anh nghĩ xem họ tuyên truyền tôi như thế nào ? Họ nói nguyên văn thế này : “Anh có biết sở thú đất nước chúng ta bây giờ có thêm một con thú mới chưa ?”. Tôi chưa hiểu họ định nói gì nhưng vẫn bảo “các anh cứ nói đi”. Họ tiếp : “Đó là xác một chiếc B52 bị bắn rớt ở Hà Nội”. Ai chẳng biết có B52 bị bắn rơi ở Hà Nội, không phải một cái mà là mười mấy cái, nhưng các anh thử tưởng tượng họ nói phi lý như thế này : “B52 đối với dân Hà Nội chẳng ăn thua gì, có khi B­52 thả cách nhà tôi 50 thước, và cả nửa giờ liền mà tôi không sao hết”. Tôi buồn cười quá và trả lời : “Thôi các anh im đi, mình nói chuyện khác, đừng nói chuyện B52 hay là nói chuyện để tuyên truyền. Tôi ở trong quân đội 17, 18 năm, ít nhất cũng biết tầm ảnh hưởng của bom B52 cả 1, 2 cây số. Tôi đã gặp các sĩ quan tù binh Bắc Việt ở An Lộc, Tây Nguyên, Hạ Lào, Quảng Trị tôi biết họ sợ B52 ­như thế nào rồi, ở xa cả cây số còn muốn ói máu nữa huống là … “

- Đó là những câu chuyện mà anh tiếp xúc với các cán bộ của họ, trong dịp ở Hà Nội anh có dịp tiếp xúc với một người dân nào hay không ?

- Đây cũng có thể nói là chuyện đau buồn nhất của tôi. Ngoài những câu chuyện với cán bộ Cộng Sản hay là cách đối chọi của tôi với những lối tuyên truyền trắng trợn của họ, thú thực với anh khi đi ngang qua các đường phố, gặp đồng bào miền Bắc của mình, tôi rất vui mừng và biểu lộ sự vui mừng để có một sự thông cảm với họ. Nhưng tất cả những người dân Hà Nội đều cúi gầm mặt xuống khi đoàn xe của chúng tôi đi ngang, mặc dù đoàn xe của chuúng tôi là một đoàn xe rất đặc biệt nhất là trong một ngày chủ nhật ở Hà Nội. Trên lộ trình đi tới Hỏa Lò, có một số trẻ em và các thiếu nữ lam lũ, nếu tôi nói đó là các thiếu nữ đáng yêu nhất của Hà Nội thì sợ các anh buồn, thì họ cũng reo hò, la hét khi thấy đoàn xe đi ngang. Tôi có đủ thông minh để hiểu chuyện này, tôi cũng muốn chờ đợi phản ứng của dân chúng, một nửa hình như họ muốn biểu lộ sự vui mừng khi thấy những người khách lạ tới Hà Nội, một nửa hầu như đã được huấn luyện học tập phải làm như vậy. Họ la hét vậy thôi, tôi cũng không thấy họ có một hành động gì hết, về sau các ông “cớm” chìm của Bắc Việt giải thích rằng đó là dân chúng phẫn uất người Mỹ đã ném bom Bắc Việt nhưng họ cũng chỉ biểu lộ bằng thái độ ôn hòa.

Họ luôn luôn cố gài về vụ đồng bào ta biểu tình chống họ ở Ban Mê Thuột, Huế, v.v… Tôi đã trả lời là chính phủ Việt Nam Cộng Hòa rất tiếc các vụ đó xảy ra và đã làm mọi cách để ngăn cản các vụ tương tự. Tôi cũng cho họ biết vụ Ban Mê Thuột do các đồng bào di cư chủ xướng, đó là những người từng phải bỏ cả sản nghiệp vào Nam năm 1954 và rồi khi vừa gầy dựng được một chút của cải; nhà cửa, làng mạc của họ lại bị chính các đồng chí của các anh thiêu hủy và tàn phá mặc dầu lệnh ngưng bắn lúc đó đã có hiệu lực.

- Như vậy, rốt cuộc trong chuyến đi đó anh không được nghe một lời nói nào không có tính cách chính trị ?

- Trong một ngày của tôi ở Hà Nội, không được nghe một lời nói chân thật nào của người dân ở đó, nhưng tôi hiểu được một lời nói, được diễn tả bằng một nụ cười của người thiếu nữ chừng 17, 18 tuổi. Trong bữa ăn trưa tôi được gặp cô đó, gọi là nữ phục dịch hay nữ phục vụ gì đó, khi nghe ông sĩ quan Bắc Việt gọi tên và cấp bậc tôi, vô tình tôi ngửng đầu lên thì tôi thấy cô ấy mỉm cười với tôi bằng một nụ cười chân thật

- Anh có nói anh có gặp một nữ ký giả, người mặc áo dài duy nhất ở Hà Nội khi đến phi trường Gia Lâm, cô ấy nói chuyện gì với anh không ?

- Người nữ ký giả áo dài thì không, nhưng một nữ ký giả khác tôi gặp ở Hỏa Lò, cô này mặc áo cánh, và đã nói chuyện với tôi ở Hỏa Lò. Buổi chiều ở phi trường Gia Lâm, cô ta lại hỏi tôi : “trước anh học ở đâu ?”, nghĩa là những câu hỏi y hệt những người khác đã hỏi tôi, cô ta cho biết là làm ở đài phát thanh Hà Nội. Tôi đã trả lời tôi học Chu Văn An. Cô ta hỏi tiếp : “Anh có còn nhớ các thầy cũ ở đây không ?” Tôi đã trả lời : “May quá, thầy của tôi hồi đó là cụ Vũ Ngô Sán, hiệu trưởng trường Chu Văn An, sau khi di cư thầy tôi cũng lại vẫn làm hiệu trưởng trường Chu Văn An ở Saigon; các thầy khác như thầy Bùi Đình Tấn, Hùng Lân, Lê Trung Nhiên … thì cũng đều ở Saigon hết, tôi đâu còn thầy nào ở Hà Nội.” Tôi nói như thế không biết cô ta có buồn tôi không, nhưng tôi thấy mắt cô ấy quắc lên nhìn. Cô ta còn hỏi tôi là đồng bào ta ở trong Nam nghe đài Hà Nội có rõ không ? Tôi trả lời là “các sĩ quan cao cấp như chúng tôi, đôi khi đi trận cũng mở đài Hà Nội để xem các anh chị, ngoài này tuyên truyền như thế nào, nhưng riết rồi thấy các anh các chị toàn nói sai sự thật, thành thử tụi tôi còn ít khi mở huống chi đồng bào, sức mấy mà đồng bào thèm mở. Trong Nam đồng bào nghe đài quốc gia, đài quân đội, hay đồng bào coi truyền hình, mà đồng bào thích tân nhạc, thích cải lương chứ đồng bào không thích tuyên truyền.”

- Anh nói tiếng “sức mấy” thành thử tôi thắc mắc về ngôn ngữ của họ ngoài đó, họ có khác chúng ta không ?

- Ngôn ngữ của họ cũng không có gì khác nhưng có một số từ ngữ họ sửa đổi, chẳng hạn như thăm viếng thì họ gọi là đi tham quan, khai triển vấn đề thì họ gọi là triển khai, đồng ý thì gọi là nhất trí hoặc là, xin lỗi các anh nghe không được …”đồng tình”.

- Nãy giờ anh nói nhiều về quang cảnh trong thành phố, về những nới mà anh đi qua, anh chưa nói đến Hỏa Lò nơi giam tù binh ?

- Đúng ra thì tôi không được phép nói vấn đề này với các anh, nhưng với tư cách người về từ Hà Nội, biết gì nói cái đó, mạn đàm với các anh cũng không có tính cách chính trị hay tuyên truyền gì hết, tôi cũng không đề cao một bên nào thành thử tôi cũng có thể kể chuyện Hỏa Lò cho các anh nghe. Khi chúng tôi vượt qua nhữn “ông” lính Bắc Việt “lỏi tì” chừng 15, 16 tuổi gác cổng. Cửa Hỏa Lò mở ra và gặp một ông “cai ngục”, đúng ra phải gọi là ông đại úy chỉ huy trưởng Hòa Lò. Mặt rất là dữ, ông ta toàn gọi các anh em tù binh Mỹ bằng “chúng nó”, “những thằng tù” hay “những tên tù” chứ không khi nào gọi là tù binh. Ngoài đó họ gọi Hỏa Lò là “khách sạn Hilton” (Hilton là tên hệ thống khách sạn sang trọng nhất của nước Mỹ, tiền phòng mỗi ngày hạng chót 30 đô la)

(Vào lúc này thiếu úy Dương Phục mở cửa bước vào và được mọi người tiếp đón ân cần. Thiếu tá Phạm Huấn ngừng lại vài giây chờ đợi.)

Thiếu tá Phạm Huấn nói tiếp : “có nhiều chuyện bịp lố bịch ở Hỏa Lò, chẳng hạn như sau khi các phái đoàn tới, đại diện Bắc Việt cho biết là 20 tù binh Mỹ được phóng thích hôm nay không chịu về vì lý do họ không muốn phòng thích trước các đồng đội của họ đã bị giam lâu ngày hơn”. Các sĩ quan Mỹ trong ban liên hợp quân sự rất lo lắng, nhưng tôi và thiếu tá Chất nghi ngờ lại có một chút tiểu xảo gì đây, nhưng tôi tin chắc là vào giai đoạn này Bắc Việt không còn dám lật lọng với Mỹ. Cuộc thương thuyết diễn ra trong 1 tiếng 15 phút, và rồi thì 20 tù binh Mỹ đã được thuyết phục.

Tù binh ở Hỏa Lò bị mang ra trình diễn theo lệnh của các sĩ quan Bắc Việt, họ cứ làm như không có sửa soạn gì trước; khi phái đoàn vào thấy cảnh một số tù binh đang tắm truồng, một người cạo râu, một vài người khác đang được lính Bắc Việt hớt tóc. Đây là những cảnh họ trình diễn ai cũng hiểu như vậy cả. Khi phái đoàn vào, viên trung tá Bắc Việt hướng dẫn làm bộ la ông đại úy : “hôm nay phái đoàn đến tại sao không cho chúng nó sửa soạn gì cả?”. Nói như thế rồi ông ta lại tự trả lời ngay : “ừ mà thôi cứ kệ chúng nó, để chúng nó tự nhiên”.

Tù binh Mỹ có một cái gì lo sợ ghê gớm, chắc là sự hành hạ tinh thần và thể xác mà nhà cầm quyền Bắc Việt đã dày vò họ trong những năm tháng địa ngục ở Hà Nội. Qua mắt cáo lưới sắt, khi tôi vào và chào các tù binh, trong một thoáng rất nhanh, tất cả anh em tù binh mắt như có ngấn lệ. Nhưng rồi họ lại cúi gầm xuống ngay. Một sĩ quan trong ủy ban quốc tế có hỏi một sĩ quan tù binh là anh ta được đưa về “Hilton Hà Nội” này từ bao lâu ? Trả lời 2 ngày. Viên cai ngục trừng mắt nhìn người tù binh. Sĩ quan ủy ban quốc tế yêu cầu lặp lại câu trả lời nhưng người tù binh Mỹ không dám lặp lại. Khi trở ra, đi ngang chỗ mấy người tù binh đang tắm khỏa thân gần một hồ nước, tôi đã nghiêm trang nói với họ : “Các anh là những anh hùng của nước Mỹ, các anh đã hy sinh cho sự đứng vững của VNCH và cả thế giới tự do nữa”. Người tù binh Mỹ đang xát xà bông đã đứng nghiêm chào tôi theo quân cách, những giây phút này muôn vàn xúc động.

- Tôi muốn đặt câu hỏi này với anh Dương Phục, anh đi qua những đường phố của Hà Nội anh có thấy một sạp báo nào ở đó không và anh có thấy báo chí được bày bán không ?

- Tôi xin nói ngay là tôi không thấy một sạp báo nào hết trên tất cả những con đường mà tôi đi qua. Về vấn đề báo chí thì qua các cuộc tiếp xúc với những phóng viên nhà nước ở Hà Nội, tôi được biết ngoài đó chỉ có một vài tờ báo chính thức của nhà nước mà thôi.

- Khi anh tiếp xúc với họ anh có đề cập tới những người làm văn học nghệ thuật ở ngoài Bắc không. Những người thuộc lớp cũ như Hoàng Giác, Đoàn Chuẩn, Ngọc Giao … các ca sĩ lớp trước ở đài Hà Nội như Ngọc Bảo, Minh Đỗ, Thanh Hiếu, Thanh Hằng còn không ?

- Chính họ đã hỏi tôi rất nhiều, vì họ cũng biết tôi là phóng viên và đi theo phái đoàn với tư cách sĩ quan báo chí. Tôi đã được nói chuyện với một phóng viên của đài phát thanh Hà Nội, chúng tôi đã nhận ra nhau sau một hồi nói chuyện và biết rằng cùng một nghề. Chúng tôi đã bàn chuyện báo chí, văn học nghệ thuật. Họ có nói rằng họ theo dõi chương trình phát thanh của chúng tôi rất là xít xao, họ biết rõ cả những chương trình nào hay dở, ăn khách … tên ca sĩ và tên các chương trình nổi tiếng của mình. Họ cũng biết tên tuổi một số các nhà văn, nhà báo đang nổi tiếng ở trong Nam, họ cũng hỏi đến một số các nhà văn cũ, những nghệ sĩ cũ như anh Phạm Duy, Chu Tử, Thanh Nam, Mai Thảo, cô Thái Thanh … về tình trạng của những người đó bây giờ ra sao.

Tôi định hỏi họ rất nhiều nhưng họ không để tôi kịp hỏi, đến một chục ông phóng viên của đài Hà Nội đi theo phái đoàn đã vây kín tôi để “truy” liên miên. Họ phỏng vấn tôi đến không kịp trả lời và họ khai thác toàn là vấn đề chính trị. Họ đã thâu băng một cách không đứng đắn, nghĩa là tôi không đồng ý. Nhưng họ đã thu lén, trời lạnh họ dấu máy trong áo mưa, micro dấu dưới áo hay trong túi, cùng nghề tôi nhận ra ngay và tôi bảo họ không nên làm như vậy.

Mới đầu họ rất hòa nhã, hỏi chuyện tôi về vấn đề thân thế, gia đình vợ con, nghe giọng Bắc thì họ hỏi chắc là cũng di cư. Họ hỏi và họ ghi chép đàng hoàng. Mới đầu gặp một người tôi tưởng họ hòa nhã hỏi thăm, nhưng về sau cả chục người khác lại cũng chỉ hỏi tôi những câu hỏi giống nhau từng chữ một. Không thể có sự trùng hợp như thế, nghĩa là họ đã có học tập và sắp xếp.

- Anh là người trẻ nhất trong phái đoàn trở lại Hà Nội, vậy anh có thể cho biết cảm tưởng của anh khi nhìn lại thành phố Hà Nội ?

- Tôi rời xa đất Bắc khi còn quá nhỏ (10 tuổi) cho nên tôi không có nhiều kỷ niệm ở Hà Nội hoặc những kỷ niệm rất là mù mờ tôi không có dịp so sánh chính xác Hà Nội xưa và nay. Nhưng chúng tôi cũng được đọc, được nghe các đàn anh nói về Hà Nội, vì thế khi mà trở về Hà Nội cũng có một nỗi xúc động rất lớn lao; chúng tôi được nghe, được tả một Hà Nội rất óng ả và thơ mộng, thế nhưng mà chúng tôi không nhìn thấy những hình ảnh như vậy, tôi cố ý nhìn mà không thấy một cô gái nào mặc áo dài đi trên đường phố, toàn là quần áo cán bộ hoặc là quần áo cánh.

- Các anh phóng viên đài Hà Nội mà anh tiếp xúc, họ ở lớp tuổi nào ?

- Họ phần đông lớn tuổi, có một anh tôi biết tên là Bội, mới đầu tôi hỏi tên anh ấy không nói, anh hỏi tên tôi, lẽ dĩ nhiên tôi chả có việc gì phải dấu, anh ghi chép tên tuổi tôi đoàng hoàng lắm, chỉ thiếu … số quân thôi. Tôi hỏi tên anh ấy mấy lần anh không nói, tôi bảo nếu anh thấy có gì trở ngại thì tôi cũng không tha thiết để biết quý danh. Về sau tôi biết anh ấy là Bội, tôi nhận ra giọng anh ta, là một chuyên viên trực tiếp truyền thanh như anh Nguyễn Mạnh Tiến của đài Saigon vậy. Tôi đã từng nghe anh ta trực tiếp ttruyền thanh đá banh, cũng như tôi đã từng nghe một phóng sự của anh ấy tường thuật trận đánh Quảng Trị. Anh ta nói nhanh lắm.

Anh đó là cứ đi theo tôi đều đều, anh ta nói cùng nghề mình sẽ gặp nhau trong một dịp khác, anh ta hỏi đủ thứ chuyện và luôn gài vấn đề chính trị vào. Tôi có nói : “chúng ta chỉ gặp nhau trong chốc lát mà thôi, tối nay tôi về Saigon, anh vẫn còn ở Hà Nội, chỉ nên nói những chuyện mưa gió, trời Hà Nội lạnh, nắng Saigon đẹp vậy thôi.”

- Ở ngoài đó họ có đài truyền hình không ?

- Có, họ có đài truyền hình và có gửi người tới làm việc, đó là theo như lời họ nói, nhưng vì họ gửi nhiều người quá tới vây chúng tôi nên cũng có người hớ nói ra cho chúng tôi biết. Chúng tôi có hỏi họ đài truyền hình lập lâu chưa, có bao nhiêu máy của dân chúng. Họ nói mới thành lập và có hằng mấy vạn máy thu hình. Chúng tôi cười mới lập mà sao có nhiều máy thế. Nhưng rồi lại có ông cho biết đài phát hình một ngày có một tiếng đồng hồ và còn trong thời gian trắc nghiệm. Để biết rõ những điều đó chúng tôi quan sát trong thành phố thì chẳng thấy một cái ăng ten nào trên các nóc nhà dân chúng, nếu có máy là phải có ăng ten. Chúng tôi hỏi họ về tiết mục trong chương trình truyền hình thì họ ầm ừ không ai biết, chúng tôi hỏi máy truyền hình của dân chúng hiệu gì, Nhật Bản hay Nga Sô, họ cũng không trả lời được.

Học đã có những thái độ lấp liếm rất buồn cười, chẳng hạn như khi tôi tường thuật vào máy ghi âm quang cảnh thành phố, tôi nói chẳng thấy một bóng áo dài nào trên đường phố, toàn là quần đen áo cánh, thì ngay lúc đó một ông sĩ quan nói chõ vào micro của tôi là ở ngoài này mặc áo cánh cho dễ làm việc, mặc áo cánh nhung không có áo rách. Thật là khôi hài.

- Các anh có thấy các cửa hàng buôn bán, các hàng rong đặc biệt như Sấu Dầm, Phá Sa Lạc Rang của Hà Nội thuở xưa không ?

- Chúng tôi có đi xe phớt ngang cửa hàng bách hóa Hà Nội nhưng không vào, các cửa hàng buôn bán thì hầu như không thấy hay là rất ít, tôi có thấy một vài hàng quán nhưng chỉ kiểu các quán cóc đầu đường của mình ở Saigon. Hàng rong như ngày xưa thì tôi không thấy. Tôi có thấy một vài quán cóc trên đường Lý Thường Kiệt, gần trường Nguyễn Trãi, nhà thủy tạ vẫn còn nguyên.

- Hồi nãy anh Phạm Huấn có nói về chuyến đi thăm anh em tù binh Mỹ ở Hỏa Lò tôi thắc mắc là ở đó có anh em quân đội mình bị bắt giữ hay không ?

- Tôi không thấy bóng dáng một chiến hữu nào của ta bị họ giam giữ ở đó cả.

- Trong ngày trở lại Hà Nội, anh cho biết về thành phố Hà Nội như thế cũng quá đủ, khi anh lên phi cơ nhìn lại thành phố Hà Nội lần cuối cùng anh nghĩ gì. Đây cũng là câu hỏi chót của chúng tôi.

- Đây là một câu hỏi cũng có ý nghĩa tương tự như các cán bộ CSBV hỏi tôi. Tôi cũng thành thực trả lời với họ rằng tôi chờ đợi sự trở về Hà Nội từ mười mấy năm nay. Khi tôi biết được sẽ đi Hà Nội tôi đã trằn trọc suốt đêm không ngủ, cũng như suốt ba tiếng rưỡi đồng hồ trời gần sáng trên máy bay, tôi vẫn từng phút từng phút mong đợi được đến Hà Nội để thấy lại thủ đô yêu dấu khi trước của mình. Nơi tôi đã lớn lên và sống những chuỗi ngày tươi đẹp nhất hồi 17, 18 tuổi. Khi thấy phi trường Gia Lâm đổ nát, tôi vẫn an ủi đây là khu vực quân sự là những mục tiêu oanh tạc, thành thử hoang tàn đổ nát thì cũng không ngạc nhiên, và không thất vọng.

Nhưng thú thực với các anh sau 5, 6 tiếng đồng hồ di chuyển trong thành phố, nhất là xem những phong cảnh mà mình yêu thích ngày xưa tôi thấy đau buồn và cô đơn vô cùng. Trước khi tới Hà Nội đã nhiều lần tôi muốn khóc. Tới Hà Nội như các anh biết, nhiệm vụ và vai trò tôi đã được ấn định rõ ràng, dù có xúc động có thương nhớ Hà Nội ngày xưa của mình tôi vẫn phải che dấu tình cảm đi. Nhưng sau một ngày về Hà Nội nhìn thấy cảnh tiêu điều của thành phố xưa, nhiều lúc vào trong phòng rửa mặt, tôi đã nấc lên để cố dằn những giọt nước mắt trào ra. Tôi nghĩ rằng nếu về Hà Nội để mà nhìn thấy những cảnh tiêu điều xơ xác, những cảnh sống cùng cực của người dân bây giờ, mà tôi thưa với các anh, còn kém những người dân ở Cao Nguyên miền Nam Việt Nam như ở Phú Bổn, Kontum, tôi có nói với họ_câu này cũng để trả lời anh luôn_với nhiệm vụ một quân nhân nếu được chỉ định thì đương nhiên tôi thi hành công tác; còn nếu không, không bao giờ tôi trở về Hà Nội một mình như vậy nữa. Tôi đã trả lời thế và lời nói này đã được các phóng viên đài Hà Nội ghi âm.

“Hà Nội, cái phần thân thể đó của đất nước chúng ta, sau gần hai mươi năm chiến tranh, xa cách, tưởng chừng đã đứt rời khỏi tổ quốc.

Nhưng cuộc trở về Hà Nội của ba sĩ quan QLVNCH như một lời nhắc nhở bàng hoàng rằng Hà Nội vẫn còn, Hà Nội chỉ bị dìm ngập trong bóng tối chứ Hà Nội không mất.

***

Hà Nội còn đó, nhưng Hà Nội ra sao ?

Những hình ảnh của Hà Nội, được mang ra khỏi Hà Nội mới nhất, những bức ảnh chụp Hồ Gươm vào ngày 18 tháng 2 năm 1973 vừa qua, cho thấy rằng Hà Nội còn đó, nhưng Hà Nội đã làm chảy nước mắt tất cả những người nhìn thấy lại Hà Nội.

Hà Nội nghèo, nhưng người ta không thể tưởng tượng Hà Nội có thể nghèo đến thế !

Hà Nội già, nhưng người ta không thể tưởng tượng Hà Nội có thể già đến thế !

Người ta đã làm gì Hà Nội sau gần hai mươi năm đóng kín cửa Hà Nội, để khi chúng ta đẩy được cái cánh cửa quá khứ ra, Hà Nội chỉ còn như một cái xác không hồn như thế ?

Tất cả những lời khoa trương, dối trá cho Hà Nội, không còn che dấu được cho Hà Nội nữa. Bởi vì Hà Nội đã được nhìn tận mắt của một người yêu Hà Nội, muốn biết những sự thật về Hà Nội.

Sự thực là Hà Nội vẫn còn nguyên vẹn, nhưng từ mỗi góc phố, mỗi con đường người ta chừng đều nghe thấy, nhìn thấy, tiếng thở than ngậm ngùi, vẻ điêu linh bạc nhược của Hà Nội.

Những tiên nga Hoàng Dương nói đến trong nhạc của ông hai mươi năm trước đâu ?

Những thanh niên đẹp trai đã khiến Xuân Diệu xưa cả quyết rằng “không gì đẹp bằng đẹp trai” đâu ?

Hơn một trăm bức hình Hà Nội, được mang ra khỏi Hà Nội, không ghi được của Hà Nội một nụ cười !

Người ta nhìn thấy gì trên các khuôn mặt của những người dân đi trên đường phố Hà Nội ?

Cái điều người ta đọc được đầu tiên và cũng làm cho người ta đứt ruột đau đớn là hình như người dân Hà Nội không còn ai có cá tính nữa. Họ cùng mang trên nét mặt một vẻ lạnh lẽo, âm thầm. Không một cô gái nào có nổi một chiếc áo dài. Cũng không một thiếu nữ nào có nổi một đôi giầy. Họ đều mặt quần thâm, áo cánh, áo cánh nâu, áo cánh xám, áo cánh trắng màu cháo lòng, đi dép, thứ dép được cắt bằng lốp xe hơi cũ, quai bằng cao su và thứ dép bằng plastic màu ngà, hoặc đi chân đất. Đàn ông thì hầu hết mặc quần áo đại quân, hay đồng phục cán bộ màu xám. Riêng các thiếu nhi, các em đều phong phanh những chiếc áo vải mỏng, áo len cũ kỹ, dù ai cũng biết rằng, cái rét ở Hà Nội vào tháng giêng còn là cái rét cắt da, cắt thịt, các em phần lớn đi đất, và đất ở miền Bắc vào những ngày chưa hết tết này, phải được ví như những tảng nước đá.

Hà Nội quả thật đã kiệt quệ, đã hết màu sắc, dấu hiệu đầu tiên của những xã hội vui tươi, sung túc.

Các sĩ quan có dịp trở lại cố đô của chúng ta, nói rằng, hai mươi năm mà Hà Nội không có được một kiến trúc nào mới, ngoại trừ một cái công viên, đó là công viên Thống Nhất. Họ đã đi qua nhiều khu phố chính của Hà Nội, nhưng không hề thấy một cửa hàng nào mở cửa, không trông thấy một sạp bán sách báo nào ngoài đường.

Hai mươi sáu năm trước đây, nhạc sĩ Trần Văn Nhơn, từng đảm nhiệm chức vụ nhạc trưởng đài phát thanh Hà Nội, đã phác họa cảnh Hồ Gươm trong một nhạc phẩm của ông, bản Hà Nội 49, không ngờ đó lại cũng là bức chân dung của Hà Nội, của Hồ Gươm năm 1973 nữa :

Khắp chốn nay điêu tàn nhà xiêu đổ một cảnh nát tan

Hồ xanh nay vẫn xanh nhưng liễu xưa hồ đâu tá

Tôi đứng im lặng nhìn, nhìn tháp cũ bóng soi hồ Gươm

Tháp kia sao lạnh lùng như dấu muôn e thẹn căm hờn.

Ba người của Hà Nội ngày trước vừa trở lại Hà Nội, chẳng khác những giọt máu vừa chạy lại được về tim.

Ba giọt máu không đủ làm tươi lại trái tim khô héo, nhưng dù sao cũng đem lại một hy vọng !

Hai mươi năm với những núi xương, sông máu, những người có trách nhiệm với Hà Nội, đã không làm được cho Hà Nội lớn lên, lại làm cho Hà Nội trở thành èo uột, giống như một thành phố hấp hối như thế, đối với bất cứ một người Việt Nam đứng ở đâu đi chăng nữa vẫn là có tội.

Ôi ! “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm” câu thơ ấy của Quang Dũng đã trở thành mũi dao đâm vào chính trái tim Hà Nội !

Hết rồi Hà Nội gót son.

Hết rồi Hà Nội, chân trắng ra về lối đẹp hơn của Văn Cao.

Hết rồi Hà Nội bay đến bên em điểm tô quầng mắt. Em tôi ngập ngừng trong tấm áo nhung của Đoàn Chuẩn.

Hà Nội bây giờ là Hà Nội quần thâm áo cháo lòng, Hà Nội chân đất, chân dép nhựa, Hà Nội còng lưng đạp xe đạp.

Hà Nội đã chết !

__________________Đập cổ kính ra tìm lấy bóng ,
Xếp tàn y lại để dành hơi .
 










 

Nhà báo Phạm Huấn, sĩ quan cao cấp đầu tiên có mặt tại Hà Nội hơn 30 năm về trước

Phạm Ðiền, phóng viên đài RFA

Nhà báo Quân đội Phạm Huấn vừa từ trần tại San Jose, Bắc California, Hoa Kỳ. Nói về Phạm Huấn chúng ta còn nhớ cuốn hồi ký “Một Ngày ở Hà Nội”, ông viết về chuyến ra Hà Nội trong đợt giao trả tù binh giữa hai phía Hoa Kỳ và Bắc Việt vào năm 1973.
Vị Sĩ quan cấp tá duy nhất của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà mặc quân phục đứng giữa thủ đô Hà Nội tháng 2 năm 1973 nhân ra Bắc dự khán và tuờng trình việc trao đổi tù binh Mỹ là thiếu tá Phạm Huấn đã vĩnh viễn ra đi tại San Jose, để lại tiếc nhớ cho bạn bè, đồng đội.
Phạm Huấn “Rock Hudson”
Khi chia sẻ cảm nghĩ,cảm tình với Phạm Huấn nhà văn Hoàng Hải Thủy hiện đang sinh sống với gia đình tại Virghinia đã cho biết một số chi tiết:
“Phạm Huấn, năm 1960 lúc đó mới thiếu úy hay trung úy gì đó thôi. Hắn ta đẹp trai, đẹp trai nhất trong bọn chúng tôi đó, trắn trẻo, mà đời sống sạch sẽ. Ở trong quân đội không có tiếng tăm gì. Có một thời gọi Phạm Huấn là Rock Hudson, theo như tên của tài tử đẹp trai của Hollywood. Chỉ có một cái đau thương và buồn đó là, người ta mỗi người có một cái số, không thể nói trước được cuộc đời con người sau này sẽ ra làm sao.
Cái mà tôi muốn nói bị cái bệnh AlZeimer thì mấy năm sau yếu đuối, cái đó thật là đau thương mà chúng tôi không nói trước được, bây giờ mất rồi thì cũng chỉ than thở thế thôi cứ so tôi với Phạm Huấn thôi thì Phạm Huấn, đáng nhẽ số phải khỏe mạnh, phải hơn tôi mới phải chứ vì Phạm Huấn không có ăn chơi sa dọa. Tôi với Phạm Hậu thì bằng tuổi nhau.
Phạm Hậu, Phạm Huấn, Phạm Hùng rồi Phạm Long, Phạm Long kẹt lại, có một thời gian tù với tôi cùng trại ở số 4 Phan Đăng Lưu những năm1977-80 có 3 người trong 4 anh đó đi sang Mỹ trước là Pham Hậu, Phạm Huấn, Phạm Hùng và một cô em nữa đi qua Mỹ trước, Phạm Long bị ở tù, sau này mới đi được.
Khi Phạm Huấn còn sống thì tôi cũng có quyển đó mà tôi không thấy xúc động gì nhưng khi Phạm Huấn mất một cái, tôi mở ra tôi xem thì tơi thấy cái hình Phạm Huấn, đứng chụp, trong quân phục mà giữa lòng thành phố Hà Nội, tự nhiên tôi thấy xúc động.
Tôi lại có cái duyên mới đây tôi lại có quyển Một Ngày ở Hà Nội hồi ký năm 1973, Phạm Huấn cùng với Phan Nhật Nam và Dương Phục lá 3 sĩ quan Việt Nam đã đi trên một cái máy bay của Ủy Ban Liên Hợp 4 bên về Hà Nội chứng kiến cuộc trả tù binh đợt thứ hai ở Gia Lâm ngày hôm đó.
Khi Phạm Huấn còn sống thì tôi cũng có quyển đó mà tôi không thấy xúc động gì nhưng khi Phạm Huấn mất một cái, tôi mở ra tôi xem thì tơi thấy cái hình Phạm Huấn, đứng chụp, trong quân phục mà giữa lòng thành phố Hà Nội, tự nhiên tôi thấy xúc động.
Và tôi thấy rằng trong 30 năm chúng ta chiến đấu chống cộng sản mà tôi uớc lượng là sĩ quan của chúng ta, từ thiếu úy cho đến cấp tướng, tôi không biết rõ bao nhiêu nhưng có thể 7, 8 chục ngàn đến 100 ngàn gì đó mà chỉ có một Phạm Huấn thôi là đã mặc bộ quân phục, lúc đó Phạm Huấn Thiếu Tá.
Mặc quân phục sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà đứng chụp ảnh ở giữa lòng thành phố Hà Nội. Tôi không thấy ảnh của Phan Nhật Nam, tôi không thấy ảnh của Dương Phục, tôi chỉ thấy ảnh đó, cái ảnh đó làm tôi xúc động và tôi có viết bài về đó và sẽ viết một bài về Phạm Huấn về Hà Nội và nhìn thấy những sĩ quan tù binh Mỹ bị gaim ở Hỏa Lò và cảm nghĩ ra làm sao và tôi sẽ viết một bài.”
Cuốn hồi ký “Một Ngày Ở Hà Nội”
Cũng như nhà văn Hoàng Hải Thủy, điều gây ấn tượng mạnh cho nhà báo Đào Trường Phúc, hiện đang lo chăm sóc tuần báo Phố Nhỏ thì đó là cuốn “Một Ngày Ở Hà Nội”, một hồi ký được viết ngay vào ngày 19 tháng 2 năm 1973 sau khi một số quân nhân Việt Nam ra Bắc trong sứ mạng trao đổi tù binh Mỹ.
Cuốn sách đó được tái bản tại Mỹ năm 1984, nhà thơ Đào Trường Phúc đọc lại và cho biết vẫn còn giữ được ấn tượng đặc biệt khi ông đọc ban đầu bởi vì theo ông “ Một ngày ở Hà Nội” viết bởi một ký giả chiến trường kỳ cựu, không hề nói đến súng đạn chết chóc mà vẫn còn đầy đủ giá trị của một tài liệu sống thực và thâm thúy về chiến tranh Việt Nam.
Năm 1973, Phạm Huấn chứng kiến sự kết thúc cuộc chiến đối với Mỹ, khẳng định ngay tức khắc rằng đối với người Việt cuộc chiến chưa thể chấm dứt. Ba mươi năm sau ngày đất nước bị cưỡng chiếm, tình trạng chỉ thay đổi trên bề mặt, nhưng bản chất cuộc chiến vẫn còn nguyên như thế.
Và vì lý do đó, tác giả Đào Trường Phúc cho hay khi ông ngồi đọc lại những giòng ghi chép của Phạm Huấn trong “Một Ngày Ở Hà Nội”, ông đã đọc lại với tất cả cảm xúc còn nguyên vẹn như mấy chục năm về trước.
Từ Việt Nam khi được tin người em của ông Phạm Huấn báo tin Phạm Huấn đã “Về với Chúa”, nhà văn Văn Quang trong bài viết mang tựa đề phóng viên chiến trường năm xưa đã ra đi đã ghi lại một vào hoài niệm thuở Phạm Huấn đóng phim Ngàn Năm Mây Bay dựa trên một chuyện dài của Văn Quang.
Ông cho biết không nhớ chính xác đã quen nhau từ ngày nào nhưng dễ cũng có hơn nửa thế kỷ, và cho hay đầu thập niên 1960, Phạm Huấn đã phục vụ tại Phòng Báo Chí, Cục Tâm Lý Chiến, khi ấy ông vừa rời bỏ chức Đại Đội Trưởng Đại Đội Văn Nghệ vùng 1 đồn trú tại Quảng Ngãi.
Nỗi gian khổ của phóng viên chiến trường
Phạm Huấn có lẽ yêu đời phóng viên nên xin về làm báo quân đội. Phạm Huấn từng nói với nhà văn Văn Quang “sẵn sàng đi bất cứ chiến trường nào chứ không muốn ngồi bàn giấy làm biên tập viên.”. Câu nói này đưa ra vào lúc chiến trường sôi bỏng khắp nơi.
Nhân bài viết của Văn Quang đăng trên báo chí Việt Ngữ hải ngọai cuối tuần này về Phạm Huấn, những người ngoài quân đội và không ở trong giới truyền thông và phóng viên chiến trường thời trước, mới biết được thêm sự gian khổ của các ê kíp phóng viên chiến trường trong khi được cử đi viết tin trong 4 vùng chiến thuật. Họ đều có những nỗ lực và sức chịu đựng cao vì phần lớn các phóng viên chiến trường trẻ ngoài gian khổ còn “đều rách như cái mền”
Quan hệ giữa nhà văn Văn Quang và phóng viên chiến trường Phạm Huấn thân đến độ gọi nhau là mày mày tao tao được, nên trong một phần gợi lại kỷ niệm, ông Văn Quang gợi nhớ cả con người hào hoa của Phạm Huấn.
Sau những giây phút căng thẳng trên chiến trường, Phạm Huấn trở về thành phố Sài Gòn “rũ áo phong trần, khoác áo hào hoa, thấy dáng thư sinh công tử của Phạm Huấn, không ai nghĩ ông mới thoát chết trên đại lộ kinh hoàng với hai đồng nghiệp Dương Phục và Thanh Thủy.
Phạm Huấn được rất nhiều bông hoa hương sắc của Sài Gòn ngày xưa đem lòng ái mộ. Trên phương diện một phóng viên chiến trường thì theo lời nhà văn Văn Quang, tháng 2 năm 1973, Phạm Huấn, Phan Nhật Nam, Dương Phục đi theo phái đoàn ra Hà Nội làm phóng sự trao tra tù binh đợt 2 diễn ra tại phi trường Gia Lâm.
Vào thời gian đó Hà Nội đối với người dân Miền Nam hoàn toàn xa lạ cho nên việc có dịp ra Hà Nội là chuyện hầu như không thể xảy ra. Toàn bộ bài tường thuật được đưa lên đài Phát Thanh Quân Đội. Phóng sự đặc sắc được thính giả đón nhận nồng nhiệt khiến Đài Phát Thanh Quân Đội phải phát lại đến 3 lần nữa.
Thưa chúng tôi cũng đã sống với anh Phạm Huấn, những cái ngày của tháng 2, tháng 3 năm 1973, những người ký giả đầu tiên ra miền Bắc tại Hà Nội trong lần trao trả tù binh Mỹ theo Hiệp Định Paris và anh đã vẽ nên một cái thực trạng, anh đã báo động cho miền Nam biết qua phóng sự “Một Ngày Tại Hà Nội”, đó là một thành phố vô tính, thành phố không có tính người.
Sau này khi sang đến Mỹ, cựu phóng viên chiến trường Phạm Huấn còn viết thêm 4 cuốn sách nữa về Việt Nam, đó là: - Triệt thoái Cao Nguyên năm 1987 - Những Trận Đánh Lớn Trước Khi Mất Miền Nam năm 1988 - Điện Biên Phủ 54- Ban Mê Thuột 75 (1988) và – - Trận Hạ Lào (1990).
Nhà văn Văn Quang ghi nhận một đời sống thật ý nghĩa nơi Phạm Huấn, một người mà ông cho rằng với 5 tác phẩm đã để lại, thế hệ sau này sẽ có dịp nhìn rõ hơn những điều sống động, xác thật đã và đang xảy ra trong lịch sử dân tộc mình. Văn Quang cho rằng không phải ai cũng làm được điều như thế. Người phóng viên chiến trường năm xưa đã ra đi, nhưng những gì để lại vẫn còn sống mãi.
Bức chân dung thật của Hà Nội
Tình chiến hữu và sự yêu mến của những đồng đội dành cho Phạm Huấn rất lớn, đã được tác giả Mùa Hè Đỏ Lửa Phan Nhật Nam một phóng viên chiến trường nổi tiếng trong bài viết tiễn đưa người quá cố như sau: “Chúng tôi, những người bạn của anh Phạm Huấn đang ở San Jose.. Anh Huấn không phải là niên trưởng, mà là người bạn lớn của chúng tôi, những người làm báo, những người làm phóng viên chiến trường của miền Nam ngày trước.
Chúng tôi đã chứng kiến anh những cái ngày đẹp nhất năm 1962 khi anh làm phóng sự cho ngày lễ mãn khoá khoá 16 trường Đà Lạt, chúng tôi sống với anh những ngày năm 1970 khi tấn công qua Kampuchia, chúng tôi sống với anh năm 1971 Lam Sơn 719 đánh qua Hạ Lào. Chính năm này, phóng viên chiến trường Phạm Huấn, đã nói lên tiếng nói của người lính miền Nam với Phó Thủ Tướng Trần Văn Hương.
Thưa chúng tôi cũng đã sống với anh Phạm Huấn, những cái ngày của tháng 2, tháng 3 năm 1973, những người ký giả đầu tiên ra miền Bắc tại Hà Nội trong lần trao trả tù binh Mỹ theo Hiệp Định Paris và anh đã vẽ nên một cái thực trạng, anh đã báo động cho miền Nam biết qua phóng sự “Một Ngày Tại Hà Nội”, đó là một thành phố vô tính, thành phố không có tính người.
Hơn thế nữa, anh là một người báo động cho miền Nam sự bức tử của cao nguyên, sau cái buổi họp 14 tháng 3 năm 1975 tại Cam Ranh và ông Tổng Thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu, Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Đại tướng Cao Văn Viên đã rút ra khỏi Tây Nguyên trong khi đang tăng viện Phước An và trên cái chiếc tàu bay khi đến Phước An ngày 12 tháng 3.
Anh Phạm Huấn là người đã chuyển lệnh đến chuẩn tướng Trường, Tư lệnh Sư Đoàn 23 để rút khỏi Phước An đi về Khánh Dương, rút khỏi Khánh Dương chuyển về Dục Mỹ và lần lần là cuộc bức tử Tây Nguyên và anh Pham Huấn chính là người báo động lần bức tử của miền Nam.
Thưa quý vị thính giả, thưa tất cả các bạn, chúng tôi là những người lính, chúng tôi là những người dụng văn để viết nên những cái chữ, về người lính, về cuộc chiến và tôi nghĩ rằng, trong 40 năm qua, anh Phạm Huấn hơn là một người phóng viên của chiến trường, anh đã báo động cho chúng ta biết, những cái lần bức tử Huế.
Anh đã vẽ ra chân dung thật của Hà Nội, anh cũng là người cộng tác báo Diều Hâu, thật sự ra chỉ là hai cá nhân Phạm Huấn và Nguyễn Đạt Thịnh, hợp cùng với kẻ sĩ của miền Nam, cụ Trần Văn Hương và thiếu tuớng Nguyễn Văn Hiếu để đưa vụ án tham nhũng lớn nhất của miền nam tức vụ án của Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội ra trước ánh sáng.”
Lễ tiễn biệt
Bạn bè của Phạm Huấn tứ xứ và khắp nơi trên đất Mỹ đã đổ về San Jose để có dip từ giã Phạm Huấn. Lễ cầu hồn cho Phạm Huấn được cử hành trong thể vào lúc 2 giờ chiều ngày Thứ Bảy tại thánh đường St Patrick ở thành phố San Jose, Bắc California. Và tiếp sau đó là Lễ Hỏa Táng theo ý gia đình.
Tình gia đình, tình đồng đội, tình bạn được bào đệ của người nằm xuống là Phạm Hùng trong điếu văn tiễn biệt nêu lên như điều đáng yêu nhất của ngừi đã khuất, ông nói:
“Triết lý sống của Pham Huấn giản dị như con người của anh, anh luôn tâm niệm không bỏ anh em, không bỏ bạn bè, vì vậy trong suốt cuộc đời của anh, anh đã làm con, làm cha, làm chồng, làm em, làm thuộc cấp, làm thượng cấp nhưng tôi nghĩ, vai trò anh xuất sắc nhất là làm bạn. Anh đối xử với mọi người bằng thứ tình người chân thật.”


Wednesday, March 14, 2012

Từ binh nhì biệt động quân, thành linh mục


Năm 1972, một người nông dân ở Kinh B, Cái Sắn, Lê Văn Khơi cũng như những người trai thời loạn khác, vừa đủ 18 tuổi, tình nguyện vào quân đội, chọn binh chủng Biệt Ðộng Quân.

Gia đình ông quê quán ở Thái Bình, năm 1954 song thân của ông đem hai người con cùng xuống tàu di cư vào Nam, trong lúc mẹ ông đang mang thai gần đến ngày sinh. Trên con tàu trực chỉ đi về miền Nam rời bến chưa được bao lâu thì bà mẹ chuyển bụng sinh được một đứa con trai. Lúc bấy giờ con tàu đi tìm tự do đang ra khơi, cha mẹ đặt tên cho ông là Lê Văn Khơi, và năm ông sinh ra đời, người Việt chúng ta không thể không biết, đó là năm 1954, năm của Hiệp Ðịnh Geneve, chia cắt đất nước. Nếu là một cái tên định mệnh thì đáng lẽ ông Khơi đã vào binh chủng Hải Quân, nhưng ông đã chọn binh chủng Biệt Ðộng Quân mà ông đã ưa thích và khâm phục.


Linh mục Micae Lê Văn Khơi. (Hình: Huy Phương/Người Việt)

Trong suốt thời gian ba năm trong quân ngũ, Binh II Lê Văn Khơi phục vụ tại Ðại Ðội 1, Tiểu Ðoàn 33 thuộc Liên Ðoàn 5 BÐQ. Ông đã cùng đơn vị tử thủ, trấn đóng tại thị xã An Lộc, tham gia trận Phước Long. Năm 1975, giã từ An Lộc, đơn vị về Nhị Bình, vào mật khu Hố Bò thì Lê Văn Khơi bị thương ở vai và tay, được trực thăng đưa về bệnh viện Củ Chi. Vào những ngày cuối cùng, đơn vị đang ở An Lộc, được di chuyển về Chơn Thành, rồi tan hàng ở Lai Khê, Bình Dương. Tuổi đời mới 21, cởi áo lính, Lê Văn Khơi trở về Bình Thuận với cha mẹ, rồi sau đó toàn gia đình về làm ruộng ở kinh Rivera, một khu dinh điền cũ ở Rạch Giá. Sau ba ngày “học tập,” người lính BÐQ ngày trước từng có mặt trên những chiến trường sôi động nhất an phận làm một nông dân sống qua ngày. Năm 1977, Lê Văn Khơi bị sung vào đội “dân quân hỏa tuyến,” có nhiệm vụ mang vác chuyển đạn cho chiến trường trong thời gian quân Khmer Ðỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh). Ðã là một người lính cầm súng giữa trận địa trước năm 1975, đây là những giờ phút lo sợ, căng thẳng nhất của ông, khi cũng giữa một trận địa, đầy bom đạn, bất trắc, mà trong tay không có một thứ vũ khí nào.

Năm 1981, thân phụ của ông Lê Văn Khơi qua đời, vì vào lúc đó phương tiện di chuyển khó khăn, gia đình lo việc chôn cất mà không báo tin cho con cháu hay. Mãi đến mấy tháng sau Lê Văn Khơi mới đi Long Thành báo tin cha mất cho người chị cả. Nhà người chị ở gần Ðan Viện Thiên Bình của dòng tu Biển Ðức, nên mỗi lần đi lễ, Lê Văn Khơi đều có dịp gặp gỡ chuyện trò với các vị trong tu viện. Cũng như mỗi lần đi chợ, ông phải đi qua những khu ruộng, trông thấy những vị tu sĩ của dòng tu này, ngoài thời gian sinh hoạt tôn giáo, sau một hồi chuông sáng, đều ra đồng chăm chỉ cấy cày, làm ruộng, sống một đời sống đạm bạc như một nông dân, lòng ông rất xúc động. Ông muốn dừng lại nơi này, nơi mà lòng ông cảm thấy bình an. Lúc đầu Lê Văn Khơi xin vào làm thuê cho các linh mục trong nhà thờ, sau đó dốc lòng khấn nguyện muốn đi tu, trở thành một linh mục. Bảy năm sau (2005), tại nhà thờ Chánh Tòa Long Khánh, người lính LÐ 5 BÐQ 36 năm về trước, được thụ phong linh mục, là LM. Micae Lê Văn Khơi, lúc bấy giờ đã 51 tuổi.

Ngồi trước chúng tôi, Linh Mục dòng Biển Ðức Lê Văn Khơi, dáng người tầm thước, khuôn mặt khôi ngô, đôn hậu khiến người đối diện, trong những phút giây đầu tiên đã có cảm tình, khiến cho tôi có ý nghĩ Chúa đã chọn đúng người để làm “chủ chăn.”


Mặc dù đã là một Linh mục, ông Lê Văn Khơi và đồng đội vẫn giữ tình 'huynh đệ chi binh' (Hình: Huy Phương/Người Việt)

LM Khơi cho biết, từ thời thơ ấu đến lúc trưởng thành, ông chưa bao giờ có ý định đi tu, mặc dầu ông thuộc một gia đình “đạo dòng.” Vào thời điểm sau năm 1975, sau khi ông trở về đời sống dân giả, ông cũng có đem lòng yêu một đôi người, và cũng có người yêu ông, chỉ cần bước đến một bước nhỏ, ngày nay ông cũng như mọi người đã có một mái gia đình, có vợ con. Nhưng hoàn cảnh đã đưa đẩy ông về Long Thành, được gần gũi với dòng tu Biển Ðức, và may mắn, ông đã trở thành một linh mục. Sau những năm cầm súng chiến đấu, qua một cuộc đổi đời quá đột ngột, đã làm cho lòng ông cảm thấy hụt hẫng. Ông thấy có được một cảm giác an bình khi đến với Ðan Viện Thiên Bình, điều đó làm cho ông dốc lòng tu học để trở thành một linh mục. Hiện nay LM Lê Văn Khơi là Phó Bề Trên Ðan Viện Thiên Bình, cho biết ông xuất ngoại đến Mỹ trong một thời gian ngắn để gặp gỡ và cảm tạ đồng bào ân nhân ở hải ngoại lâu nay đã yểm trợ giúp đỡ cho Ðan Viện Thiên Bình, Long Thành.

Nghe tin một chiến hữu BÐQ ngày trước, bây giờ đã trở thành một linh mục, đang viếng thăm Hoa Kỳ và trong thời gian lưu lại quận Cam, một số cựu quân nhân Biệt Ðộng Quân đã tổ chức một cuộc gặp gỡ thân mật với LM Lê Văn Khơi tại nhà riêng của Cựu Thiếu Tá BÐQ Trần Tiễn San, nguyên tiểu đoàn trưởng TÐ 33 BÐQ ở thành phố Westminster. Mặc dầu LM Lê Văn Khơi và những người đón tiếp ông chưa hề gặp gỡ nhau lần nào, nhưng đã cùng chung một màu áo BÐQ, cuộc gặp gỡ diễn ra rất thân mật, nồng ấm, như theo phát biểu của người lính BÐQ năm xưa là: “Chan chứa tình huynh đệ chi binh.”

BÐQ Nguyễn Thế Ðĩnh trong cuộc họp mặt này đã nói: “Giã từ cuộc chiến, sau năm 1975, nhiều cựu quân nhân trở thành tiến sĩ, bác sĩ, mục sư đã có nhiều... nhưng thành linh mục như ông Lê Văn Khơi quả là một điều hiếm có!”

Huy Phương/Người Việt

Monday, March 12, 2012

NHỮNG CON CHIM SẮT SKYRAIDER




Những con chim sắt Skyraider sau những ngày tháng chiến đãu để bảo vệ tự do cho Miền Nam Việt Nam đã phải cùng chia sẻ những đau thương của những ngày tháng cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa..
Cuộc di tản chiến thuật rút bỏ Quân đoàn 2 đã để lại 64 phi cơ tại Pleku (ngày 16 tháng Ba năm 1975) trong đó có 4 Cessna O-1 và 11 chiếc O-2 cùng 21 chiếc Skyraider A-1.
Cuộc di tản Đà Nẵng (30 tháng Ba) để lại 180 phi cơ trong đó không có chiếc Skyraider nào !
Sau ngày 30 tháng 4, trong tổng số khoảng 1100 chiếc phi cơ bị bỏ lại , có 26 chiếc Skyraiders..
Không Quân CSBV tiếp tục sử dụng lại một số phi cơ khả dụng và đã dùng đến Skyraiders trong những cuộc chiến tranh xâm lấn Cambodia ( dùng chung với các loại F-5 và A-37, tuy nhiên không có hình ảnh nào chứng minh cho việc dùng Skyraiders trong các phi vụ yểm trợ bộ binh) và sau đó trong cuộc chiến tranh với Trung Cộng (Tháng 2 năm 1979), không thấy nhắc đến Skyraiders..

Tháng 4 năm 1988, các báo cáo Tây phương ghi nhận CS VN đã rao bán trên thị trường võ khí khoảng 200 phi cơ đủ loại trong đó có cả các Skyraiders A-1 (Theo Tạp chí AIR COMBAT September 1991)
Trong năm 1990, một số Skyraiders trong tình trạng hư hỏng vẫn được để tại Phi trường Biên Hòa như các chiếc A-1E (132428), A-1H (135344)
Chiếc A-1H (139674) được CSVN tân trang và triển lãm tại Viện Bảo tàng Quân sự TP HCM : Chiếc phi cơ bị sửa đỗi khá nhiều.. gắn ống phóng rocket dưới bụng.. để nếu khi bay thật và bắn thì rocket..sẽ bắn vào..cánh quạt của động cơ (Itstvan Toperczer)

Cũng theo thống kê của các giới chức Hoa Kỳ thì trong những ngày cuối cùng của VNCH, 132 phi cơ đủ loại đã bay được đến Utapao-Thái Lan, trong số này có 11 chiếc Skyraiders A-1 các kiểu E (5 chiếc), G (1 chiếc) và H (5 chiếc)
7 chiếc thuộc Phi đoàn 5143 chiếc thuộc Phi đoàn 518
và 1 thuộc Phi đoàn 530

Chiếc Skyraider A-1H số hiệu 139606, thuộc PĐ 518 là chiếc Skyraider sau cùng bay khỏi VN đến Utapao, phi công điều khiển máy bay đã chở cả gia đình’ nêm’ chật cứng trong phòng lái ( danh từ Mỹ đã gọi đây là một hell hole)..Ngoài ra trong 1 chiếc A-1E, phi công đã cố gắng cất cánh chở theo phi tuần trưởng và 20 người khác nhét cứng trong ‘blue room’ !
Sau đó giữa CSBV và Thái Lan đã xẩy ra một cuộc tranh chấp về chủ quyền của các phi cơ thuộc KQ VNCH.. Do sáng kiến và quyết định táo bạo của Tướng Harry Aderholt, Chỉ huy trưởng Phái bộ Quân Viện Hoa Kỳ tại Thái Lan (MACTHAI) nên đa số các phi cơ này đã trở lại sở hữu của Mỹ..
Sau đây là bài viết về cuộc di tản của các phi cơ VNCH đến Utapao Thái Lan trong những ngày cuối cùng của cuộc chiến (Escape to Utapao của Ralph Wetterhahn đăng trong Air and Space/ Smithsonian Số Dec-Jan 1997).

Vài ngày trước khi xẩy ra cuộc di tàn của KQVN ra khỏi Saigon, Aderholt đã gửi Đại Úy KQ Roger L YoungBlood bay đến Phi trường Trat nằm sát biên giới Thái-Miên. Bay trên một chiếc phi cơ AU-23 của Không lực Thái (AU-23 là một phi cơ cải biến từ loại Pilatus PC-6, có khả năng đáp xuống được các sân bay có phi đạo ngắn như Trat). Youngblood đã bay vòng vòng trên không phận cùng một phi công phụ VNCH. Phi công phụ này giữ tần số vô tuyến và hướng dẫn các phi cơ VNCH bay về Utapao.. nhưng không phải tất cả phi công VN đều đến được Utapao..
Trong đêm 29 tháng Tư, Aderholt, có những cố vấn hoạt động tại khắp Thái Lan, bắt đầu nhận được các báo cáo về các phi cơ VN đáp xuống ruộng, xuống đường lộ hoặc bất cứ khoảng trống nào mà phi công tìm thấy. Một chiếc A-37 đã đáp ngay xuống xa lộ gần Căn cứ KQ Korat, phía Bắc Bangkok, gần một trừng học. Máy bay hãy còn đeo bom dưới cánh. Aderholt đã gửi một Đại Úy Không quân HK đến để bay chiếc A-37 này về Utapao..
Ngày 1 tháng 5 ,Aderholt đã phải gửi các phi cơ trực thăng của Lục quân HK chuyển các phi công và các thùng nhiên liệu loại 55 gallons đến nhiều điểm ở Thái Lan và cả Cambodia nơi các máy bay (kể cã trực thăng) đã đáp xuống..

Sau đó để thu hồi các phi cơ có giá trị cao như F-5, A-37..Aderholt đã dùng các trực thăng HH-53 để đüa các phi cơ này ra Mẫu hạm Midway đang đậu trong Vịnh Thái Lan, riêng các A-1, trị giá thấp hơn.. nên đành bỏ lại. Nhưng Aderholt không muốn mất những chiếc A-1 này nên Ông đã tìm các phương thức khác :

Aderholt đã ra lệnh cho Youngblood và Thiếu tá Jack Drummond, cả hai đều từng bay Skyraiders, đến Utapao để bay các A-1 về ‘một địa điểm kín đáo ‘ hơn.
Họ đưa 2 chiếc A-1 về Căn cứ Ta Khli ở Trung Thái và đậu trong các nhà kho kín, sau đó đưa được thêm 2 chiếc nữa, còn 7 chiếc kẹt lại tại Utapao..

Trong lúc Hoa Kỳ, Hà Nội và Thái Lan tranh cãi về chủ quyến các phi cơ thì 142 chiếc đã được đưa về Guam trên chiến hạm Midway và các tàu khác của Hạm đội 7.
Aderholt về hưu năm 1976, nhưng Ông ở lại Thái thêm 4 năm, thời gian đủ dài để Ông tìm cách đưa 4 chiếc A-1 giấu ở Takli về Mỹ :
‘ Aderholt thuê xe kéo các phi cơ từ Takli ra sông Chao Prya, và chất 4 phi cơ trên 4 chiếc xà lan chở về Bangkok, nhưng bị mắc cạn. Ông đã hối lộ cho người giữ Đập Chainat 1000 đô la để mỡ nước..Sà lan đã chở các phi cơ đến thương cảng, bốc lên tàu hàng để chở về Hoa Kỳ..’

Sau đó nhà sưu tập máy bay chiến đấu Dave Tallìchet đã đưa 4 chiếc này về Los Angeles và tồn trữ tại Phi trường Orange County cho đến 1986. Tallichet tiếp tục bay 1 chiếc A-1H (Số hiệu 135332, thuộc PĐ 514) tại Phi trường Chino Field (California). Một chiếc khác đang được trưng bày tại Viện Bảo tàng Phi cơ Santa Monica.. Chiếc A-1H khác (Số hiệu 139718, thuộc PĐ 514) cũng đang còn bay được..

Trần Lý


Một phi tuần Khu trục cơ A-1H PĐ 514, Không đoàn 23, trong phi vụ yểm trợ tiếp cận


Một phi tuần Khu trục cơ A-1H PĐ 518, Không đoàn 23


Khu truc cơ A-1H Phi đoàn 518, Không đoàn 23.


Các Phi công Phi đoàn khu trục 516 và cố vấn Không quân Hoa Kỳ

Đại Úy Dũng Cảm

Lời nói đầu: Bài này được chuyển dịch từ chương Mười Ba trong quyển Across the Fence của tác giả John Stryker Meyer. Tác giả là một cựu quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ. Ông đến Việt Nam năm 1968, về căn cứ FOB 1 (Forward Operating Base 1) tại Phú Bài, Huế và được chọn về toán SI Idaho, bao gồm các quân nhân Việt Mỹ. Ông và toán SI Idaho nhảy nhiều lần xuống thung lũng A Shau bên đất Lào, và có lần được tuyển chọn cho công tác bên Miên. Trong chương Mười Ba chúng ta sẽ thấy toán sau khi nhảy xuống bãi đáp, bị công quân vây kín, và bị đốt hỏa công.

Ngày Giáng Sinh của năm 1968 vẫn là một ngày bình thường như mọi ngày của toán ST Idaho. Sáng sớm, toán lên chiếc Kingbee, bay ra Quảng Trị. Đây sẽ là nơi khởi hành cuả chuyến công tác. Buổi sang, chúng tôi bận rộn vì có những sự việc phức tạp với các đơn vị yểm trợ. Mọi chuyện cũng tạm ngưng khi chúng tôi đến Quảng Trị. Cuối cùng, chúng tôi cũng bước được vào phòng thuyết trình. Công tác cho ngày đó sẽ là các mục tiêu MA phía tây vùng Phi Quân Sự bên đất Lào, dọc theo con sông chảy quanh vùng DMZ. Bên trong phòng thuyết trình, có một bản đồ thật lớn được treo bên trên tường, và trên bản đồ là tất cả các mục tiêu nằm bên vùng DMZ và các mục tiêu của MA bên đất Lào. Những tấm bản đồ mà chúng tôi mang theo khi đi công tác là những tấm bản đồ loại nhỏ, chỉ là những đoạn cắt rời ra, căn bản là nếu bị tịch thu, bản đồ nhỏ sẽ vô ích đối với quân địch.

Trên các mục tiêu trong tấm bản đồ, có nhiều mục tiêu đánh dấu MA, MA 10 đến MA 16 hay 18. Hai cái số nhỏ là MA 10 và MA 11 là hai mục tiêu nằm trong khu vực sát phía tây của biên giới Nam Việt Nam. Số cho mục tiêu MA của toán tôi lớn hơn. Vậy thì nó phải nằm xa vào trong nội địa Lào, gần một khu vực, nơi mà báo cáo cho biết quân Bắc Việt đang xây dựng các ống dẫn dầu. Quân Bắc Việt cần xăng dầu để di chuyển xe tải, và quân lính dọc xuống đường mòn HCM. Đường ống dẫn dầu sẽ mang lại nhiều hiệu quả hơn là xe tải, chở dầu xuống hướng Nam.

Khi nhìn vào bản đồ, chúng tôi nhận thấy một chuyện sẽ gây khó khăn: có thêm nhiều súng phòng không tụ nhóm lại quanh khu vực hành quân của chúng tôi. Các nhân viên tại phòng thuyết trình cảnh giác cho các phi công trực thăng và phi công trên chiếc Covey rằng có nhiều chỗ mới có phòng không 12 ly 7 và 37 ly trong khu vực hành quân. Nhiều lần, các phi công Kingbee chỉ vào một vị trí mà họ đã bị phòng không của quân Bắc Việt bắn vào họ. Vì có thêm nhiều tổ phòng không dọc theo vùng DMZ và các mục tiêu MA, các phi công Kingbee nói họ sẽ bay, là sát mặt đất, thẳng vào bãi đáp. Hôm nay, trực thăng sẽ bay theo hình xoắn ốc, không tắt máy, xâm nhập vào bãi đáp.


“Chúng ta không muốn thêm một Bader nữa”, (Staff Sergeant Arthur E. Bader, hy sinh trong một công tác mang tên Eldest Son, trực thăng Kingbee bị bắn rơi trên bầu trời Lào, vùng hành quân Prairie Fire, mang theo phi hành đoàn cùng bảy người lính M ũ Xanh -Green Beret) lời nói của một trong những sĩ quan thuyết trình. Những sĩ quan này cũng cho chúng tôi biết có những báo cáo về các đặc công Bắc Việt trong vùng. Các toán thám sát tại Kontum đã chạm trán với đám đặc công Bắc Việt ít nhất một lần trong năm vừa qua. Cuối cùng, chúng tôi lên trực thăng. Đại Uý Tường, viên phi công bay dẫn đầu nói ông sẽ mang nguyên cả toán trên chiếc H-34 vì điều kiện thời tiết và chiều cao của các đỉnh núi cho phép chiếc trực thăng cũ kỹ mang nổi. Trong lúc thuyết trình, chúng tôi được cho biết là Covey đã tìm được một bãi xâm nhập ở một thung lũng hẻo lánh, nơi không có sự hoạt động của quân địch với hy vọng nơi này sẽ là nơi có ít khả năng có mặt những tên kiểm soát bãi xâm nhập hay những tên địch quân truy lùng từ những khu vực chung quanh. Chúng tôi sẽ khám phá ra việc này trong thời gian ngắn. Khi lên trực thăng, tôi cảm thấy thích toán của tôi: Lynne Black tham gia với Bubba và tôi. Hai người rất liều mạng, nhưng cũng rất thận trọng, thông minh và cũng giỏi miệng nữa. Phước là người đi đầu, Hiệp là thông dịch viên và Tuấn thủ cây M-79. Tôi ở trong toán ST Idaho được bảy tháng và tôi là người lính Hoa Kỳ thâm niên nhất của toán. Tôi vẫn xem tôi là một người lính mới. Vậy mà sau bao lần nhảy toán với bao gian nan nguy biến đã làm cho tôi cảm thấy tôi già hơn tuổi 22 của tôi. Tôi vẫn tự hỏi không biết tôi có thể nhìn thấy được sinh nhật thứ 23, sắp đến trong vòng 25 ngày nữa.

Điều lợi là chúng tôi có Đại Uý Tường, một trong những phi công tài giỏi nhất của Phi Đoàn 219 Kingbee (KQVNCH). Dũng khí và tài bay bổng phi thường làm cho ông là một trong những phi công Kingbee được nể phục trong chương trình C&C. Tôi lạc quan nghĩ công tác sẽ được suông sẻ, đặc biệt là Covey đã tìm được một bãi xâm nhập vắng vẻ. Khi chúng tôi bay về hướng tây, song song với vùng DMZ, Đại Uý Tường liền bay theo lời yêu cầu của viên sĩ quan thuyết trình tiến đến mục tiêu. Vừa sau khi chúng tôi bay qua Lào, viên xạ thủ đại liên bắn thử súng. Cây súng bị trở ngại tác xạ nhiều lần trước khi môt viên đạn bay ra khỏi nòng súng. Cây đại liên luôn bị trở ngại tác xạ, nhiều như anh đã xài nó. Tôi luôn hỏi tại sao họ đã không thay thế mấy cây súng đại liên bằng loại M-60 hay .50 ly.


Đại Uý Tường bắt đầu cho trực thăng giảm cao độ trước khi bẻ về hướng phải, mang trực thăng vào trong một hẻm núi nằm giữa hai ngọn núi lớn. Chiếc Kingbee vẫn bền bỉ bay lên dốc, tôi ngồi ngay cửa hướng về phía đông. Khi trực thăng tiếp tục bay lên cao, tôi trông thấy một cái chòi khoét sâu vào trong núi với một hay hai người trong đó. Họ nhìn như dân bản xứ trong vùng, không bận đồ lính Bắc Việt, không thấy ra-đi-ô hay anten. Họ có vẻ ngạc nhiên khi trông thấy chúng tôi, cũng giống như chúng tôi đã ngạc nhiên về họ vậy. Vài giây sau, Đại Uý Tường bay trực thăng vào bãi đáp, một đồi nhỏ bao trùm bởi cỏ voi. Tôi không chịu nhảy ra khỏi trực thăng khi tôi nghĩ trực thăng đã chạm đất và đã do dự vài lần. Khi tôi cảm thấy bánh xe trực thăng chạm đất và có thể thấy được đất nâu, tôi nhảy ra ngoài.

Cả toán Idaho xuống hết trực thăng. Việc xâm nhập, chỉ làm một vài dân địa phương hoảng sợ, rất nhanh giống như lần xâm nhập bên Miên trước đây một tháng mà tôi và Bubba rất thích. Khi nhìn từ không trung, đám cỏ voi dầy và cao hơn. Nó cao cả 10 feet. Đáng lẽ chúng tôi di chuyển ngay khi vừa xuống bãi, nhưng chúng tôi ngồi lại đấy. Tôi hỏi Black rằng anh có nghĩ dân địa phương sẽ giúp bọn Bắc Việt hay không. Anh hỏi tôi có khùng không. Dân địa phương đâu có được sự lựa chọn. Câu hỏi chính là chúng tôi có thể rời khỏi bãi đ áp, và rời xa khỏi chỗ này mà tránh khỏi được bọn truy lung, và đám đặc công Bắc Việt đang quan sát, tìm kiếm chúng tôi. Thêm một chuyện làm tôi khó chịu là cái đồi đầy cỏ voi chỗ chúng tôi vừa xuống lại quá xa đầu ngọn núi, xa hơn là tôi đã mường tượng trong lúc nghe thuyết trình. Chúng tôi phải đến chỗ đất cao trước khi trời tối, sự an toàn của toán đang bị nguy hiểm. Vài phút sau, chúng tôi rời bãi, di chuyển về hướng đông tiến về khu rừng dầy đặt. Tôi rất ghét cỏ voi, vì di chuyển trong bãi cỏ voi làm chúng tôi mất nhiều sức lực, và những cái lá của nó làm rát mắt tôi. Chúng tôi gây nhiều tiếng động khi di chuyển trong đám cỏ này. Tiếng động gây trở ngại trong khi chúng tôi cố gắng di chuyển nhẹ nhàng, lén lút, điều rất quan trọng cho sự sống còn trong rừng.

Tôi gọi máy cho Spider và hỏi anh có thể cho tôi hơn mười phút, coi như ngoại lệ trong thủ tục thường lệ. Tôi nói cho anh biết chúng tôi không có sự lựa chọn và đã phải bay qua một cái chòi nhỏ xây sâu vào trong vách núi. Spider ngạc nhiên về cái tin đó. Anh và viên phi công trên chiếc Covey đã không nhìn thấy cái chòi trước đó. Tôi giải thích rằng không ai có thể thấy nó khi nhìn từ trên không trung bởi vì khu rừng dầy với những tầng cây mọc bao phủ quanh bên trên. Trong khi tôi báo cáo với Spider thì Black tiếp tục cho toán di chuyển về hướng đông.Anh đi sau Phước và Tuấn và tôi thì đi đoạn hậu. Di chuyển qua đám cỏ voi đã lấy hết thời gian của chúng tôi. Tôi bắt đầu cảm thấy nôn nao trong bao tử. Cái đám cỏ voi này gợi nhớ tới Echo Four hai tháng trước đây, và nó làm cho chúng tôi đi rất chậm. Khi nhìn lên bầu trời màu xám, t ôi đoán có vẻ như cơn giông bão đang kéo đến. Trong chuyến công tác này, tôi mang dư thêm một cái áo lạnh trong ba lô nhưng không có áo đi mưa. Spider gọi hỏi xem anh ta có thể rời khỏi vùng hay không. Tôi bấm vào máy báo hiệu trả lời được, để cho chiếc Covey rời khỏi vùng.

Chúng tôi di chuyển gần đến khu rừng ba tầng tuy vẫn còn trong khu cỏ voi, cái khu rừng này nhìn cao hơn cả tòa nhà Empire State Building. Rồi Phước nổ súng bắn nguyên cả tràng. Có thể có một hay hai tiếng súng nổ bắn trả lại của quân địch. Từ cái vị trí ở đằng sau toán, tôi có thể đang ở Broadway bởi vì tôi không thể trông thấy Phước, Black, Hiệp hay Bubba. Tôi liền gọi cho Spider và báo cho anh biết chúng tôi chạm nhẹ với địch và khẩn xin được “bốc”.
“Tilt, tôi không chấp nhận,” Spider nói. Tôi biết anh đang nói đùa.
“Cảm ơn Thượng Đế, tên trung úy trẻ ngồi bàn giấy đã không đi bay trên chiếc Covey hôm nay.” Tôi nói với chính mình. Không còn súng nổ nữa khi toán di chuyển trở ngược lại phía sau tôi. Trong khi chờ đợi, tôi cảm thấy một con đỉa trong ống quần. Nó đang bò vào cái chỗ riêng tư của tôi để được hưởng nhàn. Chả cần biết đến quân Bắc Việt, đám mây, mưa và lạnh lẽo! Nếu con đỉa cắn tôi…! Tôi giũ chân thật mạnh và thọc tay vào quần. Đúng phải là con đỉa của tụi lính Bắc Việt, nó vẫn còn di chuyển lên trên đùi tôi. Tôi búng cho nó rơi xuống ống quần, cởi giày và thảy cái thằng cộng sản đó xuống đất. Rồi tôi đạp lên nó, và giữ chặt nó trong nhiều giây.

“Cái đám cỏ voi mất dạy,” Black nguyền rủa. “Bọn chúng có thể nghe chúng ta xa từ Hà Nội!” Với sự thông dịch của Hiệp, Phước nói anh đã nghe được tiếng người nào đó trong rừng, khi mà anh vừa rời khỏi đám cỏ voi từ góc phía đông. Anh bắn vào họ và họ cũng nổ súng bắn trả lại một hay hai tiếng nổ. Phước cho biết không phải là súng AK-47. Khi nói chuyện thầm thì với nhau, chúng tôi nghe tiếng chuyển động từ phía đông nam. Họ ở xa vừa phải để chúng tôi không thể trông thấy. Tuy vậy, họ ở dưới đồi, và quá gần đến nỗi tôi phải thảy trái lựu đạn xuống hướng đó. Quân địch không phản ứng.

Đám cỏ voi nhìn cao hơn và làm cho chúng tôi bực mình hơn. Mỗi lần di chuyển, chúng tôi gây nhiều tiếng động. Lúc quan sát về phía đông nam, muốn biết chuyện gì đang xảy ra bên đó, chúng tôi nghe tiếng chuyển động bên hướng đông bắc. Lần nữa, không có nhiều di chuyển nhưng bọn chúng đang cố gắng bọc ngang sườn chúng tôi. Shore ra dấu cho biết anh muốn thảy trái lựu đạn M-26 vào hướng đông bắc. Anh nhẹ tay bật cái chốt, quăng cái thìa đi, đếm hai tiếng rồi thảy nó vào ngay chổ có tiếng động. Giữ thêm hai giây và thảy vòng cầu, trái lựu đạn nổ trên không trung, làm tăng thêm miểng chết người hơn, với hy vọng rơi ngay trên đầu quân địch. Chúng tôi đổ đầy mồ hôi. Không nghe tiếng động cơ phi cơ, nhưng chúng tôi vẫn nghe tiếng di chuyển ở hướng đông nam.

Spider gọi tôi trên máy truyền tin. Giọng nói của anh nghe như có vẻ khẩn thiết khi anh ra lệnh cho chúng tôi không được đi về hướng đông bắc.
“Tôi lặp lại, không di chuyển toán về hướng đông bắc!” Anh hỏi gặng lại để chắc chắn tôi hiểu rõ tin anh vừa nói.
“Nhận rõ. Không mang toán về hướng đông bắc!” Tôi rất ngạc nhiên bởi cái giọng khẩn nài của anh. Tôi báo cho Black biết. Hướng đông bắc là con đường có vẻ ít gặp sự kháng cự nhất và là cơ hội để chúng tôi tiếp tục công tác. Lời thông báo ngắn và những tiếng động ở hướng đông bắc phủ nhận việc đó. Anh nói anh nhận được tin tình báo hỗ trợ cho lệnh của anh bắt chúng tôi không được đi về hướng đông bắc. Như vậy, chúng tôi phải lo cho sự sống còn của toán. Tôi tò mò muốn biết tin tình báo như thế nào mà làm cho anh chắc chắn vậy. Rồi tôi ngưng không suy nghĩ về cái giả thiết và trở về với tình hình chiến trận ngay dưới đất.

Chúng tôi biết chắc chắn có bao nhiêu quân địch đang tiến đến bởi vì chúng tôi gây nhiều tiếng động trong cái đám cỏ voi, và cỏ voi cũng làm cho chúng tôi khó nghe được những tiếng động khác. Có phải là bọn đặc công mà chúng tôi đã nghe lúc thuyết trình? Nếu là chúng, bọn chúng cũng phải di chuyển qua cái đám cỏ voi kinh tởm kia, nơi mà chúng tôi đã bị giữ chân. Những báo cáo tình báo trước kia cho biết đám đặc công chỉ bận khăn quấn ngang thắc lưng, mang áo giáp và cầm súng AK-47 loại mới với báng xếp, mà nhiều người gọi là AK-50. Bọn chúng phải mang dao, nhưng ở đâu? Những tiếng động từ phía đông bắc làm tôi ngưng nghĩ về những câu hỏi không thực tế về bọn đặc công. Black thảy trái lựu đạn thẳng về tiếng động ngay nơi đó.
Black nói, “Tôi ngửi mùi khói. Hoặc là từ mấy trái lựu đạn của chúng ta hay là từ bọn lính Bắc Việt đã đốt lửa.”

“Bây giờ, đúng là mọi chuyện đang sôi động nơi bãi đáp.” Tôi gọi cho Spider. Tôi cho anh biết chúng tôi bị bao vây và có lửa cháy hai bên sườn của vị trí phòng tuyến. Vì vị trí của cái đồi nhỏ bên hẻm núi, với ngọn núi nhô cao hai hướng đông và tây, việc dùng phi cơ phản lực coi như không thể được. Dùng trực thăng hỏa lực cũng sẽ gặp nhiều khó khăn vì địa thế và từ nơi mà quân địch đang ở. Trong vòng ít phút, chúng tôi ngửi được mùi khói. Tiếng nổ lách tách trở nên nhiều và ầm ỉ hơn. Black tiến đến phía tây để tìm một con đường thoát. Nếu chúng tôi thử đào thoát bằng con đường đó, đám cỏ voi sẽ làm cho chúng tôi bị nguy hiểm. Chung quanh lại không có các cây cao để chúng tôi có thể trèo lên quan sát tốt hơn.


Bây giờ thì chẳng còn phải lo tiếng động gì cả. Black đẩy đám cỏ voi rạp xuống. Tôi cố gắng tiến lên hướng bắc, nhưng đám cỏ voi vẫn còn cao và dầy. Quân Bắc Việt tiến về phía bắc chúng tôi. Chúng tôi bị bao vây cả ba mặt. Vì chúng tôi ở trên cao hơn nên chúng tôi cố gắng làm thành một phòng tuyến trong đám cỏ voi bằng cách làm cho chúng ngã rạp xuống. Nhưng đây không phải là chuyện dễ dàng. Tôi và Bubba chặt đứt cái đám cỏ voi bằng con dao đi rừng. Black nhảy thẳng vào chúng, dùng sức nặng của thân hình cộng thêm các dụng cụ mang trên người cố gắng làm cho chúng ngã rạp xuống. Tôi và Black biết nếu chúng tôi có thể chặt ngã đám cỏ voi xuống thấp, chúng tôi có thể trông thấy được quân địch tiến ra từ đám cỏ voi thẳng đến vị trí chúng tôi. Spider gọi máy cho biết chiếc Kingbee còn cách bãi đáp hai phút. Rồi anh hỏi cuộc chiến đang diễn ra như thế nào vì anh nghe tiếng nổ lách tách chung quanh mà anh nghĩ là tiếng súng của quân địch. Tôi nói với anh nếu chiếc Kingbee không tới nơi được sớm, toán Idaho sẽ chạm trán với địch và với các đám lửa cháy. Gió thổi mạnh trong hẻm núi từ hướng nam. Lửa càng ngày càng cháy dữ dội hơn khi khói bay phất phới lên ngọn đồi và xuyên qua phòng tuyến. Tiếng nổ lách tách của đám cỏ voi cháy khét lớn đến độ có nhiều tiếng nghe như tiếng súng nổ.

“Kingbee sắp đến chưa?” Hiệp hỏi. Tôi cho anh biết trực thăng của Đại Uý Tường cách xa khoảng một phút bay.
“Tụi nó đốt thêm nhiều đám cháy nữa,” Bubba cho biết. Bây giờ, tiếng động từ đám cháy làm cho chúng tôi phải nói lớn tiếng với nhau. Khói trở nên dầy hơn làm tôi đổ thêm nhiều mồ hôi. Chúng tôi thảy thêm nhiều lựu đạn xuống dưới đồi để làm cho bọn chúng phải cúi đầu xuống. Tiếng động từ hai đám cháy quá lớn tới nổi nếu bọn lính Bắc Việt mở cuộc tấn công thì chúng tôi cũng không nghe. Lúc đó, con đường mà bọn chúng tấn công sẽ phải là con đường ngoằn ngoèo từ hướng tây ngọn đồi tới bãi đáp. Bubba nói anh đã trải mìn claymore ngay đó. Black cho biết đám lửa đang cháy qua bãi cỏ voi ở sườn tây chúng tôi, ngay chỗ sườn dốc của bãi đáp xuống dưới hẻm núi.

Đám cháy phía nam trở nên ác liệt thêm từng giây và tiếp tục di chuyển lên dọc theo sườn ngọn đồi, tiến thẳng đến chúng tôi và bao quanh hướng đông. Thêm một hay nhiều đám cháy ở hướng bắc và đông bắc, nhưng chúng không tiến nhanh đến chúng tôi như đám cháy ở hướng nam. Black và Shore lấy nhiều cục thuốc nổ C-4, cắt chúng ra làm hai và đắp ngòi nổ lên. Vì cái đám cháy từ hướng nam tiến quá nhanh, chúng tôi đặt C-4 ngay đầu đám cháy, cho nổ tung. Chính là làm cho đám cháy chạy trở ngược xuống đồi. Bây giờ thì khói quá dầy, tôi lấy cái khăn xanh che mũi lại. Những cục than hồng bay cao lên trên đầu khu vực phòng tuyến nhỏ lởm chởm, mang theo bụi, và những mảnh lửa nhỏ và tàn lửa bay xuống đám cỏ voi và ngay vào cả chúng tôi. Chỉ có Hiệp và Tuấn là đội nón, chúng tôi, đám còn lại, tóc bị ướt sũng.

Hơi nóng từ các đám cháy trở nên dữ dội hơn tới độ Black và Shore bị phỏng khi cố gắng chặn đứng ngọn lửa đang tiến. Tất cả chúng tôi phải búng tro hay tàn lửa khỏi quần áo hay da. Black nói với tôi bọn lính Bắc Việt ở phía sau, không xa đám lửa mấy. Tuấn đã báo cho biết anh thấy những cái bóng phía sau đám lửa ở hướng nam và đông nam. Black cũng quan sát những cái bóng như vậy, anh không chắc là thật, hay hiện tượng gây ra bởi đám lửa, hay do cơn gió nóng càng lúc càng dữ dội hơn. Rồi Bubba cũng báo thấy giống như vậy. Bọn lính Bắc Việt không để súng vào vị thế khai hỏa, trông chúng rất thanh thản. Black và Phước đặt thêm mìn claymore ngay sườn đồi hướng nam, và đông nam.

Khi Spider cho biết Kingbee sẽ đến trong vòng ba mươi giây, tôi ra hiệu cho Tuấn, Black, Phước và Shore cho nổ mìn claymore. Cuối cùng chúng tôi đã nghe được tiếng Kingbee. Bởi vì có nhiều hoạt động của quân địch ở hướng nam và đông nam, tôi bảo Spider cho Đại Uý Tường mang chiếc Kingbee vào từ hướng bắc, sẽ dễ dàng đáp xuống thấp khu hẻm núi hơn. Khói trở nên ngột ngạt làm chúng tôi bị ngộp thở khi một đám khói đen và xám khổng lổ thổi vào vị trí chúng tôi. Black chỉ cho thấy đám lửa cháy đã lâu ngay hướng đông nam, rằng bọn Bắc Việt có thể dùng cái khu vực đã cháy đó để tấn. Tôi, Black, Shore và Tuấn bắn đạn M-79 vào hướng nam và đông nam. Tôi lo chú ý đến chiếc Kingbee trong khi Black và Bubba cho nổ thêm hai cục C-4 để giữ đám cháy lại. Tiếng nổ làm chậm đám lửa lại và những tiếng chuyển động của quân Bắc Việt đang ở phía sau. Black, Bubba và Tuấn bắn M-79 theo lối cầu vồng vào hướng nam.

Khi Đại Uý Tường bay chiếc trực thăng xuống vách núi, thẳng về phía chúng tôi, ông đã biết rõ chúng tôi đang ở đâu. Khói quá dầy làm cho ông khó trông thấy được bãi đáp. Trông giống như chúng tôi đang bị nhốt kín trong một đoạn của Twilight Zone, với khói lửa đang tràn nhanh lên núi, cùng với quân địch bắn vào chúng tôi, và thấy được sự cứu giúp gần kề, nhưng lại quá tầm tay, không nắm bắt được. Khi chiếc trực thăng cũ kỹ Sikorsky còn cách bãi đáp khoảng 75 feet và đang tiến thẳng xuống chúng tôi, theo tôi, hình như cánh quạt trực thăng quay quá chậm. Trong một phút ngắn, tôi nghĩ chiếc trực thăng sẽ rời khỏi bãi đáp vì khói bao phủ dầy quanh bãi đáp. Tim tôi ngừng đập. Nếu ông rời bỏ chúng tôi, chúng tôi chết chắc. Một vài phút nay trở thành một vài giờ. Tầm nhìn của tôi trở nên rõ ràng hơn bất cứ lúc nào, tôi thấy rõ khói, lửa, tiếng nổ lách tách và tiếng súng nổ của quân địch. Tôi đứng ngay sát phía tây phòng tuyến, vẫy tấm panel màu lên bầu trời, cố gắng cho phi công thấy nó.

Chiếc H-34 vẫn tiếp tục xuống thấp, và bay rất chậm. Tôi chỉ nhìn thấy bụng của chiếc trực thăng, với cái đầu khệnh khạng đưa qua phải rồi qua trái, tiếp tục xuống thấp trông giống như con bọ ngựa khổng lồ. Cánh quạt trực thăng xoay quanh thổi gió ào vào chúng tôi. Cuối cùng, mũi trực thăng hướng về phía trái và tôi có thể nhìn thấy Đại Uý Tường. Nhìn thấy mặt ông, nhìn thấy ông ngồi điềm tĩnh trong chiếc ghế phi công, làm cho lòng tự tin của tôi dâng lên cao hơn. Chúng tôi chắc chắn thoát nạn.

Thêm một lợi ích nữa từ cánh quạt trực thăng: nó đẩy khói và lửa bay trở ngược xuống đồi. Thông thường, khi “bốc”, cánh quạt gây nhiều trở ngại cho toán vì nó mang bụi, đất, lá cây, những cành cây nhỏ, và những hòn đá, trong khi tiếng động làm khó nói chuyện được với nhau và gió xoáy làm đau mắt. Nhưng, vào cái ngày Giáng Sinh của năm 1968, cánh quạt trực thăng mạnh mẽ đó là vị cứu tinh cho toán Idaho. Nó đẩy lùi lửa và khói trong lúc toán Idaho nhảy vào trực thăng. Cánh quạt quay thật mạnh đẩy đám lửa xa xuống đồi, làm cho quân Bắc Việt phải rút lui hay sẽ bị cháy phỏng bởi chính đám lửa của chúng. Là người cuối cùng lên trực thăng, tôi ra hiệu cho viên xạ thủ đại liên rời khỏi vùng. Tôi ngồi ngay cửa khi Đại Úy Tường điều khiển trực thăng lên cao vài feet trước khi ông bay về hướng nam. Khi chúng tôi rời khỏi ngọn đồi, lửa cháy lan lên đỉnh đồi và nhận chìm, bao trùm lên khu vực chúng tôi đứng trên đó vài phút trước.

Đại Uý Tường tống ga bay nhanh trong hẻm núi nơi mà chúng tôi đã bay ngang. Tôi gọi máy báo cho Spider rằng toán bình an. Thêm một lần nữa, toán ST Idaho tạo được phép màu kỳ diệu, sau lần công tác. Adrenaline vẫn chạy nhanh, chúng tôi vừa thoát nạn thêm lần nữa. Thật là sướng khi được hít thở không khí. Chúng tôi không nghĩ gì đến lễ Giáng Sinh, mẹ hiền hay những món quà. Quà của chúng tôi là còn được sống. Tôi nhìn Black và Bubba. Họ bị cháy lông mi, lông tay. Nhọ, bụi đen bám đầy trên gương mặt đầy mồ hôi của họ. Tôi bắt đầu bị run khi chiếc Kingbee bay về hướng đông nam, hướng về Quảng Trị. Tôi bị run vì nhiều lý do: cơn gió lạnh thổi vào người đầy mồ hôi cuả tôi, và sự sợ hãi. Trực thăng bay trên cao nên lạnh hơn dưới bãi đáp nhiều. Tôi nhận thức được, thêm một lần nữa, toán Idaho suýt bị xoá sổ. Là One-Zero, trưởng toán của cái nhóm nhỏ anh em thám sát dũng cảm này, tôi cảm thấy run sợ hơn.

Đại Uý Tường bay về Quảng Trị trước vì trực thăng gần hết xăng. Chúng tôi trở về Phú Bài khi bóng đêm sắp sửa tràn về. Cũng giống như trước đây, Đại Uý Tường cho phép tôi ngồi trên ghế của phi công phụ khi gần hết chuyến bay. Tôi hỏi Đại Uý Tường xem ông có mệt mỏi lắm không khi phải kéo toán Idaho ra khỏi những nơi luôn luôn “nóng”. “Không hề chi,” ông nói. “Quá nhiều khói, nhưng không nhằm nhò gì. Bây giờ Kingbee bay về nhà. Ngày mai, chúng ta bay tiếp?” Tôi nói cho ông biết tôi có thể nghỉ ngày mai. Ông nói Kingbee sẽ bay, chắc chắn vậy. Kingbee không bao giờ nghỉ ngơi. Khi chúng tôi đáp xuống Phú Bài, ông chúc tôi Giáng Sinh an lành nhưng từ chối việc tôi mời ông uống với tôi ly nước trong câu lạc bộ. Gia đình ông đang chờ ông ở Đà Nẵng, chỗ thường trú của Phi Đoàn 219 Kingbee, nằm trong phi trường Đà Nẵng.



Black và Shore đi lấy thức ăn và nước uống cho toán trong khi tôi bước vào Phòng Ba báo cáo sơ khởi về chuyến công tác. Sau đó, tôi đi tắm nước lạnh ở Phú Bài. Lúc ấy, tôi đã quen với nước lạnh, và thấy thật là thoải mái. Sau chuyến công tác, tắm rửa thật đặt biệt. Vừa quét gội đi những bụi bậm và mồ hôi vì ở dưới đất đầy bụi cát, vừa luôn chắc chắn rằng tôi vừa sống sót thêm một ngày nữa ở cái vùng công tác Prairie Fire đó. Trong lúc bước trở về phòng, tôi nghe bài nhạc Silent Night phát ra từ cái ra-đi-ô nhỏ, rè và nhiễu sóng. Bài hát cổ xưa của dân Đức mừng lễ Giáng Sinh làm tôi phải dừng chân lại. Đúng ngay giờ Noel.

Giáng Sinh là ngày lễ tôi thích nhất, thích nhiều hơn sinh nhật, bởi vì ông nội Meyer, bà nội Stryker và chú Rob luôn có mặt trong buổi tối tiệc lễ Giáng Sinh với chúng tôi, và còn mở quà nữa. Hai năm trước, ngay ngày Giáng Sinh, cơn bảo tuyết đổ ập xuống Trenton, lúc tôi được đi phép ở trại huấn luyện Ft. Dix. Tôi nghĩ tới tuyết, món khoai tây nghiền và nước xốt của mẹ tôi, và căn nhà ấm cúng trong mùa đông lạnh lẽo. Nó như có vẻ quá xa vời. Nhưng, đứng ngay ở đấy, nghe bài nhạc Silent Night ở nơi an toàn và trong bóng đêm của trại FOB 1, tôi cảm như có được một đêm Giáng Sinh thực sự. Tôi cảm thấy rất thú vị, bởi vì trước đó vài giờ đồng hồ, tôi đã lo sợ điều xấu nhất sẽ xảy ra. Tôi cũng cảm thấy mệt mỏi và nghĩ mình già đi. Tôi trở về phòng, nơi tôi ở chung với Spider và Don Wolken.

Cơn ác mộng bắt đầu vào đêm ấy. Tự dưng, tôi thấy tôi trở lại ngay bãi đáp. Tôi cảm được cái nóng của đám lửa. Tôi có thể ngửi được mùi khói và tôi bị ho khan. Thêm một lần nữa, tôi đứng ngay góc đồi, vẫy tấm vải màu hồng và tím cố gắng làm cho viên phi công chiếc trực thăng đang xuống thấp về hướng chúng tôi, trông thấy tôi. Tôi hồi tưởng lại cảnh quay chậm lúc ban ngày với một điều ngoại lệ chính: Khi chiếc Kingbee vừa xuống thấp, tôi trông thấy viên trung uý phi công trẻ ngồi ở ghế bay chớ không phải là Đại Uý Tường. Đây là viên trung uý đã thất bại trong lúc cố gắng mang phân nửa toán thám sát khỏi thung lũng A Shau đầu năm, sau khi viên phi công kỳ cựu đã bốc được nửa toán trước đó. Viên phi công đàn anh đó chính là Đại Uý Thịnh, đã quay trở lại với những người lính thám sát còn lại sau khi viên trung uý đã hoảng sợ. Đại Uý Thịnh đã bốc họ ra được, một trong những hành động rút lui dũng cảm và gan dạ nhất trong lịch sử của C&C.

Trong giấc mơ, tôi thấy và biết viên trung uý đó bởi vì các phi công đàn anh Kingbee đã kiên nhẫn làm việc với anh ta. Thật lặng im, từ một nguồn tin, các trưởng toán trong trại đều biết, nếu anh ta bay và anh đang chạm địch, đúng là phải gập người lại, hôn mông giã từ. Anh ta đã không nhạy bén và dũng cảm như hai Đại Uý Thịnh, Tường; và hai Trung Uý Trung, Trọng, những người đã làm cho các quân nhân Lực Lượng Đặc Biệt trong trại FOB 1 kính nể. Trong cơn mơ, tôi hoảng sợ quá đỗi khi tôi trông thấy mặt viên trung uý đó. Tôi la vào máy truyền tin PRC-25 và nói với Spider, “Đại Uý Tường đâu? Đại Uý Tường đâu? Đồ chết tiệt!” Khi la hét, tôi trông thấy vẻ hoảng sợ chạy dài trên gương mặt tròn của viên phi công trẻ, và viên trung uý nhìn tôi với gương mặt tang tóc khi anh ta mang chiếc trực thăng lên cao khỏi bãi đáp, bỏ chúng tôi lại dưới đất. Tôi cảm được lửa, sức nóng, và khói đang đến gần. Cổ họng tôi bị siết chặt, mắt tôi đầy nước.

Tôi ngồi thẳng dậy, trên giường. Người tôi đầy mồ hôi, cổ họng khô khan, và mắt bị đau vì tưởng tượng về khói lửa. Sự kinh hãi giống như thật đến nỗi tôi đã không nhận biết một con chuột đang chạy lon ton khỏi giường cho đến khi tôi nghe nó chạm đất.
Hai ngày sau, tôi và Bubba ngồi nói chuyện với người bạn thân của Bubba, Doug “the Frenchman” Le Tourneau thuộc toán Virginia. The Frenchman và toán của anh đã được “bốc” trước, sau khi chạm địch vào ngày thứ năm của chuyến công tác.

The Frenchman hỏi có phải Bubba đi công tác trong ngày Giáng Sinh. Anh nói cho đến ngày thứ ba của chuyến công tác, không tìm thấy hoạt động của quân địch để báo cáo, và anh cũng quên hôm ấy là ngày lễ Giáng Sinh. Không có gì làm, anh dò tìm các tần số trên máy PRC-25. Sau một vài lần, anh tìm được một tần số nói tiếng Việt, nghe rất rõ, các tiếng nói nghe có vẻ khẩn cấp. Không hiểu được những người Việt đó đang nói gì và không rõ họ là ai, Doug hỏi Hoàng, người thông dịch viên của toán, nghe cuộc đàm thoại. Vài giây sau, Hoàng cau mày. Anh nói với Doug rằng anh đang nghe tụi lính Bắc Việt, và như là tụi nó đang mở một cuộc phục kích vào các người lính Hoa Kỳ. Anh đang bị trở ngại vì không thể hiểu được chắc chắn là tụi lính Bắc Việt đang nói gì với nhau vì tiếng địa phương của họ và anh không rõ tiếng lóng của họ.

Rồi Hoàng nhìn vào chiếc máy truyền tin PRC-25 với vẻ mặt kinh hoàng. Anh cho Doug biết tụi Bắc Việt đang cố gắng phục kích toán ST Idaho. Doug báo cho Mike Childress, trưởng toán Virginia biết Hoàng vừa nghe được những gì trên cái máy truyền tin và anh xin phép được vào ngay tần số khẩn cấp để báo động cho toán Idaho. Anh đã được chấp thuận.

Lúc Hoàng tiếp tục theo dõi qua máy PCR-25, Doug mở máy cấp cứu và cất giọng gọi Covey. Thời gian ấy, anh không biết được là Spider đang ở trên vùng công tác. Khi anh đang giải thích những gì Hoàng nghe được trong ra-đi-ô, viên thông dịch viên nắm lấy tay Doug và bảo anh nói với toán Idaho rằng tụi Bắc Việt đang phục kích chờ đợi ở hướng đông bắc vị trí của toán. Doug lập tức báo cho Spider biết. Thêm vài phút theo dõi tiếp ra-đi-ô của bọn Bắc Việt, tần số FM bổng nhiên tắt ngấm. Chiếc Covey chú tâm lo việc “bốc” chúng tôi và đã không trở lại tần số của toán Virginia. Bây giờ thì tôi biết từ đâu mà Sipder biết được tin tức và tại sao mà anh không muốn chúng tôi di chuyển lên hướng đông bắc.

Doug tiếp tục câu chuyện. Vào ngày thứ năm của chuyến công tác của toán Virginia, toán di chuyển đến một vị trí mới trên con đường mòn và anh ngồi ngay sau một khúc gỗ rất lớn, nơi anh vừa quan sát được con đường mòn và vừa có thể ra hiệu cho các toán viên. Khoảng hai giờ trưa, tên trinh sát của một đại đội lính Bắc Việt rời khỏi con đường mòn và ngừng ngay trước khúc gỗ lớn, nơi mà Doug đang ẩn núp. Tên trinh sát trẻ con này bước tới bước lui và dở môt chân lên, có vẻ như hắn sẽ bước lướt qua khúc gỗ. Trước khi cái chân tên này chạm đất, Doug đứng dậy ngang hông tên lính đang hoảng hốt này. Tên lính Bắc Việt nhìn vào mắt Doug trong vài giây, trông thấy cây súng CAR-15 của Doug đang chỉa lên thẳng vào người và biết được hắn vừa làm một lỗi thảm sầu. Đây là lần nhảy toán thứ hai của Doug với toán Virginia, anh mất bình tĩnh bắn hết cả băng đạn vào người tên lính Bắc Việt. Nguyên cả đại đội quân Bắc Việt rượt đuổi toán Virginia hơn một giờ đồng hồ. Cuối cùng, Doug gọi xin không yểm, và được một chiếc Kingbee “bốc” bằng thang dây.

Với riêng Doug, cuộc thám hiểm không dừng lại. Lúc chiếc trực thăng kéo a
nh lên khỏi mặt đất, cây súng CAR-15 của anh bị quấn vào thang dây bên trên anh, thân anh bị đảo ngược, đầu lộn xuống đất. “Đ.M. cái đai đeo hình chữ D!” Quân Bắc Việt vẫn còn đầy dẫy ở dưới đường mòn. Vậy là anh ta thảy lựu đạn xuống quân địch và còn tìm cách bắn được vài viên đạn M-79 khi anh được kéo vào trong trực thăng.
Tôi và Bubba nói thêm cho Doug biết những sự việc xảy ra vào ngay ngày Giáng Sinh và tụi tôi đã được may mắn như thế nào. Chúng tôi không muốn nghĩ thêm việc gì sẽ xảy ra nếu Doug không bắt được làn sóng ấy. Tôi và Bubba đều biết Doug đã cứu mạng chúng tôi. * * * Cái mà tôi không hề biết là cơn ác mộng của đêm Giáng Sinh năm 1968, lâu lâu lại ám ảnh tôi cho suốt hai mươi lăm năm. Một thời gian sau, tôi đã có thể ngồi thẳng lưng, ra mồ hôi với nỗi lo sợ khi cơn ác mộng đến. Cũng đã hơn mười năm sau c ơn ác mộng cuối. Nhưng mỗi khi Giáng Sinh đến, ác mộng hay không ác mộng, tôi luôn dành ít phút giây nghĩ đến lòng dũng cảm của Đại Uý Tường. “Không hề chi, Kingbee không bao giờ nghỉ ngơi.”

Sài Gòn nhỏ ngày 29 tháng Chín 2011