Wednesday, March 7, 2012

Cái Muỗng

Tôi không nhớ rõ năm đó là năm thứ mấy chúng tôi “học tập cải tạo”, chỉ biết rằng khi ấy trong chúng tôi đã có những người “quen” với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam được “xây dựng” bằng đủ thứ kiểu giữa những vùng rừng núi âm u miền Bắc. Ở Sơn La thì “trại” được làm trên những nhà tù từ thời xa xưa, trên những cái nền nhà lỗ chỗ, người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.
Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị, rồi một thời gian sau, VN giam những người tù Thái Lan và trong chiến tranh đã có khi người ta dùng làm “công binh xưởng” chế tạo lựu đạn. Vì thế nên thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được vài cái vỏ lựu đạn ở đâu đó quanh khu vực này. Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh vách đất, ngoại trừ một khu người ta gọi là khu “biệt kích” gồm vài căn nhà “xây dựng kiên cố” bằng gạch lợp tôn xi măng. Chúng tôi “được học tập cải tạo” trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại là khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích đã từng nhảy dù ra Bắc rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó. Muốn vào khu này phải qua hai lần cổng có tường gạch bao quanh. Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác, còn khi chúng tôi “được giam” ở đây có vẻ như “cởi mở” hơn vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ. Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày cho khỏi phải mở ra đóng  vào.
Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi rồi người ta cũng phải quen. Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi dù là trong đói rét, thiếu thốn và trong những cấm đoán vô cùng khe khắt. Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật và quy định riêng. Những ngày đầu người ta cấm luôn cả trà, cà phê, thậm chí cấm cả người tù đeo kính cận. Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa. Chỉ còn những thứ đã thành “luật” thì luôn bị cấm và cấm ở bất cứ đâu. Cấm “mua bán đổi chác linh tinh”, cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi và cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng sắt như dao, kéo, muỗng nĩa… Tuy vậy có anh tù nào lại ngây thơ ngoan ngoãn đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy. Mua bán đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra, dao kéo vẫn cứ được lén lút xử dụng hàng ngày nhưng đó là những thứ đã được “cải biên” thành dao kéo mini nhỏ síu cho dễ cất giấu. Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày, dù có bị bắt thì cũng chỉ bị tịch thu chứ không đến nỗi bị cùm một hoặc hai chân –tùy theo tội– hay bị đưa vào “thiên lao” tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.
Ngày qua ngày, cái “không khí êm ả” của trại giam trở nên phẳng lặng nhưng dĩ nhiên là không thể nào nói rằng đó là thứ “an tâm, hồ hởi phấn khởi” mà bất kỳ anh “trại viên” nào cũng cứ phải viết khi phải làm những “bản kiểm điểm”, mặc dù kể cả người viết và người đọc đều chẳng ai tin.
Nhưng cái không khí ấy đôi khi bỗng nhiên bị xáo trộn. Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đang ngồi ở cái sân đất giữa trại, chờ gọi tên từng đội đi lao động để “một ngày lại vinh quang như mọi ngày” thì bỗng đâu toán lính gác trại tù sồng sộc chạy vào. Họ chạy rầm rập như ra trận, súng ống chĩa về phía “quân thù”, mặt mũi “khẩn trương” rõ rệt. Họ sộc thẳng vào những phòng giam trống hốc cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.
Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo bâng quơ. Chuyển trại hay có ai đó trốn trại? Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi mà mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình. Sau đó chừng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên “phòng thi đua”. Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ “quốc cấm” mà trại đã quy định tù không được dùng.
Thật ra, đó cũng là cái cung cách mà ở những “trại cải tạo” thường dùng để khuấy động cái không khí trầm lặng dễ phát sinh ra những “tiêu cực”. Bởi trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau làm một chuyện gì đó như tổ chức trốn trại hoặc có thể có những vụ xúi giục “tuyệt thực”, bàn bạc chống đối… Và nếu nói đến sự chống đối thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được. Thí dụ sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh “quản giáo”, sự thô bạo của mấy anh lính võ trang. Chuyện gì cũng có thể chống đối được. Vì thế thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng “đề cao cảnh giác”, lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi “mưu đồ”.
Các anh tù đừng có tưởng bở, chẳng bao giờ yên đâu. Cứ sau mỗi lần như thế, chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được vài anh tù nào đó giấu những thứ vớ vẩn như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng ngoài quy định. Tất nhiên sẽ có những cuộc “kiểm điểm, phê bình” mà chúng tôi gọi là những “buổi tối ngồi đồng” để từ đó lòi ra một vài cái “tội”. Ðội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai “phê” thì cứ mặc, còn cãi là còn “ngồi đồng”. Ði làm suốt ngày mệt mỏi đến thở không ra, tối về còn ngồi đồng, còn “phê bình” còn “kiểm thảo” thì chịu sao nổi. Nay “làm chưa xong” thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi. Tội nặng, tội nhẹ tùy theo tình hình của từng thời điểm.
Thời điểm “căng” thì vào tù phạm tội vào nhà kỷ luật đặc biệt nằm “treo một chân”, thời điểm nhẹ nhàng thì cảnh cáo, ghi tội vào biên bản. Và họ sẽ có những biện pháp an toàn như chuyển đổi năm bẩy anh từ đội này sang đội khác để phòng tránh những vụ tù kết hợp thành tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh của trại tù.
Chung quy đó chỉ là một cách đào xới tung cái tinh thần “tưởng rằng yên ổn” của mấy anh “trại viên” còn tỏ ra cứng đầu, còn có mưu toan lôi kéo người này người kia vào trong phe mình để từ đó có những yêu sách hoặc toan tính bất lợi cho trại tù. Quả là mỗi lần như thế trại tù cũng rối tung lên và làm cho những anh yếu bóng vía thường phải sống dựa vào tinh thần bè bạn càng thêm rụt rè, chẳng biết tin vào ai được nữa. Nhưng riết rồi trò gì cũng thành quen và đối với một số người tù “chẳng còn có gì để mất” thì họ trơ như đá, muốn làm gì thì làm, chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được mà chết cũng chẳng sao.
Có lẽ tôi cũng đã học tập được cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ, bởi tôi cũng chẳng còn có gì để mất. Vợ con nhà cửa đều đã mất tất cả rồi, chẳng có gì phải lo. Ðôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh rể ở Sàigòn gửi cho cái gì thì nhận cái nấy. Và một sự thật không thể quên là nếu không có ông anh rể tốt bụng đó thì tôi cũng đã trở thành một thứ “Tù Caritas” như một số anh em ở trong trại tù rồi. Tức là những người tù chẳng có ai thăm nuôi.
Những bà vợ đau khổ với những gia đình đói rách lầm than, họ lo cho chính họ còn không xong thì lấy gì đi “thăm nuôi” người ở trong tù mà lại tù ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí có người tù còn vui mừng khi thấy vợ mình bước đi bước nữa với một anh nào đó và đưa các con ra được nước ngoài. Tôi nói thế để chứng minh rằng không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này. Theo tôi thì những anh “mồ côi” không ai thăm nuôi trong trại tù mới chính là những anh hưởng trọn vẹn được cái “thú đau thương”.
Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng sộc vào trại. Ðó là một buổi sáng cuối mùa đông, trước Tết âm lịch chừng vài ngày. Ðây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù trước những ngày lễ Tết lớn. Tôi thảnh thơi theo đội đi làm ở ngoài đồng. Tôi vẫn cứ yên trí rằng tôi chẳng có gì để mất, hay cái vật tôi mất chẳng có gì quan trọng.
Vào mùa đông cái thứ quan trọng nhất với người tù chỉ là rau. Mùa này thiếu rau đến… khô quắt cả dạ dày, rau muống bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải và trồng cải thì lâu mới được ăn và năng suất không cao, cho nên có được tí rau là hạnh phúc nhất. Tôi ngồi lê la trước mấy luống su hào, đó là thứ “thực phẩm cao cấp” nhất trong khu vườn rau của toàn đội. Những củ su hào bắt đầu to hơn nắm tay nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt mà, tôi trông coi chúng vì cái công sức tôi bỏ ra hơn một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó mà tôi đã từng viết ra, ở đây không có gì để coi như tác phẩm thì coi nó là tác phẩm vậy, để có cái mà thú vị và để có cái mà quên đi những thứ quanh mình.
Cứ như thế tôi tha hồ đặt tên từng luống su hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ “lả lướt” như tên người tôi đã gặp ở tiệm khiêu vũ, có khi là một cái tên rất dung tục. Âu cũng là một trò “nghịch ngầm” giữa vùng rừng núi âm u, hầu như không có mặt trời mùa đông này. Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong một hai ngày nữa. Bởi Tết đã đến, dù 12 luống su hào còn non chưa đến ngày “thu hoạch” nhưng cần thức ăn trong ba ngày Tết nên họ sẽ nhổ. Nếu tù không ăn thì cai tù ăn, chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân. Nhưng vui chơi được giờ nào hay giờ ấy trong cuộc sống phù du này.
Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao, kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia thì tôi vẫn nhởn nhơ vì tôi chẳng có gì để mất. Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm, nhưng thật ra chỉ có đúng một bát bo bo tương đối khá đầy đặn. Tôi ăn thì tạm lưng lửng, nhưng những người bạn tôi thì không bao giờ đủ. Họ thường nói “Vừa ăn xong mà vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn”. Cái đói cứ lửng lơ mãi ngày này qua ngày khác, thế mới là khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo cái kiểu câu dầm, tức là lấy cái muỗng tre nhỏ xíu, hoặc một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng bo bo ăn rả rích suốt ngày để có cảm tưởng lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói, đó là cách tự đánh lừa mình.
Tôi cũng “ăn dè hà tiện” nhưng tôi ăn bằng muỗng. Cái muỗng rất đặc biệt bằng inox hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi và luôn được chùi rửa sáng bóng. Nhưng sáng nay, được chia hai củ khoai lang ăn sáng nên tôi để cái muỗng ở nhà. Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon Guigoz – một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng và nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù, nó có thể dùng “trăm công ngàn việc” từ đựng các loại thức ăn, thức uống đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, múc nước tắm rửa đánh răng, rửa mặt. Nhưng hôm nay thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó đã bị tịch thu trong buổi khám xét trại sáng nay.
Ðây là thứ “gia bảo” tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm nay chưa hề lơi lỏng. Nó luôn nằm sát bên tôi, lúc đi lao động cũng như khi nằm ngủ. Có thể ví như cái nạng của một anh què, cái gậy của ông lão chín mươi, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.
Sau một buổi trưa mưu toan tính kế, chiều hôm đó tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại. Dực cũng chỉ là một “trại viên”, nhưng trước đây anh ta là cán bộ, anh “thoái hóa tiêu cực” sao đó nên bị đi tù. Những anh cán bộ và quân nhân trong trại tù thường được gọi là “phạm binh, phạm cán” tức là tội phạm thuộc binh sĩ hoặc cán bộ cũ. Họ có một chế độ đãi ngộ riêng và thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.
Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình, Dực liền hỏi quê quán và nhận là người cùng quê. Một lần Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính, qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng “Cậu Huyện Nhụ nằm ở đó”.
Tôi hỏi anh có họ hàng thế nào với ông Huyện Nhụ, anh ta nói anh là cháu gọi ông Nhụ bằng cậu, nhưng gia đình cụ Nhụ vào Nam còn gia đình anh vốn là nông dân nên ở lại miền Bắc.
Cụ Nguyễn Mạnh Nhụ trước năm 75 làm chánh án ở Tòa án Sài Gòn và tôi nghe nói là cũng có họ hàng với gia đình tôi, nhưng là họ xa. Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ. Sau này tôi có gặp cụ vài lần. Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống của cụ Huyện Nhụ khi còn ở Sài Gòn. Sau này đi “cải tạo” cụ Huyện Nhụ mất ở trại này. Dực nói là trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh dò. Dực nhắn người nhà ở Thái Bình khi đi thăm nuôi thì ghé qua Hà Nội mua lên vài cái, nhưng khi bánh dò mang lên thì cụ mất rồi.
Từ đó, đối với tôi, Dực có phần dễ dãi hơn. Nhưng dĩ nhiên cái khoảng cách giữa một bên là “ngụy” một bên là “cán” thì khó mà san lấp được…
Nhưng hôm nay thì tôi cần đến hắn. Suốt buổi trưa tôi không gặp được Dực. Cho đến hai hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày Tết tôi mới gặp được Dực. Trong khi đó tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không. Họ nói còn để trong kho lẫn lộn với những thứ đồ dùng khác. Tôi mang cho Dực một ít thuốc đau dạ dày của ông anh tôi mới gửi vào. Rất may cho tôi là hắn cũng bị đau dạ dày. Mà cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó chỉ là tí mật ong trộn với nghệ nên không công hiệu. Tôi có thứ thuốc “cao cấp” hơn là Maalox, uống vào là cơn đau dịu xuống ngay. Thuốc Mỹ đàng hoàng, người ta ghét Mỹ nhưng thuốc của nó tốt thì cứ thích, có sao đâu.
Tôi gạ chuyện để xin lại cái muỗng. Dực trợn mắt:
“Anh làm cái gì mà cần cái muỗng đến thế? Bây giờ để trong kho, chui vào đấy mà trực trại nó biết thì tôi vào nhà đá.”
Tôi nằn nì:
“Ðấy là đồ gia bảo của tôi đấy. Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm, một cái bằng lái xe ba dấu, một cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, tôi chỉ cần cái muỗng thôi.”
Dực nhìn tôi nghi ngại:
“Mày giấu cái gì trong đó?”
Dực hơn tôi hai tuổi nên hắn có gọi tôi bằng mày tôi cũng không tự ái, mà dù hắn có kém tôi vài ba tuổi mà lúc đó hắn gọi tôi bằng mày tôi cũng cho qua luôn.
“Cái muỗng đặc và nhỏ như thế làm sao giấu cái gì trong nó được?”
Dực nửa đùa nửa thật:
“Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày chẳng làm được. Chưa biết chừng mày giấu cả cái máy quay phim trong đó cũng nên. Tao nghe nói mày có sách làm phim phải không?”
“Ðúng, nhưng là tôi viết truyện rồi người ta lấy làm phim chứ tôi biết cái cóc khô gì.”
“Vậy sao mày chỉ đòi lấy lại cái muỗng, mày mua chuộc tao bằng hai vỉ thuốc đau dạ dầy, không bõ. Khéo không chết cả đám. Tao không chơi.”
Tôi thất bại, nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc. Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp Tết. Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường thì Dực kéo tôi xuống. Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường, kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong ba ngày Tết cho ra vẻ “có văn hóa”. Nhưng nếu coi thư viện thì không được ăn Tết ở phòng mà phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay dù biết rằng tôi sẽ mất cái thú dự những ngày Tết với anh em trong phòng giam và mất cái thú ngồi đánh mạt chược bằng những con bài gỗ do chúng tôi tự làm lấy.
Thế là tôi lại có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi. Dực vẫn nghi ngờ rằng tôi có cái gì giấu trong đó, hay tôi cần cái muỗng để làm việc gì đóù. Tôi đành kể cho Dực nghe:
“Buổi sáng hôm tôi phải đi “học tập cải tạo”, vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng cho vào túi xách để tôi mang đi. Ðứa con gái của tôi, khi đó mới hơn ba tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách nào là quần áo, khăn mặt, thuốc… nó đang ăn sáng, cũng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng nó đang ăn và dặn: “Con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại cho con đấy”.
Tôi ôm con gái gật đầu hứa khi về bố sẽ trả con. Nhưng quả thật tôi vẫn nghĩ chẳng bao giờ tôi trả lại được cho nó. Lần chia tay này có thể là vĩnh viễn… Chúng tôi ngậm ngùi chia tay, không thể hẹn được ngày về vì có biết ngày nào về đâu mà hẹn!
Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt trong những bữa ăn, suốt trong những giấc ngủ. Hình ảnh con gái và gia đình tôi hiện lên qua cái muỗng đó. Tôi vẫn đánh lừa tôi rằng tôi đang được ăn bên con gái tôi, bên những người thân yêu của tôi. Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy là một niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực, nhưng vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.
Nghe câu chuyện ấy, Dực tỏ ra chần chừ, nhưng hắn vỗ vai tôi:
“Thôi được, nếu là như thế thì tôi giúp cậu. Tối nay, khi cậu ngồi coi phòng đọc sách, tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cậu xuống phòng thi đua cho cậu ngồi ăn ở đó, trong khi tôi gọi ban thi đua lên phòng hội thì tôi giả vờ để quên chìa khóa kho. Cậu mở cửa kho vào mà tìm, nhưng có gì thì cậu chịu trách nhiệm. Nó mà vớ được thì ‘kỷ luật’ suốt cái Tết này đấy, chưa biết chừng suốt mùa xuân.”
Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách “ăn trộm” này. Tối đó tôi mở khóa mò vào gian nhà kho. Ánh điện từ nhà ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống hầm bà làng đủ thứ đồ dùng lặt vặt vừa bị thu mấy hôm trước. Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó, quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.
Thôi thì đủ thứ, cái điếu cày được làm bằng những ống hỏa châu hoặc những cáng băng ca được cắt ngắn, chạm trổ rồng phượng, khắc gọt rất tinh vi. Những cái trâm cài đầu, những cái lược cho con gái hay cho người yêu, làm bằng nhôm được khắc những cái tên “Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường…” nghe nao cả lòng. Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn cũng có hoa lá cành . Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.
Sách vở tiếng Anh tiếng Pháp và đủ thứ giấy tờ lộn xộn. Cái mà tôi kiếm được trước tiên lại là cái bằng lái xe của tôi. Tôi không dại gì mà không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì. Tôi lại hì hục lục tiếp, vừa hồi hộp vừa phải làm thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh. Dù chỉ một tiếng động nhỏ cũng khiến tôi giật mình. Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy. Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy và đâm hốt hoảng nếu cái muỗng không còn ở đó nữa. Nhưng may quá, cái muỗng kia rồi, nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của “thằng chết tiệt” nào đó. Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay. Lúc đó tôi có cảm tưởng như “Con có ở xa bố hàng cây số thì bố cũng cứ nhận ra con như thường”.
Tôi vồ lấy nó như sợ bị người ta giật mất. Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng mà tôi đã quá thân thuộc như chính cái nét mặt con gái tôi khi nó “nhí nhảnh” đưa cái muỗng vào trong túi xách. Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui, bố đi chơi vài ngày rồi bố về. Ừ thì vui. Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó và trong nụ cười hồn nhiên của nó. Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế mà hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh như một ánh chớp. Tôi vọt ra khỏi phòng, khóa cửa lại, biến nhanh vào bóng tối trên con đường về “khu biệt kích”. Thoát nạn!
Cái Tết ấy tôi lại được vui chơi với cái muỗng của tôi, dù tôi đã phải hy sinh suốt ba ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi thì tôi cứ phải quanh quẩn trong cái “phòng đọc sách” chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.
Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi như chuyện được ăn một bữa cơm đúng là cơm chứ không phải khoai sắn hay bo bo. Nhưng quả là tôi thấy hạnh phúc dù ngồi thui thủi một mình. Tôi có cái muỗng rồi, còn cần gì vui chơi nữa. Ðó chính là mùa xuân của tôi.
Nhưng không phải đó là một lần duy nhất tôi phải “cứu lấy” cái vật gia bảo của mình. Hai lần sau cũng tương tự, cũng bị tịch thu rồi cứu lại được cứ như sắp ra pháp trường rồi lại được cứu. Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là người bạn đồng minh đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi trong những năm qua, người đồng minh đó đã “gan dạ” cuốn cờ chạy nhanh và chạy xa quá rồi. Thôi thì tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.
Một lần khác, tôi lội qua con suối sau cơn mưa lớn. Chỗ chúng tôi làm phải đi qua một con suối, gọi là suối lạnh. Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt dịu dàng trôi lờ lững trên những tảng đá xanh. Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm. Nhưng cứ có một cơn mưa lớn là nước từ những triền đồi vây quanh bốn hướng ào ạt đổ xuống, chỉ cần nửa giờ sau là con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn và mang theo những cành cây, những khúc gỗ lao băng băng. Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về trước khi con suối trở thành hung dữ. Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng chọang làm đổ cái túi đồ đựng những thứ lặt vặt trong đó có cái muỗng. Ở đây tôi thuộc từng khe đá nên tôi không ngần ngại nhoài người xuống mò.
Anh bạn nhảy dù, la lên:
“Bộ ông điên sao?”
Tôi điên thật, tôi muốn mò tìm cái muỗng của tôi. Nhưng nước chảy xiết quá tôi lại thua. Anh bạn nhảy dù trẻ, què một tay vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi nên anh đi xa hơn một chút, anh khom người xuống, thò một tay vào cái khe hòn đá là tìm được lại cho tôi cái muỗng. Ðôi mắt anh rất tinh, anh mỉm cười:
“Tôi biết ông mất cái gì rồi. Tôi tìm được nó cho ông nè.”
Chuyện trớ trêu là hơn 12 năm sau, tôi trở về, nhưng tôi chưa trả lại cái muỗng cho con gái tôi được vì mẹ con nó đã vượt biên, đã định cư ở nước ngoài. Hơn hai mươi năm, tôi chưa một lần được gặp lại con gái tôi. Tính đến năm nay là 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi. Ngày 29 tháng 9-2002 vừa qua, cháu lập gia đình ở Miami, Florida.
Nhận được thiệp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn. Hình như không phải là vui hay buồn mà là một thứ cảm giác kỳ lạ cứ lơ lơ lửng lửng lẫn lộn. Chú thím nó và các anh chị nó ở Mỹ đều hẹn nhau đi dự đám cưới nó. Tôi thì không, chẳng hẹn hò được gì cả và chẳng làm được cái gì cả. Tôi có cảm giác như mình thừa. Rất may là trước ngày đám cưới, cô chú nó về Sài Gòn, chính tay tôi gửi được tấm thiệp mừng con gái tôi. Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái tôi như lời hứa 27 năm về trước. Vật đó có thể thay cho sự có mặt của tôi không? Tôi không biết. Nhưng tôi chỉ nghĩ rằng gửi cho cháu để cháu hiểu rằng lúc nào tôi cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mới hôm qua hai bố con còn ở bên nhau. Tôi đi chơi đâu đó và hôm nay trở về. Nhưng cháu đã đi xa và tôi còn ở lại Sài Gòn, nơi nó đã sinh ra. Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.
Nhưng vài hôm sau thì có một điều tôi biết rất rõ là từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình. Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố bà mẹ khi cho con gái mình đi lấy chồng xa. Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Nhưng đó chính là sợi dây vô hình nối liền mãi mãi tình thương yêu dù ở bất kỳ nơi nào trên hành tinh này. Cuối cùng người ta chỉ còn lại cái Tình. Cái Tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại, đôi khi mạnh và sâu hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó thì nó mới mất mãi mãi. Tôi chắc chẳng ai dại gì làm mất cái thứ báu vật  trên đời không gì có thể so sánh được.
Lẽ ra chuyện này tôi đã viết ngay từ tháng 9/2002 khi tôi được tin cháu lập gia đình. Nhưng nhiều lần muốn viết tôi cứ ngồi mãi trước computer, không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung. Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được ngoài việc cứ để cho nó tuôn trào lênh láng như ngồi dưới cơn mưa. Không nghĩ ngợi gì cả, không làm gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi! Ðúng là chuyện của người thì làm xong nhanh mà chuyện của mình thì nghẹn. Mãi đến hôm nay tôi mới ghi lại được những dòng chữ này, nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn vì nó là thứ chuyện của cả một đời hay là của muôn đời
Văn Quang

Cuộc Đời Vẫy Vùng Ngang Dọc Của Tướng Cướp Bảy Viễn

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 Bảy Viễn
 
1* Mở bài Bảy Viễn vào đời bằng một chuỗi tiền án không mấy vẻ vang gì, từ trộm vặt, hành hung người, rồi ăn cướp có vũ khí. Cuộc đời giang hồ vào tù ra khám, vượt ngục. Chữ nghĩa không có, thời thế đưa đẩy lên địa vị một tướng lãnh, nắm giữ bộ máy cảnh sát công an đô thành Sài Gòn Chợ Lớn. Một tướng cướp lại đóng vai trò người đi bắt cướp, giữ an ninh Đô thành, thì thật là quá mĩa mai cho một thời nhiễu nhương của người Việt Nam.

2* Vụ cướp tiệm vàng Kim Khánh
Năm 1942, Bảy Viễn với người bạn giang hồ là Mười Trí, lên kế hoạch đánh cướp tiệm vàng Kim Khánh, tại một nơi buôn bán ồn ào náo nhiệt trên đường Trần Hưng Đạo. Bảy Viễn giả làm ông chủ tiệm vàng giàu có ở Cần Thơ, dùng yếu tố bất ngờ, với khẩu súng Colt để cướp vàng và tiền bạc.
Theo kế hoạch, tài xế và Mười Trí đậu chiếc xe Huê Kỳ sang trọng trước tiệm vàng. Mười Trí giữ nhiệm vụ ra dấu hiệu để liên lạc và bảo vệ. Một đàn em giả làm dân dạo phố ngồi ở ngã tư, ra dấu làm hiệu, khi cảnh sát gác đường ra về đổi phiên.
Trưa hôm đó, chiếc xe Huê Kỳ bóng láng ngừng trước tiệm vàng Kim Khánh. Bảy Viễn oai vệ trong bộ đồ lớn màu hột gà, cà vạt đỏ, kiếng gọng vàng, nón Fletcher, giày 2 màu, xách cạt táp da, miệng ngậm xi gà, bước vào giở nón chào chủ tiệm:
“Tôi định lên sớm, nhưng kẹt hai chiếc bắc Cần Thơ và Mỹ Thuận, nên giờ mới tới. Trưa trờ trưa trật rồi, bà chủ thông cảm cho”.
Bảy Viễn kéo tay áo xem giờ, để lộ chiếc đồng hồ Omega vàng, nói: “Kém 15 phút đầy 12 giờ, bà chủ chưa nghỉ trưa sao?”
Bà chủ nhìn Bảy Viễn, nhìn ra chiếc xe Huê Kỳ, biết là khách sộp, tươi cười đáp:
“Đúng 12 giờ, tiệm đóng cửa, ăn cơm và nghỉ trưa, nhưng có khách từ lục tỉnh lên, chúng tôi vui lòng đón tiếp, quá 12 giờ cũng không sao”.
Bảy Viễn trao danh thiếp: “Đây là tiệm vàng của tôi, mới khai trương hồi tháng trước, nhờ trời thương, làm ăn khá nên chuyến nầy lên Sài Gòn bổ hàng. Nghe các đồng nghiệp nói tiệm Kim Khánh là nơi đáng tin cậy, nên tôi tới làm quen”.
Bà chủ mời xem hàng trong tủ kiếng. Khi thấy Mười Trí dùng tờ báo xếp làm tư, quạt phe phẩy ra hiệu, cho biết cảnh sát đã rời ngã tư đi đổi gác, thì lập tức, Bảy Viễn dằn khẩu “colt đuôi” trên mặt kiếng và nói: “Không được la! Hễ la là chết tức khắc”. Tất cả vàng trong tủ kiếng được dồn hết vào cặp da. Chiếc xe phóng nhanh đến ngã tư mới nghe tiếng bà chủ la làng. Chỉ trong 10 phút là xe đã ra tới mũi tàu Phú Lâm.
Phấn khởi trước thắng lợi quá dễ dàng, Bảy Viễn rủ Mười Trí ăn hàng xuởng mộc Bình Triệu.
3* Cướp xuởng mộc Bình Triệu
Xưởng mộc Bình Triệu là nơi chuyên đóng ghế salon danh tiếng nhất Sài Gòn. Chủ là một người Tàu Chợ Lớn. Buổi tối chỉ có người tài phú ngủ lại xưởng, giữ số tiền chờ gởi nhà băng vào cuối tuần.
Sáu giờ chiều ngày 8-9-1942, Bảy Viễn và quân sư Mười Trí cùng hai tên đàn em là Ba Rùm vàTư Nhị, lên chiếc xe lộng lẫy mô đen mới sau cùng, vừa chạy hết “rô đai”, do một đại xì thẩu Chợ Lớn là Trần Tăng cho mượn.
Xe vượt qua cầu Bình Lợi đến thẳng xuởng mộc Bình Triệu.  Khi tài phú người Tàu mở cửa cổng, thì tức khắc, Bảy Viễn kè sát tên Tàu, ấn mạnh khẩu colt đuôi vào ba sườn hắn, nói: “Tao tới đây mượn tiền ông chủ mầy, xài tạm trong cơn túng quẩn, muốn sống thì vô nhà mở tủ đưa hết tiền cho tao”.
Tư Nhị theo sát Bảy Viễn, quơ hết mớ bạc trong tủ bỏ vào túi kaki, trong khi đó, Mười Trí quan sát động tịnh bên ngoài.
Trước khi rút, Bảy Viễn ra lịnh: “Mầy không được la làng, chờ cho xe tao đi xa rồi mới đuợc phép la, nghe chưa!”.
Khi xe đang ở giữa cầu Bình Lợi, thì phía sau có đèn pha xe hơi chớp sáng. Ba Rùm quay lại. Đèn pha mỗi lúc một tới gần. Ba Rùm la lên: “Thằng Tây trên xe nó bật đèn pha xin qua mặt xe mình đó anh Bảy”. Bảy Viễn nhấn ga, chiếc xe phóng nhanh, không cho qua mặt. Hai chiếc xe cứ lao hết tốc độ như cuộc đua chạy nước rút.
Trời bổng chớp nhoáng, mấy tiếng sấm, rồi mưa bắt đầu rơi. Chiếc xe sau vẫn bám sát.
Mười Trí nói:
-         Trời mưa, đường trơn, thôi cho nó qua mặt đi.
Bảy Viễn cự lại:
-         Không được. Cho nó qua, nó sẽ báo cho đồn Bà Chiểu truy bắt tụi mình.

Bổng Mười Trí giật mình. Trước mặt là một chiếc xe bò, cà rịch cà tang đi sát lề, theo sau là chiếc thổ mộ (Xe ngựa). Thế rồi thổ mộ vượt qua xe bò. Con đường đã hẹp lại không có chỗ cho xe hơi vượt qua. Mười Trí toát mồ hôi lạnh khi thấy Bảy Viễn vẫn miết ga 120km/giờ. Vừa lúc xe thổ mộ qua mặt xe bò, rồi nép vào lề mặt, chiếc xe của Bảy Viễn vượt qua như ánh chớp. Mọi người thở phào, nhẹ nhõm.
Chưa hết gian nan. Khi tới cầu Băng Ki, Bảy Viễn thình lình chặt cua, quẹo qua ngã ba Cây Thị để sửa lưng thằng Tây, cắt đuôi nó, thế nào nó cũng ngon trớn chạy thẳng.
Do quẹo gấp mà không bớt ga rà thắng, lại gặp đường trơn, chiếc xe sàng qua sàng lại rồi đâm đầu xuống ao cá vồ bên đường.
Không thể kéo chiếc xe lên được. Mười Trí thở dài: “Thôi, chỉ có nước ôm tiền về nhà, sáng mai mướn xe kéo nó lên, o bế cẩn thận rồi trả lại cho Trần Tăng. Thế là cả nhóm bao một cuốc xe ngựa về nhà Bảy Viễn.
Cảnh sát truy ra chủ xe là Trần Tăng. Thế là cả nhóm bị tóm. Ra toà mỗi người lãnh 12 năm tù khổ sai, đày đi Côn Đảo.
Riêng Bảy Viễn, cộng thêm 8 năm còn thiếu do vụ vượt ngục trước kia, thành 20 năm.
4* Vài nét về Bảy Viễn
Bảy Viễn là một tướng cướp lừng danh trước năm 1945. Về sau, theo Việt Minh chống Pháp, rồi ly khai Việt Minh về hợp tác với chính phủ quốc gia của quốc trưởng Bảo Đại. Bảy Viễn, thủ lãnh Bình Xuyên chống chính phủ Ngô Đình Diệm, bị dẹp tan năm 1955. Bảy Viễn chạy sang Pháp lánh nạn và mất năm 1970.
Lê Văn Viễn sinh năm 1904 tại Phong Đước, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn. Cha là Lê Văn Dậu, người Tàu gốc Triều Châu.
Bảy Viễn học hết tiểu học trường làng rồi đi bụi đời, học võ, học gồng. Mình xâm hình con rồng màu đỏ ở lưng, đầu rồng ở sau cổ, đuôi rồng xuống tới hậu môn. Hai vai, xâm hình đầm ở truồng, đầu rắn xâm ở đầu dương vật. Vì xâm mình rất đau, dùng kim đâm cho chảy máu rồi lấy mực tàu trét vào, cho nên những người chịu nổi thì thuộc về tay anh chị.
Người cao 1.7 m.
Bảy Viễn lập băng đảng, nổi danh là tay anh chị chợ Bình Đông, bảo kê các trường đá gà, rồi đứng bến xe lục tỉnh.
-         Năm 1921, bị tù lần đầu 20 ngày về tội ăn cắp xe đạp.
-         Năm 1927. bị tù 2 tháng vì hành hung ông chủ, khi giữ chân gác sòng bài cho ông.
-         Năm 1936. Ngày 28-8-1936, bị kết án 12 năm khổ sai, đày đi Côn Đảo về tội cướp tiệm vàng ở Giồng Ông Tố, thu được số tiền rất lớn là 6,000$. (Hồi đó, 1 đồng bạc mua được 5 giạ gạo).
-         Ngày 8-2-1940, ở tù được 4 năm thì vượt ngục lần thứ nhất về đất liền. Như vậy còn thiếu 8 năm, nên được cộng thêm vào án 12 năm trong vụ cướp xưởng mộc Bình Triệu.

5* Cuộc vượt ngục lần thứ hai
Tù Côn Đảo chỉ có một phương tiện duy nhất là bứt mây rừng, đốn cây kết bè, chờ đến mùa gió chướng, thổi từ biển vào đất liền, rồi thả bè cho trôi theo chiều gió. Trong lịch sử vượt ngục Côn Đảo không tới 10 cuộc thành công.
Tù nhân được điểm danh mỗi ngày. Các bãi biển thả bè hướng về đất liền, luôn luôn được canh giữ cẩn mật, bởi những phạm nhân sắp mãn hạn tù, được cử làm “trật tự” chờ đợi ngày về Sài Gòn, ra khám.
Hơn nữa, vùng biển Côn Đảo có rất nhiều cá mập, ít có chiếc bè nào dám vượt qua mũi Cá Mập cả. Gian nan và nguy hiểm chập chùng trên đường vượt biển. Lắm khi giông bão nổi lên, cuốn bè trôi mất phương hướng, thay vì vào ven biển đất liền thuộc các tình miền Nam, lại trôi ngược lên tận đảo Hải Nam của Trung Hoa. Người chết vì đói và khát. Côn Đảo cách Vủng Tàu 120km.
Trong chuyến vượt ngục lần thứ hai nầy, trên bè có Mười Trí, Bảy Viễn,Tư Nhị và Năm Bé.
Trước cảnh đồng hội đồng thuyền, sống chết trên biển, các tay giang hồ liền nhớ đến chuyện Đào viên kết nghĩa của bộ ba Lưu, Quan, Trương trong chuyện Tàu, nên đồng ý kết nghĩa huynh đệ giang hồ, có phước cùng hưởng, có họa cùng chia.
Trời hôm đó sáng rở, biển lặng, đúng giờ hoàng đạo, mỗi người tiểu chung vào một cái ca, lấy nước tiểu thay máu đào uống vào, kết nghĩa anh em theo kiểu tù vượt ngục. Mười Trí sinh năm 1903 làm đại ca, Bảy Viễn sinh 1904, làm nhị ca, tam ca là Năm Bé và em út là Tư Nhị.
6* Đánh cướp chủ đồn điền Dầu Tiếng
Một hôm, đàn em Bảy Viễn báo cáo tình hình, tên giám đốc đồn điền cao su Dầu Tiếng, hàng tuần đều đến nhà băng lấy tiền về trả lương cho thầy, thợ.
Kế hoạch.
Bảy Viễn đi mướn chiếc xe Huê Kỳ và đích thân lái. Mười Trí giữ vai cận vệ.
Đúng giờ G sáng thứ bảy, Bảy Viễn cho xe đậu sát chiếc xe của Tây giám đốc đồn điền, rồi xách cặp da vào ngồi ở ghế chờ đợi, dành cho khách hàng, mở sổ sách ra giả vờ tính toán mà cặp mắt luôn theo dõi thằng Tây.
Khi tên giám đốc ôm tiền bước ra khỏi cửa nhà băng, thì Mười Trí chồm qua xe hỏi mượn bật lửa châm thuốc. Người tài xế vô tình mò tìm bật lửa, thì nhanh như cắt, Mười Trí dùng cạnh bàn tay chém vào gáy, làm tên tài xế bất tĩnh, gục xuống.
Bảy Viễn chờ cho thằng Tây đến bên cửa xe mới tấn công. Một gói ớt bột đập ngay vào mắt, tên giám đốc tá hỏa, buông va li tiền và ôm mặt.
Nhanh tay, Bảy Viễn chụp túi bạc liệng lên xe rồi nhảy lên đạp ga vọt nhanh. Mọi việc xảy ra quá nhanh nên không nghe có ai la làng cả.
Bảy Viễn về đến sào huyệt cả tuần lễ, thì vụ cướp táo bạo giữa ban ngày mới được báo chí bàn tán xôn xao. Các phóng viên đồng ý với nhau rằng, kiểu cướp phóng xe Hoa Kỳ là sở trường của Bảy Viễn.
Sáng hôm đó, xe đạp Mười Trí cán đinh nên phải ghé lề đường vá xe. Thình lình, một xe chở đầy lính lướt qua, Mười Trí biết bị lộ, nên vọt thẳng xuống Sài Gòn.
Bảy Viễn đang ngồi đánh bài thì được tin báo, xuống xuồng bơi qua sông thoát hiểm. Nhưng sau đó, bị bắt nguội và lại bị kết án đày đi Côn Đảo một lần nữa, là lần thứ ba.
Ở đảo, nhờ Ba Rùm giúp đở, nên Bảy Viễn và Mười Trí vượt ngục lần thứ ba.
Khi về tới đất liền thì tình hình chính trị thay đổi nhanh chóng, Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện.
Bọn Nhật ở Đông Dương buồn rầu hơn bố chết, nhiều sĩ quan, Harakiri, tự mổ bụng tự tử.
Theo báo chí, thì quân đội Anh-Ấn tước khí giới quân Nhật ở miền Nam, quân của Tưởng Giới Thạch do tướng Lư Hán chỉ huy, tước khí giới Nhật từ vĩ tuyến 16 trở lên Hà Nội.
Thừa lúc Nhật bị tước khí giới, người Pháp còn bị Nhật giam, Việt Minh cướp chánh quyền, tuyên bố độc lập vào ngày 2-9-1945.
Trong khi đó, quân đội Pháp từ Calcutta và Bombay, Ấn Độ, đang trên chiến hạm trực chỉ Sài Gòn để tái chiếm lại Nam Kỳ từ tay người Nhật.
Bảy Viễn dốt về chính trị, không biết nên ngã về phía nào, theo Việt Minh hay Pháp, cho nên áp dụng “nắng chiều nào, che chiều đó”, rồi quyết định mua súng, lập bộ đội. Súng đạn tụi Nhật rẻ như bèo, dại gì đem nạp cho quân Anh-Ấn.
Ngày 5-10-1945, tướng Pháp Leclerc đến Tân Sơn Nhất, sau khi chiến hạm Triomphant chở đầy lính cập bến Sài Gòn.
Tướng Leclerc tuyên bố, Pháp sẽ quét sạch Việt Minh trong 3 tuần lễ. Quân Pháp bắt đầu đánh chiếm Biên Hòa, Thủ Dầu Một, Tân An, Mỷ Tho.
Ủy viên quân sự Trần Văn Giàu cho các đơn vị vũ trang rút ra ngoại ô, tổ chức đánh du kích.
Thực dân Pháp bắt đầu chiến dịch truy tìm những thành phần theo Việt Minh và những nhóm anh chị giang hồ, đầu trộm đuôi cướp, vì thế, Bảy Viễn phải ra bưng.
7* Bộ đội Bình Xuyên
Bình Xuyên là tên của một ấp thuộc làng Chánh Hưng, quận Nhà Bè. Sau năm 1945, Bình Xuyên chỉ một lực lượng của dân giang hồ Nam Bộ, mà người đứng đầu là Ba Dương.
Ba Dương (Dương Văn Dương) đang “đứng bến” tại bến xe Sài Gòn-Tây Ninh-Nam Vang (Phnom Penh), thì Pháp ban hành tình trạng khẩn cấp, hốt hết những “phần tử nguy hiểm” gồm Cộng Sản và dân giang hồ, nên phải chạy về ẩn trốn ở quận Cần Giuộc.
Ba Dương bị bọn chỉ điểm bắt về quận. Chủ quận là tay gian ác, buộc Ba Dương phải uống hết một chùm tóc rồi mới được thả. Tóc vô người, phá nát bộ tiêu hóa rồi chết lần chết mòn. Thời may, Ba Dương có một đệ tử trung thành trong quận, lãnh về thuốc men chữa trị nên sống sót.
Ba Dương quy tụ đàn em và đám giang hồ bị rượt đuổi, lập căn cứ tại ấp Bình Xuyên và theo Việt Minh chống Pháp.
Mười Trí là bạn giang hồ của Ba Dương, nên cả bọn Bảy Viễn gia nhập bộ đội Việt Minh ở Bình Xuyên. Bảy Viễn giữ chức chỉ huy phó.
Khi Ba Dương bị Tây bắn chết, được VM phong chức thiếu tướng đầu tiên ở miền Nam. Bảy Viễn có tham vọng muốn lên thay Ba Dương làm chỉ huy trưởng, nhưng bị cán bộ VM ngăn chận, nên không thành. Lãnh đạo kháng chiến Nam Bộ là Thiếu tướng Nguyễn Bình, tên thật là Nguyễn Phương Thảo, một tay giang hồ, em kết nghĩa với tướng cướp, nhà văn Sơn Vương Trương Văn Thoại.
Nguyễn Bình, một mặt muốn giữ lực lượng của Bảy Viễn theo VM, một mặt tách rời Bảy Viễn ra khỏi quyền lực, bằng cách phong chức Tư lịnh phó khu 7 cho Bảy Viễn.
Vì không được tin dùng, và do sự móc nối của tên trung tá phòng nhì Pháp Savani, nên Bảy Viễn mang 2 đại đội về hợp tác với quân đội Pháp, và được thăng chức Đại tá.
8* Con lộ 15
Hồi đầu kháng chiến, con đường Sài Gòn-Vủng Tàu dài 125km bị phá hủy nặng nề. Bị cuốc trốc lớp nhựa, cào bỏ đá xanh rồi trồng tre lên. Qua vài mùa mưa, tre mọc xanh um. Những nơi chưa kịp trồng tre, thì cây cối bị đốn ngã chụm vào nhau, con đường 15 biến mất. Cầu sắt hay cầu xi măng gì cũng bị phá sập hết. Chiếc cầu dài nhất trên tuyến đường là cầu Cỏ May bị sập nhịp giữa.
Đại tá Bảy Viễn được tướng Pháp De la Tour giao nhiệm vụ giải tỏa con đường nầy. Công binh Pháp xây cầu, làm đường tới đâu, thì quân Bình Xuyên đóng đồn bót giữ an ninh tới đó.
Công việc giải tỏa con đường bắt đầu từ thời tướng De la Tour, kéo dài qua thời tướng Chanson và hoàn thành ở thời tướng Bondis, như thế là mất 3 năm.
Tướng Bondis vô cùng mừng rở khi công tác giải tỏa hoàn thành, và đề nghị Bảo Đại phong cho Bảy Viễn lên chức Thiếu tướng.
9* Lót tay mua lọng
9.1. Quân sư Huỳnh Đại
Một đêm đi cao lâu, Bảy Viễn gặp lại ân nhân, thuở xưa đã giúp đở trong khi mãn tù nghèo đói, lang thang, đó là Huỳnh Đại, một thương gia người Tàu có máu Mạnh Thường Quân, hiện làm chủ nhà hàng Đại La Thiên, sang trọng nhất nhì trong Chợ Lớn.
Lịch sử Huỳnh Đại cũng tương tự như của chú Hoả, Hui Bon Hoa. Từ tay trắng làm nên sự nghiệp.
Cả hai, tay bắt mặt mừng, kéo nhau vào mở Sam banh chuyện trò tâm sự.
Huỳnh Đại gợi ý làm ăn: “Chức thiếu tướng coi thì oai thiệt, nhưng không bằng nhà kinh doanh. Tôi khuyên chú em nhân lúc có tướng, có quyền, nhảy ra thương trường, phát tài mau hơn.”
Bảy Viễn đáp lại: “Với Đại Thế Giới, mỗi ngày vô két nửa triệu bạc đủ rồi, đại ca còn bày vẽ chi nữa cho mệt”.
Huỳnh Đại cười, nói:
-         Chuyện làm ăn gặp thời thì phải bung ra, nên nhớ, đời người chỉ có một thời mà thôi. Chú em hãy noi gương Chú Hỏa, với số vốn bạc tỷ, chú em có thể mua nhà băng, mua bán nhà cửa, một vốn bốn lời. Mình chỉ cách chú làm ăn, nhưng trước hết phải tìm người đở đầu. Có bao giờ chú em liên hệ với cựu hoàng Bảo Đại, nay là quốc trưởng chưa?”

Bảy Viễn giật mình:
-         Chưa, tôi chưa bao giờ nghĩ tới, người ta ở trên cao còn mình ở dưới thấp làm sao mà vói tới được”.

Huỳnh Đại tiếp:
-         Cao thì cao, nhưng ông ta cũng vẫn cần tiền, vì một người ăn xài như vua, mà nay lương bổng hàng tháng thì làm sao cho đủ? Chú mầy nên trích ra một số tiền hoa hồng hàng tháng, gởi cho cựu hoàng, gọi là giúp vào quỹ xã hội của ông ta. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Sách có câu “thọ tài như thọ tiễn”, cựu hoàng sẽ có cách báo đáp xứng đáng”.

9.2. Nghĩa đệ của Bảo Đại
Nghe lời Huỳnh Đại, Bảy Viễn tìm cách liên hệ với Bảo Đại, nhưng lót tay không phải là chuyện dễ. Bảy Viễn ra lịnh cho hai anh em quân sư là Lai Hữu Tài và Lai Hữu Sang lập hồ sơ về Bảo Đại….
Đọc xong lý lịch, Bảy Viễn quyết định lót tay Bảo Đại để có chiếc lọng che thân phòng khi bất trắc.
Bảy Viễn nhờ bào đệ của Bảo Đại là Vĩnh Cần làm trung gian cho biết, Bảy Viễn sẽ ủng hộ quốc trưởng mỗi tháng 240,000$.
Đầu năm 1954, Bảo Đại nhận Bảy Viễn là “nghĩa đệ” khi Bảy Viễn giúp 500,000 đô la Mỹ để Bảo Đại gởi qua Hồng Kông cho cô bồ Tàu lai Tây, tên Hoàng Tiểu Lan (Jenny Woong), đã có con gái với Bảo Đại, tên Nguyễn Phúc Phương Ân.
Bảy Viễn phụ trách cảnh sát công an Sài Gòn Chợ Lớn.
Bảy Viễn mở rộng Đại Thế Giới (Casino Grand Monde), Kim Chung (Tiếng chuông vàng-Casino Cloche d’Or), được báo chí Pháp ca ngợi  hết lời: “Một thành phố trong một thành phố”. Đại Thế Giới gồm gian hàng cờ bạc, 2 rạp chiếu bóng, 3 rạp cải lương, Tiều Quảng, vũ trường. Đại Thế Giới có 3 chi nhánh, một ở đường Camette, 2 ở trong Chợ Lớn.
Thủ tướng Trần Văn Hữu không ký Quyết định mở rộng Đại Thế Giới, nhưng Bảo Đại ký.
10* Chọn Tham Mưu Trưởng cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam
Bảo Đại mời một số chính khách lên biệt điện Đà Lạt để bàn thảo về việc chọn một Tham Mưu Trưởng cho QĐ/QG/VN.
Trong các nhân vật được quốc trưởng đề cử, có tên Bảy Viễn. Thủ hiến Trung phần, dược sĩ Phan Văn Giáo, là người đả kích Bảy Viễn hơn ai hết. Không may cho ông, là ông chê bai Bảy Viễn trước mặt đại diện Lai Hữu Sang. Tư Sang điện khẩn vụ việc, báo cáo cho Bảy Viễn.
Bảy Viễn tức sôi máu, nhảy lên chiếc Jaguar, loại xe đua mới xuất xưởng, chạy một mạch lên Đà Lạt. Con đường có nhiều đèo cao, vòng vèo, kế bên vực thẩm, ở những khúc cua có những cái am nhỏ bên đường, để cúng cô hồn những người tử nạn, nhưng xe vẫn miết ga.
Đến khách sạn Langbian, nơi có quan khách đến ở dự phiên họp với quốc trưởng, Bảy Viễn lớn tiếng hỏi Tư Sang:
-         Thằng chó đẻ Phan Văn Giáo là thằng nào mà dám nói xấu Bảy Viễn nầy?

Một người bồi nhanh chân báo động, Phan Văn Giáo dông ra cửa sau, đón taxi lên biệt điện cầu cứu với Bảo Đại. Bảy Viễn và Tư Sang phóng xe lên biệt điện. Phan Văn Giáo trốn biệt. Bảo Đại phải đứng ra dàn xếp.
Dù chết hụt, nhưng Phan Văn Giáo vẫn tiếp tục công kích Bảy Viễn:
“Không hiểu quý ngài nghĩ thế nào, chớ riêng tôi, tôi cảm thấy vô cùng xấu hổ nếu một tướng cướp được chọn để giao chức Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Trước đây, Đại Thế Giới do ông Lâm Giống, người gốc Ma Cau thầu khai thác. Để buộc Lâm Giống phải giao Đại Thế Giới lại cho mình, Bảy Viễn không ngần ngại sai đàn em ném lựu đạn vào sòng bạc Kim Chung, làm thiệt mạng 60 người. Rồi còn bắt cóc những người trong ban giám đốc để tống tiền.
Các ngài có biết không, khi nhậm chức cầm đầu ngành cảnh sát công an Sài Gòn Chợ Lớn, Bảy Viễn liền cho lập xóm Bình Khang, một nhà chứa khổng lồ hoạt động công khai, phục vụ binh sĩ”.
Phan Văn Giáo là người xu nịnh Bảo Đại, đã gả em vợ tên Lê Thị Phi Ánh cho Bảo Đại làm thiếp.
11* Thủ tướng Ngô Đình Diệm
Quân đội Pháp ngày càng thua trên các mặt trận, Bảo Đai qua Pháp, gọi là để theo dõi thời cuộc, cho rằng số phận VN sẽ được giải quyết tại bàn hội nghị giữa các cường quốc.
Hoa Kỳ thuyết phục Bảo Đại chấp thuận cho Ngô Đình Diệm làm thủ tướng. Bảo Đại không ưa gì ông Diệm, nhưng tình thế bắt buộc nên phải đồng ý.
Bảy Viễn lúc nào cũng theo dõi, nghe ngóng về Bảo Đại, vì đó là cái lọng che chở cho Bình Xuyên, cho cái ghế ngồi vững chắc của ông ta.
Ngô Đình Diệm về nước vào tháng 6 năm 1954.
Thủ tướng Diệm dẹp Đại Thế Giới và Kim Chung, làm cho Bảo Đại và Bảy Viễn bất mãn, vì đó là cái túi tiền của cả hai.
Trung tá Phòng Nhì Pháp, Savani cho Bảy Viễn biết, là ông Diệm quyết tâm dẹp các lực lượng vũ trang của các giáo phái và đảng Đại Việt ở miền Trung.
12* Bình Xuyên tấn công quân chính phủ Ngô Đình Diệm
12.1. Thành lập Mặt Trận Quốc Gia Toàn Lực
Khi thủ tướng Diệm đóng cửa Đại Thế Giới và Kim Chung, thì Bảo Đại và Bảy Viễn nhất quyết đánh ông Diệm.
Mặt Trận Quốc Gia Toàn Lực (MTQGTL) quy tụ lực lượng vũ trang của các giáo phái, gồm Cao Đài, Hòa Hảo, Thiên Chúa và Bình Xuyên, để chống chính phủ Ngô Đình Diệm.
Bình Xuyên chỉ có 3 tiểu đòan. Năm Lửa Trần Văn Soái, Hòa Hảo, gởi 1 tiểu đoàn, Cao Đài biệt phái 1 tiểu đoàn, tướng Nguyễn Văn Hinh chi viện 1 tiểu đoàn lính Dù, như vậy MTQGTL có 6 tiểu đoàn.
Ngày 9-5-1955, Bảo Đại đánh điện triệu tập ông Diệm sang Pháp, nhưng ông không đi và tiến hành việc triệt hạ lực lượng vũ trang của các giáo phái.
12.2. Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ đảo chánh Thủ tướng Ngô Đình Diệm

Theo lịnh của Bảo Đại, tướng Nguyễn Văn Hinh rời VN vĩnh viễn, và phải trao quyền Tổng Tham Mưu Trưởng QĐ lại cho Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ.
Trong hồi ký “Việt Nam nhân chứng”, tướng Trần Văn Đôn thuật lại như sau:
“Nguyễn Văn Vỹ hấp tấp họp báo, tuyên bố rằng quân đội cùng ông đảo chánh Ngô Đình Diệm. Thiếu tướng Lê Văn Tỵ, tướng Trần Văn Đôn, Nguyễn Hữu Có, Dương Văn Đức được gọi đến.
Thiếu tướng Lê Văn Tỵ hỏi:
-         Các anh đang làm gì đó?

Trung tướng Nguyễn Văn Vỹ trả lời:
-         Tôi làm đảo chánh.
-         Anh lấy gì để làm đảo chánh?
-         Quân đội.

Tướng Lê Văn Tỵ lột sao trên vai của mình để xuống bàn, nói:
-         Tôi lột lon trả lại cho anh. Tôi không theo anh đâu!” (Hết trích)
**  **
Nhị Lang, tên thật là Thái Lân, một nhà văn, nhà cách mạng lão thành, cố vấn chính trị và là người phát ngôn của thiếu tướng Trịnh Minh Thế, kể lại vụ việc như sau:

“Khi tôi tới nơi khoảng 6 giờ chiều, chúng tôi bắt gặp một số sĩ quan khoảng 50 người đang ngồi chật phòng khách, tầng dưới của Dinh Độc Lập. Trên lầu, tôi thấy Lê Văn Tỵ đang ngồi trong phòng khách với một sĩ quan mà tôi không biết tên.
Thấy hơi lạ, vì tại sao thủ tướng Diệm lại tiếp khách một lượt đông sĩ quan như thế? Tôi bèn nhờ Đại úy tùy viên Tạ Thành Long kín đáo dọ xét tình hình, thì được biết, hồi chiều nầy, tướng Nguyễn Văn Vỹ thừa lịnh Bảo Đại, tước binh quyền trong tay của Thiếu tướng Lê Văn Tỵ. Và tướng Tỵ bị các sĩ quan “áp giải” theo họ vào Dinh Độc Lập để tước đoạt nốt quyền lãnh đạo chính phủ của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Như thế có nghĩa là số 50 sĩ quan nầy đã đồng loã với tướng Vỹ, kéo vào Dinh Độc Lập, lấy số đông bao vây và áp đảo ông Diệm.
Xin nhắc lại, Bảo Đại đã không những triệu hồi Ngô Đình Diêm sang Pháp mà còn đòi cả Lê Văn Tỵ phải bỏ nhiệm vụ đi theo. Mặt khác, Bảo Đại còn phong cho trung tướng Nguyễn Văn Vỹ làm Tổng Tư Lịnh QĐ/QG/VN.
Lúc đó, Nhị Lang chỉa súng vào tướng Vỹ và lột lon ông ta. Trần Trung Dung bèn báo cáo, và Ngô Đình Nhu kéo tướng Vỹ vào phòng.
Nếu không có hành động phi thường, nhanh trí và quyết định chớp nhoáng của Nhị Lang, chỉa súng lột lon, và nếu không có khẩu Colt 45, thì tướng Vỹ đã thành công trong việc áp đảo ông Diêm từ chức, để đưa Bảy Viễn lên làm Thủ tướng, thì chắc chắn tình thế sẽ hỗn loạn và rối rắm muôn phần.
Trung tướng Vỹ và Nguyễn Tuyên bay lên Đà Lạt, từ đó bay sang Cao Miên rồi sang Pháp sống lưu vong.”
12.3. Quân Bình Xuyên tấn công Dinh Độc Lập
Mâu thuẩn hai bên căng thẳng đến cực điểm, Bảy Viễn ra lịnh cho Bình Xuyên tấn công trước. Kế hoạch tác chiến được soạn thảo cẩn thận. Những chiếc cầu qua cù lao Chánh Hưng đã được bí mật gài mìn.
Chiều ngày 28-4-1955, lính Bình Xuyên do Bảy Môn chỉ huy, mở cuộc tấn công Dinh Độc Lập bằng súng cối làm chết một người và nhiều người bị thương. Các bót công an của Mai Hữu Xuân cũng bị tấn công.
Vài phút sau, quân chính phủ phản pháo vào mục tiêu Chánh Hưng, tiến đến các đầu cầu. Mặt trận phía cầu Tân Thuận, giao cho lính Cao Đài về hợp tác với chính phủ, do thiếu tướng Trịnh Minh Thế chỉ huy.
Bảy Môn cho châm điện phá các cầu, chỉ có cầu Nhị Thiên Đường là còn nguyên vẹn. Hai bên quần nhau suốt 4 ngày, quân chính phủ do Đại tá DươngVăn Minh chỉ huy đã tiến vào tổng hành dinh của Bảy Viễn. Bình Xuyên rút về phía cầu Tân Thuận, là đầu cầu để xuống Rừng Sác.
Mặt trận cầu Tân Thuận gay go nhất, nhiều đợt xung phong qua cầu bị chận lại, nguy hiểm nhất là giang đỉnh của Bảy Viễn, từ dưới sông xả đại liên lên cầu, rồi súng cối nhắm vào đội hình của Trịnh Minh Thế mà tác xạ không ngừng.
Một tin xôn xao. Đó là thiếu tướng Trịnh Minh Thế bị tử thương. Một nhà báo Mỹ nói về cái chết của Trịnh Minh Thế, đang đứng trên xe jeep để chỉ huy, tướng Thế gục đầu, quỵ xuống do một phát đạn trúng ngay vào đầu.
Ai giết Trịnh Minh Thế? Ông Diệm lúng túng, khi kẻ chạy về với quốc gia mà chết khó hiểu như thế, thì còn ai dám chạy về với mình nữa?.
Tin đồn cho biết, trong túi Trịnh Minh Thế còn một ngân phiếu 70 triệu đồng chưa lãnh. Thiên hạ đoán rằng, đó là tiền mà Hoa Kỳ thưởng cho tướng Thế đã về hợp tác với quốc gia. Và ông Ngô Đình Nhu là người mãn nguyện trước cái chết đó. Thật ra, trong tình hình như thế , có rất nhiều người muốn loại trừ tướng Trịnh Minh Thế, trong đó có nhóm người của tướng Nguyễn Văn Vỹ trong Quân Đội Quốc Gia VN.
Trận chiến ác liệt kéo dài 5 ngày, phía chính phủ có 26 tử thương và 52 người bị thương.
12.4. Quân Bình Xuyên rút vào Rừng Sác.
Rừng Sác là khu rừng ngập mặn thuộc quận Cần Giờ, nằm giữa các cửa sông Đồng Nai, Sài Gòn, sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây, diện tích 75,740 hecta.
Rút quân vào Rừng Sát là một sai lầm của Bảy Viễn, vì nước uống rất hiếm, bị bao vây lâu ngày, số nước ngọt dự trữ bị cạn kiệt, gây khó khăn cho mấy ngàn binh lính. Mặt khác, súng cối từ tàu hải quân quốc gia, cứ liên tục nã vào mà không có công sự vững chắc, nên bộ binh bị thương rất nhiều.
Người Pháp viện trợ cho Bảy Viễn một chiếc xà lan mới toanh, trang bị đài phát thanh, do Trịnh Khánh Vàng phụ trách, chửi rủa ông Diệm ra rả suốt ngày.
Chính phủ mở Chiến Dịch Hoàng Diệu, do đại tá Dương Văn Minh chỉ huy đánh dẹp Bình Xuyên ở Rừng Sác. 6 tiểu đoàn Bình Xuyên bị bao vây, tinh thần quân lính hoang mang, suy sụp trước những trận pháo kích ác liệt của quân đội quốc gia. Yếu điểm của Bình Xuyên là vợ con binh lính chạy theo vào Rừng Sác rất đông, làm trở ngại tác chiến.
Ba tiểu đoàn: quân Dù, Cao Đài, Hòa Hảo không quen đánh giặc, ra quân lần đầu, gặp hỏa lực ác liệt nên buông súng bỏ chạy. Bảy Môn đưa thiếu tá Bay, tiểu đoàn trưởng quân Cao Đài ra hội đồng kỷ luật xét xử vì binh lính bỏ chạy gần hết.
13. Bảy Viễn sang Pháp
Đang lúc bị bao vây ở Rừng Sác, bổng nhận được tin của thiếu tá trưởng Phòng Nhì Pháp, Savani ra lịnh rõ ràng: “Hai ông Tài và Sang hãy đưa thiếu tướng theo người của ta, cắt đường rừng ra Phú Mỹ, sẽ có xe đưa về Bà Rịa. Thế là bộ ba thoát hiểm trong gang tấc, vì quân chính phủ bao vây bắt sống toàn bộ chỉ huy Bình Xuyên.
Ba người chui vào một lô cốt bỏ hoang. Tư Sang dùng máy liên lạc với Vủng Tàu. Sáng hôm sau, một chiếc xe nhà binh Pháp đưa tất cả về Bà Rịa, từ đó, trực thăng đưa ra Vủng Tàu. Phi cơ nhà binh Pháp chở 3 tên tay sai sang Lào, rồi đến Pháp bằng Air France.
Ngày 7-11-1955, Bảy Viễn đến Paris một cách âm thầm như một du khách, vì Pháp muốn giữ bí mật về việc đã ủng hộ giáo phái chống Thủ tướng Diệm.
Bảy Viễn an thân nhưng chưa an lòng, vì 3 bà vợ còn kẹt ở VN, và con trai là thiếu tá Lê Paul đang bị giam.
Tướng tá Bình Xuyên bị hốt hết, rồi sau đó đưa ra Côn Đảo, gồm Trần Văn Ân, Hồ Hữu Tường, Trịnh Khánh Vàng, Jean Baptist Nguyễn Văn Đồng.
Riêng Lê Paul được tách riêng ra và bị nhốt ở bót Phú Lâm.
Vì sao Lê Paul bị nhốt riêng và không bị đày đi Côn Đảo?
Sau nầy, ký giả Hilaire Du Berrier cho biết, trong trận đánh cuối cùng, một binh sĩ đã dùng bán súng đập vào vách làm bằng ván ép, thì từ bên trong tuôn ra những bó tiền bằng viên gạch. Ngô Đình Nhu nghĩ rằng, có thể còn những chỗ dấu tiền khác nữa, nên hạch hỏi Lê Paul và bắt làm con tin buộc Bảy Viễn phải nhả tiền ra để cứu con trai.
Bảy Viễn đã cho biết tất cả những chương mục trong các ngân hàng, nhưng ông Nhu cho rằng tiền trong ngân hàng là tiền của quốc gia, không giấu giếm gì được. Việc mà ông muốn là những chỗ chôn dấu khác. Thật ra không có kho tàng nào cả. Thế là số phận của người con 27 tuổi bị xử theo luật giang hồ. Đó là ngày 14-4-1956, cảnh sát đưa Lê Paul ra khỏi bót Phú Lâm, chạy về hướng Phú Định, đến giữa đường xô xuống bắn chết.
14* Kết
Với Bảy Viễn, cuộc đời như một giấc mộng, từ tay không tạo ra tột đỉnh vinh quang bằng những nấc thang mánh mung, bất chánh, phi nghĩa, rồi khi tĩnh giấc, tay trắng hòan trắng tay, sống trong nghèo đói và chết âm thầm nơi đất khách quê người.
Cũng giống như nhân vật Vy Tiểu Bảo trong Lộc Đỉnh Ký của Kim Dung, thất học nhưng nhờ nhanh trí mánh khóe, gian xảo, biết nịnh bợ nên đã leo lên đến tột đỉnh vinh quang, nhưng cuối cùng cũng hoàn tay trắng, không vượt qua được số phận của những con người cùng chung cảnh ngộ.
Trúc Giang
Minnesota ngày 7-3-2012

Tuesday, March 6, 2012

NGƯỜI ANH HÙNG THÁNG TƯ 75 HIỂN LINH (Người phi công đền nợ nước sau cùng của cuộc chiến)

 

KQVN  
Di ảnh Thiếu Tá Trương Phùng. Saigon có thể đã tan nát hơn, chết chóc bi thảm hơn, và sẽ không có những chuyến bay di tản ngày cuối cùng, nếu không có người anh hùng này.

Bài của Trần Văn Phúc
Nguyên Đại Uý, pilot Khu Trục Cơ A-1, PĐ 518


Sau hơn 33 năm hoàn toàn mất dấu tích, nhờ sự hiển linh và ngoại cảm, tìm thấy di cốt của Thiếu Tá Không Quân VNCH Trương Phùng bị cộng quân xử bắn ngày 29 Tháng Tư 1975, tức ngày 19-3 Ât Mẹo. Di cốt hiện được thờ tại chùa Bửu Quang.
Ngày 29/4/75, cộng quân khai hoả trận địa pháo lớn nhất cuộc chiến nhắm uy hiếp Saigon. Hàng chục dàn đại pháo, mỗi dàn 4 khẩu, từ Phú Lâm liên tục nhả đạn. Đích nhắm đầu: phi trường Tân Sơn Nhứt, nơi cả ngàn người đang chờ di tản.
Bốn giờ sáng, dưới mưa pháo, 2 khu trục A-1 của Phi Đoàn 518 Phi Long, Không quân VNCH vẫn dũng cảm cất cánh và mau chóng đánh tan trận địa pháo. Nhờ vậy, Saigon đã tránh được thảm hoạ. Nhưng đi hai, về một. Chiếc A1 do Đại Uý Trần Văn Phúc đáp xuống phi trường. Chiếc thứ hai, loại AD-5 Skyraider của phi tuần trưởng là Thiếu Tá Trương Phùng thì biến mất, hơn 33 năm không tìm thấy dấu tích.
Sau cùng, nhờ sự hiển linh của một vị sư già và chính Thiếu tá Phùng, nhờ ngoại cảm, và nhờ tình đồng đội, di cốt người anh hùng bị VC xử bắn trong một vườn xoài đã được trở về với gia đình.
Nhân dịp 30 tháng Tư, tác giả Nguyễn Viết Tân đã giúp Việt Báo sưu tập đầy đủ chi tiết câu chuyện ý nghĩa này. Trước hết, xin mời đọc bài viết của cựu đại uý Trần Văn Phúc, kể về vị đồng đội anh hùng của "phi vụ cuối cùng". Chuyện kể này từng được phổ biến trên trang Không Quân Cánh Thép, được trích đăng với sự cho phép của cựu đại uý Phúc. Vì có những người chưa liên lạc, nên tên của họ trong loạt bài này xin được viết tắt.

Thiếu tá Trương Phùng sanh năm 1943 tại Thừa Thiên-Huế, gia nhập Không Quân vào đầu năm 1964, khóa 64B SVSQ/TTHLKQ Nha-Trang, tốt nghiệp khóa L-5 Quan Sát, sau đó được tuyển chọn xuyên huấn T28 và A-1 Skyraider tại Hoa Kỳ. Trở về nước, anh phục vụ tại Phi Đoàn 110 Quan Sát-Đà Nẵng, sau cùng là Phi Đoàn 518 Phi Long- Khu Trục A-1 , KĐ23CT, SĐ3KQ Biên Hòa. Trong những ngày sau cùng, PĐ 518 dọn về Tân Sơn Nhứt.
... Anh là mẫu người hùng KQ từng tham dự hầu hết các chiến trường: Cam bốt, Quảng Trị, An Lộc. Là một người đầy nhiệt huyết, không bao giờ từ chối bất cứ một phi vụ nào dù là nguy hiểm, anh là một Phi tuần trưởng gương mẫu, lấy phương châm: Tổ Quốc, Danh Dự và Trách Nhiệm làm điều tâm niệm.
Trong trận Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, khi Phi đoàn Khu Trục từ Biên Hoà tăng phái cho mặt trận Quảng Trị, anh Phùng chính là một trong ba Pilot diệt nhiều xe tăng nhất. Người đầu tiên là Trần Thế Vinh, 20 chiếc, anh Lành 17 chiếc và anh Phùng diệt 15 chiếc.
Tôi được hân hạnh cùng bay chung với anh hai lần...
* Phi vụ đầu tiên: Thả bom CBU-25
Vào tháng 8/1974 VC vi phạm Hiệp Định Ba Lê, pháo kích vào phi trường Biên Hòa. Để trả đũa hành động nầy, Đại Tá Hoàng Thanh Nhã, KĐT KĐ23CT,SĐ3KQ chỉ thị 2 phi tuần Khu Trục A-1 dùng bom CBU-25 để thi hành một nhiệm vụ lịch sử: oanh tạc Tổng Hành Dinh của MTGPMN ở đồn điền Minh Thạnh gần Lộc Ninh. Phi tuần số 1 do Th/tá Phùng và Tr/u Đinh văn Đức. Phi tuần thứ 2 do tôi và Tr/u Nguyễn Tứ Đức. Sau khi nghiên cứu kế hoạch hành quân, tính toán giờ bay, hướng bay một cách rất cẩn thận và để giảm thiểu sự nguy hiểm, Th/tá Phùng đề nghị nhập 2 phi tuần thành 1 hợp đoàn 4 chiếc, dùng chiến thuật truy kích, với yếu tố bất ngờ, chớp nhoáng, bay thấp trên ngọn cây. Với chiến thuật nầy đòi hỏi người Leader một khả năng, kinh nghiệm, bình tĩnh, sáng suốt cũng như gan lì vì thỉnh thoảng Leader phải lên cao 5 hay 7 trăm bộ để nhận dạng những "check point"(điểm chuẩn) tránh bị bay lạc.
Lợi dụng mặt trời sắp lặn, chúng tôi lấy Lai Khê làm điểm xuất phát, bay về hướng Bắc dọc theo Quốc Lộ 13, qua khỏi An Lộc 5 dặm, đổi sang hướng Tây, khi thấy Lộc Ninh thì chuyển hướng Đông Nam để oanh tạc vào bên hông địch. Chúng tôi phải vượt qua hàng rào phòng không dày đặc, trên đường đi, ngay cả đường về. Rất nhiều lần chúng tôi lướt trên những dàn cao xạ, nhìn thấy bọn chúng quay vòng những họng súng và bắn vói theo. Nhờ vào sự can đảm phi thường của Th/tá Phùng nên chúng tôi đã hoàn thành sứ mạng và trở về đáp an toàn lúc 8 giờ tối. Một điều tôi ghi nhận thêm là lần đó, Th/tá Phùng thà ngậm đèn bấm soi sáng những phi cụ để bay (vì phi cơ của anh bị hỏng đèn phi cụ) nhưng nhứt định không chịu hủy bỏ phi vụ dù rằng trong phiên họp buổi trưa Đ/Tá Nhã đã lưu ý 2 lần: "Nếu có gì bất trắc các bạn ráng chịu đựng qua đêm, sáng mai mới có trực thăng rescue".
* Lần thứ hai cũng là "Phi vụ cuối cùng"
Bốn giờ sáng ngày 29/4/75 VC pháo kích hàng loạt vào phi trường Tân Sơn Nhứt. Tôi nhận điện thoại rồi chuyển lịnh cất cánh khẩn cấp đến Th/tá Lê Văn Sang, Trưởng Phòng Hành Quân PĐ 518. Sẵn đó ông kêu tôi đi bay, nhưng vì thấy tôi thiếu wingman nên Th/tá Phùng tình nguyện và thách thức:
- Trâu đạp cũng chết, chó đạp cũng chết! Tao bay với mầy coi có chết thằng tây nào không?
Trên đường ra bãi đậu với tiếng rít, tiếng pháo nổ liên tục nghe rợn người nhưng không làm sờn lòng Th/tá Phùng mà ngược lại anh đã nung đúc tinh thần tôi qua câu nói:
- Đ... tụi nó pháo bằng loại súng gì mà liên tục, kinh người chưa từng thấy! Bằng mọi giá, tụi mình phải lên (cất cánh) cho bằng được, dù phải hy sinh! Hy vọng mình có thể bảo vệ được bao nhiêu người, trong đó có vợ con mình đang ở đây, chẳng lẽ mình nằm ở đây chờ pháo chết cả đám hay sao?
Đến bãi đậu phi cơ, dù trong mưa pháo, các anh em phi đạo đã chờ sẵn từ lúc nào .. Th/tá Phùng dõng dạc ra lịnh:
- Quay máy xong các bạn "choke out" ngay, chạy tìm chỗ núp ngay, mặc kệ chúng tôi. Đừng để chết chùm cả đám nghe chưa!
Tiếng rít, đạn pháo nổ gần đó liên tục, sau khi nổ máy lôi taxi ra khỏi ụ, Th/tá Phùng còn đứng dưới đất và ra dấu bình điện bị hư không quay máy được, buộc lòng tôi phải cất cánh một mình. Đến Phú Lâm, theo sự hướng dẫn của Tr/u Trần Văn Bảo, trưởng phi cơ AC-119K-Tinh Long 06, tôi thả 2 trái bom xuống chỗ có 2 làn khói trắng đang bốc lên.
Xin nói thêm là AC119 là loại vận tải hai đuôi to lớn dềnh dàng, chuyên đi thả trái sáng và yểm trợ Bộ Binh bằng những ụ súng 6 nòng bắn kêu ò ò như bò rống.
Sau đó tôi ngưng lại và tiếp tục bao vùng và nhìn thấy vài ba chiếc trực thăng đang quây quần ở hướng Đông. Độ 15 phút sau, có lẽ bọn VC nghĩ rằng phi cơ của tôi đã hết bom nên pháo trở lại liên tục. Quá nhiều dàn pháo! Bấy giờ tôi mới nhìn rõ và đây là lần đầu tiên trên chiến trường tôi gặp phải, mỗi dàn 4 khẩu, đạn pháo không ngớt bay lên. Nhìn về hướng Sàigòn, những cột lửa bốc cao, lòng đau như cắt, thương thay cho dân lành vô tội! Không do dự, tôi nhào xuống thả bom nhắm vào một trong những làn khói đang bay lên. Hơn bao giờ hết, tôi thấy cần sự trợ giúp, tôi thầm gọi:
- Anh Phùng ơi, anh ở đâu, sao không lên đây giúp tôi một tay, tôi đang cần anh, anh có biết không ?
Chừng 5 phút sau, khi tôi sắp sửa nhào xuống để thả bom, tôi thấy những đám nổ ở dưới đất, tôi nghĩ lầm là do một chiếc trực thăng võ trang nào đó vừa bắn rocket xuống mục tiêu nên cự nự:
-Tinh Long 06, bạn đã cho tôi đánh random attack, sao lại cho trực thăng võ trang vào "ăn có"? Nó bay cao độ thấp, nhỡ tôi không thấy mà nện trên đầu nó thì sao!
- Phi Long 51, tôi đã đuổi tụi nó bay sang hướng Đông của Quốc Lộ 4 rồi, chỉ có một mình bạn làm việc mà thôi, nhưng để tôi quan sát kỹ lại xem có phải là tiếng nổ phụ không?
Vòng kế tiếp, tôi vẫn thấy đám nổ phụ và nghe Tinh Long 06 trong vô tuyến:
- Dường như có thêm một chiếc A-1 nào nữa vào đánh phụ bạn đó Phi Long 51! Tôi không thấy rõ và không liên lạc được trong vô tuyến, nhưng không phải là trực thăng đâu bạn!
Tôi nghĩ ngay tới Th/Tá Phùng.
-OK, có thể Th/Tá Phùng lên giúp chúng ta, có thể ổng hư vô tuyến nên "monkey see monkey do" bạn đừng lo, thấy tôi đánh ở đâu, anh ấy sẽ thả bom ở đó.
Chúng tôi quần thảo và cày nát khu vườn đó và cũng nhờ hàng chục hỏa châu soi sáng nên rất dễ dàng "lượm" những dàn pháo nầy.
Hết 10 trái bom, tôi bay thêm năm bảy vòng trước khi trở về Tân Sơn Nhứt lúc 05 giờ 30 phút, không quên xin Paris (đài Kiểm Báo TSN) điều động thêm 1 phi tuần lên thay. Sang tần số đài Saigon Tower, tôi hỏi sau tôi có chiếc A-1 nào cất cánh không và được trả lời:
- Không biết nữa bạn ơi, nó pháo quá, chúng tôi phải chạy xuống hầm và vừa mới trở lên trên đây!
Tuy nghe vậy nhưng tôi tin chắc với bản tánh can trường, không khuất phục trước mọi khó khăn hay nguy hiểm, Th/Tá Phùng không bao giờ hủy bỏ phi vụ, nhất định là anh đã bay lên cùng tôi chiến đấu bên nhau. Chúng tôi tiếp tục bao vùng trên TSN và vùng phụ cận. Sau đó chiếc chiếc AC-119K Tinh Long 07 do Tr/u Trang Văn Thành, Trưởng phi cơ lên thay thế cho Tinh Long 06 về đáp.
Chiếc ACK 119, Tinh Long 6 đã có công cứu bao nhiêu đồng đội và dân chúng Thủ Đô vào những giờ phút chót, làm giảm bớt những vụ pháo kích tàn sát của Cộng Quân. Bây giờ Tr/úy Bảo đã bay "chuyến bay vĩnh biệt" anh em tại thành phố New Orleans!
Đến 6 giờ, trời mờ mờ sáng, tôi thấy anh Phùng bay bên cánh phải với 2 trái bom, đồng thời nghe trên tần số, một phi tuần 2 chiếc A-1 của PĐ 514 cất cánh từ Cần Thơ do Th/tá Hồ Ngọc Ấn và Đ/U Nguyễn Tiến Thụy đang trên đường tiến về Thủ Đô.
Lúc 6 giờ 25 phút, Tr/U Thành tình nghi một đám CSBV định cắt hàng rào phòng thủ ở hướng Bắc của phi trường, nên hướng dẫn Th/tá Phùng thả 2 trái bom còn lại. Sau đó vô tuyến của Th/Tá Phùng bắt đầu hoạt động tốt và anh gọi tôi đáp xuống TSN.
Vì biết vô tuyến của Th/tá Phùng bất thường nên tôi nhường anh đáp trước. Nhưng trước khi chạm bánh, đột nhiên anh tống ga bay lên và bảo tôi đáp trước rồi chờ anh. Lẽ ra tôi định bay theo nhưng vì lo lắng an nguy của vợ con đang tạm trú gần nơi bị pháo nên tôi đáp xuống TSN lúc 6 giờ 50 phút.
... Khoảng 5 hay 7 phút sau, tôi đứng ngoài phi đạo và theo dõi chiếc Tinh Long 07 đang bắn yểm trợ dọc theo vòng đai phía Bắc. Thình lình động cơ bên phải phi cơ bị hoả tiễn SA7 bắn trúng, kế đó cánh phải đứt lìa, phi cơ cắm đầu, quay như con vụ và rơi xuống đất trong sự ngỡ ngàng, thương tiếc của hàng vạn người trong và ngoài TSN...
Chờ Th/tá Phùng thêm 15 phút nữa mà không thấy anh trở về đáp, tôi quá giang xe xăng để vào biệt đội, trong lòng thầm nghĩ Th/tá Phùng vì thấy chiếc Tinh Long 07 bị bắn nên đã bay đi Cần Thơ? Chiều hôm đó đáp ở Cần Thơ, tôi cũng không thấy Th/tá Phùng! Coi như anh đã mất tích kể từ đó, không ai biết gì ngoài những tin đồn mù mờ.
Hơn 30 năm, lúc nào tôi cũng ưu tư về sự mất tích của Th/tá Phùng. Thông cảm nỗi niềm của tôi, Nguyễn Chí, một người em KQ đã hết lòng truy tìm suốt nhiều tháng và cuối cùng Chí đã tìm được hài cốt của Th/tá Phùng, mang về cho gia đình anh ấy ngày 2/12/2008.

TRẦN VĂN PHÚC


TÌM LẠI ĐƯỢC HÀI CỐT CỦA THIẾU TÁ TRƯƠNG PHÙNG THÔNG QUA NHÀ NGOẠI CẢM A20 NGUYỄN TOẠI CHÍ

(LTS: Việt Báo trân trọng cảm ơn Đại Úy Trần Văn Phúc đã gửi tới bài đặc biệt này. Và cũng trân trọng cảm ơn Ký giả Lê Anh Dũng-Lê Tam Anh đã giới thiệu.)





 

Thiếu Tá Trương Phùng và phi vụ cuối cùng ngày 29/4/1975 .

Đại Úy Trần Văn Phúc , pilot A-1 , PĐ 518 ( anh Phúc) tình cờ quen biết tôi sau khi anh đọc loạt bài “ Cổ tích Không Quân “ tôi post lên web Cánh Thép . Sau một thời gian hai anh em tôi trở nên thân tình như hai anh em ruột, kể cho nhau nghe những tâm sự vui buồn trong cuộc sống, kể cho nhau nghe những kỷ niệm đời quân ngũ ngày xưa….rồi có một ngày nọ gần 30/4/2007 , anh đã kể cho tôi biết về chuyến bay cuối cùng của đời pilot khu trục của anh : Phi Vụ Cuối Cùng ! ( Xin quý đọc giả đọc bài viết của chính Đại-Úy Trần Văn Phúc viết cũng trong diễn đàn này ) .
Chính nhờ qua chuyện anh kể , tôi mới biết đến một vị anh hùng Không Quân của QLVNCH đã chiến đấu bảo vệ cho đồng bào Sài Gòn & Gia Định và các ban bè chiến hữu cùng gia đình của họ trong căn cứ Tân Sơn Nhứt thoát khỏi những trận mưa pháo kích kinh hoàng của địch quân rạng sáng ngày 29/4/1975 : Thiếu Tá Trương Phùng. Nhưng sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ , Th/Tá Phùng đã “ mất tích “ ngay trong giờ thứ 25 của cuộc chiến trong âm thầm , bí ẩn . Gần như không một ai còn biết hay nhớ đến anh , ngoại trừ duy nhất một người chiến hữu đã sát cánh cùng anh chiến đấu trong “ Phi Vụ Cuối Cùng “ ;
Đại Úy Trần Văn Phúc



Tôi rất thương cãm cho vị anh hùng “ gần như vô danh “ Trương Phùng . Tôi thấy mình đã thọ ơn cứu mạng của anh và muốn làm một điều gì đó cho anh như để đền đáp lại phần nào ơn anh . Và tôi đã hứa với anh Phúc là tôi sẻ truy tìm Th/Tá Phùng , sẻ tìm cho bằng được hài cốt của Th/Tá mang về cho gia đình Th/Tá thờ phụng !
Hai anh em chúng tôi bắt đầu lục lọi , tìm đọc không biết bao nhiêu là bài viết , bút ký , hồi ức của những người cã hai phía Quốc & Cộng đăng trên Net có nói về những ngày sau cùng của VNCH …
Th/Tá Phùng hiển linh
Trong tất cã các tài liệu báo chí , bài viết , hồi ký , bút ký…nói về ngày 30/4/1975 , anh Phúc và tôi chỉ tìm thấy duy nhất một câu đáng chú ý nhưng lại rất mơ hồ nói về một chiếc phi cơ khu trục bị rớt sáng ngày 29/4/1975 . Đó là trong bài “ Tháng tư máu và nước mắt “ đăng trong tập san “bietdongquan.com“ , tác giả là SQ Trưởng Ban 2 /Liên Đoàn 8 /BĐQ Đoàn Trọng Hiếu có viết ( http://bietdongquan.com/baochi/30tha...angtulaive.htm ) :
”Một phi tuấn Skyraider được gởi lên vùng nhưng một chiếc đã bị bắn rớt phía cầu Bình Điền. Riêng chiếc AC119 yểm trơ cho chúng tôi trên đường về bị trúng SA7 bốc cháy trên không. Sau này khi đi tù tôi được biết người phi công dũng cảm ấy là Tr/u Thành tức Thành Kampuchia. Xin được một lần tạ ơn anh. Anh đã không bay sang Thái Lan như một vài người đã làm mà ở lại với chúng tôi. Thân xác anh đã hòa lẫn vào không gian trong giờ phút hấp hối của Miền Nam . “

Anh Phúc có phone cho anh Đ.T.Hiếu và được anh Hiếu cho biết tin này do một vị đại đội trưởng BĐQ đóng quân ở Chợ Đệm , Long An báo cáo về BCH liển đoàn sáng ngày 29/4/75 .
Dù tin tức đó rất mơ hồ nhưng đó là tất cã những gì mà hai anh em chúng tôi có được về Th/Tá Phùng ! Vì sáng ngày 29/4/1975 , duy nhất chỉ có một chiếc A-1 Skyraider của Th/Tá Phùng là bị “ mất tích “ chứ không còn một chiếc A-1 nào khác bị rớt hoặc “ mất tích “ nữa ! Vậy là dựa vào tin tức này , tôi quyết định sẻ lên đường đi qua Bình Chánh (nơi có cầu Bình Điền) để tìm tung tích của chiếc A-1 Skyraider đã rơi hơn ba mươi ba năm trước ! Nhưng tôi cũng chưa biết phải đi tới nơi nào , hỏi ai…vì vậy tôi quyết định chấm một bán kính 4 km xoay quanh tâm điểm là cầu Bình Điền để tìm hỏi thăm người dân . Cã tháng trước ngày tôi lên dường qua Bình Chánh , tôi đã có một giấc mơ mà sau nầy tôi mới biết là Th/Tá Phùng đã hiển linh , chỉ vẽ cho tôi phải tới đâu , hỏi ai để có thể tìm ra Th/Tá:......; " Tôi chạy xe trên một con đường rất rộng nhưng hoang vắng , không có một chiếc xe nào ngoài tôi ra. Tôi thấy một ngôi chùa bên đường và chợt nghỉ là mình nên vào hỏi vị sư trụ trì cao niên , có thể ông sẻ biết và kể lại cho tôi câu chuyện hơn ba mươi ba năm về trước, về một chiếc máy bay khu trục bị rớt gần đâu đó ? Tiếp tôi đúng là một vị đại sư trụ trì cao niên , rất cao đạo với phong thái đạo mạo và một ánh mắt thật nhân từ . Ngài hỏi tôi tìm ai , tôi nói tôi tìm một vị phi công khu trục , bị bắn rơi và đã hy sinh ngày 29/4/1975 ngay tại vùng Bình Điền này ! Ông nhìn tôi thậtchăm chú như để tìm hiểu sự chân thật của tôi rồi ông hạ giọng nói nhỏ: - Ông Th/Tá Phùng đâu có bị chết ,chính tôi đã cứu ông ấy và đem ông ấy về tá túc tại chùa này từ ngày đó cho tới nay luôn đó ! ' Tôi sửng sờ kinh ngạc và quá mừng rở trước một cái tin bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi , của biết bao nhiêu anh em VNAF và gia đình của Th/Tá như vậy ! Tôi xin phép được gặp Th/Tá , vị sư già đồng ý và kêu chú tiểu vào trong hậu liêu gọi Th/Tá ra .
Một chú thanh niên dong dỏng cao , da trắng , rất đẹp trai với mái tóc hơi quăn dợn sóng (rất giống với di ảnh của Th/Tá Phùng mà anh Phúc đã gởi cho tôi) vận bộ đồ bà ba màu nâu sòng của nhà chùa bước ra, lại thật gần rồi nhìn tôi chăm chú , hỏi tôi bằng một giọng người Huế :
' -Chú em là ai mà biết tôi?'
Dù tôi đang mặc quần áo civil nhưng không hiểu sao tự nhiên tôi đứng nghiêm lại , chào tay , trình diện như tôi đang là một quân nhân chào kính & trình diện SQ cấp trên:
-"Tôi , Binh Nhì N-T-C , số quân 74/605.54......phụ trách Phép & Sự Vụ Lệnh & CB thuộc Ban Văn Thư LĐTL / KĐ30 BTTL/SĐ3KQ xin trình diện Th/Tá ! "
Th/Tá Phùng gật nhẹ đầu rồi nói ; " Anh tới tìm tôi có chuyện gì không ? "
Tôi không trả lời anh hỏi mà lại nói :
Sao Th/Tá trẻ quá vậy , em nhớ không lầm thì thì năm nay Th/Tá đã hơn sáu mươi rồi , sao em thấy Th/Tá như chỉ mới ngoải ba mươi thôi vậy ? "
Th/Tá cười rất tươi : " Ở trong chùa này ba mươi mấy năm nay , anh đâu có lo lắng gì chuyện cơm áo , sinh kế , vợ con gì đâu mà bị già vậy em ? "
Tôi rơm rớm nước mắt : "- Trời ơi Th/Tá ơi , sao Th/Tá không trở về nhà , ba muoi mấy năm qua gia đình Th/Tá trông đợi Th/Tá từng ngày mà ! "
Th/Tá Phùng chợt trở nên thật buồn , anh nhìn tôi với ánh mắt thật sâu lắng :
" Anh cũng muốn về lắm mà không về được em à ! "
"- Sao vậy , Th/Tá đừng sợ gì hết , ba mươi mấy năm đã qua rồi , không còn ai bắt Th/Tá đi ở tù " cãi tạo "đâu ! Ông Kỳ mà còn hiên ngang trở về thăm quê nhà nữa đó Th/Tá ! "
Gương mặt anh càng buồn hơn , anh nói chậm rãi nhưng thật rỏ ràng từng lời :
" - Anh phải ở lại nơi này , đến khi nào anh gặp được em, anh mới trở về với gia đình được ! "
................Tôi giật mình tỉnh giấc , nổi gai ốc toàn thân , tai như vẫn còn văng vẵng lời anh nói !....
Lên đường !

Tôi có kể lại cho anh Phúc biết giấc mơ của tôi . Anh Phúc nói như vậy là anh linh của anh Phùng đã chỉ điểm cho tôi phải tìm tới những ngôi chùa có những vị sư già trụ trì thì may ra các vị này mới biết chuyện hơn ba mươi ba năm về trước ! Hai anh em cùng mở bản đồ wikimapia ra, tìm những ngôi chùa nằm trong bán kính 4 km quanh cầu Bình Điền thì thấy có hai ngôi chùa , một là chùa Pháp Truyền thuộc xã An-Phú-Tây, Bình Chánh, hai là chùa Từ Quang thuộc xã Tân-Kiên, Bình Chánh !
Chùa Pháp Truyền là ngôi chùa tôi tìm đến đầu tiên , Nhưng vị sư già trụ trì hoàn toàn không biết gì và ngài chỉ cho tôi qua xã Tân Kiên hỏi thăm vì theo ngài được biết có một chiếc máy bay khu trục bị rơi bên xã đó sáng 29/4/75 !
Tôi qua chùa Từ Quang tìm vị sư trụ trì nhưng chỉ gặp ông từ giử chùa vì vị sư trụ trì đã có chuyến xuất ngoại lo chuyện Phật Sự , chuẩn bị cho đại lễ Vu Lan , rằm tháng 7 sắp đến ! Ông từ cho biết ngài trụ trì hiện giờ còn rất trẻ , chỉ mới ngoài 30 tuổi ! Còn vị sư trụ trì trước đã viên tịch hồi năm trước , 2007 , khi ngài đã hơn 80 tuổi ! Ngay ông từ chỉ mới hơn 40 và chỉ mới đến ngụ trong chừa mới 7 năm nay nên những chuyện trước đó ông không được biế!
Ra khỏi chùa Từ Quang , tôi không biết là tôi sẻ lại bắt đầu từ nơi nào và hỏi những ai đây? Chợt nhớ tới trong giấc mơ đêm hôm qua , Th/Tá Phùng có “ chỉ dẫn “ cho tôi đi tìm Th/Tá trong chùa , tôi lại đi tìm hỏi người dân địa phương về các ngôi chùa trong xã Tân Kiên . Nhờ người dân tận tình chỉ dẫn , tôi đã tìm tới gần như tất cã các ngôi chùa , đình thần .v.v..để hỏi thăm . Tình cờ tôi tìm được một ngôi chùa không tên của hai chị em ni sư trụ trì . Có điều lạ lùng sau khi các cô ni sư tiếp tôi , tôi mới biết tôi là người Phật tử đầu tiên được các ni sư cho phép viếng chùa từ hơn ba mươi ba năm qua , kể từ ngày 30/4/1975 ! Sau hơn một giờ tiếp chuyện cùng các cô ni sư, khi các cô biết tôi đã từng là một quân nhân của KQ VNCH , các cô mới cho tôi biết lý do tại sao các cô không mở cửa đón tiếp khách thập phương . Vì ngôi chùa này là nơi thờ phụng người anh của các cô , một vị danh tướng của QL VNCH : Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh , nguyên Tư Lệnh Quân Khu 4 / Vùng 4 Chiến Thuật . Thật là một cơ duyên cho tôi mà không phải ai cũng có được ! Theo lời khẩn cầu của tôi , các cô đưa tôi trở vào hậu liêu để được lạy Tướng Thanh . Trước linh vị của Tướng , tôi thầm cầu khấn xin Tướng linh thiêng phù hộ cho tôi tìm được hài cốt Th/Tá Phùng . Và có thể Tướng đã hiển linh nên khi chia tay tôi , cô Hai trụ trì bổng nhiên (?) nới với theo : “ Gần đây có một thánh thất Cao Đài , con vô đó hỏi thăm đi ! “ Và chính tại ngôi Thánh Thất Cao Đài này , tôi đã tìm được một người đạo hữu là nhân chứng duy nhất đã tận mắt chứng kiến những hình ảnh sau cùng của Th/Tá Phùng sáng ngày 29/4/1975 : Chú Tư Hườn .
Đại-Bàng gãy cánh .
Khi tôi hỏi thăm những người đạo hữu trong thánh thất Cao Đài , có gần hai mươi người nhưng không một ai biết chuyện chiếc máy bay khu trục rơi sáng ngày 29/4/75 . Chợt ông Giáo Hữu chánh quản của thánh thất nói có thể chú Tư Hườn sẻ biết vì Chú Tư là dân cố cựu tại xã Tân Kiên này từ xưa đến nay ! Tôi được một dì đạo hữu trong thánh thât đưa tới tận nhà của chú Tư Hườn vì chú đang bị cãm sốt mấy ngày qua . Nghe có người hỏi thăm , chú Tư chui ra khỏi mùng , tiếp tôi ngay nơi chú đang nằm dưỡng bệnh . Tôi thăm hỏi bệnh tình của chú và sau khi biết chú Tư đã hồi phục gần như hoàn toàn , tôi mới hỏi thăm chú biết gì chuyện sáng ngày 29/4/75 có một chiếc khu trục bị rơi ở xã Tân Liên này không ? Chú Tư trả lời thật gọn , rỏ ràng :
“- Có ! Có một chiếc “ avion de chasse “ đã đáp xuống ngã ba Bờ Ngựa sáng ngày 29/4/75 ! “
Tim tôi như ngừng đập khi nghe lời xác nhận của chú Tư ! Tôi run run hỏi lại :”- Thưa chú Tư , chú có biết tại sao cái máy bay đó bị rớt không?“ .
Chú Tư :”-Không phải bị rớt mà nó đã đáp xuống vì bị bắn hư máy ! Nhà tôi hồi đó là ngay ở phía sau chùa Từ Quang , chỉ cách ngã ba Bờ Ngựa có hơn một trăm thước . Tôi thấy nó ( chiếc khu trục) bị bắn cháy máy , khói bốc mù mịt , từ từ hạ xuống ngã ba Bờ Ngựa . Khi máy bayđã hạ xuống an toàn , từ trong máy bay có một người lái chui ra khỏi máy bay . Từ đàng xa có mấy thằng du kích VC chạy lại , có một thằng xã súng bắn bừa về hướng chiếc máy bay ! Tay chỉ huy đã bợp tai thằng du kích này rồi chữi nó :”- Tại sao mầy cố sát quá vậy ? Người ta đã hạ xuống rồi sao mày còn bắn ? Vùng này đã là vùng “ giãi phóng “ rồi mà ! “ Rồi toán du kích này đã bắt trói cái ông lái máy bay , bịt mắt lại , dẫn đi đâu tui không biết ! “ . Khi chú Tư kể tới đây , tôi có linh cảm Th/Tá Phùng đã gặp dữ nhiều, lành ít !
Vì thấy chú Tư đã quá lớn tuổi (Chú Tư Hườn đã 94 tuổi) phần nghỉ chú đang còn cảm sốt chưa tỉnh táo hẳn nên có thể chú Tư nhầm lẫn các loại máy bay , hai tuần sau tôi trở lại nhà chú Tư và bày ra trước mặt chú một bộ ảnh chụp các loại máy bay khác nhau chụp ở mọi góc độ thì chú chỉ ngay vào ảnh chiếc AD-5 Skyraider và xác định chính là chiếc máy bay “ avion de chasse “ này !
Hai nhà ngoại cảm Nguyễn-Thanh-Mẫn và Bé Năm xuất hiện .
Khi chú Tư Huờn kể tới đoạn Th/Tá Phùng đã forced landing ( đáp khẩn cấp ) chiếc AD-5 xuống ngã ba Bờ Ngựa , vừa chui ra khỏi máy bay thì liền bị bắt , bịt mắt , dẫn đi đâu chú không biết , tôi đã thấy ánh sáng như vút tắt cuối đường hầm , không còn hy vọng gì tìm thấy hài cốt của Th/Tá được nữa ! Sau đó , tôi vẫn tiếp tục kiên trì lui tới Bình Chánh , lân la , dò hỏi hết bô lão này , đến bô lão nọ , với hy vọng mong manh là sẻ tìm thấy những kẻ thủ ác , hay nhân chứng...có thể cho tôi chút manh mối nào về vị trí Th/Tá Phùng bị vùi thân hay không ?! Ngày qua ngày , mọi cố gắng của tôi gần như sắp đến lúc phải kiệt sức mà chấm dứt trong ray rứt của lòng tôi . Tôi qua lại ngã ba Bờ Ngựa rất nhiều lần , hơn hai mươi lần , nhưng không hiểu tại sao tôi lại rất thường ghé lại , dừng chân ngay ngã ba Bờ Ngựa , đứng nhìn mông lung như đang tìm kiếm một ai đó mà tôi nghỉ có thể hỏi thăm được chuyện Th/Tá Phùng ! Nhưng cũng có rất nhiều lần tôi dừng chân lại đó , đứng giửa trời nắng chan chan , nhìn mông lung mà trong lòng trống lỗng, không biết mình dừng lại ở ngã ba Bờ Ngựa này để làm gì nữa ?!? Lúc đó , tôi nào có biết được tôi đang đứng là rất gần , chỉ cách nơi Th/Tá Phùng đang nằm chỉ có vài mét !!! Phải chăng anh linh Th/Tá Phùng đang giử tôi lại nơi đó và Th/Tá muốn chỉ cho tôi nơi tôi sẻ tìm được nắm xương tàn của Th/Tá đã bị vùi dập hơn ba mươi ba năm qua ?!?
Và ngay trong thời điểm mà tôi gần như hết hy vọng tìm được Th/Tá Phùng thì thật bất ngờ anh Nguyễn Thanh Mẫn ( nickname trong web Cánh Thép là : Phi Yến 51 , nguyên Tr/Úy huấn luyện viên phi cơ T-41 của TTHLKQ Nha Trang , hiện đang định cư tại Australia từ hơn 28 năm qua ) liên lạc với tôi và hứa sẻ đưa nhà ngoại cảm Bé Năm từ Nha Trang vào giúp tôi tìm Th/Tá Phùng ! Tôi rất mừng vì trước đó , tôi có đọc bài của anh Mẫn viết trong Cánh Thép kể chuyện anh cùng nhà ngoại cảm Bé Năm tìm được hài cốt của hai cố NT Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc và Tr/Úy Lê Văn Bé ( Xin quý vị tìm đọc hai bài viết : “ Những mảnh đời còn lại “ và “ Vết đạn thù “ của tác giả Phi Yến 51 trong web Cánh Thép.com).
7 giờ chiều ngày 24/10/2008 tôi đưa một “ phái đoàn “ gồm anh Mẫn , Bé Năm , con trai trưởng của Th/Tá Phùng là Trương Phú Sĩ cùng các anh đại niên trưởng VNAF đã không quản ngại mưa giông , đường xa …đã cùng đến tham gia “ phi vụ “ tìm lại chiến hữu này ! Khi tôi chỉ cho “ phái đoàn “ nơi Th/Tá Phùng đã hạ cánh chiếc AD-5 xuống ngày 29/4/75 , Bé Năm đã thay đổi sắc diện từ lúc nào không biết , từ bình thường vui vẻ trở nên rất kỳ lạ , gương mặt lạnh tanh với đôi mắt như “ đứng tròng “ , nhìn xung quanh nơi hiện trường mà như đang nhìn về một nơi nào đó thật xa ở chân trời ! Sau một hồi quan sát , miệng lẩm bẩm điều gì đó không nghe rỏ được , bổng nhiên Bé Năm hỏi tôi có biết Th/Tá Phùng tuổi gì không ? Tôi không biết nên chở Bé Năm trở vào quán nước nơi cã phái đoàn đang ngồi chờ kết quả khảo sát , hỏi con trai Phú Sĩ của Th/Tá Phùng .. Khi Phú Sĩ cho biết cha mình tuổi Quý Mùi , Bé Năm cười ngất rồi chỉ ra hướng ngã ba Bờ Ngựa , chỉ ngay con bò con đang đứng sát bờ tường bằng tôn của công trường làm đường , nói : “- Bác Phùng đang núp sau con bò kia kìa ! Và nơi con bò đang đứng chính là nơi bác Phùng nằm ! “ . Sau khi mọi người trong phái đoàn đã ghi nhận kỷ nơi đó , chúng tôi chia tay và hẹn ngày tái ngộ để thật sự bốc cốt Th/Tá Phùng .
Ngày 30/11/2008 , chúng tôi đón anh Mẫn từ Mỹ trở về và đưa thẳng anh cùng Bé Năm ra Bình Chánh để quan sát lại hiện trường một lần cuối và làm lễ khấn vái cho ngày mai sẻ khởi công động thổ .
Bốc cốt Th/Tá Phùng , ngày thứ nhất , 1/12/2008 .
Từ sáng sớm , các Đại NT Ngân C-119 & Xuân C-7 , KQ Thanh và phu nhân , KQ Hùng “ cao “ HSQ IO PĐ 821 , gia đình của Th/Tá Phùng gồm chị Lộc , phu nhân của Th/Tá , trưởng nam Trương Phú Sĩ , thứ nữ Trương Thủy Tiên đã có mặt tại hiện trường .
Đúng 7 giờ sáng 1/12/’08 , anh Mẫn đứng chủ lễ cùng với nhà ngoại cảm Bé Năm lập một bàn lể vật cúng vái anh linh Th/Tá Phùng , xin phép bốc cốt của Th/Tá . Sau đó , anh Mẫn dùng hai cây căm xe đạp ( đã được bẻ cong thành chử L ) làm hai que cảm xạ , đặt trong lòng hai bàn tay lật ngữa ngay trước ngực của anh , dò tìm vị trí chính xác của hài cốt Th/Tá Phùng . Anh Mẫn rất nhẹ nhàng , rón rén , di chuyễn vòng quanh giới hạn trong chu vi vị trí Bé Năm đã cắm những bó nhang để chỉ dấu vị trí tương đối của hài cốt , chậm thật là chậm , nín thở để tránh làm ảnh hưỡng tới hai que sắt . Hai que sắt bắt đầu dao động song song qua lại như hai con lắc nhưng chỉ một chút sau , lạ một điều là chỉ có một que sắt tiếp tục dao động , một que sắt còn lại đứng im , hướng thẳng xuống đất như đang bị hút bởi lực từ tính ( nam châm ) vậy ! Bối rối trước hiện tượng lạ chưa từng thấy này , anh Mẫn ngừng dò tìm , dùng cellphone gọi cho Thầy Mạc Đìa bên Mỹ để hỏi thì Thầy cho biết : Th/Tá Phùng bị chôn ở tư thế đầu ở trên cao , có thể là ngồi hoặc đứng ! Khi đào nên cẩn thận vì sẻ gặp phần đầu của Th/Tá Phùng trước ! Được Thầy Mạc Đìa giải tỏa thắc mắc , anh Mẫn lại tiếp tục dò tìm và sau đó , xác định vị trí hài cốt của Th/Tá Phùng nằm gọn trong một vòng tròn đường kính khoảng 60cm ! Máy đào đất được điều tới và bắt đầu đào với sự trực tiếp chỉ huy của Bé Năm vì chỉ có Bé Năm mới biết phải đào xuống sâu bao nhiêu ?! ( Vì không được phép hiện diện lúc động thổ , Phú Sĩ chỉ dám lãng vãng gần đó , một lúc sau do quá xúc cảm , Phú Sĩ bỏ ra xa xa hiện trường , ngồi khóc ! ) Một mét , hai rồi ba mét ! Nếu tôi không được Bé Năm báo trước chiều tối thiểu là 5 m , hẳn là tôi sẻ rất hoang mang vì làm gì có huyệt mộ nào mà lại sâu như vậy ?! Khi tới độ sâu chừng 5 mét , tôi thấy mới hiện ra mặt đất thật sự của hơn ba mươi ba năm trước , khác hẳn với tầng đất đã được san lấp hiện nay ! Gần trung tâm của hố đào , có một gốc cây xoài bị cưa ngang , đường kính gần 30cm . Sau đó , người dân cho biết nơi này đã có ba lần đổ đất để nâng cao bởi vùng này khi xưa rất thấp . Bé Năm ra lệnh cho máy đào ngưng không đào sâu nữa và chuyễn qua mở rộng hố đào xung quanh một điểm biểu kiến đã được anh Mẫn đánh dấu từ trên mặt đất . Vì hố đào quá dốc , dựng đứng nên đất bắt đầu rỉ nước ra và sụp xuống . Tôi chạy đi mua cừ tràm và mướn người đóng cừ , chặn phên tre để tránh đất bị sụp lở ! Vì lúc đó đã chiều tối , phải tạm ngưng công việc qua ngày mai , mọi người chia tay , riêng tôi vẫn nán lại để trông coi đóng cừ chặn vách đất . Bổng có một anh kỷ sư công chánh mặc quần áo lao động của cán bộ công trường làm đường (ngay gần đó) tới nhìn xuống cái hố mà chúng tôi mới đào , hỏi tôi các chú tìm gì vậy ? Sau khi nghe tôi trả lời là nhà ngoại cảm chỉ cho chúng tôi đào tìm hài cốt người thân , bị mất năm 1975, anh ta chợt hỏi tôi :”- Có phải mấy chú tìm một ông phi công không ? “ Tôi tròn xoe mắt nhìn anh ta , ngạc nhiên đến nổi không nói nên lời ! Anh ta tiếp tục :- “ Cháu là con của hai ông bà chủ đất này , hồi xưa là một vườn xoài . Ba của cháu kể lại sáng sớm ngày 30/4/75 , ba cháu ra thăm vườn thì thấy có một xác người phi công của “quân lực Sài Gòn “ bị bắn chết hồi đêm . Ba má cháu đã già quá nên không đủ sức đào mồ chôn nên đã kéo xác ông phi công này cho xuống một cái hố cá nhân ( của lính SG đào đầy trong vườn xoài ) và lấp đất lại ! Sau đó ba cháu cưa luôn cây xoài gần đó để không cho rể cây xâm phạm vào xác ông phi công , củng như để đánh dấu nơi ba cháu đã chôn ông ấy ! Chú có thấy cái gốc cây xoài dưới đó không , chú cho đào qua bên tay trái chừng 1,5 mét là ngay chổ ông ấy đó chú ! “
Sau khi anh kỷ sư này đi thì lại có một tay mặt mày bặm trợn , ra vẻ như một cán bộ cấp cở của chính quyền , chạy xe tới , sau một hồi trầm ngâm , im lặng nhìn cái hố , anh ta lại gần tôi nói nhỏ : “- Anh cho đào qua tay trái từ cái gốc xoài đó chừng 1,5 mét là sẻ thấy xương cốt người anh muốn tìm ! “ Nói xong , chưa kịp cho tôi hỏi gì hay nói một lời cảm ơn , anh ta lên xe chạy đi mất !
……….., ngày thứ nhì, 2/12/2008 .
Sáng sớm ngày thứ nhì của cuộc đào tìm hài cốt Th/Tá Phùng , tôi và Bé Năm đến chùa Từ Quang , xin diện kiến vị sư trụ trì chùa . Ra tiếp chúng tôi là một vị trụ trì còn rất trẻ , chưa tới 40 tuổi nhưng chúng tôi đã được biết ngài là một vị cao tăng với rất nhiều công đức cho chúng sinh . Chính ngài đã đặt ra cho nhà chùa một lệ là cúng cơm và cầu siêu mỗi ngày sáng chiều cho các oan hồn , tử sĩ . Tại khuôn viên nhà chùa , ngài cho xây dựng một cơ sở từ thiện rất lớn , dạy nghề thêu may , điện tử , vi tính , cơ khí sửa chửa xe hơi , xe gắn máy..v..v.. hoàn toàn miễn phí cho mọi người , bất kể Lương , Phật hay Công giáo . Chúng tôi có trình bày sơ lược chuyện đào tìm hài cốt của Th/Tá Phùng và tôi kể cho ngài biết giấc mơ báo mộng của tôi , biết ý nguyện của chúng tôi xin ngài giúp cho một hồi kinh cầu siêu tại hiện trường khi chúng tôi tìm thấy cốt Th/Tá Phùng , ngài cho biết chính ngài sẻ ra tận nơi để cầu siêu cho Th/Tá ! Trước khi trở lại hiện trường , chúng tôi ra chính điện để lạy Phật . Khi nhìn lên bàn thờ , trông thấy di ảnh của vị đại sư sáng lập chùa đã viên tịch hồi năm ngoái , tôi đứng chết lặng , sửng sờ , toàn thân nổi gai ốc…vì vị đại sư trong di ảnh chính là vị sư trụ trì ngôi chùa mà tôi đã diện kiến trong giấc mơ !
Anh Mẫn cho tôi biết , khi bốc cốt thì có một quy luật bất biến , nếu muốn thành công thì phải tuân theo , đó là: con số chẳn 2 , 4 , 6 , 8 .v..v…ngày thứ nhất , thứ ba …thì khó lòng thành công , chỉ có ngày thứ hai , thứ tư…thì tỷ lệ thành công là cao nhất ! Và số người thợ trực tiếp đào tìm phải là số chẳn , 2 , 4 , 6 , 8…người ! Vì là ngày thứ nhì ( số chẳn ) nên anh Mẫn nói trước là hôm nay sẻ tìm thấy hài cốt Th/Tá Phùng nên anh chia nhóm thơ 10 người ra thành hai tốp nhỏ , một tốp 6 người và một tốp 4 người , thay phiên nhau xuống hố đào tìm. Anh Mẫn lại dùng hai que sắt cảm xạ để định vị thật chính xác một lần cuối trước khi tiếp tục cho đào . Anh lấy dây cột làm dấu trên cây đà sắt vách tôn , ngay tâm của hố tròn biểu kiến ( thật sự còn nằm sâu cở hơn 2 m phía dưới chân anh do đất lở , phải kè bằng cừ tràm ) .
11 giờ 30 máy đào đất tới và bắt đầu mở rộng miệng hố đào hôm qua ra cho đất đá không bị sụp lở chứ không đào sâu nữa . Khi thấy hố đào đã an toàn , không còn sụt lở đất gây nguy hiểm cho công nhân , Bé Năm cho ngừng máy , kêu anh em công nhân lấy một tấm vải bạt nylon lớn che hết cã diện tích hố đào khỏi bị ánh nắng rọi xuống , lệnh cho sáu người xuống hố , bắt đầu đào tìm bằng tay . 12 giờ 30 thì thấy dần dần hiện ra một hố tròn đường kính khoảng 60 cm đúng như anh Mẫn đã định vị từ hôm qua ! Đây là một hố cá nhân của lính đào trước kia . Toán thợ tập trung đào tìm trong hố cá nhân này , từng xẻng bùn đất mang lên khỏi hố đều được các anh công nhân mò , bóp cẩn thận . Đúng 12 giờ 45’ , tìm thấy được mảnh xương sọ đầu tiên ! Rồi lại xương sọ… Ngừng tay ngay lập tức , một tấm vải điều màu đỏ được đem xuống , che kín hố tròn , chờ Bé Năm chạy đến chùa , mời vị sư trụ trì chùa Từ Quang đến cầu siêu và đồng thời mời gia đình của Th/Tá Phùng đến chứng kiến việc bốc cốt . Khi vị sư trụ trì bắt đầu đọc kinh cầu siêu và Phú Sĩ , con trai trưởng của Th/Tá Phùng đến , toán công nhân được lệnh tiếp tục . Từng mảnh xương được đem lên rửa sạch bằng rượu rồi cho vào hủ sành . Ngoài xương cốt ra , còn tìm thấy một đoạn dây TAB đeo súng P-38, một mảnh nỉ mousse màu đen lót trong helmet ( nón bay ) + những mảnh vở helmet + những mảnh phi bào ( áo bay ) bị mủn nát , mảnh lớn nhất chỉ bằng cở bàn tay , khi tôi và anh KQ Thanh cố nhẹ nhàng rửa rượu cho sạch thì những mảnh phi bào bị tan rã ra như bánh tráng ngâm nước . Anh Mân mang mảnh nỉ mousse lót nón helmet tới cho chị Lộc phu nhân Th/Tá xem , chị đã khóc ngất , nức nở vuốt ve mảnh nỉ nhu muốn sờ lại hình hài của người chồng yêu thương nay đã không còn nữa …Theo yêu cầu của chúng tôi , các anh công nhân cố tìm thêm thẻ kim bài , giấy tờ tùy thân của Th/Tá Phùng…dù các anh em công nhân rất cố gắng nhưng đã không còn tìm thấy được gì nữa sau ngần ấy năm bị vùi lấp . Sau cùng , tất cã các mảnh hài cốt tìm lại được khoảng chừng 8/10 cái hủ sành 10 lít . Tôi xin phép phu nhân và con trai của Th/Tá Phùng cho tôi được vinh dự ôm hủ hài cốt chụp ảnh lưu niệm cùng hai người và giúp mang ra tận xe cho gia đình chở về , ngay trong buổi chiều hôm 2/12/2008 hỏa thiêu lấy tro , đựng vào tiểu sành , thờ phụng tại chùa Bửu Quang gần nhà của gia đình Th/Tá .
Tôi đã thực hiện được lời hứa của tôi với người anh kết nghĩa, Đại-Úy Trần-Văn-Phúc . Tôi cũng đã giúp hoàn thành ước nguyện được “ đoàn tụ “ với gia đình của anh linh vị anh hùng Thiếu-Tá Trương-Phùng . Tôi cũng tự cãm thấy nhẹ lòng khi đã đền đáp được phần nào ơn hy sinh cứu tử của Th/Tá Phùng. Xin chân thành cảm ơn Niên-Trưởng ( NT ) KQ Mạc-Đìa , NT KQ Nguyễn Thanh Mẫn , nhà ngoại cảm Bé Năm và tất cã các anh em đã tham gia góp phần vào thành công việc tìm lại hài cốt của Th/Tá Phùng . Xin chân thành cám ơn anh BĐQ Đoàn-Trọng-Hiếu , Aiudu , LuuVong đã quan tâm và chia sẻ những thông tin quý báu . Xin chân thành cảm ơn các vị NT VNAF , các vị Mạnh Thường Quân đã hết lòng hổ trợ tinh thần & vật chất cho chúng tôi hoàn thành công việc . Và trên hết, xin cúi lạy tạ Ơn Trên cùng anh linh các vị anh hùng liệt sĩ đã phò hộ giúp đở cho chúng con . / .
Nguyễn-Toại-Chí .Viết xong ngày 20/12/2008.




Anh Phúc có phone cho anh Đ.T.Hiếu và được anh Hiếu cho biết tin này do một vị đại đội trưởng BĐQ đóng quân ở Chợ Đệm , Long An báo cáo về BCH liển đoàn sáng ngày 29/4/75 .
Dù tin tức đó rất mơ hồ nhưng đó là tất cã những gì mà hai anh em chúng tôi có được về Th/Tá Phùng ! Vì sáng ngày 29/4/1975 , duy nhất chỉ có một chiếc A-1 Skyraider của Th/Tá Phùng là bị “ mất tích “ chứ không còn một chiếc A-1 nào khác bị rớt hoặc “ mất tích “ nữa ! Vậy là dựa vào tin tức này , tôi quyết định sẻ lên đường đi qua Bình Chánh (nơi có cầu Bình Điền) để tìm tung tích của chiếc A-1 Skyraider đã rơi hơn ba mươi ba năm trước ! Nhưng tôi cũng chưa biết phải đi tới nơi nào , hỏi ai…vì vậy tôi quyết định chấm một bán kính 4 km xoay quanh tâm điểm là cầu Bình Điền để tìm hỏi thăm người dân . Cã tháng trước ngày tôi lên dường qua Bình Chánh , tôi đã có một giấc mơ mà sau nầy tôi mới biết là Th/Tá Phùng đã hiển linh , chỉ vẽ cho tôi phải tới đâu , hỏi ai để có thể tìm ra Th/Tá:......; " Tôi chạy xe trên một con đường rất rộng nhưng hoang vắng , không có một chiếc xe nào ngoài tôi ra. Tôi thấy một ngôi chùa bên đường và chợt nghỉ là mình nên vào hỏi vị sư trụ trì cao niên , có thể ông sẻ biết và kể lại cho tôi câu chuyện hơn ba mươi ba năm về trước, về một chiếc máy bay khu trục bị rớt gần đâu đó ? Tiếp tôi đúng là một vị đại sư trụ trì cao niên , rất cao đạo với phong thái đạo mạo và một ánh mắt thật nhân từ . Ngài hỏi tôi tìm ai , tôi nói tôi tìm một vị phi công khu trục , bị bắn rơi và đã hy sinh ngày 29/4/1975 ngay tại vùng Bình Điền này ! Ông nhìn tôi thậtchăm chú như để tìm hiểu sự chân thật của tôi rồi ông hạ giọng nói nhỏ: - Ông Th/Tá Phùng đâu có bị chết ,chính tôi đã cứu ông ấy và đem ông ấy về tá túc tại chùa này từ ngày đó cho tới nay luôn đó ! ' Tôi sửng sờ kinh ngạc và quá mừng rở trước một cái tin bất ngờ ngoài sự tưởng tượng của tôi , của biết bao nhiêu anh em VNAF và gia đình của Th/Tá như vậy ! Tôi xin phép được gặp Th/Tá , vị sư già đồng ý và kêu chú tiểu vào trong hậu liêu gọi Th/Tá ra .
Một chú thanh niên dong dỏng cao , da trắng , rất đẹp trai với mái tóc hơi quăn dợn sóng (rất giống với di ảnh của Th/Tá Phùng mà anh Phúc đã gởi cho tôi) vận bộ đồ bà ba màu nâu sòng của nhà chùa bước ra, lại thật gần rồi nhìn tôi chăm chú , hỏi tôi bằng một giọng người Huế :
' -Chú em là ai mà biết tôi?'
Dù tôi đang mặc quần áo civil nhưng không hiểu sao tự nhiên tôi đứng nghiêm lại , chào tay , trình diện như tôi đang là một quân nhân chào kính & trình diện SQ cấp trên:
-"Tôi , Binh Nhì N-T-C , số quân 74/605.54......phụ trách Phép & Sự Vụ Lệnh & CB thuộc Ban Văn Thư LĐTL / KĐ30 BTTL/SĐ3KQ xin trình diện Th/Tá ! "
Th/Tá Phùng gật nhẹ đầu rồi nói ; " Anh tới tìm tôi có chuyện gì không ? "
Tôi không trả lời anh hỏi mà lại nói :
Sao Th/Tá trẻ quá vậy , em nhớ không lầm thì thì năm nay Th/Tá đã hơn sáu mươi rồi , sao em thấy Th/Tá như chỉ mới ngoải ba mươi thôi vậy ? "
Th/Tá cười rất tươi : " Ở trong chùa này ba mươi mấy năm nay , anh đâu có lo lắng gì chuyện cơm áo , sinh kế , vợ con gì đâu mà bị già vậy em ? "
Tôi rơm rớm nước mắt : "- Trời ơi Th/Tá ơi , sao Th/Tá không trở về nhà , ba muoi mấy năm qua gia đình Th/Tá trông đợi Th/Tá từng ngày mà ! "
Th/Tá Phùng chợt trở nên thật buồn , anh nhìn tôi với ánh mắt thật sâu lắng :
" Anh cũng muốn về lắm mà không về được em à ! "
"- Sao vậy , Th/Tá đừng sợ gì hết , ba mươi mấy năm đã qua rồi , không còn ai bắt Th/Tá đi ở tù " cãi tạo "đâu ! Ông Kỳ mà còn hiên ngang trở về thăm quê nhà nữa đó Th/Tá ! "
Gương mặt anh càng buồn hơn , anh nói chậm rãi nhưng thật rỏ ràng từng lời :
" - Anh phải ở lại nơi này , đến khi nào anh gặp được em, anh mới trở về với gia đình được ! "
................Tôi giật mình tỉnh giấc , nổi gai ốc toàn thân , tai như vẫn còn văng vẵng lời anh nói !....
Lên đường !

Tôi có kể lại cho anh Phúc biết giấc mơ của tôi . Anh Phúc nói như vậy là anh linh của anh Phùng đã chỉ điểm cho tôi phải tìm tới những ngôi chùa có những vị sư già trụ trì thì may ra các vị này mới biết chuyện hơn ba mươi ba năm về trước ! Hai anh em cùng mở bản đồ wikimapia ra, tìm những ngôi chùa nằm trong bán kính 4 km quanh cầu Bình Điền thì thấy có hai ngôi chùa , một là chùa Pháp Truyền thuộc xã An-Phú-Tây, Bình Chánh, hai là chùa Từ Quang thuộc xã Tân-Kiên, Bình Chánh !
Chùa Pháp Truyền là ngôi chùa tôi tìm đến đầu tiên , Nhưng vị sư già trụ trì hoàn toàn không biết gì và ngài chỉ cho tôi qua xã Tân Kiên hỏi thăm vì theo ngài được biết có một chiếc máy bay khu trục bị rơi bên xã đó sáng 29/4/75 !
Tôi qua chùa Từ Quang tìm vị sư trụ trì nhưng chỉ gặp ông từ giử chùa vì vị sư trụ trì đã có chuyến xuất ngoại lo chuyện Phật Sự , chuẩn bị cho đại lễ Vu Lan , rằm tháng 7 sắp đến ! Ông từ cho biết ngài trụ trì hiện giờ còn rất trẻ , chỉ mới ngoài 30 tuổi ! Còn vị sư trụ trì trước đã viên tịch hồi năm trước , 2007 , khi ngài đã hơn 80 tuổi ! Ngay ông từ chỉ mới hơn 40 và chỉ mới đến ngụ trong chừa mới 7 năm nay nên những chuyện trước đó ông không được biế!
Ra khỏi chùa Từ Quang , tôi không biết là tôi sẻ lại bắt đầu từ nơi nào và hỏi những ai đây? Chợt nhớ tới trong giấc mơ đêm hôm qua , Th/Tá Phùng có “ chỉ dẫn “ cho tôi đi tìm Th/Tá trong chùa , tôi lại đi tìm hỏi người dân địa phương về các ngôi chùa trong xã Tân Kiên . Nhờ người dân tận tình chỉ dẫn , tôi đã tìm tới gần như tất cã các ngôi chùa , đình thần .v.v..để hỏi thăm . Tình cờ tôi tìm được một ngôi chùa không tên của hai chị em ni sư trụ trì . Có điều lạ lùng sau khi các cô ni sư tiếp tôi , tôi mới biết tôi là người Phật tử đầu tiên được các ni sư cho phép viếng chùa từ hơn ba mươi ba năm qua , kể từ ngày 30/4/1975 ! Sau hơn một giờ tiếp chuyện cùng các cô ni sư, khi các cô biết tôi đã từng là một quân nhân của KQ VNCH , các cô mới cho tôi biết lý do tại sao các cô không mở cửa đón tiếp khách thập phương . Vì ngôi chùa này là nơi thờ phụng người anh của các cô , một vị danh tướng của QL VNCH : Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh , nguyên Tư Lệnh Quân Khu 4 / Vùng 4 Chiến Thuật . Thật là một cơ duyên cho tôi mà không phải ai cũng có được ! Theo lời khẩn cầu của tôi , các cô đưa tôi trở vào hậu liêu để được lạy Tướng Thanh . Trước linh vị của Tướng , tôi thầm cầu khấn xin Tướng linh thiêng phù hộ cho tôi tìm được hài cốt Th/Tá Phùng . Và có thể Tướng đã hiển linh nên khi chia tay tôi , cô Hai trụ trì bổng nhiên (?) nới với theo : “ Gần đây có một thánh thất Cao Đài , con vô đó hỏi thăm đi ! “ Và chính tại ngôi Thánh Thất Cao Đài này , tôi đã tìm được một người đạo hữu là nhân chứng duy nhất đã tận mắt chứng kiến những hình ảnh sau cùng của Th/Tá Phùng sáng ngày 29/4/1975 : Chú Tư Hườn .
Đại-Bàng gãy cánh .
Khi tôi hỏi thăm những người đạo hữu trong thánh thất Cao Đài , có gần hai mươi người nhưng không một ai biết chuyện chiếc máy bay khu trục rơi sáng ngày 29/4/75 . Chợt ông Giáo Hữu chánh quản của thánh thất nói có thể chú Tư Hườn sẻ biết vì Chú Tư là dân cố cựu tại xã Tân Kiên này từ xưa đến nay ! Tôi được một dì đạo hữu trong thánh thât đưa tới tận nhà của chú Tư Hườn vì chú đang bị cãm sốt mấy ngày qua . Nghe có người hỏi thăm , chú Tư chui ra khỏi mùng , tiếp tôi ngay nơi chú đang nằm dưỡng bệnh . Tôi thăm hỏi bệnh tình của chú và sau khi biết chú Tư đã hồi phục gần như hoàn toàn , tôi mới hỏi thăm chú biết gì chuyện sáng ngày 29/4/75 có một chiếc khu trục bị rơi ở xã Tân Liên này không ? Chú Tư trả lời thật gọn , rỏ ràng :
“- Có ! Có một chiếc “ avion de chasse “ đã đáp xuống ngã ba Bờ Ngựa sáng ngày 29/4/75 ! “
Tim tôi như ngừng đập khi nghe lời xác nhận của chú Tư ! Tôi run run hỏi lại :”- Thưa chú Tư , chú có biết tại sao cái máy bay đó bị rớt không?“ .
Chú Tư :”-Không phải bị rớt mà nó đã đáp xuống vì bị bắn hư máy ! Nhà tôi hồi đó là ngay ở phía sau chùa Từ Quang , chỉ cách ngã ba Bờ Ngựa có hơn một trăm thước . Tôi thấy nó ( chiếc khu trục) bị bắn cháy máy , khói bốc mù mịt , từ từ hạ xuống ngã ba Bờ Ngựa . Khi máy bayđã hạ xuống an toàn , từ trong máy bay có một người lái chui ra khỏi máy bay . Từ đàng xa có mấy thằng du kích VC chạy lại , có một thằng xã súng bắn bừa về hướng chiếc máy bay ! Tay chỉ huy đã bợp tai thằng du kích này rồi chữi nó :”- Tại sao mầy cố sát quá vậy ? Người ta đã hạ xuống rồi sao mày còn bắn ? Vùng này đã là vùng “ giãi phóng “ rồi mà ! “ Rồi toán du kích này đã bắt trói cái ông lái máy bay , bịt mắt lại , dẫn đi đâu tui không biết ! “ . Khi chú Tư kể tới đây , tôi có linh cảm Th/Tá Phùng đã gặp dữ nhiều, lành ít !
Vì thấy chú Tư đã quá lớn tuổi (Chú Tư Hườn đã 94 tuổi) phần nghỉ chú đang còn cảm sốt chưa tỉnh táo hẳn nên có thể chú Tư nhầm lẫn các loại máy bay , hai tuần sau tôi trở lại nhà chú Tư và bày ra trước mặt chú một bộ ảnh chụp các loại máy bay khác nhau chụp ở mọi góc độ thì chú chỉ ngay vào ảnh chiếc AD-5 Skyraider và xác định chính là chiếc máy bay “ avion de chasse “ này !
Hai nhà ngoại cảm Nguyễn-Thanh-Mẫn và Bé Năm xuất hiện .
Khi chú Tư Huờn kể tới đoạn Th/Tá Phùng đã forced landing ( đáp khẩn cấp ) chiếc AD-5 xuống ngã ba Bờ Ngựa , vừa chui ra khỏi máy bay thì liền bị bắt , bịt mắt , dẫn đi đâu chú không biết , tôi đã thấy ánh sáng như vút tắt cuối đường hầm , không còn hy vọng gì tìm thấy hài cốt của Th/Tá được nữa ! Sau đó , tôi vẫn tiếp tục kiên trì lui tới Bình Chánh , lân la , dò hỏi hết bô lão này , đến bô lão nọ , với hy vọng mong manh là sẻ tìm thấy những kẻ thủ ác , hay nhân chứng...có thể cho tôi chút manh mối nào về vị trí Th/Tá Phùng bị vùi thân hay không ?! Ngày qua ngày , mọi cố gắng của tôi gần như sắp đến lúc phải kiệt sức mà chấm dứt trong ray rứt của lòng tôi . Tôi qua lại ngã ba Bờ Ngựa rất nhiều lần , hơn hai mươi lần , nhưng không hiểu tại sao tôi lại rất thường ghé lại , dừng chân ngay ngã ba Bờ Ngựa , đứng nhìn mông lung như đang tìm kiếm một ai đó mà tôi nghỉ có thể hỏi thăm được chuyện Th/Tá Phùng ! Nhưng cũng có rất nhiều lần tôi dừng chân lại đó , đứng giửa trời nắng chan chan , nhìn mông lung mà trong lòng trống lỗng, không biết mình dừng lại ở ngã ba Bờ Ngựa này để làm gì nữa ?!? Lúc đó , tôi nào có biết được tôi đang đứng là rất gần , chỉ cách nơi Th/Tá Phùng đang nằm chỉ có vài mét !!! Phải chăng anh linh Th/Tá Phùng đang giử tôi lại nơi đó và Th/Tá muốn chỉ cho tôi nơi tôi sẻ tìm được nắm xương tàn của Th/Tá đã bị vùi dập hơn ba mươi ba năm qua ?!?
Và ngay trong thời điểm mà tôi gần như hết hy vọng tìm được Th/Tá Phùng thì thật bất ngờ anh Nguyễn Thanh Mẫn ( nickname trong web Cánh Thép là : Phi Yến 51 , nguyên Tr/Úy huấn luyện viên phi cơ T-41 của TTHLKQ Nha Trang , hiện đang định cư tại Australia từ hơn 28 năm qua ) liên lạc với tôi và hứa sẻ đưa nhà ngoại cảm Bé Năm từ Nha Trang vào giúp tôi tìm Th/Tá Phùng ! Tôi rất mừng vì trước đó , tôi có đọc bài của anh Mẫn viết trong Cánh Thép kể chuyện anh cùng nhà ngoại cảm Bé Năm tìm được hài cốt của hai cố NT Tr/Úy Nguyễn Văn Lộc và Tr/Úy Lê Văn Bé ( Xin quý vị tìm đọc hai bài viết : “ Những mảnh đời còn lại “ và “ Vết đạn thù “ của tác giả Phi Yến 51 trong web Cánh Thép.com).
7 giờ chiều ngày 24/10/2008 tôi đưa một “ phái đoàn “ gồm anh Mẫn , Bé Năm , con trai trưởng của Th/Tá Phùng là Trương Phú Sĩ cùng các anh đại niên trưởng VNAF đã không quản ngại mưa giông , đường xa …đã cùng đến tham gia “ phi vụ “ tìm lại chiến hữu này ! Khi tôi chỉ cho “ phái đoàn “ nơi Th/Tá Phùng đã hạ cánh chiếc AD-5 xuống ngày 29/4/75 , Bé Năm đã thay đổi sắc diện từ lúc nào không biết , từ bình thường vui vẻ trở nên rất kỳ lạ , gương mặt lạnh tanh với đôi mắt như “ đứng tròng “ , nhìn xung quanh nơi hiện trường mà như đang nhìn về một nơi nào đó thật xa ở chân trời ! Sau một hồi quan sát , miệng lẩm bẩm điều gì đó không nghe rỏ được , bổng nhiên Bé Năm hỏi tôi có biết Th/Tá Phùng tuổi gì không ? Tôi không biết nên chở Bé Năm trở vào quán nước nơi cã phái đoàn đang ngồi chờ kết quả khảo sát , hỏi con trai Phú Sĩ của Th/Tá Phùng .. Khi Phú Sĩ cho biết cha mình tuổi Quý Mùi , Bé Năm cười ngất rồi chỉ ra hướng ngã ba Bờ Ngựa , chỉ ngay con bò con đang đứng sát bờ tường bằng tôn của công trường làm đường , nói : “- Bác Phùng đang núp sau con bò kia kìa ! Và nơi con bò đang đứng chính là nơi bác Phùng nằm ! “ . Sau khi mọi người trong phái đoàn đã ghi nhận kỷ nơi đó , chúng tôi chia tay và hẹn ngày tái ngộ để thật sự bốc cốt Th/Tá Phùng .
Ngày 30/11/2008 , chúng tôi đón anh Mẫn từ Mỹ trở về và đưa thẳng anh cùng Bé Năm ra Bình Chánh để quan sát lại hiện trường một lần cuối và làm lễ khấn vái cho ngày mai sẻ khởi công động thổ .
Bốc cốt Th/Tá Phùng , ngày thứ nhất , 1/12/2008 .
Từ sáng sớm , các Đại NT Ngân C-119 & Xuân C-7 , KQ Thanh và phu nhân , KQ Hùng “ cao “ HSQ IO PĐ 821 , gia đình của Th/Tá Phùng gồm chị Lộc , phu nhân của Th/Tá , trưởng nam Trương Phú Sĩ , thứ nữ Trương Thủy Tiên đã có mặt tại hiện trường .
Đúng 7 giờ sáng 1/12/’08 , anh Mẫn đứng chủ lễ cùng với nhà ngoại cảm Bé Năm lập một bàn lể vật cúng vái anh linh Th/Tá Phùng , xin phép bốc cốt của Th/Tá . Sau đó , anh Mẫn dùng hai cây căm xe đạp ( đã được bẻ cong thành chử L ) làm hai que cảm xạ , đặt trong lòng hai bàn tay lật ngữa ngay trước ngực của anh , dò tìm vị trí chính xác của hài cốt Th/Tá Phùng . Anh Mẫn rất nhẹ nhàng , rón rén , di chuyễn vòng quanh giới hạn trong chu vi vị trí Bé Năm đã cắm những bó nhang để chỉ dấu vị trí tương đối của hài cốt , chậm thật là chậm , nín thở để tránh làm ảnh hưỡng tới hai que sắt . Hai que sắt bắt đầu dao động song song qua lại như hai con lắc nhưng chỉ một chút sau , lạ một điều là chỉ có một que sắt tiếp tục dao động , một que sắt còn lại đứng im , hướng thẳng xuống đất như đang bị hút bởi lực từ tính ( nam châm ) vậy ! Bối rối trước hiện tượng lạ chưa từng thấy này , anh Mẫn ngừng dò tìm , dùng cellphone gọi cho Thầy Mạc Đìa bên Mỹ để hỏi thì Thầy cho biết : Th/Tá Phùng bị chôn ở tư thế đầu ở trên cao , có thể là ngồi hoặc đứng ! Khi đào nên cẩn thận vì sẻ gặp phần đầu của Th/Tá Phùng trước ! Được Thầy Mạc Đìa giải tỏa thắc mắc , anh Mẫn lại tiếp tục dò tìm và sau đó , xác định vị trí hài cốt của Th/Tá Phùng nằm gọn trong một vòng tròn đường kính khoảng 60cm ! Máy đào đất được điều tới và bắt đầu đào với sự trực tiếp chỉ huy của Bé Năm vì chỉ có Bé Năm mới biết phải đào xuống sâu bao nhiêu ?! ( Vì không được phép hiện diện lúc động thổ , Phú Sĩ chỉ dám lãng vãng gần đó , một lúc sau do quá xúc cảm , Phú Sĩ bỏ ra xa xa hiện trường , ngồi khóc ! ) Một mét , hai rồi ba mét ! Nếu tôi không được Bé Năm báo trước chiều tối thiểu là 5 m , hẳn là tôi sẻ rất hoang mang vì làm gì có huyệt mộ nào mà lại sâu như vậy ?! Khi tới độ sâu chừng 5 mét , tôi thấy mới hiện ra mặt đất thật sự của hơn ba mươi ba năm trước , khác hẳn với tầng đất đã được san lấp hiện nay ! Gần trung tâm của hố đào , có một gốc cây xoài bị cưa ngang , đường kính gần 30cm . Sau đó , người dân cho biết nơi này đã có ba lần đổ đất để nâng cao bởi vùng này khi xưa rất thấp . Bé Năm ra lệnh cho máy đào ngưng không đào sâu nữa và chuyễn qua mở rộng hố đào xung quanh một điểm biểu kiến đã được anh Mẫn đánh dấu từ trên mặt đất . Vì hố đào quá dốc , dựng đứng nên đất bắt đầu rỉ nước ra và sụp xuống . Tôi chạy đi mua cừ tràm và mướn người đóng cừ , chặn phên tre để tránh đất bị sụp lở ! Vì lúc đó đã chiều tối , phải tạm ngưng công việc qua ngày mai , mọi người chia tay , riêng tôi vẫn nán lại để trông coi đóng cừ chặn vách đất . Bổng có một anh kỷ sư công chánh mặc quần áo lao động của cán bộ công trường làm đường (ngay gần đó) tới nhìn xuống cái hố mà chúng tôi mới đào , hỏi tôi các chú tìm gì vậy ? Sau khi nghe tôi trả lời là nhà ngoại cảm chỉ cho chúng tôi đào tìm hài cốt người thân , bị mất năm 1975, anh ta chợt hỏi tôi :”- Có phải mấy chú tìm một ông phi công không ? “ Tôi tròn xoe mắt nhìn anh ta , ngạc nhiên đến nổi không nói nên lời ! Anh ta tiếp tục :- “ Cháu là con của hai ông bà chủ đất này , hồi xưa là một vườn xoài . Ba của cháu kể lại sáng sớm ngày 30/4/75 , ba cháu ra thăm vườn thì thấy có một xác người phi công của “quân lực Sài Gòn “ bị bắn chết hồi đêm . Ba má cháu đã già quá nên không đủ sức đào mồ chôn nên đã kéo xác ông phi công này cho xuống một cái hố cá nhân ( của lính SG đào đầy trong vườn xoài ) và lấp đất lại ! Sau đó ba cháu cưa luôn cây xoài gần đó để không cho rể cây xâm phạm vào xác ông phi công , củng như để đánh dấu nơi ba cháu đã chôn ông ấy ! Chú có thấy cái gốc cây xoài dưới đó không , chú cho đào qua bên tay trái chừng 1,5 mét là ngay chổ ông ấy đó chú ! “
Sau khi anh kỷ sư này đi thì lại có một tay mặt mày bặm trợn , ra vẻ như một cán bộ cấp cở của chính quyền , chạy xe tới , sau một hồi trầm ngâm , im lặng nhìn cái hố , anh ta lại gần tôi nói nhỏ : “- Anh cho đào qua tay trái từ cái gốc xoài đó chừng 1,5 mét là sẻ thấy xương cốt người anh muốn tìm ! “ Nói xong , chưa kịp cho tôi hỏi gì hay nói một lời cảm ơn , anh ta lên xe chạy đi mất !
……….., ngày thứ nhì, 2/12/2008 .


Sáng sớm ngày thứ nhì của cuộc đào tìm hài cốt Th/Tá Phùng , tôi và Bé Năm đến chùa Từ Quang , xin diện kiến vị sư trụ trì chùa . Ra tiếp chúng tôi là một vị trụ trì còn rất trẻ , chưa tới 40 tuổi nhưng chúng tôi đã được biết ngài là một vị cao tăng với rất nhiều công đức cho chúng sinh . Chính ngài đã đặt ra cho nhà chùa một lệ là cúng cơm và cầu siêu mỗi ngày sáng chiều cho các oan hồn , tử sĩ . Tại khuôn viên nhà chùa , ngài cho xây dựng một cơ sở từ thiện rất lớn , dạy nghề thêu may , điện tử , vi tính , cơ khí sửa chửa xe hơi , xe gắn máy..v..v.. hoàn toàn miễn phí cho mọi người , bất kể Lương , Phật hay Công giáo . Chúng tôi có trình bày sơ lược chuyện đào tìm hài cốt của Th/Tá Phùng và tôi kể cho ngài biết giấc mơ báo mộng của tôi , biết ý nguyện của chúng tôi xin ngài giúp cho một hồi kinh cầu siêu tại hiện trường khi chúng tôi tìm thấy cốt Th/Tá Phùng , ngài cho biết chính ngài sẻ ra tận nơi để cầu siêu cho Th/Tá ! Trước khi trở lại hiện trường , chúng tôi ra chính điện để lạy Phật . Khi nhìn lên bàn thờ , trông thấy di ảnh của vị đại sư sáng lập chùa đã viên tịch hồi năm ngoái , tôi đứng chết lặng , sửng sờ , toàn thân nổi gai ốc…vì vị đại sư trong di ảnh chính là vị sư trụ trì ngôi chùa mà tôi đã diện kiến trong giấc mơ !
Anh Mẫn cho tôi biết , khi bốc cốt thì có một quy luật bất biến , nếu muốn thành công thì phải tuân theo , đó là: con số chẳn 2 , 4 , 6 , 8 .v..v…ngày thứ nhất , thứ ba …thì khó lòng thành công , chỉ có ngày thứ hai , thứ tư…thì tỷ lệ thành công là cao nhất ! Và số người thợ trực tiếp đào tìm phải là số chẳn , 2 , 4 , 6 , 8…người ! Vì là ngày thứ nhì ( số chẳn ) nên anh Mẫn nói trước là hôm nay sẻ tìm thấy hài cốt Th/Tá Phùng nên anh chia nhóm thơ 10 người ra thành hai tốp nhỏ , một tốp 6 người và một tốp 4 người , thay phiên nhau xuống hố đào tìm. Anh Mẫn lại dùng hai que sắt cảm xạ để định vị thật chính xác một lần cuối trước khi tiếp tục cho đào . Anh lấy dây cột làm dấu trên cây đà sắt vách tôn , ngay tâm của hố tròn biểu kiến ( thật sự còn nằm sâu cở hơn 2 m phía dưới chân anh do đất lở , phải kè bằng cừ tràm ) .
11 giờ 30 máy đào đất tới và bắt đầu mở rộng miệng hố đào hôm qua ra cho đất đá không bị sụp lở chứ không đào sâu nữa . Khi thấy hố đào đã an toàn , không còn sụt lở đất gây nguy hiểm cho công nhân , Bé Năm cho ngừng máy , kêu anh em công nhân lấy một tấm vải bạt nylon lớn che hết cã diện tích hố đào khỏi bị ánh nắng rọi xuống , lệnh cho sáu người xuống hố , bắt đầu đào tìm bằng tay . 12 giờ 30 thì thấy dần dần hiện ra một hố tròn đường kính khoảng 60 cm đúng như anh Mẫn đã định vị từ hôm qua ! Đây là một hố cá nhân của lính đào trước kia . Toán thợ tập trung đào tìm trong hố cá nhân này , từng xẻng bùn đất mang lên khỏi hố đều được các anh công nhân mò , bóp cẩn thận . Đúng 12 giờ 45’ , tìm thấy được mảnh xương sọ đầu tiên ! Rồi lại xương sọ… Ngừng tay ngay lập tức , một tấm vải điều màu đỏ được đem xuống , che kín hố tròn , chờ Bé Năm chạy đến chùa , mời vị sư trụ trì chùa Từ Quang đến cầu siêu và đồng thời mời gia đình của Th/Tá Phùng đến chứng kiến việc bốc cốt . Khi vị sư trụ trì bắt đầu đọc kinh cầu siêu và Phú Sĩ , con trai trưởng của Th/Tá Phùng đến , toán công nhân được lệnh tiếp tục . Từng mảnh xương được đem lên rửa sạch bằng rượu rồi cho vào hủ sành . Ngoài xương cốt ra , còn tìm thấy một đoạn dây TAB đeo súng P-38, một mảnh nỉ mousse màu đen lót trong helmet ( nón bay ) + những mảnh vở helmet + những mảnh phi bào ( áo bay ) bị mủn nát , mảnh lớn nhất chỉ bằng cở bàn tay , khi tôi và anh KQ Thanh cố nhẹ nhàng rửa rượu cho sạch thì những mảnh phi bào bị tan rã ra như bánh tráng ngâm nước . Anh Mân mang mảnh nỉ mousse lót nón helmet tới cho chị Lộc phu nhân Th/Tá xem , chị đã khóc ngất , nức nở vuốt ve mảnh nỉ nhu muốn sờ lại hình hài của người chồng yêu thương nay đã không còn nữa …Theo yêu cầu của chúng tôi , các anh công nhân cố tìm thêm thẻ kim bài , giấy tờ tùy thân của Th/Tá Phùng…dù các anh em công nhân rất cố gắng nhưng đã không còn tìm thấy được gì nữa sau ngần ấy năm bị vùi lấp . Sau cùng , tất cã các mảnh hài cốt tìm lại được khoảng chừng 8/10 cái hủ sành 10 lít . Tôi xin phép phu nhân và con trai của Th/Tá Phùng cho tôi được vinh dự ôm hủ hài cốt chụp ảnh lưu niệm cùng hai người và giúp mang ra tận xe cho gia đình chở về , ngay trong buổi chiều hôm 2/12/2008 hỏa thiêu lấy tro , đựng vào tiểu sành , thờ phụng tại chùa Bửu Quang gần nhà của gia đình Th/Tá .
Tôi đã thực hiện được lời hứa của tôi với người anh kết nghĩa, Đại-Úy Trần-Văn-Phúc . Tôi cũng đã giúp hoàn thành ước nguyện được “ đoàn tụ “ với gia đình của anh linh vị anh hùng Thiếu-Tá Trương-Phùng . Tôi cũng tự cãm thấy nhẹ lòng khi đã đền đáp được phần nào ơn hy sinh cứu tử của Th/Tá Phùng. Xin chân thành cảm ơn Niên-Trưởng ( NT ) KQ Mạc-Đìa , NT KQ Nguyễn Thanh Mẫn , nhà ngoại cảm Bé Năm và tất cã các anh em đã tham gia góp phần vào thành công việc tìm lại hài cốt của Th/Tá Phùng . Xin chân thành cám ơn anh BĐQ Đoàn-Trọng-Hiếu , Aiudu , LuuVong đã quan tâm và chia sẻ những thông tin quý báu . Xin chân thành cảm ơn các vị NT VNAF , các vị Mạnh Thường Quân đã hết lòng hổ trợ tinh thần & vật chất cho chúng tôi hoàn thành công việc . Và trên hết, xin cúi lạy tạ Ơn Trên cùng anh linh các vị anh hùng liệt sĩ đã phò hộ giúp đở cho chúng con . / .
Nguyễn-Toại-Chí .Viết xong ngày 20/12/2008.
( Biên Hùng chuyển )