Friday, December 16, 2011

Hình ảnh người Lính chiến Việt Nam trong thi ca


Tác giả : Nguyên Trần




Chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt
Xếp bút nghiên theo việc đao cung
(Chinh phụ ngâm khúc-Đoàn thị Điểm)


Từ ngàn xưa, người lính đã biểu tượng cho một cuộc sống hiểm nguy khổ nhọc, phải đêm ngày dãi nắng dầm sương, xông pha nơi lằn tên mủi đạn để gìn giữ an ninh và bảo vệ giang sơn bờ cõi. Trong tinh thần tri ơn người lính, người viết xin ghi lại những vần thơ, lời nhạc viết về lính trải qua ba thời kỳ theo chiều dài lịch sử dân tộc: Thời xưa, Thời chống Pháp và Thời Cộng Hòa.



1) Người lính thời xa xưa:

Lúc bấy giờ, kỹ nghệ máy móc chưa phát triển, phương tiện chuyển vận còn phôi thai thì đời sống người lính phải vất vả trăm chiều. Sống dưới chế độ phong kiến, người dân mà còn phải lận đận lao đao với bao nhiêu sưu dịch thuế khóa thì đời lính càng khốn đốn hơn nhiều. Cứ nhìn hình ảnh " Lính thú đời xưa" thì biết ngay:
Ba năm trấn thủ lưu đồn
Ngày thì canh điếm tối dồn việc quan
Chém tre đẵn gỗ trên ngàn
Hữu thân hữu khổ phàn nàn cùng ai
Miệng ăn măng trúc măng mai
Những dang cùng nứa lấy ai bạn cùng
Nước giếng trong con cá nó vẫy vùng
(Trấn thủ lưu đồn)


Ở cái thời chưa có phương tiện liên lạc thông tin bưu điện, internet… mà người lính phải đóng đồn trên mạn ngược nên tin tức biền biệt lại không có nhạn đưa thư thì kể như ngàn đời xa nhau, thế cho nên người lính đã không ngăn được giòng lệ khi chia tay:
Ngang lưng thì thắt bao vàng
Đầu đội nón đấu, vai mang súng dài
Một tay thì cắp hỏa mai
Một tay cắp giáo, quan sai xuống thuyền
Thùng thùng đánh trống ngũ liên
Chân bước xuống thuyền nước mắt như mưa
(Lính thú đời xưa)


Người lính phải rày đây mai đó hy sinh mạng sống để gìn giữ an bình cho đất nước:
Lệnh vua hành quân, trống kêu dồn, quan với quân lên đường
(Hòn Vọng Phu1- Lê Thương)


Đời lính phải đánh Nam dẹp Bắc, ngoài chống ngoại xâm, trong ngăn giặc rợ thì ra đi khó hẹn được ngày về:
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn
(Chinh phụ ngâm khúc)


Hoặc là:
Vui ra đi rồi không ước hẹn ngày về
( Hòn Vọng Phu 1- Lê Thương)


Thản hoặc có may mắn trở về thì chỉ là:
Phận trai già ruổi chiến trường
Chàng Siêu tóc đã điểm sương mới về
( Chinh phụ ngâm khúc)


Nhưng những người vợ lính tiết hạnh chờ chồng dù rằng:
Thôi đừng đợi làm chi, thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ
những người mang mệnh biệt ly
(Hòn Vọng Phu 2-Ai xuôi vạn lý-Lê Thương)



Đã có biết bao người đàn bà lặn lội gieo neo nuôi con chờ chồng đang chinh chiến miền xa, chờ đợi mõi mòn rồi hoá đá như Hòn Vọng Phu:
Nơi phía Nam nơi núi mờ
Ai bế con mãi đứng chờ
(Hòn Vọng Phu 3- Lê Thương)



Cuộc đời người lính thú thời quân chủ phong kiến cơ cực bần hàn rồi tới lúc quân Pháp xâm chiếm thì họ lại ở vào thế gươm đao chống lại súng ống nên càng dễ chết hơn.


2) Người lính thời kháng Pháp:


Năm Đinh Hợi 1887, Đồng Khánh niên hiệu thứ hai, sau khi chiếm Việt Nam, Pháp chính thức chỉ định ông De Constant làm Tổng Đốc Toàn Quyền Đông Dương thì một số lính thú đã đầu quân theo những anh hùng yêu nước chống Pháp (xin nhắc lại là yêu nước chớ không phải yêu xã hội chủ nghĩa đâu nhé) như: Mai Xuân Thưởng, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Trương Công Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Phạm Hồng Thái, Nguyễn Thái Học, Trương Tử Anh, Nguyễn Tường Tam… kéo theo nhiều thanh niên Việt Nam cùng nhất tề đứng lên chống lại thực dân Pháp để dành độc lập cho quê hương xứ sở. Đa số các văn nghệ sỹ cũng hăng hái tham gia phong trào tạo nên lúc ban đầu, khí thế bừng bừng tình yêu nước. Điển hình nhất là bài hát "Tiếng gọi thanh niên" của Lưu Hữu Phước đã giục giả bao thanh niên yêu nước lên đường đấu tranh chống Pháp:
Nầy thanh niên ơi! Đứng lên đáp lời sông núi
Đồng lòng cùng đi đi đi mở đường khai lối


Bài hát nầy sau đổi lời lại thành bài quốc ca Việt Nam Cộng Hòa.

Bài "Lên đàng" cũng của Lưu Hữu Phước cũng được phổ biến sâu rộng trong giới sinh viên học sinh thời bấy giờ
Nào anh em ta cùng nhau xông pha lên đường kiếm nguồn tươi sáng
Ta nguyền đồng lòng điểm tô non sông từ đây ra sức anh tài


Ngoài ra Lưu Hữu Phước cũng sáng tác bài " Khúc khải hoàn" rất kích động niềm tự hào dân tộc: "dân ta hằng anh dũng, dân ta vẫn oai hùng, dân ta dù nguy biến không nao …"


Tôi còn nhớ Sài Gòn vào đầu thập niên 50 có nhật báo "Dân Ta" của ký giả Nguyễn Vỹ đã chạy logo (giống như en tête) nguyên câu hát trên ngay đầu tựa báo .


Tiếp theo đó, Phạm Duy với bài "Xuất quân" thật hùng tráng như réo gọi mọi người ào ạt xung phong:
Ngày bao hùng binh tiến lên!
Bờ cõi vang lừng câu quyết chiến
Bước oai nghiêm theo tiếng súng đi tung hoành.
Quân Việt Nam đi hồn non nước xây thành


Rồi cũng Phạm Duy tiếp nối theo tiếng gọi núi sông với những lời hát đằng đằng khí thế và âm điệu bừng bừng dồn dập:
Một mùa Thu năm xưa, cách mạng tiến ra nước Việt
Bừng ngàn tiếng thanh niên tung gông phá xiềng
Đoàn người trai ra đi miệng hô lớn
Quyết chiến! Quyết chiến! Chân oai nghiêm đều tiến

Đường ta ta cứ đi, nhà ta ta cứ xây, ruộng ta ta cứ cày đợi ngày
Ngày mai bao ấm no, diệt xong quân Pháp kia, cười vang ta hát câu tự do
(Nhạc tuổi xanh)


Thừa thắng xông lên, Phạm Duy viết một ca khúc mà lời ca sắt máu:
Một đoàn người trai hiên ngang, mang trên vai nợ máu xương, vui ra đi không buồn tiếc thương

Ngày nào phơi xác nhớ không? Thây rơi mênh mông trên khắp phố phường
Thân ôm tường, đầu gục đầu. Ai trên đường người nhuộm máu
Thây rơi trong đêm khuya lấp chiến hào

( Khởi hành)


Văn Cao cũng góp phần vào dòng nhạc đấu tranh chống Pháp mà sau nầy trở thành bài quốc ca của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (Áo quần bán trước cửa nhà bán sau):
Đoàn quân Việt Nam đi, chung lòng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
(Tiến quân ca)


Bài hát nầy, tôi nhớ thời đó có người nhại lại là:
Đoàn quân Việt Minh đi trong rừng núi khuất
Thấy xe tăng thiết giáp quân Tây tràn lan
Cờ tam sắc phất phới đi đàng trước
Súng cà nông mi trây dết đi đàng sau


Văn Cao cũng ca ngợi những những người lính anh hùng vì nước quên mình:
Bao kiếm mã lên đường, lạnh lùng vung gươm ra sa trường
Quân xung phong! Nước non đang chờ mong tay ngươi
Hồn sông núi khí thiêng muôn đời
(Chiến sĩ Việt Nam)


Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Tơ cũng viết một bản nhạc đấu tranh nhưng âm điệu nhẹ nhàng réo rắt:
Trong đêm thâu quanh ánh lửa hồng dưới ngàn cây xanh lá
Anh em ta quây quần chốn nầy cất cao muôn lời ca
Đêm hôm nay ta nắm tay nhau ta hát cho quên sầu
Mai ra đi không chút vấn vương, chiến trường kia tranh đấu
Và tài trai chí bốn phương một lòng quyết lên đường
Lửa bùng lên tí tách reo như gợi mối căm hờn
(Quanh lửa hồng)


Riêng về dòng thơ thời kháng Pháp thì có nhiều bật thức giả chí sĩ anh hùng chủ trương dành độc lập qua đường lối ôn hòa đứng đắn (giống như thánh Gandhi bên Ấn Độ), canh tân xứ sở với phong trào Duy Tân mà tiêu biểu nhất là hai cụ Phan Bội Châu và Phan châu Trinh.

Cụ Phan Bội Châu hô hào đồng bào dấn thân vào công cuộc đấu tranh cho đất nước không màn nguy nan:
Thân nọ hãy còn, còn sự nghiệp
Bao nhiêu gian hiểm sá gì đâu
(Tự Vịnh)


Cụ cũng vận động thanh niên đứng lên đấu tranh:
Đúc gan sắt để dời non lấp bể
Soi máu nóng để rửa vết dơ nô lệ
Mới thế nầy là mới hỡi chư quân
Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân
(Chúc Tết thanh niên)


Cụ Phan Bội Châu còn hung đúc tinh thần kẻ sĩ bằng cách bảo rằng vận nước lâm nguy là một thử thách đấng anh hùng:
Giả sử tiền đồ tận di thản
Anh hùng hào kiệt giã dụng thường

Dịch:
Nếu phải đường đời bằng phẳng hết
Anh hùng hào kiệt có hơn ai


Cụ Phan Châu Trinh cũng khích động lòng yêu nước của những người trai nước Việt sớm ra tay cứu vớt non sông:
Làm trai quyết gánh gánh gian nan
Dám nại xa xôi bỏ giữa đàng
(Cảm tác)


Cụ còn kêu gọi mọi người yêu nước nhất là giới sĩ tử hãy gát bút lên đường hi sinh cho quê hương:
Cuộc đời ngoảnh lại vắng không
Giang sơn nào khóc anh hùng được đâu
Cường quyền dậm đạp mái đầu
Văn chương tám vế say câu mơ màng
(Chí thành thông thánh)


Nhà thơ Quang Dũng cũng đứng lên đáp lời sông núi để vùng lên chống ngoại xâm qua lời thơ đầy cảm xúc rung động:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
(Tây Tiến)


Nhà thơ sau đó vì không chịu yêu nước là yêu xã hội chủ nghĩa nên bị trù giập và chết trong thảm thương đói khổ.

Hữu Loan tác giả bài thơ bất tử " Màu tím hoa sim"thì cũng đã hy sinh tình yêu của cô vợ trẻ mới cưới Lê Đỗ thị Ninh để lên đường thi hành nhiệm vụ người trai thời ly loạn:
Tôi ở đơn vị về
Cưới nhau xong là đi


Nhưng định mệnh tàn nhẫn đã giết người vợ hậu phương trên dòng sông oan nghiệt:
Nhưng không chết người trai khói lửa
Mà chết người em gái nhỏ hậu phương

Bút tích "Màu tím hoa sim" của Hữu Loan


Và chính bài thơ nầy mà Cộng Sản đã dìm cả thi tài nhà thơ Hữu Loan xuống bờ vực thẳm vì "đầy tính tiểu tư sản phản động"

Cuộc chiến chống thực dân Pháp đang trên đà bừng bừng khí thế với hàng hàng lớp lớp người con yêu của mẹ Việt Nam noi gương tiền nhân liều thân đấu tranh để dành độc lập cho quê hương thì năm 1945, Việt Minh đã lộ bộ mặt thật là tay sai Cộng Sản Quốc Tế, đã hợp tác với kẻ thù thực dân để tiêu diệt những thành phần quốc gia yêu nước chân chính, đưa cuộc chiến chống Pháp đến khúc quanh mới và đưa đất nước Việt Nam vào quỹ đạo Cộng Sản với bản tuyên ngôn độc lập dõm mà Hồ Chí Minh tuyên đọc tại Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945. Những chiến sĩ quốc gia bây giờ phải ở trận tuyến vừa đối đầu với Việt Minh vừa kháng Pháp cho tới ngày 20 tháng 7 năm 1954 hiệp định Genève ra đời, Pháp rút khỏi Việt Nam và đất nước chính thức bị chia đôi ngay vĩ tuyến 17 với lằn ranh là con sông Bến Hải: miền Bắc theo chế độ Cộng Sản tức là Việt Cộng và miền Nam theo chế độ tự do, mở màn cho cuộc chiến giữa Tự Do và Cộng Sản hay gọi ngắn gọn là cuộc chiến Quốc Cộng. Và cũng từ đó cuộc di cư vĩ đại của hơn 1 triệu đồng bào miền Bắc vào Nam tìm tự do cùng góp phần vào công cuộc đấu tranh chung dưới lá cờ tự do nhân bản.

3) Người lính Cộng Hòa:

Có thể nói cuộc chiến Quốc Cộng 1954-1975 là cả một thiên anh hùng ca đầy vinh quang và xúc động của người chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa. Đã có không biết bao văn thơ nhạc đề cao cuộc chiến đấu anh dũng và nhân bản cũng như những cuộc tình lãng mạn thơ mộng của người lính. Đó cũng là thời kỳ những đóa hoa thơ nhạc chinh chiến nở rộ ca ngợi vinh danh những người trai thế hệ đã bỏ lại đàng sau những cuộc vui tuổi trẻ, những ước vọng thanh xuân để dấn thân vào vòng lửa đạn bảo vệ quê hương thân yêu.

Biết bao "chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt" đã phải từ giã mối tình thơ mộng học trò, từ giã mái trường thân yêu để lên đường chinh chiến:
Từ đó tình yêu cũng đổi ngôi
Con chim thời nhỏ đã tung trời
Ta rời xóm học vào sương gió
Chuyện cũ tình xưa cũng pha phôi
(Nhặt cỏ sân trường-Mường Giang)


Đời lính ngoài việc số mệnh ngàn cân treo sợi tóc còn rất nhiều gian khổ phong sương, tuy vậy người chiến binh vẫn phấn đấu vượt qua hết để giữ yên tay súng:
Bốn chuyến di hành ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây ngắm bóng mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
(Chiến tranh và tôi-Nguyễn Bắc Sơn)


Để rồi một ngày, người lính hát khúc hoan ca trở về thành phố với chiến thắng vinh quang cho người dân hậu phương và bao thiếu nữ xuân thì:
Chiến y làm hồng má hây hây
Mắt đa tình gợn suối tóc bay bay
(Chiến y làm đẹp phố phường-Lệ Khánh. Em là gái trời bắt xấu)


Có biết bao người lính Cộng Hòa chúng ta đã ra đi mà không hẹn ngày trở lại vì:
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi
(Lương Châu Từ - Vương Hàn)
(Say khướt chiến trường xin chớ nhạo
Xưa nay chinh chiến mấy ai về)



Mà nếu chàng có về thì đôi khi là:
Anh trở về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân
Em ngại ngùng dạo phố mùa Xuân
Bên người yêu tật nguyền chai đá
(Kỷ vật cho em - Linh Phương)



hoặc vào một buổi hoàng hôn ảm đạm âm u:
Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vả chít khăn sô vĩnh biệt
(Kỷ vật cho em - Linh Phương)



Để cho người góa phụ trẻ còn đang còn đang trong tuổi mơ yêu phải:
Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Ngày mai đi nhận xác anh
Cuồng si thuở ấy hiển linh bây giờ
(Tưởng như còn người yêu- Lê thị Ý)


Và người góa phụ trẻ đau khổ nhìn chồng được vinh thăng:
Em không nhìn được xác chàng
Anh lên lon giữa hai hàng nến trong
(Tưởng như còn người yêu-Lê thị Ý)


Chiến tranh là mất mác chia ly cho bao nhiêu dân lành bất hạnh, cho nên ngày tàn cuộc chiến là hình ảnh đau thương tang tóc:
Quê hương khói lửa cay nồng
Quê hương sau trận chiến đồng cỏ xanh
(Nghĩa Trang Quân Đội Biên Hòa- Lê thị Ý)


Cuộc chiến phi nhân do Việt Cộng phát động theo lệnh quan thầy Nga Hoa đã kết thúc trong bi thảm nhục nhằn của miền Nam theo thế cờ quốc tế. Đó đây vang dội những lời kêu than bi thiết:
Mẹ ơi con mẹ chưa già
Giữ quê quê mất, dựng nhà nhà tan
(Hà Huyền Chi)


Và làm còm cỏi héo hắt thêm cho những bà mẹ ngóng tin con:
Chiến trận nghe tàn đã bảy măm
Trai đi chiến trận vẫn mù tăm
Mẹ già lảng đảng ngoài sân lạnh
Không biết tìm ai để hỏi thăm
(Viên Linh)



Riêng về nhạc lính thì có thể nói là không biết cơ man nào kể cho hết, chắc là hơn phân nửa dòng nhạc từ năm 1954 tới 1975 đã viết cho lính: gương hy sinh kiêu hùng, mối tình đẹp, đời sống gian khổ phiêu bạt…

Đời lính bắt đầu từ những thông báo của làng nước kêu gọi thanh niên từ khắp mọi nơi đứng lên đáp lời sông núi:
Vài hàng gởi anh trìu mến
Vừa rồi làng có truyền tin
Nói rằng nước non đang mong
Đi quân dịch là thương nòi giống
(Bức tâm thư- Lam Phương)


Chàng trai đã giã từ người yêu, xóm làng để tòng chinh diệt giặc:
Tôi tiễn anh lên đường trời hôm nay mưa nhiều lắm
Mưa thắm ướt vai gầy, mưa giá buốt con tim
Mình cầm tay nhau, chưa nói hết một câu
Thôi đừng buồn anh nhé! Tiếng còi đã ngân dài
(Một người đi – Mai Châu)



Ra đi nhưng chàng trai vẫn không quên nhắn nhủ bạn bè thân tình còn ở lại là chàng chỉ về khi quê hương sạch bóng quân thù:
Rồi đây mai nầy ai hỏi đến tên tôi
Bạn ơi! Hãy nói khoác chiến y rồi
Người thư sinh ấy đã xếp bút nghiên
Giã từ trường yêu với bao nhiêu bạn hiền
Có về là khi nước non vui bình yên
(Biệt kinh kỳ-Minh Kỳ)


Vào quân trường với phút đầu bỡ ngỡ nhưng sau đó chàng trai đã quen đi với nếp sống "thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt đổ máu". Sau thời gian huấn nhục, chàng tân binh mong chờ người đẹp đến thăm:
Hôm nay ngày chúa nhật, vườn Tao Ngộ, em đến thăm anh
Đường Quang Trung nắng đổ xa xôi
Mà em đâu có ngại khi tình yêu ngun ngút cao lên rồi
(Vườn Tao Ngộ- Nhật Hà)


Mặc cho nhiều gian khổ quân trường, những chàng trai sẽ đi về nơi gió cát vẫn hiên ngang tự hào nối gót cha ông bảo vệ giang sơn:
Ta là đoàn sinh viên xếp bút nghiên
Đi theo tiếng gọi của non sông
Ngày ta đi lệ thắm khăn hồng
Ngày ta đi là mẹ chờ mong
(Sinh viên Thủ Đức hành khúc)


Sau khi tốt nghiệp, những người lính hào hùng tung đi khắp bốn phương trời. Người thì vổ cánh chim bằng để bảo vệ vùng trời quê hương:
Ta là đàn chim bay trên cao xanh
Khi nhìn qua khỏi nhưng kinh thành tan
Đôi cánh tung hoành vuợt trên mây xanh
Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng
(Không Quân Hành Khúc)


Có chàng thì theo những đoàn tàu chiến thỏa mộng hải hồ giữ yên vùng sông biển:
Thân phơi trên Nam băng dương
Nước xanh hồn Thái Bình Dương
Ra khơi sóng vang dạt dào
Mênh mông sóng va thân tàu
(Hải Quân Việt Nam)


Nhưng đa số đều in gót chân trên khắp nẽo đường quê hương để lùng diệt giặc:
Đường trường xa muôn vó câu bay dập dồn
Đoàn hùng binh tung sương lướt gió reo vang
(Lục Quân Hành Khúc)


Những chàng trai lính tuy rất anh hùng dũng cảm trên chiến trường nhưng trên tình trường, chàng cũng lãng mạn đa tình hào hoa một mực:
Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm
Là tình riêng trong lòng anh yêu em
Có lúc muốn lấy hoa rừng
Anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời
Kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giàu
Mà chắc không nghèo tình yêu
(Lính đa tình - Y Vân)


Và còn gì lãng mạn hơn là:
Nếu em không là người yêu của lính
Ai sẽ đón em chủ nhật trời xinh
Em sẽ nhớ ai đêm sương lạnh lùng
Và giữa chốn muôn trùng ai viết tên em lên tay súng
(Người yêu của lính - Trần Thiện Thanh)


Cũng vô cùng tình tứ:
Nếu vắng anh ai dìu em đi chơi trong chiều lộng gió
Nếu vắng anh ai đợi chờ em khi sương mờ nẻo phố
Nếu vắng anh ai đón em khi tan trường về
(Nếu vắng anh-Anh Bằng)

Và cũng vì cái tính đào hoa hào hùng nên lính được nhiều người đẹp yêu mến:
Dù cho sông kia quên bến cũ
Bóng chinh nhân không phai mờ cõi lòng
Dù cho non cao hay suối vắng
Tim em theo cùng
(Mơ người lính chiến - Mai Sơn)


Và mơ ước lứa đôi:
Chiến sĩ của lòng em đắm đuối ước mơ
Ở chiến trường xa dãi nắng dầm mưa
Nhịp bước oai hùng chàng tiến trong tim em
Trong khi vang ca say theo chiến trường
(Chiến sĩ của lòng em-Trịnh văn Ngân)


Đời lính cũng có những vui buồn dễ thương nhưng cũng đau hơn hoạn là sau thời gian dài vắng nhà nên đã xin phép cuối tuần về gặp người yêu hay vợ trẻ đang phơi phới xuân tình. Chàng đã lau chùi súng ống, nạp đạn sẵn sàng để chuẩn bị kích hỏa thì mồ tổ thằng Việt Cộng mò về quấy phá xóm làng làm vị chỉ huy trưởng ra … lệnh cấm trại 100%. Xin các bạn nghĩ xem trên đời có cái gì đau khổ hơn không? Thà chết sướng hơn. Và bọn Việt Cộng thật là tội ác ngút trời:
Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Một trăm em ơi ! Chiều nay một trăm phần trăm
Người yêu anh ơi ! Chiều nay lại cấm trại rồi
Nào đâu nào biết tâm tư đời lính
Lòng anh nao nao mỗi khi ta hẹn nhau
Với em tâm tình
(100% - Vũ Chương)


Có những cuộc hành quân kéo dài cả hai, ba tuần lễ thế nên trong khi chờ xe đưa về hậu cứ nghỉ ngơi, người lính đã vội viết thư cho người yêu:
Sau ngày hành quân, anh về vui trong chiến thắng
Súng còn mang vai đã viết thư cho người yêu
Em ơi ! Thư vắn hơn tình
Xin em đừng buồn, xin em đừng hờn
Chớ bảo không thèm, không đọc thư anh
(Sau ngày hành quân-Lê Dinh)


Người lính chiến đã ra đi biền biệt thân, dãi dầu sương gió nơi tiền đồn heo hút để người em hậu phương mòn mỏi nhớ thương đợi chờ cho đến lúc nàng vì tình yêu người trai thời chinh chiến đã lặn lội vào nơi địa đầu giới tuyến để thăm chàng:
Em đến thăm, áo anh mùi thuốc súng
Ngoài trời mưa lê thê qua ngàn chốn sơn khê
(Mấy dặm sơn khê- Nguyễn văn Đông)


Cũng có lúc ngồi gác giặc mà người lính mơ ước ngày về với kết nối duyên thề:
Chiến tuyến người trai ôm súng ước mơ
Rủ chinh y trọn ước với câu thề
Theo lối về thôn cũ đường thắm hoa
Gió trăng lạnh tình không phai niềm nhớ
(Mấy độ thu về-Minh Kỳ)


Khi người lính trở về thành phố thăm người yêu thì mặc cho mưa gió mịt mờ trời đất, họ vẫn quấn quít bên nhau để bù lại những ngày xa cách nhớ nhung và chạy đua với những giờ phép phù du mong manh :
Hôm mình đi ciné về mưa nhiều
Áo dài xanh bên áo trắng hoa biển
Anh che cho em đừng làm ướt áo
Anh quen rồi mưa gió " lính mà em"
(Lính mà em-Anh Thy)


Thời gian về phép của người lính rất quý báu, nó được tính từng giờ vì "tân thú bất như viễn quy" cơ mà:
Bốn giờ đi dài thêm bốn giờ về
Thời gian còn lại anh cho em tất cả em ơi!
Ta đưa ta đến vùng tuyệt vời
(Hai mươi bốn giờ phép-Trúc Phương)


Cũng có lúc vì những bất thường vô định trong đơn vị, người lính đã phải lỗi hẹn với người yêu để nàng khắc khoải đợi chờ:
Chinh chiến nên anh cuối tuần không đến
Một lần xa cách trăm vạn lần thương
Gục đầu nghe tiếng tình yêu dỗi hờn
Những chiều không anh đến tìm
Thương dài từng bước cô đơn
(Nếu đời không có anh- Hoàng Trang)


Lênh đênh giữa sóng nước đại dương, chàng lính thủy nhìn những con sóng trắng xóa bạt ngàn rồi tưởng chừng một loài hoa biển tặng người yêu:
Tại em khi xưa yêu hoa màu trắng
Tại em suy tư bên bờ vắng
Nên đêm vượt trùng anh mong tìm gặp hoa trắng về tặng em
Cho anh thì thầm
Em ơi! Tình mình trắng như hoa đại dương
(Hoa biển-Anh Thy)


Có người lính phi công bay lượn trên không gian để trút bom xuống đầu địch nhìn ra không gian bao la bỗng thấy mây trời kết thành màu tuyết trắng ngần mà nhớ tới người yêu:
Vượt cao vút cao mây trời kết thành một vùng tuyết trắng ngần
Tuyết ơi! Xin nhuộm trắng tâm hồn em gái nhỏ tôi yêu
(Tuyết trắng- Trần Thiện Thanh)


Người lính chiến dù gian nguy khổ nhọc vẫn giữ được bản chất hào hoa nghệ sĩ của mình:
Để rồi một năm nơi biên cương dấn bước thân trên sa trường
Ngày thì tìm vui bên chiếc súng khi đêm anh vui với đàn
(Chiều hành quân - Lam Phương)


Người lính Việt Nam Cộng Hòa đã đặt chân trên từng tấc đất quê hương để lùng diệt địch, từ cao nguyên đèo heo hút gió, miền Trung khô cằn sỏi đá cho tới vùng sình lầy Hậu Giang đâu đâu cũng thấy hình ảnh người lính chiến kiêu hùng đáng yêu:
Giờ nầy anh ở đâu? Pleiku gió núi biên thùy
Giờ nầy anh ở đâu? Miền Trung hỏa tuyến địa đầu
Giờ nầy anh ở đâu?Cà Mau tiếng sét u minh rừng
(Giờ nầy anh ở đâu- Khánh Băng)


Nhưng cho dù anh ở đâu thì người hậu phương vẫn yêu thương anh với tất cả tấm lòng trang trọng:
Dù rằng anh ở đâu anh ở đâu vẫn yêu anh hoài vẫn yêu anh hoài
Yêu suốt đời
(Giờ nầy anh ở đâu - Trần Thiện Thanh)


Có chàng trai để lỡ một cuôc tình rồi sau một thời gian giong ruổi chinh y trở về gặp lại cố nhân giờ đã tay bế tay bồng:
Mộng đời còn có đêm nay ta hò hẹn ôn lại chuyện chúng mình
Đời tôi đã bao năm gió sương gót chân in chiến trường
Làm quen với đêm canh gió lộng, với mưa khuya núi rừng
(Chuyện chúng mình- Trúc Phương)


Cũng đôi khi có chuyện trớ trêu là người lính chiến trên đường hành quân với cái chết rình rập nhưng chàng lại an bình để nhận được hung tin là người yêu đã ra đi:
Nhưng không chết người trai khói lửa mà chết người gái nhỏ phương xa
Một đêm buồn có gió đông qua
(Chuyện tình Mộng Thường-Trần Thiện Thanh)


Có lẽ đối với lính, mùa Xuân là mùa buồn nhất. Theo truyền thống thiêng liêng của dân tộc, Tết là thời gian sum họp gia đình, dù ai bôn ba xuôi ngược nơi xa xăm nào thì ba ngày Tết cũng phải cố sắp xếp mà về quay quần với những người thân yêu. Người lính chẳng những không có cái hạnh phúc vui vầy đó mà lại càng phải vất vả khổ nhọc hơn trong sứ mạng bảo vệ an ninh xóm làng cho mọi người đón Xuân. Có nhiều lúc, từ tiền đồn nơi...
Các anh đi đến bao giờ trở lại, Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong


http://www.youtube.com/watch?v=DhiR5x6Nxig
ANH VỀ THỦ ĐÔ ... nước Nam tự do
http://www.youtube.com/watch?v=r5WoVylGnQE


Thiên hùng ca QLVNCH
http://www.youtube.com/watch?v=svB8ABa--v0










Mộ người lính không tên bên quốc lộ 13, đường vào An Lộc

CÁM ƠN ANH ! Người chiến sĩ vô danh

http://www.youtube.com/watch?v=2OwSnr9JcQA






Mẹ Việt Nam ơi ! chúng con vẫn còn đây
http://www.youtube.com/watch?v=rWdloUNWZwg


Trần Thiện Thanh & Người Lính Việt Nam Cộng HòaChiều trên phá Tam Giang anh chợt nhớ em
Nhớ ơi là nhớ đến bất tận, em ơi, em ơi!
Giờ này thương xá sắp đóng cửa
Người lao công quét dọn hành lang
Giờ này thành phố chợt bừng lên
Để rồi tắt nghỉ sớm
Ôi, Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghiêm
Ôi, Sài Gòn, Sài Gòn giờ giới nghjiêm
Ôi, em tôi, Sài Gòn không buổi tối
Giờ này thành phố chợt bừng lên
Em dòng lệ bất giác chảy tuôn
Nghĩ tới một điều em không rõ
Nghĩ tới một điều em sợ không giám nghĩ
Đến một người đi giữa chiến tranh
Rồi nghĩ tới anh, nghĩ tới anh, nghĩ tới anh ...

(Chiều Trên Phá Tam Giang)

Những bài hát vẽ lại cho chúng ta thời chiến tranh đang đốt cháy những phần đất trên quê hương, nhưng con người chưa tuyệt vọng, tình người chưa suy đồi

Tôi biết, không phải mình tôi nghĩ về tôi biết, không phải mình tôi nghĩ về Nhật Trường mà tất cả mọi người trong chúng ta ai ai cũng có những giấy phút nghĩ đến người nhạc sĩ với những nét nhạc nồng nàn nhất của chiến tranh Việt Nam.
Khi ở Việt Nam, tôi còn là một cô bé chưa đủ tuổi để yêu nên tôi thích nghe những loại nhạc trẻ nhiều hơn. Tôi cũng thích nghe nhạc của Phạm Duy, Từ Công Phụng, Nguyễn Văn Đông và Trần Thiện Thanh . Nhưng lối thưởng thức nhạc của tôi lúc ấy rất khác với bây giờ . Những lúc rảnh rỗi tôi đã bỏ hàng giờ nằm trong căn phòng thật im lặng nghe những băng nhạc mới có, cũ có ... Nhưng chỉ có những bản nhạc ca ngợi hay nói về tình yêu của người lính VNCH mà tôi đã gặp, đã được nhìn thấy hình ảnh qua những cuốn phim thời sự . Những người lính trông thật khắc khổ, lẻ loi, dọc theo những quốc lộ, bìa rừng của vùng cao nguyên xa xôi hiểm trở . Những lần dừng chân họ đã nằm, ngồi rải rác bên những gốc thông trên một khu đồi rộng, và hành trang là một cây súng, ba lô lỉnh kỉnh, những nồi chảo móp méo, nét mặt mệt mỏi, bơ phờ, chịu đựng của họ ... Khiến tôi cảm động và xót xa cho những người lính và nuối tiếc cho sự hy sinh của họ, nuối tiếc quê hương nơi đó có biết bao nhiều anh hùng đã vì nước quên mình... và có những lúc tôi ao ước làm được một cái gì đó cho quê hương quá ư là đoạ đày của chúng ta.
Tôi thấy những tình khúc lính của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh sáng tác rất hay, và rất ư là tình tứ . Tôi nghĩ chỉ có nhạc của Trần Thiện Thanh mới diễn tả được tất cả những ưu tư, những ước muốn của một đời lính . Tôi thích nhất bản Biển Mặn vì trong đó tôi cảm nhận tình quê hương, tình yêu đôi lứa chan hoà trong đó :
Người yêu tôi, tôi mới quen mà thôi
Lúc dừng chân trên vùng vừa tiếp thu
Vùng hoang vu bóng dừa bờ cát dài
Gió lên từng chiều nàng xoả tóc trên biển xanh .
Người yêu tôi hay khóc trong chiều mưa
Lúc màu xanh biển mặn đục sắc mây
Bảo yêu ạnh, em muốn chuyện đôi mình
như màu xanh biển tình trong chiều xinh rất xinh...


Cùng với những nhạc sĩ như Duy Khánh, Phạm Thế Mỹ, Anh Việt Thu...V...V...V .nhạc sĩ Nhật Trường đã tạo nên thế hệ âm nhạc Việt Nam vào thời chiến tranh tiêu biểu cho con người Việt Nam không cộng sản sống ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975. Khói lửa chiến tranh ngút ngàn nhưng vẫn không tiêu diệt được đạo đức, luân lý và tình yêu, tình yêu gia đình . Trong khi đó, cộng sản không thể đào tạo được một nhạc sĩ có sức sáng tạo mãnh liệt, đa dạng như nhạc sĩ Nhật Trường . Những khi gia đình quây quần xum họp hay bạn bè gặp mặt tôi thường hay hát, vui vui trong lòng thì hát : Tuyết Trắng, Bảy Ngày Đợi Mong, Khi Người Yêu Tôi Khóc, Không Bao Giờ Ngăn Cách. Hay hơn nữa là " Hoa Trinh Nữ" . Bài hát với lời ca ngô nghê, dễ thương như một người lính trẻ, nhập ngũ tòng quân khi mới 18 tuổi . Mang trong lòng hình ảnh của cô bé học trò hàng xóm khi lên đường hành quân. Nhưng ai cấm được lòng của anh lính trẻ :
Xưa thật là xưa nhớ mấy cho vừa nhớ mẹ kể đêm mưa
Có ông vua trẻ, xuất binh qua vùng dẹp quân xâm lấn
Khi vua kéo quân về tình cơ gặp một giai nhân
Vua xao xuyến tâm hồn truyền nàng vào chốn hoàng cung
Truyền cho khắp nhân gian đem lụa là đến cho nàng
Trên ngôi cao chín tầng hoàng hậu đẹp như ánh sao.

Tôi không phải là vua nên mộng ước thật bình thường
Như yêu một loài hoa trên vùng đá sỏi buồn phiền
Loài hoa không hương không sắc màu
Nhưng loài hoa biết khép lá ngây thơ
Tôi không phải là vua nên nào biết đến xa hoa
Không ngọc ngà kiệu hoa, không nệm gấm không cung son
Tôi chỉ là người lính xa nhà
Thấy hoa nhớ người thương rất xa...


Ông và các bạn của ông, những nhạc sĩ đã làm thành một nền âm nhạc Nhân Bản, Tự Do, Phong Phú bất tử của Việt Nam đang thắng trận đánh sau cùng, dù có bị ngăn cấm, dù có bị cố tình xoá bỏ thì những giòng nhạc của ông sẽ sống mãi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam

Tôi thật cảm phục tài làm nhạc đi giữa hai lằn ranh nghệ thuật và tuyên truyền giữa thời chiến tranh như những nhạc sĩ viết nhạc quê hương ở trên. Trong đó có nhạc sĩ Nhật Trường và những tình khúc về lính của ông . Nhưng cả nước ta thời đó, từ Bến Hải đến mũi Cà Mau, mọi người cùng nghe : Người Yêu Của Lính, Khi Người Yêu Tôi Khóc, Nỗi Buồn Thanh Trúc, Bảy Ngày Đợi Mong ... mà có mấy ai cảm thấy chút nào đó là nhạc tuyên truyền làm theo chỉ thị của chính phủ để kêu gọi các các anh trai nhập ngũ tòng quân diệt cộng . Mà ngược lại chỉ thấy "nó" dễ thương quá trời, quá đất, cái xã hội miền Nam thời đó . Chỉ biết có bảy ngày ngồi chờ người yêu đi lính mà không thấy về thì có người dỗi, khóc và quên mất tiêu rằng ai đang băng gió sương cho em đợi chờ và giữa chốn muôn trùng, ai sẽ viết tên em trên tay súng ...
Có thể nói nhạc của Nhật Trường lên đến tuyệt đỉnh cùng với cường độ của chiến tranh. Vào những năm cuối cùng của cuộc chiến, lời của những bài hát như :
Anh, Anh. Hỡi anh ở lại Charlie
Anh, Anh. Hỡi anh là loài chim quý
Ôi! Cánh chim trùng khơi vạn lý
Một lần vỗ cánh bay
Là cánh Dù mang nhiều tiếc thương, vô cùng
Anh, Anh. Nhớ anh trời làm cơn bão
Anh, Anh. Tiếc anh chiều rừng thay áo ...
Ngày anh đi, anh đi từ tổ ấm
Anh ơi! Địa danh nào thiếu dấu chân anh
Ôi, Đam Be, Dakto, Kreck, Snuon
Trưa Khe Sanh, gió mù, đêm hạ Lào thức sâu
Cũng anh vừa ở lại một mình .
Charlie, tên vẫn chưa quen người dân thị thành ...

Hay :
Anh không chết đâu anh, người anh hùng mũ đỏ tên Đương
Tôi vẫn thấy đêm đêm một bóng dù sáng trên đồi máu
Nghe trong đêm kêu gào, từng tiếng súng pháo đếm mau
Từng tiếng súng, tiếng súng như nhạc chiêu hồn đưa anh đi anh đi
Ôi! đất mát trên đồi xanh, tình yêu khóc ngất bên cỏ tranh
Đâu cánh Dù ôm gió, đây cánh Dù ôm kín đời anh
Trong những tiếng reo hò kia
Lẻ loi, tiếng súng anh nhiệm màu
Ôi, tiếng súng sau cùng đó
Anh còn nghe tầm đạn đi không anh ?

(Anh Không Chết Đâu Anh)

Anh, không chết đâu anh...

Vâng, đó là những gì tôi muốn nói với "Anh" và những giọt nuớc mắt cùng với máu đang làm loạn mạch đời trong trái tim tôi ... với tâm tư riêng mang qua những giòng nhạc của ông, đã đốt sáng tâm thức tôi và của những người miền Nam về chính nghĩa quốc gia sáng ngời . Và bây giờ ở hải ngoại, tất cả những cuộc hội họp văn nghệ chống cộng đều vang lên tiếng nhạc của nhạc sĩ Nhật Trường , 31 năm sau ngày chiến tranh khói lửa kết thúc nhưng cuộc chiến tương tàn chống chế độ độc tài đảng trị cộng sản vẫn còn tiêp tục, trong khi những bài hát của miền Bắc như : Nằm Mắc Võng Trên đường Trường Sơn đã đi vào quên lãng, hát lại thì "tây cũng phải phì cười " thì những bài hát của nhạc sĩ Trần Thiện Thanh, của nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ vẫn vang vang khắp trong và ngoài nước Việt Nam . Do đó, tuy thân xác ông không còn nữa nhưng ở trên mây cao, trên rất cao ông đang mỉm cười . Bởi vì ông biết, ông và các bạn của ông, những nhạc sĩ đã làm thành một nền âm nhạc Nhân Bản, Tự Do, Phong Phú bất tử của Việt Nam đang thắng trận đánh sau cùng, dù có bị ngăn cấm, dù có bị cố tình xoá bỏ thì những giòng nhạc của ông sẽ sống mãi trong lịch sử âm nhạc Việt Nam . Sẽ có ngày, người dân nuớc Việt được nghe những giòng nhạc dễ thương như :
Anh sẽ vì em làm thơ tình ái
Anh sẽ giăng mây kết thành lâu đài
.....
Em ơi, lâu đài tình ái đó, sẽ không có trên trần gian
Anh đưa em vào bằng tiếng hát , ghép đôi cánh nhung thiên thần
Em ơi, lâu đài tình ái ấy, sáng trong ánh tinh cầu xa
Cho nên, cho dù ngàn năm qua lòng vẫn mơ hồn hoa.
Anh ghép lầu hoa bằng thơ tình ái
Cho mắt em xinh đến tận muôn đời
Hoàng hậu về cao sang quyền quý
Đẹp nụ cười quân vương vừa ý
Và lầu đài mang tên tình ái
Đón hai đứa chúng ta mà thôi ...

(Lâu Đài Tình Ái)

Sẽ có một ngày người dân nước Việt không còn phải hoá câm nữa . Mà họ sẽ hát vang những cà khúc bất tử của nhạc Việt, trong đó chắc chắn sẽ có rất nhiều bài hát của nhạc sĩ Nhật Trường Trần Thiện Thanh .

oOo
Có Những Người Anh
Tác giả: Võ Đức Hảo
Trình bày: Khúc Mưa Thu

Có những người anh tôi chưa biết tên
Tha thiết cuộc đời đôi môi thắm duyên
Quê hương trong khói lửa mùa chinh chiến
Quên tình yêu riêng xong pha chiến tuyến

Có những người anh tôi quen đã lâu
Năm tháng kề nhau chia bao khổ đau
Thôn quê xa vắng hôm nào biệt ly
Không ngại ngùng đi trong ánh nắng đào

Các anh là nguồn thơ vô song
Các anh là tình thương mênh mông
Là muôn tiếc ca vang vang tận cõi lòng
Là trong tiếng chim vui líu lo ngoài sân

Các anh là vầng mây muôn phương
Các anh là niềm vui quê hương
Là tia nắng mai reo trên vạn nẻo đường
Là cơn gió mang hương thơm tận ngàn phương

Anh hỡi người trai đi trong gió sương
Lưu luyến gì không khi xa cố hương
Non sông hoa gấm đang chờ nơi anh
Mang về vinh quang tự do no ấm
Ðâu những mùa xuân hoa khoe sắc tươi
Ðâu những mùa thu nghe lá úa rơi
Yêu sông yêu núi tươi cười ra đi
Anh là người tôi thương mến muôn đời


Như Hạ
Có thể nói từ sau 1975, chưa có một nhạc sĩ nào mà nhạc phẩm được trình diễn cũng như thu băng nhiều bằng nhạc sĩ Nhật Trường . Những bài hát nồng nàn khi nghe giữa lòng quê hương khói lửa quen thuộc như hơi thở của chính mình lại là những bài hát ngậm ngùi nhất khi nghe lại ở xứ người .
Những bài hát nói về những địa danh, những anh hùng ta đã bỏ lại sau lưng đồi Charlie, nấm mồ không tên của ông Nguyễn Đình Bảo . Chiều Trên Phá Tam Giang anh chợt nhớ đến em, niềm nhớ ôi bất tận, người con gái trong giảng đường, những Người Yêu Của Lính, nếu em không là người yêu của lính, ai sẽ đón em khi tan trường về, khi em dỗi hờn ai kể chuyện đời lính em nghe... Những bài hát nhắc cho chúng ta nhớ một thời khói lửa với những ngày phép qua nhanh, những lá thư tiền đồn, những mùa Xuân cắm trại xa nhà, với những gian khổ của các anh lính VNCH... Những bài hát vẽ lại cho chúng ta thời chiến tranh đang đốt cháy những phần đất trên quê hương, nhưng con người chưa tuyệt vọng, tình người chưa suy đồi như bây giờ . Vì ít ra ngày đó, miền Nam còn có vũ khí trong tay, còn được trực diện chiến đấu, còn có nắng mưa đi về, còn có trong nhau một tình yêu vội vã, những xa cách, giận hờn . Tuổi đời của các anh cũng như cuộc chiến đã qua đi, nhưng những bài hát của Nhật Trường còn ở lại .Những sợi tóc xanh giờ đã bạc màu, nhưng những câu hát của ông còn âm vang . Đời sống chúng ta bây giờ, những sáng hối hả đi, những chiều hối hả về, xa lộ xứ người, nhưng hôm nào tình cờ mở nhạc mà nghe được :
Xuân và người lính Việt Nam Cộng Hòa trong nhạc Việt
Dù ai buôn bán nơi đâu
Nhớ đến ngày Tết rủ nhau mà về.
(Ca Dao)



Vâng, đó là truyền thống của người Việt chúng ta từ xưa đến nay. Hể mỗi độ Xuân về là mọi người đều muốn sum họp với cha mẹ, gia đình con cái và bạn bè quyến thuộc nói chung để cùng vui Tết, cho dù suốt năm phải xa gia đình vì sinh kế. Tuy nhiên vẫn có những người gánh chịu nhiều thiệt thòi, phải dầm sương, ngủ ở ven rừng, bờ suối để trấn thủ biên thùy. Họ chỉ hưởng được chút hương vị Tết qua những món quà do thân nhân gởi đến, thiếu hẳn cái không khí Tết giống như ở hậu phương, thiếu hẳn tiếng trống tiếng kèn rộn ràng, không có những màn múa Lân ngoạn mục v.v…

Nhưng họ là ai? Họ chính là những người lính của quân đội Việt Nam Cộng Hòa (VNCH). Những người đã anh dũng chiến đấu trong suốt gần 21 năm để bảo vệ miền Nam tự do, từ 1954 cho đến khi bị thượng cấp ra lệnh bắt buộc buông súng đầu hàng cuối tháng 4.1975. Có nhiều người đã nằm xuống hay đã chết trong các trại tù được mệnh danh là “trại cải tạo". Cũng có nhiều người còn sống, đang hiện diện trên đất mẹ hoặc đang định cư tại một đệ tam quốc gia nào đó trên thế giới.

Để tri ơn những người lính VNCH nói trên, còn sống cũng như đã chết, người viết xin phóng tác một số bản nhạc viết về “Xuân và Người Lính” thành bài tạp ghi này để kính tặng tất cả những người lính VNCH đã anh dũng chiến đấu bảo vệ miền Nam VN cho đến ngày 30.04.1975, cũng như vinh danh sự hy sinh cao cả của những chiến binh đã nằm xuống cho chúng ta được sống.

Trước khi chính thức đi vào chủ đề của bài tạp ghi, người viết xin được mượn bài hát sau đây để giới thiệu đến quý độc giả là người lính VNCH tuy rất anh hùng, rất sắt đá trên chiến trường nhưng họ cũng là con người, là những chàng trai trẻ nên con tim của họ cũng chất chứa nhiều tình cảm, cũng biết rung rộng và vì tình yêu quê hương đất nước nên họ sẳn sàng hy sinh tình cảm riêng tư để lên đường theo tiếng gọi non sông. Tình cảm của những người lính được thể hiện rõ nét qua tác phẩm rất sôi động của Nhạc sĩ Y Vân:
Anh là lính đa tình
Tình non sông rất nặng
Tình hải hồ ôm mộng
Tình vũ trụ ngát xanh
Và mối tình rất êm đềm là tình riêng trong lòng
anh yêu em ...

Có lúc muốn lấy hoa rừng, anh gửi về em thêu áo
Và ngàn vì sao trên trời, kết thành một chuỗi em đeo
Dù rằng đời lính không giầu,
mà chắc không nghèo tình yêu...

Tình Lính (Y Vân)

Có thể nói, khi đề cập đến hay bàn về chiến tranh, hầu như ai trong chúng ta đều chán ngán. Nhưng hoàn cảnh đẩy đưa vì cộng sản Bắc Việt (csBV) luôn nuôi tham vọng thôn tính miền Nam nên mới gây ra cảnh chinh chiến. Nếu nhà ai nấy ở, kẻ Bắc người Nam, mạnh ai nấy lo thì làm gì có chuyện đổ máu xảy ra, theo ý tôi. Sau nhiều mùa Xuân tương đối thanh bình đi qua thì phải nói Tết Mậu Thân 1968 là cái Tết mà dân miền Nam VN không bao giờ quên được, nhất là dân xứ Huế. CsBV đã xem thường hiệp ước đình chiến trong ba ngày Tết, lợi dụng sự tin cậy của dân miền Nam và lợi dụng cơ hội biên thùy bị bỏ ngõ và các tiền đồn của các tỉnh hay thị xã không được canh gác cẩn thận như xưa nay vì binh sĩ VNCH các cấp được nghỉ phép về quê ăn Tết với gia đình vợ con, csBV đã ra lệnh tổng tấn công, tràn về thành phố đúng vào dịp Tết Mậu Thân 1968. Chúng đã dày nát nhiều tỉnh lị của miền Nam, nhẫn tâm giết hại không biết bao nhiêu người dân vô tội gây tang thương cho biết bao gia đình trong khi mọi người đang vui mừng đón Xuân.

Chiến chinh từ xưa đến nay, dầu xảy ra bất cứ ở đâu đều gây nên nhiều đau khổ, tang tóc. Chuyện cha xa con, vợ xa chồng, gia đình ly tán là chuyện không thể tránh được. Bên cạnh những mất mát về vật lực cũng như tài lực, người dân và nhất là những người lính trận chẳng những đã hy sinh máu huyết của mình, đã bị tổn thương và trở thành phế binh mà đôi khi còn phải bỏ mạng để cho bà con, thân nhân và đồng hương được sống. Vì thế mơ ước quê hương thanh bình là ước mơ của mọi người, từ quân cán chính cho tới phó thường dân, học trò… Nhạc sĩ Hoài Linh và Tấn An đã mượn lời ca tiếng hát chuyển đạt nỗi niềm của những chàng trai khóat áo chiến y vừa mới từ biên cương trở về thăm người yêu ở hậu phương với lời cầu chúc đầu năm chân thành, rất nồng nàn:
Ngày đầu Xuân chúc non nước thanh bình,
ngày mồng hai chúc cho lứa đôi mình
Và mồng ba anh chúc cho đôi mắt em xinh,
Má em hồng cho nét Xuân mãi trong lòng anh.
Từ ngoài biên anh vừa về đến, đôi lời trìu-mến chân thành chúc em ...
Đầu Xuân xin chúc quê hương yên bình thành đô đến nơi đồng xanh,
Ý lành nước non vươn màu xanh mới đón Xuân thắm trong niềm vui .

Đầu Xuân Lính Chúc (Hoài Linh - Tấn An)

Ước mong quê hương không còn chiến tranh cũng là tâm trạng của cố nhạc sĩ đa tài Trần Thiện Thanh (TTT). Nhưng sự mong ước của nhạc sĩ TTT, một nhạc sĩ thuộc ngành tâm lý chiến dù, không ủy mỵ và ru ngủ như đã được thể hiện qua một số nhạc sĩ phản chiến thân cộng thời bấy giờ. Trần Thiện Thanh tế nhị hơn khi diễn tả tâm trạng mình, tâm trạng của một người lính VNCH. Anh đã nhẹ nhàng thố lộ cùng người yêu:
Hẹn em khi khắp nơi yên vui
Mùa xuân ngày đó riêng đôi mình
Phút giây mộng mơ nâng cánh hoa mai
Nhẹ rớt trên vai đầy, hồn chơi vơi
Ngỡ giữa xuân vàng, dáng em sang

(Đồn Vắng Chiều Xuân)

Trong khi mọi người ở hậu phương, từ thôn quê đến thành phố đang chờ đón nàng Xuân, đang đợi Giao Thừa về để đốt pháo mừng năm mới về thì có rất nhiều người lính trận của quân đội VNCH không có được diễm phúc này. Nhạc sĩ Nguyễn văn Đông đã mượn lời nhạc phát hoạ nên một khung cảnh buồn, đơn lẻ mà khi tiếng hát được cất lên chúng ta không thể nào quên được hình ảnh người lính đang đồn trú nơi rừng sâu giữa lúc quê hương còn chinh chiến:
Đón Giao Thừa một phiên gác đêm
Chào xuân đến súng xa vang rền
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
Ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi

Phiên Gác Đêm Xuân (Nguyễn văn Đông)

Vì hoàn cảnh, bạn bè có kẻ phải lên đường làm bổn phận người trai thời loạn, người thì may mắn được ở lại hậu phương nhưng chiến tranh vẫn luôn hiện hữu trong tâm cảm của hầu hết mọi người dân miền Nam Việt Nam nói riêng. Tâm trạng đó đã được Hoài Linh diễn tả như sau:
Tôi đón xuân giữa lúc còn chiến chinh
Chúc mừng xuân bên ly rượu hành trình
Chúc người trai đi xây dựng hòa bình
Để cho đất nước vui trọn mùa xuân thắm xinh

(Tâm Sự Ngày Xuân - Hoài Linh)

Thời gian qua đi không chờ đợi. Đông qua và mùa Xuân lại trở về. Tình cảm của những người ở hậu phương dành cho những anh lính chiến ngoài miền biên cương lúc nào cũng đong đầy. Tâm cảm này đã được Lê Dinh và Minh Kỳ khéo léo diễn đạt qua bản nhạc rất trữ tình:
Thấm thoát là đây . . . một mùa Xuân mới . . . với ngàn cánh mai vàng
Nụ cười trên môi . . . trên làn má ai . . . đón Xuân tươi vừa sang …

Xuân nay tôi chúc . . . người miền biên cương . . . muôn ngàn câu mến thuơng
Mong Xuân yên lành . . . trong bao hương tình
Để rồi người thêm vui . . . cuộc sống thanh bình

(Hạnh Phúc Đầu Xuân của Lê Dinh - Minh Kỳ)

Tình thương mẹ con trong xã hội Việt chúng ta rất đậm đà thắm thiết. Bất cứ ở đâu, dù đang sống xa nhà hay đang trấn đóng ngoài biên thùy, ven rừng, người con lúc nào cũng nghĩ đến gia đình, đặc biệt nghĩ rất nhiều đến mẹ, có lẽ vì từ nhỏ được mẹ bồng bế, nâng niu. Lắm khi ôn lại quá khứ thanh bình ngày nào, để rồi tiếc thương và thầm mơ mau có ngày hội ngộ cùng mẹ hiền. Nhật Ngân đã dùng lời nhạc để diễn đạt thay tâm trạng của những chàng trai hùng thời chiến chinh như sau:
Đêm nay núi rừng gió nhẹ sang xuân
Thoáng mùi mai nở đâu đây
Nghe lòng lạc loài chơi vơi
Khi xưa, những ngày binh lửa chưa sang
Bếp hồng quây quần bên nhau
Nghe Mẹ kể chuyện đời xưa
Mẹ ơi con hứa con sẽ trở về
Dù cho, dù cho xuân đã đi qua
Dù cho én từng bầy bay về ngàn
Dẫu gì rồi con cũng về
Chỉ bên Mẹ là mùa xuân thôi

Mùa Xuân Của Mẹ (của nhạc sĩ Nhật Ngân)

Nhưng éo le cũng không thiếu. Vì hoàn cảnh nên vợ chồng chia cách. Còn đâu những giây phút đầm ấm, gần gủi bên nhau ngày nào … để rồi giờ đây trong cảnh cô đơn, người vợ (người yêu) đã ôn lại hình ảnh đẹp thuở nào với chồng (với người tình) lúc đất nước còn an lành:
Nhớ xuân sang năm nào,
bên bếp lửa vui, ngồi đan áo cho anh
đôi mắt anh dịu buồn, nói anh sẽ về
khi máu xương ngừng rơi.
Để giờ mình em và manh áo xám trên tay
Dù rằng ngoài kia vang tiếng pháo đón giao thừa
Bánh chưng rất xanh, với hoa cúc vàng
mà ngỡ là giấc mơ thanh bình.

Đan Áo Mùa Xuân (Phạm Thế Mỹ)

Kẻ ở lại buồn đơn côi, luyến tiếc kỷ niệm. Người ra đi cũng chẳng khác gì hơn. Chúng ta hãy nghe những người lính VNCH đã để con tim mình rung động:
Tôi đến đơn vị lại đi, nhọc hơi đâu đếm mỏi tháng ngày
Khi cánh dù mang tin lại những cánh thư xinh hậu tuyến
Tôi ngẩn ngơ biết mùa Xuân sang ...
Ở đây không có hoa Mai, không có hoa Đào trang điểm trần ai
Những lá khô rơi suốt năm dài như trong một chiều lòng tôi biết yêu ai.

(Mùa Xuân Lá Khô của Ns Trần thiện Thanh)

Dầu vậy người trai Việt vẫn ngạo nghễ chấp nhận định mệnh đã dành riêng cho mình trong thời buổi loạn ly với sự kiêu hảnh đáng khâm phục:
Quê hương trong thời đau thương
Mùa Xuân chia ly là thường
bao nhiêu khổ nhục tủi hờn
Hát lên nhân loại,
Trả buồn cho đông.

(Mùa Xuân Trên Cao của Ns Trầm Tử Thiêng)

Họ, những người lính VNCH luôn làm tròn bổn phận làm trai, chấp nhận gian khổ. Tuy vậy người lính vẫn có vài phút giây để tâm hồn bay bỗng với những thương nhớ khó quên:
Đầu xuân năm đó anh ra đi
Mùa xuân này đến anh chưa về
Những hôm vừa xong phiên gác chiều
Ven rừng kín hoa mai vàng
Chợt nhớ tới sắc áo năm nào em đến thăm gác nhỏ.

(Đồn Vắng Đầu Xuân của Ns Trần Thiện Thanh)

Xuân về, Tết đến là dịp để thân nhân, họ hàng hay những cặp tình nhân gặp gỡ, đoàn tụ nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, trước 30.4.1975 đã có biết bao nhiêu người lính thiếu hẳn diễm phúc này. Họ đã thi hành bổn phận người trai thời chiến để trấn giữ biên thùy, bảo vệ an ninh cho đồng bào ở hậu phương an lòng hưởng Tết. Dầu vậy, người lính Việt Nam Cộng Hoà chẳng buồn lòng, dù cho tâm trạng của họ lúc nào cũng nhớ nàng Xuân. Họ vẫn hy sinh, kiên trì nhất định:
Con biết bây giờ mẹ chờ em trông
nhưng nếu con về bạn bè thương mong
bao lứa trai cùng chào xuân chiến trường
không lẻ riêng mình êm ấm
Mẹ ơi con xuân này vắng nhà
Mẹ thương con xin đợi ngày mai...

(Xuân này con không về của NS Trịnh Lâm Ngân)

Người lính VNCH rày đây mai đó, tung hoành khắp 4 vùng chiến thuật. Khi được nghỉ phép, trở về mong tìm gặp lại nàng Xuân, người yêu nhưng định mệnh nghiệt ngả làm họ chỉ còn biết tiếc thương mùa Xuân nào đã đi qua. Hãy nghe Nhạc sĩ Châu Kỳ bộc lộ:
Bước sông hồ như đắm như mơ
Trở về đây khi gió sang mùa
Mong ước tìm cô gái Xuân xưa, cho vơi bao niềm nhớ
Có ngờ đâu Xuân vắng người thơ

(Đón Xuân Này Nhớ Xuân Xưa của Ns Châu-Kỳ)

Ước nguyện của mọi người: dân, quân, cán, chính là mong đất nước Việt Nam sớm thanh bình, không còn chinh chiến, một cuộc chiến công tâm mà nói là do Cs Bắc Việt chủ trương vì chúng luôn nuôi tham vọng chiếm trọn miền Nam, điều mà cộng sản đã đạt được vào cuối tháng tư 1975. Nhạc sĩ Minh Kỳ qua nhạc phẩm “Cánh Thiệp Ðầu Xuân" đã diễn tả ước mơ thầm kín, cầu mong sao cho khói lửa đi qua nhanh trên đất mẹ để mọi người, nhất là người lính VNCH có cơ hội được về sống gần gia đình, bạn bè thân thuộc và hưởng một cái Tết đúng nghĩa:
Tôi chúc muôn người mọi đều ước muốn
Non nước vinh quang trong tia nắng thanh bình
Để người anh yêu dấu quay về gia đình
Tìm vui bên lửa ấm
Tôi chúc yên lành người người khắp chốn
Mong gió đưa duyên cho cô gái Xuân thì
ước nguyện sao chóng thành rượu hồng xe duyên

(Cánh Thiệp Đầu Xuân của Ns Minh Kỳ)

Nhiều nhạc sĩ, nhất là những nhạc sĩ tâm lý chiến (một ngành mà CS rất sợ nên trả thù không nương tay những chiến sĩ này sau tháng 4.1975), đã sáng tác những bài ca rất giá trị viết về đời lính và người lính VNCH, sáng tác nhạc Xuân, đặc biệt những bản nhạc viết về Tết và người lính VNCH, gắn liền với sự hy sinh cao cả của họ trước 30.4.1975 lo trấn thủ biên cương để bảo vệ cho người dân ở hậu phương được hưởng những mùa Xuân, tháng năm an bình. Còn rất nhiều bản nhạc khác đã được sáng tác với chủ đề này nhưng tôi chỉ trích dẫn vài bản nhạc “Xuân, viết về người lính VNCH" tiêu biểu kê trên. Rất tiếc bài viết có giới hạn nên tôi không thể trích dẫn hết để trình bày cùng quí vị, xin thông cảm. Nhưng qua đó cũng đủ nói lên tình cảm, tình yêu quê hương nồng nàn và cuộc đời đầy gian khổ và sự hy sinh cao cả của người lính VNCH đối với người Việt tại miền Nam VN trước 30.04.1975, nói riêng…

Người miền Nam và những người lính VNCH tuy đã nằm xuống nhưng không hề uổng phí vì chính qua những mất mát đó đã cho chúng ta hiễu rằng sự tự do không phải tự nhiên mà có. Tự do đã được trả với một giá rất đắt, chẳng những bằng máu và nước mắt, đôi khi ngay cả bằng mạng sống. Điều này đã được minh chứng qua lịch sử của nhân loại và cũng nhờ sự hy sinh cao cả của những người lính VNCH mà người dân miền Nam Việt Nam (NVN) đã được hưởng ít nhiều tự do trong hơn 20 năm, cho đến ngày NVN bị cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm.

• Lê Hoàng Thanh
Người Chiến Sĩ Vô Danh


XUẤT QUÂN
http://www.youtube.com/watch?v=IHZZPQGIJDM

LỤC QUÂN HÀNH KHÚC http://www.youtube.com/watch?v=J98GSe8ms7I

ANH ĐI CHIẾN DỊCH http://www.youtube.com/watch?v=UKazkPZuTjc
CỜ BAY TRÊN CỔ THÀNH QUẢNG TRỊ http://www.youtube.com/watch?v=Sq1yJl_lcTc
 





Em lửa binh lưu lạc
Anh chinh chiến xa nhà
Chiều quê hương đổ nát
Kể nhau niềm xót xa
Trong mắt em ngơ ngác
Nỗi đau, ôi ! thơ dại !
Sao niềm tin vẫn ngời !
Cho lòng anh se thắt
Thôi! bé lau nước mắt
Anh sẽ đưa em về
Nơi vòng tay của mẹ
Bên nếp nhà êm vui
Để mắt em mãi cười
Tựa ngàn sao lấp lánh
Dõi những bước quân hành
Đêm quê hương hoang lạnh
AI ĐI NGOÀI SƯƠNG GIÓ
Nhạc Nguyễn Hữu Thiết - Trang Mỹ Dung hát
Hôm nao nhìn lá úa, rụng lác đác bên song
Mây trôi về viễn xứ, gợi tiếc nhớ bâng khuâng
Thương ai ngoài sương gió vì đất nước quê hương
Ra đi chốn sa trường, vui kiếp phong sương


Thương ai vì non nước, đời lính chiến gian lao
Đêm đêm nhìn tay súng, lòng nghĩ đến mai sau
Thương ai vì sông núi, mà khoác lấy chinh y
Thương ai mãi thương ai


Thương ai! đã thuong ai rồi
Dù tháng năm dần trôi, dù lá hoa tàn phai
Lòng vẫn nhớ thương ai!
Thương ai! mãi mãi thương ai.
Như gió vẫn thương trăng, như bướm vẫn thương hoa
Thương ai vẫn thương ai hoài.


Thương ai lòng mong ước, ngày đất nước yên vui
Mênh mang tình non nước, đường lối cũ trăng soi
Anh đi về nơi ấy, tìm những phút vui xưa
Thương ai vẫn thương hoài, muôn kiếp không phai


Anh đi về nơi ấy, tìm những phút vui xưa
Trông nhau mà không nóí, lòng hết thấy bơ vơ
Anh đi về nơi ấy, tìm hình bóng em thơ
Thương ai mãi thương ai.
Những Chiến Sĩ Bị Lãng QuênTôi thương anh lính Nghĩa Quân
Ngày đêm diệt giặc giúp dân xóm làng
Cuộc sống vất vả nghèo nàn
Nhưng anh vui vẻ giữ làng quê hương
Tôi thương anh lính Địa Phương
Bính định lãnh thổ phố phường an khang

Thân anh cũng lắm gian nan
Quyết tâm diệt cộng dã man đê hèn
Tôi thương chiến sĩ Áo Đen
Xây dựng thôn ấp thân quen dân làng
Mặc dầu không được võ trang
Nhưng bọn cộng sản nể nang anh nhiều

Chiến sĩ thầm lặng mến yêu
Các anh không được kể nhiều công lao
Ít được sách vở hô hào
Nhưng dân quí mến đâu nào có quên
Muôn đời dất nước nhớ tên

Các anh đáng được ghi lên bảng vàng
Khi nào đất nước bình an
Ta về thăm lại xóm làng năm xưa.



Chiến hữu Nguyễn Minh Châu



 






Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ .
Như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc,
Thì dân tộc ta mới mong có được
Những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.


Nguyễn thị Thảo An













Trích bài thơ "CÁC ANH TÔI"
của Hoài Vi


(Kính nhớ Người Chiến Sĩ VNCH)


Vòng hoa kết tặng cho Anh
Người trai đi viết sử xanh rạng ngời
Tuổi xuân hiến trọn cho đời
Tình quê ơn mẹ, anh thời hiếu trung


Làm sao đền đáp cho cùng
Ơn người Chiến sĩ hào hùng Dân tôi
Qua từng mệnh nước nổi trôi
Anh là đuốc sáng đỉnh đồi yêu thương


Áo sờn vai bạc gió sương
Anh đi bảo vệ xóm đường bình yên
Hy sinh rời bỏ bút nghiêng
Tình yêu tươi thắm, Mẹ hiền đành xa


Nặng mang nợ nước thù nhà
Máu xương tô điểm sơn hà mến yêu
Dù thây vùi chốn cô liêu
Anh Hùng tử trận mây chiều tiễn đưa


Có khi về giữa ban trưa
Bằng hòm đóng vội chở đưa về thành
Tóc xanh tang vấn bao vành
Vợ buồn con khóc dổ dành đời nhau


Có khi về giữa cơn đau
Trên đôi nạng gổ bước sầu đường mưa
Thương anh biết nói sao vừa
Tình này năm tháng vẫn chưa phai mờ


Tháng tư nào đến như mơ
Một trời tang tóc phủ mờ quê hương
Tình anh còn nặng yêu thương
Làm sao bỏ lại xóm phường Việt Nam


Lòng đau nhìn ngọn khói lam
Quyện theo hồn nước trời Nam điêu tàn
Sống hùng và chết hiên ngang
Anh tôi tự sát không hàng giặc nô


Tháng tư trắng giải khăn sô
Khóc người trai Việt đắp mồ cho nhau
Người đi kẻ ở hận đau
Kẻ mang tù tội, người sầu ly hương





Phần sau bài thơ "CÁC ANH TÔI" của Hoài Vi


Bao năm trên vạn nẻo đường
Người trai Việt vẫn can trường đấu tranh
Viết hoài trang sử hùng anh
Cho mai đời thắm mộng xanh ước thề


Hôm nay mưa lạnh đổ về
Cúi đầu tôi đứng bên lề Tượng cao
Tượng anh rực sáng khí hào
Ôi người Chiến sĩ máu đào vẫn tươi


Máu anh nối tiếp tình Người
Yêu thương điểm thắm môi cười mẹ quê
Mai người đưa đón anh về
Ơn đền nghĩa đáp lời thề chẳng phai


Vòng hoa kính đặt trước Đài
Tặng người Chiến sĩ, lệ dài chảy tuông
Phải đâu vì tháng tư buồn
Bao ngày tôi vẫn đến luôn chốn này


Nhớ anh tôi lại ngồi đây
Dặn lòng mãi khắc Ơn này đậm sâu
Nhớ anh để sống ngẩng đầu
Làm người dân Việt dể dầu cúi xin
.... NHỚ MẸ ...


Những chiều buồn trên đất Bắc con hướng về Nam con nhớ mẹ nhiều.
Mẹ ơi! bao nhiêu năm tháng cứ trôi, cứ trôi cho bạc mái đầu.
Không gian rưng rưng như sắp đứt.
Gió về nghẹn nhào như tiếng nấc.
Còn đâu quê hương hoa gấm thơm làn tóc.


Giã từ miền Nam tang tóc con sống trầm luân kiếp sống lưu đầy.
Hằng đêm con nghe thương tiếc xót xa đắng cay dâng ngạt tháng ngày.
Trăng sao tin yêu ai dối trá !
Đất trời hiền hoà ai đốt phá !
Và đem thê lương che kín núi sông này ...


Mẹ ơi ! Mẹ biết không ... còn cháy ... mãi trong con.
Những lời mẹ cầm tay nói:
Nắng sẽ về đẩy lùi bóng tối !
Và yêu thương, và tự do sẽ còn mãi mãi !
... nhé con !


Giờ này hoàng hôn sắp tắt con nghĩ gì đây con nhớ mẹ nhiều
Mẹ ơi! bao nhiên năm tháng cứ trôi, cứ trôi phiêu dạt mái đầu.
Quê hương điều linh con vẫn khóc !
Trông chờ ngày về con vẫn thắp ...
Từng ngôi sao đêm như ánh mắt mẹ hiền.


Trời mây lung linh soi ánh mắt mẹ hiền.
Hồn con lâng lâng con nhớ mắt mẹ hiền
Mẹ mến yêu ! Con thương nhớ nhiều ...




Một chuyến bay đêm
Thanh Thúy hát


http://www.youtube.com/watch?v=CxJcoGF67KA




Giữa lòng trời khuya muôn ánh sao hiền,
Người trai đi viết câu chuyện, một chuyến bay đêm.
Cánh bằng nhẹ mơn trên làn gió,
Đời ngây thơ xưa lại nhớ, lúc mình còn thơ.
Nhìn trời cao mà reo, mà mơ ước như diều,
Để níu áo hằng nga, ngồi bên dãy ngân hà.
Giờ sống giữa lưng trời,
đôi khi nhớ chuyện đời mỉm cười thôi!


Đêm nay chuyến bay trời xanh như màu áo.
Đường Minh Đế nhàn du thăm tinh cầu,
Chạnh thương hai đứa, giờ gối súng nơi nào.
Lâu lắm chẳng gặp nhau!
Bạn bè dù cách xa nào khuây,
Tình nàng chưa nói nhưng mà say.
Giai nhân hỡi, khóe mắt em u hoài,
Theo tình trong chuyến bay.


Có người hỏi phi công ước mơ gì?
Người ơi nhân thế muôn màu, nào biết mơ chi?
Ước rằng từ khi tung nhịp cánh,
Tình ta yêu thương là gió, nhân tình của mây.
Ở đời ai hiểu ai !
Người bay trắng đêm dài, người thức giữa đại dương,
Dù yên giấc ven rừng
Bạn có biết chuyện này
Tôi đi lúc vũ trụ còn ngủ say...


Cung buồn cho một cánh chim
Thơ Trần Văn Lương, nhạc Văn Thùy.
1. Người tìm vào đời đôi cánh chim bay

Phi đạo hẹn hò mở lối tung bay

Đường mây vút xa dâng đầy trong mắt ai

Ngày vui vẫn hẹn đợi chờ hòa khúc hát tương lai.

2. Người tình học trò đôi mắt như sao

Mơ vùng trời hồng gửi giấc chiêm bao

Ngày vui ái ân không dài như ước mơ

Tình trong nét mực ngọc ngà, buồn khóe mắt ngây thơ.

ĐK1. Rồi một chiều thu mây mờ che kín non xanh

Người vợ hiền mơ bé thơ nào đâu thấy mặt anh

Trời buồn lộng gio, gió âm thầm đưa lá xa cành

Trời còn in mây, tình người còn đây, cớ sao người yên giấc mơ say.

ĐK2. Người lặng tìm về hương khói mong manh

Xin một lời buồn để hát cho anh

NgànVà đôi mắt buồn học trò đậm vết long lanh

Xếp đôi cánh bằng, ngàn thu an giấc cho anh.



BÊN BỜ ĐẠI DƯƠNG
Nhạc sĩ : Hoàng Trọng


Trình bày : Việt Dzũng


http://www.youtube.com/watch?v=qxDMyOM1RE8

Đất nước tôi màu thắm bên bờ đại dương
Bắc với Nam, tình nối qua lòng miền Trung
Đất nước tôi từ mái tranh nghèo Bắc Giang
Vượt núi rừng già Trường Sơn, vào tới ruộng ngọt phương Nam

Dân nước tôi từng đấu tranh diệt ngoại xâm
Trên máu xương từng hát ca bài thành công
Dân nước tôi nòi giống hùng cường Lạc Long
Làm gái toàn là Trưng Vương, làm trai rạng hồn Quang Trung


VINH DANH
NHỮNG VÌ SAO ĐẤT NƯỚC
Tháng Tư về khơi mối hận thiên thu
Mây tang phủ lên bầu trời Quốc Tổ
Nhớ bao anh hùng thơm danh muôn thuở
NAM, PHÚ, VỸ, HƯNG, HAI, CẨN...tên Người !

Trước cọc bắn vẫn đanh thép ý lời:
"Muốn nhìn sông núi trước giờ gục chết !"
Lẫm liệt oai phong một trang hào kiệt
Cọp ba đầu rằn HỒ NGỌC CẨN lưu danh !

Tướng Biệt Động Quân liêm khiết, đa năng
Huấn luyện, tham mưu, chiến trận bao năm
Tên TRẦN VĂN HAI sử vàng ghi đậm
Vận nước suy tàn - tiết tháo hy sinh !

Xin nghiêng mình chào NGUYỄN KHOA NAM hùng anh
Hổ Tướng miền Tây theo thành tự sát
Loạt đạn nổ vang thay lời thề "Sát Đát !"
Rừng núi chuyển rung bạt vía giặc thù !

Bình Long, An Lộc - song Lê anh hùng
Gương tử thủ nêu cao, nức lòng quân sĩ
NGUYÊN VỸ, VĂN HƯNG lừng danh thế kỷ
Bia khắc danh đề - thanh sử muôn thu !

Tiếc thương PHẠM VĂN PHÚ Kontum, Pleiku
Vị danh tướng của bao thời trận mạc
Khí hùng anh nào để lọt vào tay giặc ?
Kết liễu đời mình - độc dược quyên sinh !

Hồn thiêng sông núi tiếp dẫn hương linh
Quý danh tướng và bao anh hùng dân tộc
Tháng Tư đại tang triệu hồn bật khóc
Thắp nén nhang lòng tưởng niệm anh linh !


PHẠM HOÀI VIỆT






Hôm nao, ai đã mơ mộng,
Chia mối tơ đồng Của một khối non sông vinh quang
Ai ơi, ai nhớ chăng rằng
Gươm súng đâu diệt được nòi giống muôn năm hiên ngang

Anh với tôi còn sống bên bờ đại dương
Tôi với em còn thắm trong lòng niềm thương
Đất nước tôi còn gió độc lập Trường Sơn
Còn lúa tràn đồng phương Nam, còn xóa được hờn quê hương
Chuyện LínhChín tháng quân trường, chỉ dởn chơi.
Ra trường mới thấy, chuyện trần ai.
Rừng sâu núi thẳm, là nhà ở.
Băng rừng lội suối, mệt đức hơi.

Lương Khô nhận lảnh, đi tuần kích.
Ngày nóng đêm lạnh, bịnh thấu xương.
Thân thể gầy mòn, nuôi vắt đĩa.
Sốt rét triền miên, bởi núi sâu.

Đôi khi nằm kích, không nước uống.
Khác nước đở người, bởi nước sương.
Một tuần không tắm, là chuyện nhỏ.
Rận rệt trong người, chuyện bình thường.

Một năm chưa về, một lần phép.
Nhớ nhà nhớ vợ, chỉ giấc mơ.
Đêm nhìn thành phố, qua ánh sáng.
Buồn cho thân phận, bởi chiến tranh.

Đành thôi tự mình, tự an ủi
Ta làm việc nầy, cho núi sông.
CSVSQ Nguyễn Quan 351
Những Người Lính Tôi YêuTôi yêu lắm những người trai lính chiến

Nửa cuộc đời cho non nước triền miên

Đem tuổi xanh hiến mình cho sông núi

Thương Quê nhà đánh mất những niềm vui

Tôi thương lắm những người hùng năm cũ

Đôi vai nào sạm nắng với phong sương

Ánh mắt nào có nhiều đêm không ngủ

Tay súng nào thao thức giữ Quê Hương

Tôi yêu lắm và còn yêu nhiều lắm

Tháng năm nào Anh cải tạo xanh xao

Dẫu đớn đau thấm đầy trên thân xác

Vẫn không sao làm nhục chí anh hào

Xin gởi trọn một lời yêu thương cuối

Cho những người Anh lính chiến tôi thương

Ngày tháng buồn tuy đánh mất Quê Hương

Nhưng các Anh vẫn người hùng muôn thuở

Từ bao giờ và bây giờ vẫn thế

Vẫn trong tôi niềm hãnh diện yêu Anh

Những người hùng những chiến sĩ lưu danh

Nửa cuộc đời Anh đánh mất tuổi xanh

Cuối cuộc đời còn trong ta nổi nhớ

Tim các Anh và tôi còn nhịp thở

Là một đời ta còn nợ Quê Hương...


Huỳnh Lan

Nỗi Nhớ
Chiều trôi xao xác lá rơi
Đêm đen quyện nỗi quạnh hiu núi rừng
Nhoà bên vách núi chênh vênh
Bóng ai xiêu giữa điệp trùng chơ vơ
Đá mòn hồn có phai mơ ?
Thanh gươm, yên ngựa còn chờ cố nhân?
Bao lần mài kiếm tri tâm
Thoảng trong lời gió khúc hành quân xưa
Hỏi trăng! trăng rọi thẫn thờ
Hỏi đêm! đêm thẳm mịt mù đi hoang
Hỏi trời! chỉ vọng tiếng vang
Hỏi gươm! chợt thấy trăng loang chiến bào
Hỏi lòng ? biết hỏi làm sao !
Chợt nghe chân đã bước vào đường xưa
LNL


Mùa xưa
Mùa Noel ấy giặc tràn về đốt phá
Mái nhà lành bùng mồi lửa đêm đông
Chuông ngân nga vang tiếng đứt nửa chừng
Bóng giáo đường khuất chìm trong khói lửa

Dắt díu nhau chạy giặc bao khốn khổ
Bỏ xóm làng bỏ lại gác chuông xưa
Gặp các anh giữa đường ôi, mừng rỡ
Lính mình đây! mong biết mấy cho vừa .

Mắt rưng rưng mẹ nghẹn ngào nhắn nhủ
Đốt sạch rồi chỉ còn đất nền thôi
Đuổi xong giặc dân mình về dựng lại
Xóm làng xưa, trường học, nóc giáo đường

Đêm Thánh ấy, lễ vọng giữa sao ngàn
Những người lính bên đồng bào chạy loạn
Chia lương khô, chia bùi ngùi khấn nguyện
Cho một ngày sông núi sẽ bình yên

LNL

Bóng Nhỏ Giáo Đường
Nhạc: Nguyễn Văn Đông, Trình bày: Lệ Hằng
http://www.youtube.com/watch?v=2MD_lTLNZgs

Có ai về miền quê hương lửa khói cho tôi nhắn vài câu
Cách xa lâu rồi, không biết em còn giận hờn anh nữa thôi
Chuyện ngày xưa hai đứa thương nhau trong đêm nhiều sao sáng
Dưới lầu chuông anh khắc tên nhau chung trong lời khấn xin chan chứa niềm tin

Có ai ngờ tình yêu ngày đó gieo ngang trái sầu lo
Lửa binh lan tràn, hai đứa đôi đàng mộng đẹp kia vỡ tan
Từng hồi chuông tha thiết bi ai vang trong mùa quan tái
Tiếng cầu kinh khe khẽ thôi vang khi quân giặc giẫm tan ngôi Thánh lầu chuông

Nhớ mãi ngày ấy, quân cướp xô bừa hạ gác chuông
Nước mắt em tuôn, xót xa quỳ trên đống tro tàn
Nhớ mãi ngày ấy, anh góp tre dựng lại gác chuông
Với trí ngây thơ, vững tin tầm vông giữ Nhà thờ,
Kỷ niệm của chúng ta !

Mấy năm rồi buồn vui ngày đó theo anh giữa trời sương
Dẫu xa muôn trùng nhưng sống muôn đời chuyện lầu chuông thuở xưa
Và từng đêm anh chắp hai tay xin cho tình yêu đó
Thấm nhuần trong tay Chúa ban ơn, anh xây lại gác chuông trên kỷ niệm xưa .

Đêm Nguyện Cầu


Lê Minh Bằng

Hãy lắng tiếng nói vang trong tâm hồn mình người ơi
Con tim chân chính không bao giờ biết đến nói dối
Tôi đi chinh chiến bao năm trường miệt mài
Và hồn tôi mang vết thương vết thương trần ai


Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Bâng khuâng nghe súng vang trong sa mù
Buồn gục đầu nghẹn ngào nghe non nước tôi trăm ngàn ưu sầu


Thượng Đế hỡi có thấu cho Việt Nam này
Nhiều sóng gió trôi dạt lâu dài.
Từng chiến đấu tiêu diệt quân thù bạo tàn.
Thượng Đế hỡi hãy lắng nghe người dân hiền.
Vì đất nước đang còn ưu phiền.
Còn tiếng khóc đi vào đêm tường triền miên.

Có những lúc tiếng chuông đêm đêm vọng về rừng sâu.
Rưng rưng tôi chấp tay nghe hồn khóc đến rướm máu
Quê hương non nước tôi ai gây hận thù tội tình
Nhà Việt Nam yêu dấu ơi bao giờ thanh bình?


Lời Nguyện Cầu

Mùa sao sáng, ơi! mùa xưa thương nhớ
Mùa nguyện cầu bao tiễn biệt xót đau
Của chinh chiến chia ly và nước mắt
Cho người đi có được một ngày về

Nghe vang vọng từng lời kinh cầu nguyện
Dẫu mỏi mòn còn hy vọng khát khao
Ước thanh bình trên quê hương tan nát
Cho yêu thương dịu ngọt nỗi hận sầu

Bao nhiêu năm đã tan mùa chinh chiến
Lời nguyện cầu vẫn đau xót vang lên
Quê hương ơi sao nát tan hồn nước
Khóc người đi biền biệt mãi không về

Lời cầu nguyện đêm Giáng sinh thao thức
Xin hồn thiêng sông núi sáng lòng đêm
Theo ánh đuốc đàn con từ muôn ngả
"Bước oai linh" về lại đất mẹ hiền


Kinh Chiều

Nhạc: Hoàng Thi Thơ, Trình bày:

Hoàng Oanh

http://www.youtube.com/watch?v=bWJ-giOHQgo

Khi Tôi Chết Đừng Đưa Tôi Ra Biển

Nguyễn Văn Phán


Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Lao Bảo, Khe Sanh
Để đêm nghe vang dội khúc quân hành
Ôi ! Lính chiến một thời kiêu hãnh quá.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Ben-Hét, Đắc-Tô
Nơi bạn bè tôi, xây mộng sông hồ
Nguyện trấn giữ dãy Trường Sơn yêu quý.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Bình Giả, Chiến Khu Đ
Cho hồn tôi siêu thoát với lời thề
Thân chiến sĩ, nguyện xin đền nợ nước.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Đưa tôi về Cái Nước, Đầm Dơi
Đêm U Minh, nghe tiếng thét vang trời
Mừng chiến thắng để dâng về tổ quốc.

Khi tôi chết, đừng đưa tôi ra biển
Trả tôi về với dân tộc Việt Nam
Gói thân tôi ba sọc đỏ màu vàng
Xin liệm kín với hồn thiêng sông núi.
-

Nhà thơ Lê Thị Ý:

“Ngày mai đi nhận xác chồng
Say đi để thấy mình không là mình
Say đi cho rõ người tình
Cuồng si độ ấy hiển linh bây giờ
Cao nguyên hoang lạnh ơ hờ
Như môi thiếu phụ nhạt mờ dấu son
Tình ta không thể vuông tròn
Say đi mà tưởng như còn người yêu
Phi cơ đáp xuống một chiều
Khung mây bàng bạc mang nhiều xót xa
Dài hơi hát khúc thương ca
Thân côi khép kín trong tà áo đen
Chao ơi thèm nụ hôn quen
Ðêm đêm hẹn sẽ chong đèn chờ nhau
Chiếc quan tài phủ cờ màu
Hằn lên ba vạch đỏ au phũ phàng
Em không thấy được xác chàng
Ai thêm lon giữa hai hàng nến trong?
Mùi hương cứ tưởng hơi chồng
Nghĩa trang mà ngỡ như phòng riêng ai.”

Phạm Phú Quốc! sao đi không trở lại
Triệu lòng đau sông núi cũng hờn đau
Và riêng ai theo dõi hướng tinh cầu
Nghe nức nở vai gầy run cô độc

Phạm Phú Quốc một đời trai ngang dọc
Những nụ cười, tia mắt rực niềm tin
Vì non sông, vì lý tưởng thanh bình
Theo cánh gió đi vào lòng đất giặc ....


Huyền sử ca một người mang tên Quốc


Phạm Duy - Duy Khánh

http://www.youtube.com/watch?v=LOPQOIj1Apk



Bài vinh thăng cho một loài chim (Trầm Tử Thiêng - Thái Thanh)http://www.youtube.com/watch?v=3CAWQGYlFn4


Nhớ anh

Đêm trở lạnh đổ cơn mưa buốt giá
Ánh chớp loang nhoà nhạt bóng poncho
Đoàn quân đi như tích cổ thiên thu
Nguyện giữ nước trong âm thầm lặng lẽ

Giữa sấm động cùng mưa nguồn, chớp bể
Cơn nắng Lào cháy xém dạn da khô
Vẫn đôi mắt vương ngây thơ lưu luyến
Lá sân trường, vườn mận, nếp nhà tranh.

Gánh gian lao gìn giữ ước mộng lành
Đêm mưa lạnh mơ áo bay chiều nắng
Nhớ miên man trên từng bước quân hành
Qua thôn vắng chạnh niềm quê thao thức

À ơi, tiếng võng ru hời !
Ai đi chinh chiến một thời xuân xanh
Nước non chưa thắm mộng lành
Ngùi thương nhau khóc thanh bình dở dang!


Sương Trắng Miền Quê Ngoại
Sáng tác: Đinh Miên Vũ, Trình bày: Duy Khánh


http://www.youtube.com/watch?v=CogwIYKvniY

BÀI THƠ VIẾT CHO THƯƠNG PHẾ BINH QLVNCH

Xuân nầy nếu anh về quê ăn Tết
Còn thương em xin anh hứa một lời
Thương phế binh còn khổ lắm anh ơi !
Tìm thăm họ, nói đôi lời an ủi.
...

Họ là những thương phế binh bất khuất
Là anh hùng, là chiến sĩ hiên ngang
Như quân Nam chiến thắng Bạch Đằng Giang
Là con cháu của Hùng vương lập quốc .

Nhớ nghe anh nếu còn thương Việt tộc
Còn biết hờn, biết nhục mất quê hương
Thì giúp dân diệt cộng sản bất lương
Xây dựng nước phú cường dân chủ trị.

Nhớ nghe anh nếu còn thương Việt tộc
Còn biết hờn, biết nhục mất quê hương
Thì giúp dân diệt cộng sản bất lương
Xây dựng nước phú cường dân chủ trị

Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ
Như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc,
Thì dân tộc ta mới mong có được ...
những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.

Nguyễn thị Thảo An
Đi Từ Ruộng Đồng Bao La

Hò ới, ới ới hò ! Hò ơi, ơi ơi hò !
Hò ơ, ơ ớ ơ ...ờ ơ. ... ờ, ờ ơ ... ơ ... ơ ớ ơ ... ớ ơ ơ ... ờ ...

Từ Cà Mau ruộng đồng bao la
Năm Căn heo hút muỗi sa từng bầy
Hò ơi, ới ới hò !

Chiều hành quân, anh qua rừng chiến khu Đ
Đêm mưa Đồng Tháp đỉa đeo tràn trề
Hò ơi, ới ới hò !

Ôi tin yêu, cây trái miền Tây
Phù sa lớp lớp dâng đầy Hậu Giang
Hò ơi, ới ới hò !

Hậu Giang, ơi hỡi Hậu Giang
Quân dân kết đoàn một lòng đấu tranh
Hò ới, ới ới hò !

Trăng Đồng Xoài chiến công sáng tỏ
Xác quân thù Bình Giã ngả nghiêng
Hò ới, ới ới hò !

Anh về, có nhớ trăng hiền
Thì xin cố giữ lời nguyền nước non
Hò ới, ới ới hò ! Hò ơi, ơi ơi hò !


http://www.youtube.com/watch?v=baneTJtXO0w


Đi Từ Ruộng Đồng Bao La
Trình bày:


Hà Thanh - Duy Khánh
XUÂN nào tôi đưa em về
Tết tha phương trắng khung trời hoa tuyết
Chiều nghiêng nắng úa trải khắp nẻo đường
Biết bao giờ đón Xuân trên đất Việt?
Để tình nồng sưởi ấm áp quê hương

Kể từ khi quê ta tràn bóng giặc
Anh thân trai thời loạn biệt kinh kỳ
Đêm trừ tịch một mình trên vọng gác
Buồn đón Xuân về, buồn tiễn Xuân đi

Đồn vắng, trời khuya anh ghì báng súng
Sương gió lạnh lùng thấm áo chinh nhân
Đây tuyến lửa lọt giữa lòng thung lũng
Đêm sáng hỏa châu, pháo rít xa gần

Còn tôi đó, dừng quân nơi cuối bãi
Ngồi nhớ Xuân nào, rất mộng rất thơ
Áo tím, dù hoa thanh xuân cô gái
Thoáng lạc hồn tôi rung cảm dại khờ

Rồi một sáng ánh hồng lên rực rỡ
Rừng cờ vàng phấp phới rợp trời xanh
Người em nhỏ thẹn thùng và bở ngở
Tiễn bước tôi theo nhịp khúc quân hành

Chiều tiền đồn mây giăng mờ đỉnh núi
Cánh thư từ em gái nhỏ hậu phương
Những dòng thư mát êm như mạch suối
Nhen nhúm hồn tôi ước mộng bình thường

Ba Mươi Tháng Tư, miền Nam ta mất!
Giặc bắt tôi giam cầm tận Hà Đông
Em dầu dãi, đêm ngủ không tròn giấc
Phải nuôi con bé dại, phải nuôi chồng


Bao năm tháng bị đọa đày điên đảo
Trời mờ sương, lao dịch chốn rừng sâu
Thủ đoạn giết mòn bởi trò tẩy não
Chỉ mấy hôm, sương trắng nhuộm mái đầu !


Thân tù tội, ôi đau thương nghiệt ngã !
Khi tôi về, em tóc bạc phơ phơ
Mười mấy năm rồi ngược xuôi vật vã
Lòng kiên trinh buổi đoàn tụ em chờ


Tết viễn phương, giữa đông dài lạnh lắm
Tuyết chập chùng, hồ nước đóng thành băng
Đón Xuân về, lòng riêng sầu thăm thẳm
Nhớ cố hương hiu quạnh mấy mùa trăng


Xuân nơi đây không gian choàng áo tuyết
Gió lạnh lùng và nắng chiếu lung linh
Khi nào cờ vàng rợp trên nước Việt
Tôi đưa em về rũ bụi đăng trình


DƯ THỊ DIỄM BUỒN

NỬA ĐÊM BIÊN GIỚI" - nhạc sĩ Anh Bằng
Hoàng Oanh hát 

Mẹ ơi! Biên cương giờ đây,
Trời không mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang

Khèn trong buôn xa còn vang,
Nhịp chiêng tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao!

Đêm nay, quê nhà, mẹ hiền còn thương đứa con đi chốn xa mờ
Không than, không sầu, đầu non cuối ghềnh ôm tay súng canh rừng sâu
Con vui sông hồ, vì yêu giống nòi mà dặn lòng đi tranh đấu
Thương ai dãi dầu, nắng sớm mưa chiều
Có con dế mèn nỉ non ru canh thâu

Mẹ ơi! Quê hương lầm than,
Làm trai hai vai nợ mang
Ngồi đây trông sương khuya trắng trên đầu non
Con biết quê xa mẹ mong chờ tin chiến công con

Thời gian không phai lòng son,
Trường Sơn không ngăn tình con
Ngày nao con ra đi nhớ câu mẹ khuyên
Yêu nước như yêu mẹ hãy còn giữ trong linh hồn.


Còn đây



Mỗi độ Tết về nhớ xót xa
Nhớ Xuân khói lửa khắp sơn hà
Thảm trời sầu đất tràn bão lửa
Bao nhiêu lễ giỗ! Tết cố đô!

Nhớ Xuân quê mẹ, nhớ thiết tha
Nhớ người chinh chiến, Tết vẫn xa
Sơn khê, chiến địa, dầm sương muối
Giữ nước, quên mình, xuân đã qua!



Còn mãi trong nhau tiếng võng ru
Lời hát Dạ Lan giữa đêm mù
Còn trời An Lộc vang chiến sử
Cổ thành Quảng Trị đón nhau về



Còn đuốc Mê Linh sáng ngàn năm
Chi Lăng hồn nước tỏa bao lần
Tiếng trống Hà Hồi thôi thúc giục
Còn gió Bạch Đằng dâng sóng thu



Còn giòng máu Việt chảy trong tim
Còn núi sông thiêng tiếng uất hờn
Còn bóng hoàng kỳ bay phất phới
Xin giữ đời nhau, một niềm tin

Cho ngày quang phục hồn non nước


Những Ngôi Mộ Phủ Lá Cờ Vàng
Hoàng Dũng


Tôi bật khóc khi nhìn những ngôi mộ
Phủ cờ vàng trên nấm đất còn tươi
Anh ra đi đem hạnh phúc cho người
Đem xương máu hòa tan lòng đất Mẹ

Anh ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ
Áo học đường vừa biệt mái đầu xanh
Khi người yêu còn cắp sách học hành
Nay thổn thức nhìn anh nằm im ngủ

Anh để lại người Mẹ già ủ rủ
Đang chờ con nơi chiến tuyến phương xa
Mong an bình sẽ đến khắp mọi nhà
Chừ gục ngã , Mẹ già chờ tuyệt vọng

Anh để lại người vợ hiền bé bỏng
Với con trai bập bẹ gọi tên ba
Vấn khăn tang hoen mắt lệ nhạt nhòa
Đời quá phụ tuổi đời đầy hụt hẫng

Anh để lại bạn bè ngoài chiến trận
Vẫn từng đêm ghìm súng dưới hỏa châu
Ngăn quân thù từng bước nơi tuyến đầu
Cho non nước thêm ngày vui kiến thiết

Anh luôn có trong lòng dân nước Việt
Nhớ ơn anh : những chiến sĩ Cộng Hòa
Vinh danh anh từng bản nhạc hùng ca
Anh nằm xuống cho muôn người được sống

Xin được thắp nén hương , tâm lắng động
Đứng chào nghiêm đưa tiễn những anh linh
Sử oai hùng ghi đậm dạ trung trinh
Người chiến sĩ Cộng Hòa dân nước Việt .



Anh từ chinh chiến ra đi
Khoác chinh y để khắc ghi lời thề
Anh đi không hẹn ngày về
Khi quê hương vẫn, một bề đạn rơi…..

Khe Sanh, khói lửa ngút trời
Rã rời thân xác, rối bời khói sương
Hạ Lào, đốt cháy vấn vương
Lửa hờn, khói hận gửi thương nhớ về

Pleime, đồn trấn sơn khê
Đồi trơ cỏ cháy, u mê lòng người
Dakto, hỏa pháo ngập trời
Khói mù, gió cuốn vạn lời tiếc thương

An Lộc, đạn pháo bốn phương
Trong vòng vây hãm, Bình Long giặc đầy
Cổ Thành, uất tận chân mây
Quyết tâm dựng lại cờ bay…. lệ nhòa

Charlie, đạn tải pháo xa
Kinh hoàng địa chấn, đồi pha máu đào…

Thế rồi có phải chiêm bao?
Chí trai chưa thỏa, chiến bào đã rơi…
Giã từ chinh chiến bồi hồi
Anh, thân phận lạc giữa đời xót xa ….


Trần Quang Việt


Sàigòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về



 - Ngậm Ngùi
Chinh Chiến
 

Bảo Chương
Khánh Ly hát

Tôi đã gặp em bỡ ngỡ tình cờ
Đôi mắt ngây thơ đến từ thành phố
Ngục tù tối tăm nói với cuộc đời
Sàigòn có vui ? Sài gòn có vui ?
Em ngước nhìn tôi cúi đầu nói nhỏ
Còn gì nữa đâu thành phố mộng mớ
Thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ
Sài gòn chỉ vui khi các anh về .
Tôi sẽ về đòi lại quê hương đã mất
Tôi sẽ về cùng em lau khô hàng nước mắt
Tôi sẽ mời em dạo chơi phố xá tươi vui
Những con đường tình, trường xưa công viên tràn nắng mới
Tôi sẽ về quỳ bên thánh giá bao dung
Tôi sẽ nguyện cầu cho tình yêu và cuộc sống
Đem tiếng khóc cười dâng đời khúc hát say mê
Cám ơn Sài gòn tôi sẽ trở về
Sài Gòn mến yêu ! Người tình dấu yêu ! Tôi sẽ trở về !


http://www.youtube.com/watch?v=dL-qPb9nNAM

TRÊN XỨ BUỒN MUÔN THUỞ


 Souvenir, souvenir, que me veux-tu? [...]
Kỷ niệm, kỷ niệm, ngươi muốn gì nơi ta?
Paul Verlaine
Kim Thanh
1. Đang dạy tại Collège Français Nha Trang, tôi nhận được lệnh nhập ngũ. Đó là vào cuối 1965, cách đây đúng bốn mươi sáu năm. Dĩ nhiên, lúc ấy còn trẻ, đang có công ăn việc làm, tôi đâu phấn khởi hồ hởi gì. Lại nữa, chiến tranh leo thang từng ngày, khốc liệt hơn, cũng ớn. Trường Pháp tôi dạy là trường tư đối với chính phủ Việt Nam và tôi không xuất thân Đại Học Sư Phạm, nên chuyện hoãn dịch, hoặc biệt phái, khó có chút hy vọng nào. Bạn bè thuộc “Nhóm Nhân Sĩ Trí Thức Công Giáo” Nha Trang, trong số có Kỹ sư Khí Tượng Trần Văn Trí, các giáo sư Võ Tánh Ngô Đức Diễm, Nguyễn Văn Thơ..., nghe tin, liền tìm cách chạy chọt để tôi được hoãn dịch vài năm.
      Bác sĩ tại quân y viện Nguyễn Huệ khám tôi là Nguyễn Đình Lý, sau này thành dân biểu, lúc bấy giờ cũng thuộc Nhóm "Nhân sĩ Trí Thức Công giáo" Nha Trang, gặp nhau hàng tuần, đã được các bạn gửi gắm, “có cách nào cho nó hoãn dịch được không?”. Khi khám sức khoẻ, Bác sĩ Lý, vì lương tâm nghề nghiệp, đã cho tôi điểm tối ưu, mọi thứ đều "chất lượng", quá “đạt yêu cầu”. Nghĩa là chạy trời không khỏi nắng. Tôi không buồn, vì cho rằng anh ta làm đúng nhiệm vụ, cũng không xin xỏ gì cả, bình thản xách gói ra đi, nhưng các bạn khác thì trách móc anh mãi. Bây giờ nghĩ lại, tôi phải cám ơn anh. Bởi vì anh đã tạo dịp cho tôi rèn luyện thể xác và tinh thần, có nghị lực, bình tĩnh trước những gian nguy, hiểu thế nào là đời lính, và sau đó, đời tù cải tạo, đời thuyền nhân.
     Vào Thủ Đức, khóa 20. Ở cùng đại đội, trung đội với Nguyễn Văn Sở, sau này là Đại úy dạy Anh văn Võ Bị, và Nguyễn Trọng Nho, vua xuống đường một thời, đang là thẩm phán ở Quận Cam. Một trong bốn trung đội trưởng là Thiếu úy Nguyễn Ngọc Toàn, hiện ở Arizona, gọi là Toàn Tây Lai, bạn học cũ ở Nha Trang. Toàn gặp lại tôi, mừng lắm, nhưng để tránh tiếng phe đảng đã gửi tôi vào trung đội của Thiếu úy Lương (già) rất hiền lành, sau khi dặn dò đủ thứ. Trong số huấn luyện viên chiến thuật tôi nhớ có Đại úy Nguyễn Minh Mẫn, ở chiến trường về, đẹp trai, chân đi hơi khập khiễng, vì bị thương? Sỡ dĩ tôi nhắc đến ông là vì sau này đọc báo thấy ông trở thành người chồng thứ mấy của mỹ nhân thần tượng Thanh Nga. Là một SVSQ cũ của ông, tôi cũng thấy “thơm” lây, mừng cho ông.
     Giữa năm 1966, tôi “tốt nghiệp” Thủ Đức và được về ngành Tâm Lý Chiên (lúc ấy chưa có danh xưng Chiến Tranh Chính Trị). Phải ở lại Sài Gòn ba tháng học bổ túc Tâm Lý Chiến-Dân Sự Vụ, cùng với khoảng mười lăm đồng tân chuẩn úy. Tâm Lý Chiến là ngành mới mở, những huấn luyện viên chưa ông nào ở đơn vị, tiếng VC gọi là chưa “đi thực tế”, chỉ giở tài liệu ra đọc rào rào, trong số tôi chỉ còn nhớ ông Thiếu úy tên Dzư Văn Tâm, mặt rải rác vài nốt mụn đỏ, ít nói, lạnh lùng, không bao giờ cười, trông khó đăm đăm như người bị táo bón lâu ngày. Về sau, mới biết ông là nhà thơ “hũ nút” nổi tiếng, Thanh Tâm Tuyền, thuộc nhóm Sáng Tạo thời ấy –người mà tôi được gặp lại trong chuyến tàu Sông Hương ra Bắc cải tạo và tại K5 trại Vĩnh Phú, nhưng không bao giờ kết thân được.
      Mãn khóa, bốc thăm chọn đơn vị. Tôi chỉ mong được về Nha Trang, để gần nhà, nhưng không có chỗ. Bốc trúng Quân đoàn I, ở tận miền Trung. Một anh bạn, quê Đà Nẵng, phải đi Pleiku. Anh năn nỉ tôi đổi đơn vị. Lúc ấy, đối với tôi Pleiku và Đà Nẵng đều xa lạ, đi đâu cũng được, nên dễ dãi đồng ý. Anh mừng quá, đãi tôi một chầu phở. Sau này, nghe nói, anh bị phục kích chết trong một chuyến công tác.
2.
      Tôi được về Nha Trang nghỉ phép hai tuần, trước khi lên trình diện Quân đoàn II, đúng ra Tiểu đoàn 20 Tâm Lý Chiến. Mẹ tôi âm thầm khóc gần cạn nước mắt, bởi mẹ cũng như tôi tưởng rằng Pleiku là chốn khỉ ho cò gáy, rất nguy hiểm. Mà quả như thế thật, vì từ máy bay quân sự xuống phi trường Cù Hanh, tôi thấy phong cảnh quá tiêu điều, lạnh lẽo. Xa xa nghe ầm ì tiếng đại bác, chưa biết của bên nào. Quá giang một xe GMC nhà binh về doanh trại Quân đoàn, gặp mùa mưa, đường vắng vẻ, trơn ướt và bùn đỏ quyện vào botte de saut và quần treillis, trông nản quá. Ngủ qua đêm tại trại gia binh, trong gian nhà của gia đình anh tài xế gồm một vợ hai con nhỏ.
      Sáng hôm sau, trình diện Tiểu đoàn 20 TLC. Chưa kịp gặp mặt ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng, một thi sĩ chuyên làm thơ tán ca sĩ, thì bị anh sĩ quan quân số bán cái sang Đại đội 4 Dân Sự Vụ, do một Đại úy lớn tuổi tên Rô (quên họ), tục gọi “ông già Rô”, chỉ huy. Ông là người Nam, giọng nói rổn rảng, gọi cấp dưới là “mày tao” tuốt luốt, dù quen lâu hay mới gặp lần đầu, một cách bình dân, thân tình. Trong đại đội tôi nhớ còn có Thiếu úy Richard Hải phụ tá, tên thì Tây, nhưng nói tiếng Bắc rặt, luôn đeo kính dâm dù mưa hay nắng, vẻ ngoài có vẻ “ngầu” như một tay anh chị, mà thực ra rất dễ mến. Liếc qua sự vụ lệnh tôi trình, ông già Rô hỏi liền một khi:
    - Nguyễn Kim Quý hả, cái tên gì mà nghe như tên con gái dzậy mày? Mày muốn về trung đội nào, Ban Mê Thuột, Bình Định, hay Kontum?
     Đâu biết ất giáp gì. Toàn là những địa danh xa lạ, xa lạ như cuộc đời nhà binh mới cắt chỉ của tôi. Tôi không biết rằng, và ông già Rô giải thích, thời kỳ đó Tiểu đoàn Tâm Lý Chiến (trực thuộc Cục Tâm Lý Chiến) và Đại đội Dân Sự Vụ Biệt Lập có cùng mục tiêu, công tác cho dân, với dân, vì dân, nhưng tách rời về mặt điều hành và chỉ huy. Tôi trả lời:
    - Thưa Đại úy, tôi có ông cậu ruột, Thiếu úy Lê Văn Cậy, đang ở trung đội 403 Dân sự vụ, không biết đóng tại đâu. Xin Đại úy cho tôi về với ổng.
     Ông già Rô bắt đầu ngó kỹ tôi:
     - Ủa, thằng Cậy là cậu mày hả? Nó mê xì phé lắm, đang ở Ban Mê Thuột. Thằng Tải là Trung đội trưởng 403, dân chơi thứ thiệt. Được, tao cho mày về dưới đó. Richard, mày làm cho nó cái sự vụ lệnh, tuần sau đi. Bây giờ, Quý, mày ngủ tạm trong đại đội, chờ máy bay, cứ đi long nhong chơi cho biết mùi gái Pleiku.
      Nói xong, ông nháy mắt với tôi, cười cười. Mấy ngày ở Pleiku, cơm hàng cháo chợ, ngủ ghế bố. Phố xá thưa thớt. Tôi hay lang thang một mình giữa chợ đời để ngắm nghía những “em Pleiku má đỏ môi hồng”. Bạn đồng ngũ thổ công địa phương đều yên bề gia thất, khá bận rộn, không ai hưỡn để tháp tùng tôi được.
      Đi loanh quanh chán chê gần một tuần trên những con phố nhà quê lầy lội, cụt ngủn, “dăm ba phút quay về chốn cũ” (thơ Kim Tuấn?), chưa kịp biết “mùi em Pleiku” ra sao, thì có chuyến bay nhà binh rước xuống Ban Mê Thuột.
3.
      Xứ BMT. Buồn Muôn Thuở. Là đây sao? Phố vắng, nhưng cũng có người lác đác. Xe nhà binh tấp nập. Tôi nghĩ, không đến nỗi nào, có buồn cũng chút đỉnh thôi, làm gì mà muôn thuở? Đến phi trường quân sự L19, vừa ló đầu ra cửa máy bay, tôi thấy một chiếc jeep đang chờ, trên có ông cậu Thiếu úy, dáng cao gầy, điếu thuốc chưa đốt dính môi, và một thiếu úy khác còn trẻ, tầm thước, áo quần trận tươm tất, ủi thẳng nếp, cổ quấn một khăn quàng xanh dương. Tay bắt mặt mừng. Ông cậu giới thiệu:
      - Thiếu úy Phạm Văn Tải, Trung đội trưởng 403 Dân Sự Vụ, cùng khóa 15 Thủ Đức với cậu.
      Thiếu úy Tải nở nụ cười tươi, lộ một chiếc răng cửa bọc vàng. Xã giao, bặt thiệp, niềm nở, khiến tôi cảm thấy an vui. Trên đường vào thành phố, Tải bắt chuyện, ân cần hỏi han về sức khoẻ, gia thế, khởi đầu binh nghiệp thấy thế nào... Tôi trả lời chừng mực, vì mắt còn mải ngắm những hàng cây xanh biếc phơi mình trong tia nắng chiều vàng vọt và những căn nhà khang trang, nằm san sát bên nhau trên con đường đất lồi lõm hoặc trải nhựa phẳng phiu. Lại bụi đỏ, lại cái lạnh buốt xương của cao nguyên trong chiều hiu hắt, dù màn đêm chưa kịp buông. Tôi kéo chặt cổ áo jacket nhà binh. Hai ông Thiếu úy có vẻ quen khí hậu, ngồi tỉnh bơ. Vào phố, thấy những bàn thờ Phật bày ngoài đường, hoặc trước tư gia. Tôi thắc mắc:
       - Ủa, tại sao vậy cà? Cụ Diệm bị giết rồi mà, sao vụ này vẫn chưa dứt?
      Tải cắt nghĩa:
      - Mấy ông Phật giáo tranh đấu đưa Phật xuống đường chống đối chính phủ Trần Văn Hương. Cả tháng nay, lính Tiểu khu đi dọn dẹp bàn thờ, mệt nghỉ.
      Về đến căn nhà thuê, đường Huyền Trân Công Chúa. Bước vào thấy một gian lớn chia thành phòng tiếp khách và phòng ngủ ngăn cách nhau bởi một tấm bình phong bằng nhựa mờ đục sơn hình mỹ nữ, chim chóc, và hoa hòe hoa sói. Năm chiếc giường bố nhà binh, đặt cạnh nhau dành cho bốn sĩ quan ma cũ và một cho tôi, ma mới. Một chiếc giường gỗ lớn, có nệm êm, ông cậu tôi nói, là của vợ chồng Trung đội trưởng Tải. Bà vợ mang bầu, về quê Lâm Đồng tĩnh dưõng, và Tải trở thành độc thân tại chỗ. Nghĩa là căn nhà chứa năm sĩ quan độc thân thiệt và một độc thân giả. Một số sĩ quan của Trung đội mướn nhà khác, hoặc ở với thân nhân, như Thiếu úy Lê Đồng, trung đội phó, cùng khoá 15 Thủ Đức với Tải và Cậy, cũng mê đánh phé như ông cậu tôi, ở nhà người vợ chưa bao giờ (chịu) cưới.
       Phía sau căn nhà là một phòng nhỏ hơn, đầy đủ tiện nghi, lối đi riêng bên hông, do hai cô giáo độc thân mướn, tên Nga và Thu, người Bắc. Hai cô có vẻ hiền thục, đoan trang, đẹp nhưng không lồ lộ, có duyên ngầm. Buổi tối, biết có một chuẩn úy tân láng diềng đến, hai cô nấu chè đem qua, coi mắt. Chấm đậu, cho nên về sau thỉnh thoảng bị đau, hoặc đi hành quân về, tôi được hai cô cạo gió và nấu cháo gà cho ăn. Ngược lại, chúng tôi rất quý hai cô.
       Tôi nhớ trong căn nhà độc thân ấy, ngoài ba thiếu úy Tải, Cậy, Phúc và tôi, còn có Chuẩn uý Võ Văn Quang. Quang, mập lùn, dáng đi bệ vệ, là một autodidacte suốt ngày không rời quyển Anh văn “English for to-day”, ở đâu, lúc nào cũng nói lảm nhảm một mình những câu trong sách, và chê tiếng Anh của tôi đặc giọng Tây, nghĩa là rất tệ. Quang được anh em đặt nickname là Quang Học Giả. Lúc ấy, tôi trẻ nhất trong đám, và lon mới nhất, nên không dám nói nhiều, chỉ nhìn thôi, đóng vai con nai vàng ngơ ngác.
       Ngày tôi đến, lúc tan sở, tất cả sĩ quan Trung đội 403 DSV kéo về “tư dinh Huyền Trân Công Chúa”, chất đầy một xe. Anh nào cũng bắt tay tôi, lòng mừng thầm từ nay có thêm sĩ quan nên phiên đi hành quân được nới rộng ra, lâu hơn. Họ giải thích, Trung đội Dân Sự Vụ, gồm toàn sĩ quan, chia doanh trại với Đại đội Tâm Lý Chiến chỉ huy bởi Thiếu úy Nguyễn Văn Mỹ và Thượng sĩ Nguyễn Hữu Đạo, một thi sĩ có hạng của Ban Mê Thuột –gồm toàn hạ sĩ quan và binh sĩ, có cả người Thượng Ra-đê, như Trung sĩ Y Ksor, biết nói chút ít tiếng Pháp. Mỗi khi Đại đội có lệnh đi công tác theo Sư đoàn 23, Thiếu úy Mỹ lập một toán hỗn hợp gọi là TLC-DSV và Thiếu úy Tải cử một sĩ quan, luân phiên, làm trưởng toán. Trung bình mỗi tháng đi công tác hai lần, mỗi lần trên một tuần, đôi khi cùng một lúc cần đến hai, ba toán theo những cánh quân khác nhau. Về vũ khí thì ngoài cây Colt do trung đội phát, để đeo cho oai, tôi được ông cậu cho cây carbine tự động, báng xếp rất gọn, của riêng ông.
      Hàng ngày, Thiếu úy Tải chở chúng tôi đi làm trên xe jeep, ngang qua Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 23. Vào câu lạc bộ Đại đội do vợ một hạ sĩ thầu, để uống cà phê, ăn bún bò, bún riêu, dĩ nhiên ghi sổ, bắt đầu từ giữa tháng. Những ngày không đi hành quân, ở trại, các sĩ quan không biết làm gì để giết cho hết thời gian. Thiếu úy Tải lại dễ dãi, không bày việc để hành anh em, như đa số các chỉ huy khác, miễn là đến phiên công tác ai cũng phải chu toàn nhiệm vụ. Ăn sáng xong, rủ nhau ra Chợ Nhỏ sát bên doanh trại uống bia, liếc mắt đưa tình cô chủ tiệm Nam kỳ nho nhỏ xinh xinh, đánh bi da, ăn trưa. Riết rồi các bà các cô trong chợ biết mặt chúng tôi hết.
    
      Lần đầu công tác tôi phải dẫn một toán TLC-DSV tăng phái cho một tiểu đoàn thuộc Trung đoàn 45 của Trung tá Võ Văn Cảnh hành quân giải tỏa Buôn Hô, bị VC tạm chiếm. Buôn Hô cách 30 km về hướng Bắc Ban Mê Thuột, trên đường đi Kontum. Đó là một quận lỵ dân cư thưa thớt, gồm cả Kinh lẫn Thượng, đa số làm rẫy. Đi theo một tiểu đoàn khác là toán của Thiếu úy Phan Văn Tần. Lần ấy Tiểu đoàn của tôi đụng nặng, nên toán TLC-DSV không thể làm công tác, nghĩa là bắt buộc phải chiến đấu như ai. Cũng súng cầm tay nạp đạn sẵn sàng, bám sát bộ chỉ huy Tiểu đoàn. Ông Đại úy Tiểu đoàn trưởng người Quảng, rất gan dạ, có thói quen nói tiếng Anh mỗi khi cho lệnh di chuyển, “léc xì gau, gau” (let’s go, go!), và luôn miệng nhắc tôi, “khi nàu tui roa lẹng muối được béng nghe choa” (khi nào tôi ra lệnh mới được bắn nghe cha). Tiếng súng đủ loại vang rền. Đạn rít qua nón sắt. Tổng cộng, trận đó, riêng tôi bắn hết ba băng carbine vẫn chưa đã, không biết có trúng ai không, nhưng thấy kích thích được tham chiến trực tiếp. Phấn khởi lắm. Đến khi một binh sĩ của tôi bị thương ở cánh tay, máu chảy xối xả, miệng rên đau, và một mảnh đạn tạt qua vai trái tôi, làm rách một đường áo, nhưng không nặng lắm, tôi hiểu rằng tôi đang đối diện cái chết thực sự cận kề và chiến tranh không phải là một trò đùa, hay một thủ đoạn chính trị. Tôi cũng hiểu rằng thái độ của những tên sợ chết, trốn quân dịch, như Trịnh Công Sơn, có thể được thông cảm phần nào, nếu chúng đừng che đậy sự hèn nhát dưới chiêu bài phản chiến một chiều, làm lợi cho VC. Vài phút sau, Trung úy Mỹ, khoá 16 Võ Bị, một đại đội trưởng đẹp trai, dáng phong trần, đứng gần tôi, bị bắn bay nón sắt, vỡ óc. Chở về Ban Mê Thuột ngay, và tôi nghe kể, người yêu của anh, vốn là một vũ nữ, tên Diễm, đẹp nhất của bar Thế Giới, Ban Mê Thuột, đã ôm xác anh khóc như mưa như gió, và xỉu lên xỉu xuống, rất tội.
      Sau lần baptême du feu (rửa tội bằng lửa) dữ dằn ấy, tôi tự thấy mình “chì” hơn, “lớn” hơn, và được Thiếu úy Tải đối đãi ân cần, coi như anh em. Tôi về BMT được hai tháng thì ông cậu phải xuống Qui Nhơn để nắm Đại đội TLC dưới đó, và Thiếu úy Phúc cũng đổi đi đâu, không rõ. Còn lại mình tôi, Tải và Quang trụ trì căn nhà rộng, trở thành vắng vẻ. Đêm khuya, bấy giờ tôi mới để ý, nghe trên trần có tiếng như của một người bị xiềng, lê từng bước chầm chậm, xích sắt khua loảng xoảng, ớn xương sống. Quang nói, căn nhà này là của một bà có chồng sĩ quan bị rớt trực thăng chết cháy đen. Như vậy, nhà có ma, Quang kết luận, cố ý dọa tôi. Tôi càng ớn hơn. Và đêm nào Tải và Quang đi vắng, tôi phải mang chăn gối vào Trung đội hoặc sang nhà Thượng sĩ Nguyễn Hữu Đạo gần đó ngủ ké, để trốn ma.
     Nửa tháng sau, có chuẩn úy mới ra lò Phạm Trọng Khôi đến “nhập hộ khẩu” căn nhà ma. Khôi là kỹ sư canh nông từ Pháp về, đã lập gia đình, con của bác sĩ Phạm Trọng Nhân Đà Lạt. Khôi dễ thương, vui tính, tóc lùi khá nhiều về phía sau gáy, để lộ một vầng trán cao, thông minh, được chúng tôi đặt tên là “Khôi Trán Cao”. Anh được cấp một giường bố, nằm sát tôi, và thỉnh thoảng hai đứa nói chuyện nho nhỏ bằng tiếng Pháp với nhau. Đêm đầu, anh cũng nghe tiếng xích sắt trên trần nhà, và cũng hoảng như tôi.
     Thiếu úy Phạm Văn Tải là nhạc sĩ dương cầm và phong cầm có hạng. Sau giờ làm việc, anh chơi đàn tại một vũ trường, hình như tên Mỹ Cảnh, tôi không nhớ rõ, đường Tôn Thất Thuyết, cho đến nửa đêm. Anh nhờ tôi lái xe đưa và đón, và mỗi tháng nhét vào túi tôi một, hai trăm “uống cà phê”. Có khi bảo tôi ở lại phòng trà uống bia free, ngắm chùa các vũ nữ thân gầy uốn éo cho đời mua vui. Dáng dấp Tải nhanh nhẹn, hào hoa phong nhã, nói chuyện với các cô ngọt như mía lùi. Cho nên ai lỡ dại giới thiệu bồ mới với anh là trước sau gì bồ cũng đơn phương mê anh, mặc dù anh rất đứng đắn, đâu ra đó, không giở trò tán tỉnh ai bao giờ.
      Thời còn ông cậu tôi, thỉnh thoảng Tải tổ chức khiêu vũ tại căn nhà ma, mời tất cả sĩ quan Trung đội, hai cô láng giềng Thu, Nga, và bạn bè, các ca sĩ Đại đội, Tiểu khu, hay đài phát thanh Ban Mê Thuột, trong số có hai cô Thượng khá xinh, và vũ nữ, ca sĩ phòng trà tham dự. Có cả Thiếu úy Đội trưởng Quân Cảnh Nguyễn Vinh Hiển. Đó là những đêm vui thực sự, đối với mọi người. Vì hát sai nhịp và nhảy dở, tôi được Tải chỉ định làm trưởng ban tiếp tân, nghĩa là quét nhà, dọn dẹp giường chiếu nhét vào kho phía sau, và mặc veste, đeo cà-vạt đứng ở cửa chào đón quan khách, và trong tiệc mang khay bia, nước ngọt đi mời vòng vòng. Ông cậu Cậy, Quang, và các sĩ quan Trung đội nhảy cũng cỡ “gà chết” giống tôi, nhưng họ can đảm hơn, điệu nào cũng dắt đào ra... sân. Tôi không có đào. Thấy bơ vơ tội nghiệp, Tải gửi tôi cho một cô vũ nữ đẹp nhất trong đám, nước da trắng muốt, tên Mộng Lan, từ một vũ trường Sài Gòn lên Cao nguyên lập nghiệp, với những lời ân cần dặn dò, “ảnh nai tơ lắm, còn trinh hay không thì anh không bảo đảm, cưng nhẹ nhẹ tay một chút nghe”. Lan cười, nheo mắt ngắm tôi từ đầu đến chân một hồi, như nài xem ngựa đua:
     - Trông mặt mũi, anh cũng đẹp trai. May phước cho anh. Nghe anh Tải nói anh là dân trường Tây mà sao cù..., ý quên, em muốn nói, mà sao không biết nhảy?
     Cô vừa tránh kịp chữ “lần”, tôi đoán. Tôi ấp úng:
     - Thì tôi cũng biết sơ sơ. Đâu phải anh trường Tây nào cũng giỏi nhảy đầm đâu. Từ nhỏ tới lớn tôi có đi vũ trường bao giờ, vì vừa nhà quê vừa không có tiền vừa phải học bài. Kìa như anh Khôi Trán Cao kia, du học ở Pháp về, mà nhảy đâu khá gì hơn tôi.
     - Được rồi, để em dạy anh vài điệu.
    Nói xong, Lan kéo tay tôi lôi vào sàn nhảy. Tôi run lên. May quá, lúc ấy vừa xong bản valse, ban nhạc bắt đầu chơi điệu slow, là điệu mà dù cù lần đến mấy ai cũng phải biết. Ánh sáng bỗng hạ xuống mờ ảo. Lan ôm tôi, dìu bước, chủ động. Mái tóc thoảng hương, dìu dịu. Tôi cũng liều nhắm mắt đưa chân. Một lúc sau, cô ngả đầu vào ngực tôi, thúc giục:
     - Ôm em sát, ôm mạnh chút nữa đi anh. Slow là phải như vậy, sĩ quan gì mà nhát như thỏ đế. Em là ma hay sao mà anh sợ dữ vậy?
     Nghe nhắc đến ma, tự nhiên tôi ngước nhìn trần nhà. Trả bài xong, về lại ghế ngồi, trong khi Lan cặp với một chàng “kỵ mã” khác, thỉnh thoảng đưa tay về phía tôi hôn gió, cười ghẹo, tôi ngắm Tải và các bạn anh say sưa “múa đôi” (chữ VC), điệu nào cũng bay bướm, bước đi quá đẹp, mà phát thèm. Có một anh khách tôi quen mặt thường nhảy với chỉ một cô bồ ốm nhom, mỗi lần sắp kết thúc bài tango, đều làm một động tác rất trademark mà tôi cứ tấm tắc khen mãi, là vật ngửa cô xuống gần chạm sàn, hai chân duỗi song song giữa chân anh, còn anh cúi sát trên người cô, mặt thộn ra, mắt lim dim –điều mà tôi nghĩ nếu phải làm tôi sẽ từ chết tới bị thương, nghĩa là té gãy lưng. Và dịp đó cũng là lần đầu tôi được ôm nhảy miễn phí tại gia với một vũ nữ thực thụ. Và là lần cuối. Vì một lúc sau, giữa đám quan khách có một anh Trung úy An Ninh Tiểu khu hay Sư đoàn, tôi không nhớ rõ, rất hách xì xằng, ngà ngà say và hình như giành đào, thình lình rút súng bắn “pằng pằng” mấy phát lên trần nhà ma của chúng tôi. Quân Cảnh đến lập biên bản. Trách nhiệm, dĩ nhiên, thuộc về chủ nhà và trưởng ban tổ chức Phạm Văn Tải. May có Thiếu úy Nguyễn Vinh Hiển, mọi rắc rối thông qua. Nhưng từ đó, Tải không mở party nữa. Tôi đoán con ma trên trần muốn phá chúng tôi vì ồn ào quá, động ổ của nó.
4.
    Tôi còn dẫn toán đi công tác mấy chuyến nữa. Đặc biệt, một lần biệt phái hai tuần cho chi khu Kiến Đức, tỉnh Quảng Đức, cùng với toán của Thiếu úy Nguyễn Cảnh Lộc, bạn học cũ ở Nha Trang. Liên toán có nhiệm vụ làm công tác Dân sự vụ, lần này hướng dẫn vệ sinh, tại các ấp Thượng B’râu, còn gọi là “Thượng Cà Răng Căng Tai”. Chi khu cung cấp thông dịch viên và phương tiện, cuốc xẻng chẳng hạn, nếu cần. Lần đầu đến một buôn Thượng, lại gặp lúc trời mưa, đường trơn và đầy bùn đỏ, xe bị trợt bánh, phải xúm nhau đẩy, tôi thấy nản quá. Họ ở dơ thật. Người nằm ngủ trên sàn, trâu bò, heo gà vịt ngủ dưới sàn, phân súc vật trộn lẫn, nặng mùi. Nước ăn và nước rửa lấy từ một con suối duy nhất. Chưa nói đến tục xăm mặt, trai gái, già trẻ gì cũng phải mài hết hai hàm răng, và kéo hai tai thành một lỗ bự đặt vừa một đồng xu, trông rất ghê, nhất là khi họ cười. Thông dịch viên cắt nghĩa: “Đàn bà con gái phải như vậy mới được gọi là đẹp”. Liên toán thay nhau đào giếng nước, hố vệ sinh cho dân, trong khi mỗi ngày y tá khám bệnh, phát thuốc. Đào xong, họ lại không đi vào hố, và buổi sáng trở lại, chúng tôi thấy phân người rải rác khắp lối. Cái giếng cũng bị bỏ trống, dân vẫn rủ nhau ra suối. Quận Kiến Đức buồn rợn người, lẻ tẻ có vài nóc gia người Kinh. Khi màn đêm buông xuống sương mù bao phủ như một dải lụa trắng. Đứng trên lô cốt, tôi ngắm trăng sao, buồn nhớ quê nhà. Xa xa, một vùng có ánh đèn lung linh hắt lên nền trời. Một lính chi khu bảo tôi: “Phía đó là Căm Bốt đó, ông thầy!”.
     Một lần khác, tôi phải dẫn một toán đến Lâm Đồng theo tiểu đoàn 22 Biệt Động Quân hành quân giải tỏa một đồn điền cà-phê giữa rừng, bị VC chiếm giữ. Đến nơi thì chúng đã “chém vè” (rút lui) trước, bỏ lại một kho gạo và hai máy phát điện, và Tiểu đoàn tiến quân dễ dàng, không tốn một viên đạn. Chỉ có vài tên du kích bị bắn chết. Tuy nhiên, tất cả phải ở lại đấy hơn một tuần lễ, và toán tôi không làm gì cả, vì không thấy dân đâu, đêm mắc võng ngủ giữa hai thân cây, ngày theo tiểu đoàn đi lùng địch, ăn gạo sấy và đồ hộp Mỹ.
     Sau chuyến này, tôi có thể được nghỉ một tháng hơn, tính theo phiên, nếu không có công tác đòi hỏi bất ngờ. Một buổi chiều, trở về nhà, Thiếu úy Tải nói riêng với tôi:
     - Trung tá Trung đoàn trưởng 45 Võ Văn Cảnh mới gọi tớ, ổng nghe nói trong trung đội mình có một sĩ quan trước là giáo sư Pháp văn, tớ mới nghĩ đến cậu...
    Tôi cắt ngang:
    - Để làm gì?
    - Ông đang tìm một giáo sư đến nhà dạy kèm Pháp văn cho ba người con của ổng.    
    Tôi lưỡng lự:
- Đây có phải là lệnh?
    - Không. Ổng nói ổng sẽ trả tiền dạy. Cậu có thể từ chối, ổng sẽ đi kiếm người khác, không sao cả. Vả lại, ổng không chỉ huy trực tiếp tụi mình, cho nên cậu không ngại nếu từ chối. Nhưng tại sao phải từ chối?
    Tải để tôi tự do suy nghĩ một ngày. Tôi hỏi ý kiến Khôi Trán Cao, đang nằm đọc sách. Khôi ngồi nhổm dậy, chậm rãi nói: “Nên lắm chứ, toa có đầy đủ điều kiện. Moa muốn, cũng chưa chắc được. Không phải hễ nói tiếng Pháp được, như moa, là dạy được. Phải chuyên môn!”
    Tôi đồng ý. Và chiều hôm sau, đúng giờ hẹn, Trung tá Cảnh trong bộ đồ dân sự, đích thân lái xe jeep nệm bọc vải trắng dành cho Trung đoàn trưởng đến căn nhà ma đón tôi về tư thất của ông. Vừa lái, ông vừa hỏi về gia thế, đời lính, công tác v.v... đủ chuyện, một cách rất thân tình, gọi tôi bằng “thầy”, cười tươi, không còn vẻ oai nghiêm, dõng dạc như khi ông thuyết trình hành quân tại Sư đoàn. Đó cũng là lần đầu tiên tôi nói chuyện riêng với ông, được quan sát ông rõ gần: ông cao lớn, mặt trắng trẻo, cương nghị, và theo tôi là mẫu người đàn ông đứng tuổi đẹp trai, hùng dũng. Tôi cảm thấy yên tâm.
    Tư thất có sân rộng, kiến trúc như một biệt thự nhỏ kiểu Pháp. Bà Trung tá đón tôi tại cửa. Dáng người quý phái, cử chỉ lịch sự, nói năng nhỏ nhẹ, bà cho tôi một cảm nghĩ rất tốt. Ba người học trò mới của tôi –hai cô lớn xinh đẹp và một cậu nhỏ mặt mày sáng sủa, thông minh– đang ngồi chờ tại bàn với sách vở sẵn sàng, thấy tôi vụt đứng dậy như máy, lễ phép “chào thầy”. Tôi yêu thích những học trò lễ phép. Nhìn hai cô, tôi nhớ những nữ sinh trạc tuổi ở trường Collège Nha Trang mà tôi đã bỏ lại sau lưng gần hai năm. Trung tá Cảnh giới thiệu:
- Đây Như Hường, chị cả, đây Bích Thủy, đây Huy.
Và dặn dò các con:
- Ráng học cho đường hoàng, đừng làm thầy phiền lòng.
    Ông bà lui vào phòng. Tôi nhìn quanh, thấy bên bức tường đối diện, sau tấm màn hoa mỏng, thấp thoáng những bóng “con nít” mà tôi đoán là đám em của Như Hường đang nhìn chăm chú, chỉ trỏ về phía ông thầy mới. Có tiếng cười khúc khích, rồi sau đó im bặt, tất cả biến mất theo lệnh của bà mẹ.
    Tôi cho một bài test thử trình độ. Cả ba cũng gần bằng nhau, mặc dù, dĩ nhiên, Như Hường khá hơn, và để tiện, tôi quyết định cho cả ba vào cùng một lớp, soạn chương trình riêng, chú trọng phần phát âm, nói chuyện, đặt câu, bắt đọc trước cho hôm sau một bài văn ngắn trong đó tôi sẽ nhân tiện giảng một số ngữ vựng và vài luật văn phạm, v.v... Mỗi bữa có trả bài (questionnaire) và viết một bài chánh tả (dictée). Trong suốt hai tiếng, tôi nói tiếng Pháp, trừ khi giảng văn phạm, và bắt tất cả nói tiếng Pháp, theo tôi. Tôi biết cả ba rất khổ, vì không quen. Như Hường là chị lớn tự nguyện nói nhiều làm gương, Bích Thủy, rất nhút nhát, có hỏi mới trả lời, nhưng học rất chăm. Huy thường im lặng, chờ thầy gọi đích danh mới nói vài câu ngắn. Một bữa gặp một bài dictée khó quá, Huy ngồi cắn bút, lặng lẽ khóc, tôi phải ngưng, và chuyển sang mục khác. Sau một tháng, tôi thấy cả ba có tiến bộ, hoặc ít ra, đã quen với lối học, nhất là bạo dạn nói tiếng Pháp hơn.
     Xong lớp, Trung tá Cảnh đích thân lái xe đưa tôi về nhà, và như thế trong suốt thời gian tôi dạy tại tư gia. Tôi thầm cám ơn ông về cách đối đãi rất ân cần, lịch sự với thầy giáo và nhất là, trong trường hợp của tôi, với cấp dưới. Một tối, lúc đưa về, ông hỏi hai ngày cuối tuần nếu tôi có muốn đi chơi đâu, hay đi lễ nhà thờ, ông sẽ cho tài xế đến đón đưa. Tôi cám ơn, và trả lời tôi nếu cần đi đâu sẽ nhờ xe của Thiếu úy Tải, không dám làm phiền ông. Ông cười, dễ dãi: “Cũng tùy thầy!” Bữa khác, sau lớp dạy, bất ngờ ông mời tôi ở lại ăn cơm. Bà Trung tá và hai cô học trò lo dọn các món. Dĩ nhiên, cơm hàng cháo chợ đã lâu, nay được ăn một bữa thịnh soạn dưới một mái gia đình mà tôi nhận xét đầy hạnh phúc và đầm ấm, làm sao tôi không thấy ngon miệng. Có thêm chai bia, tôi ăn nói, theo nghĩa đen, ăn và nói, tự nhiên hơn. Một lúc nào đó, Trung tá Cảnh bảo tôi:
     - Khi nào hai bác ở Nha Trang lên Ban Mê Thuột, thầy cho tôi biết, chúng tôi xin mời hai bác đến nhà chúng tôi chơi.
Tôi vâng dạ, nhưng không biết có ngày nào ba mẹ tôi đến xứ Buồn Muôn Thuở này.
     Dạy như vậy được một tháng rưỡi thì đến phiên tôi phải đi công tác. Tôi báo cho Trung tá Cảnh biết, và vì tế nhị, ông không can thiệp với Thiếu úy Tải. Thiếu úy Tải không thể viện cớ gì để nhảy qua phiên của tôi. Phần tôi vui vẻ vác súng và ba-lô ra đi, và như thường lệ bỏ theo trong bốn túi quần trận một bịch kẹo nougat, một phong chocolat Meunier, một quyển Truyện Kiều, và tập thơ Les Fleurs du Mal của Baudelaire. Việc dạy học bị gián đoạn, hoặc khó lòng tiếp tục như trước, vì những cuộc hành quân lúc ấy diễn ra liên miên, có khi Đại đội TLC-DSV phải cung cấp từ ba đến bốn toán một lúc.
     Công tác vừa về, tôi được nghỉ mấy hôm. Lại có lệnh hành quân cấp trung đoàn tại Khánh Dương do Trung tá Cảnh đích thân chỉ huy. Lần ấy là phiên của Khôi Trán Cao, hay Quang Học Giả, thì buổi sáng Thiếu úy Tải thông báo trước hàng quân:
    - Trung tá Cảnh muốn đích danh Chuẩn úy Quý đi công tác kỳ này.
     Ai nấy ngạc nhiên, nhìn nhau. Riêng tôi hiểu đó là một ưu đãi ông dành cho tôi. Sáng ấy, sau khi chiếc xe dodge của toán TLC-DSV nhập vào dòng xe của Trung đoàn, một binh sĩ đến nói: “Trung tá Trung đoàn trưởng muốn Chuẩn úy đi gặp ông”. Tưởng việc gì, thấy tôi ông tươi cười hỏi, “thầy khỏe không ?” và bắt tôi ngồi lên xe jeep chi huy của ông, khiến tài xế và viên sĩ quan truyền tin lấy làm lạ, hỏi nhỏ tôi có phải là thân nhân của Trung tá Cảnh hay của Chuẩn tướng Nguyễn Văn Mạnh, lúc đó là Tư lệnh Sư đoàn 23. Tôi lắc đầu, nói không phải, nhưng không giải thích thêm.
     Đến Khánh Dương, Bộ Chỉ huy Hành quân dựng trại phía ngoài bìa rừng, bên quốc lộ 21 đi Nha Trang. Các cánh quân chia nhau bung ra khắp vùng. Còn toán tôi phải xuống dưới một buôn Thượng cách đó khoảng mười phút đi bộ. Buôn ấy của người Ra-đê, vì vậy lần này Trung sĩ Y Ksor đi theo công tác, làm toán phó và thông dịch. Nhà cửa trong buôn gọn ghẽ, ngăn nắp, nhưng người và vật ngủ chung, như dân B’râu tại Kiến Đức. Ở đây, đặc biệt, có một bông hoa rừng biết nói, mà sĩ quan Sư đoàn 23 nào, kể cả những người chưa đi toán bao giờ như Thiêu úy Mỹ và Thiếu úy Tải, đều nghe tiếng. Danh bất hư truyền. Cô tên H’(Hờ) Mai, da trắng, mặt trái xoan, mắt to đen, mũi thẳng, và tóc dài buông xõa, như đầm lai, nhưng biết mắc cỡ như cô gái Việt. H’Mai không nói tiếng Việt, nhưng nghe hiểu. Mấy anh lính Sư đoàn, học lóm được câu  “bắt cái nước” (làm... yêu, make love), gặp cô liền thả dê: “H’Mai thương anh không, cho anh bắt cái nước chút chút đi”, khiến cô thét lên, hoảng kinh, bỏ chạy vào nhà. Mỗi ngày tôi cử một binh nhì ở lại lều, gần Bộ Chỉ huy Trung đoàn, lo nấu ăn, còn lại chín người gồm tôi và một y tá vào buôn làm công tác dân sự vụ, phát thuốc, hướng dẫn vệ sinh...
     Một buổi sáng, như thường lệ, tôi sắp sửa dẫn toán đi thì một binh sĩ Trung đoàn đến lều, theo sau là bà Trung tá Cảnh, Như Hường và Bích Thủy. Tôi ngạc nhiên. Bà bảo:
     - Chúng tôi đi Nha Trang, biết thầy ở đây, ghé thăm thầy một chút.
     Sự việc xảy ra quá bất ngờ, làm tôi cảm động, không thốt nên lời, chỉ chào và nói cám ơn. Nghỉ dạy từ chuyến công tác sau cùng, tôi chưa gặp lại bà và hai cô học trò ngoan. Như Hường đứng ngắm nghía tôi, khen:
     - Lần đầu em thấy thầy mặc đồ lính, trông lạ và oai ghê.
     Tôi cười:
     - Lạ thì có lạ, nhưng oai thì còn xét lại đó em...
     Tôi hỏi thăm sức khỏe bà và hai cô, “thuyết trình” công tác dân sự vụ của chúng tôi như thế nào, ăn ở ra sao. Rồi giao công việc cho Trung sĩ Y Ksor, và khoảng mười lăm phút sau đó, tôi đích thân đưa bà và hai cô trở về Bộ Chỉ huy Trung đoàn. Tại đây, Trung tá Cảnh bảo tôi ở lại với ông. Sau khi ba mẹ con đáp xe đò đi Nha Trang, ông vừa nghe các cánh quân báo cáo “vô sự” qua máy vô tuyến khuếch đại vừa cho mở sòng xì phé nhỏ chơi với các sĩ quan tham mưu. Ông để tôi ngồi cạnh xem ông đánh bài, thỉnh thoảng hé cho tôi thấy con bài tẩy, và cười sảng khoái khi tháu cáy ăn. Rồi dùng cơm trưa tại chỗ. Các sĩ quan Trung đoàn nhìn tôi, ngạc nhiên, có lẽ tự hỏi: “Thằng chuẩn úy này là ai mà ngon lành vậy cà, chắc có bà con với bà Trung tá chăng...” Có người cười thân thiện với tôi –điều hiếm hoi, vì thường họ không mấy có cảm tình với TLC “ăn rồi nói dóc”. Có người nhờ tôi xin ông về một chuyện rất cá nhân –điều mà tôi từ chối, dĩ nhiên, lấy cớ tôi không là gì cả, cấp bậc quá nhỏ...   
     Cuộc hành quân Khánh Dương kết thúc sau mười ngày, không báo trước. Ngày chót, như thường lệ, toán tôi xuống buôn, và bất ngờ gặp lại H’Mai đang giặt quần áo tại dòng suối. Dưới bầu trời âm u đầy sương mù, mặt cô có vẻ buồn buồn, không hồn nhiên tươi cười như mọi khi, chẳng hiểu sao. Đó cũng là lần cuối tôi thấy cô. Không có lời giã từ lưu luyến, nhưng lòng tôi thấy tiếc vẩn vơ cho một bông hoa đẹp phải chôn vùi hương sắc và tuổi xuân trong một góc rừng hoang vu. Và thầm mong một anh lính người Kinh nào chịu khó vô buôn rước cô về dinh, ngoài thành phố. Nhưng biết đâu, tại đây, cô thấy hạnh phúc hơn?
5.
     Về lại Ban Mê Thuột thì được tin Tải lên Trung úy và sắp đi Mỹ học khoá TLC-DSV, Khôi Trán Cao đã được đổi về trường Đại Học CTCT Đà Lạt. Còn lại Quang Học Giả và tôi. Tôi cũng được thăng cấp Thiếu úy. Đêm trước khi lên đường, Tải tâm sự nhiều, dẫn tôi vào phòng trà ca nhạc, để tôi gặp lại Mộng Lan. Lan không nhận ra tôi, vì “anh sao có vẻ phong trần quá vậy, không còn trắng trẻo như xưa”, tôi bèn bắt chước Hùng Cường hát một câu khôi hài vô duyên, “lính mà em”. Cô phá ra cười, tôi càng quê hơn. Trình độ nhảy nhót của tôi không khá hơn chút nào, Lan bảo, “chỉ có ôm em thì anh tiến bộ thấy rõ, em nghe mấy ông lính của anh nói anh có ôm thực tập các cô Thượng trong buôn, như H’Mai, rồi phải không?” Đêm ấy, cô đãi tôi hai bản, một slow và một rumba, và một nụ hôn bất ngờ lướt nhẹ lên môi  –chưa đủ thiết tha cho lòng còn mãi tiếc nhớ. Ngồi dựa sát vào ngực tôi, cô tỉ tê, giọng đầy nước mắt:
      -Thấy anh hiền, em thương quá. Quen em, anh không bao giờ đòi hỏi gì nơi em, không như những người đàn ông khác, coi em như một món đồ chơi và nghề vũ nữ của em rất tệ. Anh luôn đối xử đứng đắn với em, em cám ơn anh...
     Tải đi Mỹ, Trung úy Lê Đồng lên thay, và sau đó, Trung đội DSV sáp nhập vào Đại đội TLC để trở thành Đại đội 203 CTCT, do Trung úy Nguyễn Văn Mỹ chỉ huy. Cũng trong thời gian này, tôi được lệnh dẫn một toán xuống quận Thiện Giáo (Ma Lâm cũ), Phan Thiết, tăng phái vô hạn định cho Tiểu đoàn 4, thuộc Trung đoàn 44 đóng tại Sông Mao, trong chiến dịch Bình Định Nông Thôn của ông tướng thành thị Nguyễn Đức Thắng. Đồng thời cũng có lệnh, sau chuyến công tác này, thuyên chuyển thẳng về Đại đội 202 CTCT Qui Nhơn, do chính ông cậu tôi, đại đội trưởng, làm đơn xin theo lời yêu cầu của bà chị, tức mẹ tôi. Biết đi lần này là bỏ luôn Xứ Buồn Muôn Thuở, tôi trả nhà đường Huyền Trân Công Chúa và từ giã một vài người thân quen. Tôi đến tư thất Trung tá Võ Văn Cảnh. Ông nắm chặt tay tôi, chúc những lời tốt đẹp nhất. Bà Trung tá Cảnh, hai cô Như Hường và Bích Thủy, đứng ở cửa thật lâu, vẫy tay chào.
      Tôi không có người yêu để bịn rịn tiễn đưa. Tải đi rồi, tôi không còn dịp, mà cũng không muốn, gặp lại Mộng Lan.
6.
     Trung đoàn trưởng 44 là Trung tá Võ Khâm, đeo kính trắng, da mặt hồng hào, dáng người trí thức hào hoa, quen thân Tải vì những lần về Ban Mê Thuột ông thường vào vũ trường. Tôi được Tải mời ăn sáng, uống cà phê mấy lần với ông cùng với vài sĩ quan Trung đội. Sau này, tại Qui Nhơn, tôi có đến thăm vợ, và con gái ông, tên Sương, có suối tóc đen dài, rất đẹp. Tiểu đoàn trưởng 4/44 là Đại úy Vũ Công Khanh, dễ tính, hiền hậu, và chịu chơi vô cùng. Ban ngày Tiểu đoàn đi lùng địch, có khi phối hợp với Thiếu úy chi khu người Chàm, Thổ Thêm, mà VC sợ khiếp vía vì nghe đồn ông chơi bùa ngãi, đánh đâu thắng đó. Người ta nói Thiếu úy Thổ Thêm là sĩ quan có nhiều huy chương nhất trong Quân Lực VNCH, và một lần tôi lén đếm những anh dũng bội tinh ông đeo trên ngực mới đến cái thứ 60 là đã lộn, phải đếm lại và lộn nữa. Ban đêm, tiểu đoàn về đóng chung quanh nhà dân, hay ven rừng. Xa xa là núi Tà Dôm thỉnh thoảng sáng rực hỏa châu. Hoặc những đêm rằm, thấy trên đó những giọt trăng lung linh rớt xuống như từng hàng lệ rơi. Toán CTCT của tôi ăn dầm nằm dề với BCH Tiểu đoàn, và mặc nhiên tôi trở thành một trong những sĩ quan cơ hữu, giống như hai cố vấn Mỹ và ông bạn Quế, Trung úy Pháo binh Sư đoàn 23 tăng phái. Tiểu đoàn đi đâu, tôi theo đó. Đụng trận, cũng nổ súng như ai. Và cũng suýt chết như ai. Một lần Đại úy Khanh bị bắn sẻ, tôi đứng cạnh ông, một viên đạn rít bên mang tai, xuyên qua cổ người lính mang máy truyền tin, gần đó. Những ngày không hành quân, tôi thường mò xuống quận Thiện Giáo, cách khoảng tám phút xe lam, súng ống và lựu đạn trang bị đến tận răng, để ngắm cô thư ký tên L., nhỏ nhắn, xinh xắn, lãng mạn. Một hôm tôi nhận được một lá thư của cô, rất ngọt ngào, vòng vo tam quốc, trong đó dùng toàn những câu trữ tình kiểu cải lương Lan và Điệp. Tôi không trả lời, vì không hiểu cô muốn nói gì, vả lại cũng sợ mỹ nhân kế. Một tháng sau, một sĩ quan trong toán pháo binh biệt phái khoe có “quen em thư ký quận” và cho tôi xem thư của cô. Chết rồi! Cũng những câu Lan và Điệp đã viết cho tôi. Đối chiếu hai lá thư thấy giống y chang, chỉ đổi tên “khổ chủ”. Cả hai cùng cười to, tôi tự nguyện rút lui và năn nỉ anh bạn hy sinh tiếp tục cuộc chơi.
     Mỗi cuối tuần, Đại úy Khanh cho chúng tôi thay phiên nhau lên thị xã Phan Thiết nghỉ xả hơi, ăn nhậu, bù lại những ngày lội sình, cơm thịt hộp, ngán tận óc. Buổi tối, đến công viên nghe Nhật Trường hát live hoặc ra chợ cùng với bạn bè, ăn những chiếc bánh căng đúc còn ướt sền sệt bỏ đầy trong tô ngập nước mắm đặc biệt và uống bia ướp lạnh. Rồi trong khi bạn bè đi bắt bò lạc, tôi về khách sạn rẻ tiền, ngủ tạm, mặc nguyên quân phục, súng lên đạn đặt ở đầu giường, nằm đọc thơ Baudelaire hoặc nghe tiếng đại bác ầm ì trên ngọn Tà Dôm. Trong Tiểu đoàn có một đại đội trưởng tên Trần Đăng Lộc, nguyên giáo sư Võ Tánh, trước có quen tại Nha Trang, gặp lại nhau, vui mừng hớn hở. Tha phương ngộ cố tri là vậy. Và trong BCH Trung đoàn 44 lúc ấy có một đồng hương, nay là nhà văn tài hoa nổi tiếng, định cư tại Na-Uy, Phạm Tín An Ninh –mà mãi đến bây giờ nhờ duyên may tôi mới được biết và quen thân. Cũng nhân một trong dịp nghỉ cuối tuần tại Phan Thiết này mà tôi được đọc trên báo biết tin, và khóc cho, người bạn Thanh Sinh Công Văn Khoa Ngô Đình Lệ Thủy bị tai nạn chết, như tôi đã kể trong bài viết về cô.
     Mãn hạn công tác, tôi rời Phan Thiết. Vẫn không có người yêu dấu nào đưa tiễn. Vào Sài Gòn, rồi về Nha Trang, nghỉ hơn nửa tháng, trước khi ra Qui Nhơn trình diện Đại đội 202 CTCT. Tại đây, bắt đầu một giai đoạn mới của đời chiến binh. Nhưng đó là một chuyện khác.
    
7.
   
     2011. Bốn mươi lăm năm sau, kể từ ngày đặt chân lên Xứ Buồn Muôn Thuở. Hôm nay, mùa thu trở lại trên Portland. Mưa từng cơn lạnh, và buổi sáng, buổi chiều, sương mù phủ trắng những ngọn thông già rung mình trong gió. Lái xe ngang qua, tôi nghe rét mướt lùa vào hồn, nghe từng kỷ niệm êm đềm, từng tiếc nuối xót xa của mùa thu cao nguyên xưa lần lượt kéo về, úa vàng như những chiếc lá rơi đầy trên ngõ. Như thời gian đã mất mà tôi vẫn khắc khoải tìm về nâng niu, cho quên đời phiền lụy.
     Cựu Đại úy Phạm Văn Tải và gia đình đang sống tại Portland, như tôi. Người nhạc sĩ vũ trường tài hoa, “dân chơi thứ thiệt” ngày nào, chỉ huy trưởng đầu tiên của tôi, giờ đã 76, có một người con làm linh mục và một giàn cháu nội ngoại, và chỉ đàn trong nhà thờ và thỉnh thoảng cho con cháu, và tôi, người khách đặc biệt, nghe. Cựu Trung úy Nguyễn Hữu Đạo, trên 85, cũng là đồng hương Portland, vẫn làm thơ, dưới tên Thanh Khê, như trước đây khi còn ở Xứ Buồn Muôn Thuở, để ca tụng thiên nhiên, cuộc đời, gia đình, nhất là hiền thê đã gắn bó với ông hơn ba phần tư thế kỷ, với những lời thơ bình dị, chan chứa tình người. Cựu Trung úy Nguyễn Văn Mỹ, sau lên thiếu tá tiểu đoàn phó tiểu đoàn 20 CTCT, hiện sống ở Seattle, tiểu bang Washington, cùng với con, cháu. Cựu Đại úy Lê Văn Cậy, cậu tôi, sau về làm quận trưởng quận châu thành Hàm Thuận, Phan Thiết, hiện định cư tại Tokyo, Nhật. Khôi Trán Cao, sau rời trường Đại Học CTCT về Trung Tâm Nguyên Tử Lực Đà Lạt, nay ở Nancy, Pháp. Quang Học Giả, sau lấy cô Nga, hàng xóm của chúng tôi tại căn nhà ma, không biết bây giờ ở đâu. Nguyễn Cảnh Lộc và Phan Văn Tần đang ở Mỹ, nhưng tôi chưa liên lạc được. Lê Đồng về sau lên thiếu tá, phòng 5 Sư đoàn 23 BB, và trước ngày tan hàng một tháng, trong một chuyến công tác từ Kontum về, ngang Buôn Hô, đã rớt trực thăng, được truy thăng cố trung tá. Theo lời Phạm Tín An Ninh kể, Trung tá Võ Khâm đã tử trận, mất xác, năm 1974 tại Bu Prang, Quảng Đức, khi ông trong chức vụ Tiểu khu phó Khánh Hòa ông dẫn một lực lượng địa phương quân lên tăng cường cho Quảng Đức. Ninh cũng cho biết Thiếu úy Thổ Thêm, sau lên Thiếu tá, cải tạo trở về, chết tại nhà. Cựu Trung tá Võ Công Khanh đi tù nhiều năm ngoài Bắc, hiện định cư tại Na-Uy như Ninh, cùng với gia đình gồm vợ và con, cháu. Cựu Đại úy Quân cảnh Nguyễn Vinh Hiển nay trở thành nhà văn nổi tiếng Hoàng Khởi Phong ở Westminster.
     Về những mỹ nhân, nghe Ninh nói, vũ nữ Diễm của cố Đại úy Mỹ (chết trận Buôn Hô) về sau là vợ hai của một sĩ quan đàn em ông Mỹ. Tôi cũng nghe ai nói, cô chủ quán bi da Chợ Nhỏ bị người anh rể nổi cơn ghen hay cơn điên bắn chết cùng với toàn gia đình trong một vụ thảm sát và tự sát kinh hoàng làm rúng động Ban Mê Thuột. H’Mai và cô Sương, ái nữ của cố Trung tá Võ Khâm, không biết bây giờ ra sao. Cô thư ký L. của quận Thiện Giáo, không rõ sau này có lấy anh bạn Pháo binh –mà tôi cũng vô âm tín. Mộng Lan đã từ trần, bỏ cuộc chơi giữa tuổi thanh xuân, khi vũ trường đường Tôn Thất Thuyết bị đặt chất nổ.
     Còn ông bà Thiếu tướng Võ Văn Cảnh và ba chị em Như Hường, Bích Thủy, Huy? Cách đây hơn nửa năm, Luật sư Trương Phú Thứ, Seattle, nhờ tôi dịch quyển hồi ký của bà Ngô Đình Nhu, và nói đã có một người lo phần ấn loát, tên Trần Văn Giang, “con rể của tướng Cảnh”. Tôi không bao giờ gặp lại Thiếu tướng Cảnh sau ngày rời bỏ Ban Mê Thuột, nhưng mỗi lần nghe ai nhắc đến tên ông, những kỷ niệm buồn vui từ đâu bỗng hiện về tràn ngập tâm hồn –rộn rã với bao nhiêu tình cảm luyến lưu, đằm thắm, không chỉ đối với ông mà cả gia đình ông. Sau một thoáng xúc động, tôi hỏi Thứ: “Giang lấy cô nào vậy? Như Hường hay Bích Thủy?” Thứ đáp, “tôi không rõ”. Sau đó, được nói chuyện qua email, rồi điện thoại, với Giang và Như Hường, tôi được biết Thiếu tướng Cảnh đã mất năm 1994, bà đã trên 80 và sống lặng lẽ, đạo đức, chăm lo việc Chúa. Ba người học trò nhỏ năm xưa nay đã lớn, có gia đình êm ấm, con cái thành tài. Giang lấy một người em của Như Hường và Bích Thủy, trong đám “con nít” cười rúc rích sau tấm màn, buổi tối đầu tiên tôi đến dạy.
     Tôi hứa với Như Hường, ngày nào xuống Nam Cali, tôi sẽ đến thăm bà cụ và các em và sẽ ra mộ thắp nhang cho cố Thiếu tướng Võ Văn Cảnh, một vị chỉ huy tài ba, quá tốt –mà tôi đã may mắn được một lần gặp gỡ. Để nhớ thương một đời.
 Kim Thanh
Portland, tháng 12, 2011

Wednesday, November 2, 2011

ĐIẾU TIỄN BIỆT BẠN TRỊNH VIẾT HIỀN

DS 111, QT 102E, ĐĐ 767
Bạn Hiền thân mến,
Nhớ năm xưa  thời trai trẻ,
Áo Anh chưa lấm bụi đời.
Nhớ ngày chiến tranh bão lửa khắp quê hương,
Anh lên đường giũ bỏ thời nhung nhớ,
Nhớ áo học trò, nghiên bút tuổi yêu thương,
Rong ruổi đời trai bụi gió sương,
Nghiệp kiếm cung, giang hồ Anh tung cánh,
Tang bồng hồ thỉ kiếp nam nhi,
Làm trai cho đáng nên trai,
Xuống đông đông tĩnh, lên đoài đoài tan
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông,..
Nhớ không Anh, đau xót lắm
Nhớ thế thời phải thế tàn chiến cuộc,
Anh về ôm hận với giang san.
Chôn vùi sơn hà xã tắc của mai sau
Anh Hiền ơi! Tâm sự trước khi chia tay nhé...
Bên cạnh Anh bây giờ là bè bạn,
Đồng môn ngày đó còn dăm đứa,
Ngồi quanh Anh nghĩ lại cuộc đời nhau,
Mong Anh đó, sau ngày tháng dài bươn chải,
Đôi chân miệt mài bỏ lại sau lưng,
Ngậm ngùi thương tiếc thấy đời còn lam lũ khổ công,
Ngồi quanh Anh suy nghĩ về cuộc đời,
Khát vọng đời người trong mỗi chúng ta
Đong đầy ước mộng cả tương lai,
Tìm về suối nguồn của cuộc sống
Nguồn sữa Mẹ chan chứa cả đời Anh.
Nay bạn bè ngồi quanh Anh xin lỗi,
Bà Mẹ già chưa báo hiếu, Anh đi xa,
Giờ con đến Thiên dàng nơi vĩnh phúc,
Xin ủi an Hiền mẫu đã hy sinh
Cho đến hết cuộc đời chưa trả nghĩa Mẹ ơi
Trên Thiên đàng Chúa sẽ đoái thương,
 Tha thứ cho con và nâng đỡ Mẹ.
Thôi hết buồn hết khổ chỉ vì con, Mẹ ơi, con thương Mẹ lắm.
Anh Hiền ơi! Chỉ còn ít giây phút nữa là Anh giã từ chúng tôi, Mẹ già, gia đình để lại cho mõi người bao điều đau đớn tiếc thương. Chúng tôi xin thưa với Mẹ và gia đình lời tạ tội thay cho Anh
Mẹ ơi! Cũng tại quê hương này Anh và chúng con sinh ra và lớn lên được dạy dỗ trưởng thành như hôm nay nhờ có Mẹ hiền của chúng ta.
Có những buổi trưa hè nắng hạ, Mẹ là bóng cả che mát đời con.
Ôi những tháng ngày ly loạn, Mẹ thức trắng đêm trường trông ngóng đàn con hội tụ.
Ôi những lúc tan đàn xẻ nghé, Mẹ gọi chúng con về ủ nương dưới cánh.
Mẹ ơi! Nhớ tháng ngày con ở phương xa, Mẹ gởi lòng trông ngóng con về từng giây, từng phút.
Giờ bạn chúng con đi xin Mẹ giữ gìn sức khoẻ. Xót xa thay!
Mẹ ơi! Giờ đây đứng trước vong linh bạn chúng con, xin hứa với Mẹ chúng con phải sống đức độ theo gương của Mẹ, anh em đoàn kết để không phụ lòng Mẹ hằng mong ước.
Mẹ ơi! Giờ đây Anh Hiền chắc đã ở trên Thiên đàng vĩnh phúc; chắc hẳn Chúa cũng tha thứ lỗi lầm khi còn sống Anh đã mắc phải và chắc Mẹ cũng không bao giờ trách oán, vì Trái tim Mẹ là Mẹ hiền nhân ái bao dung vị tha đã tha thứ  từ lâu.
Con xin Mẹ ơi! Mẹ tha thứ cho con.
Tiếc thương ANH và tạm biệt ANH, Hiền ơi!!!

By phillipdatk1

Monday, August 1, 2011

THÂN PHỤ BẠN LÂM HỮU HIỆP K10B72


Cuối tháng bảy mùa he oi bức lại bị những trận bão chết người làm mọi người lo ngại. Cơn bão rớt làm Sài Gòn sụt sùi những cơn mưa đen trời đổ nát. Thời tiết như dịu lại chia sẻ những cơn mưa buồn. Đau đất đau lòng người. Vẫn biết sinh ly tử biệt, nhưng nghe tin trễ bè bạn không kịp đưa tin cũng buồn cho cảnh chia phôi.  Giờ đây, đại diện anh em 10B72, bè bạn chỉ biết đốt nén nhang thơm hương lòng thành kính chia buồn cùng gia đình bạn Hiệp- Rạch Giá, thân bằng, quyến thuộc. Cầu nguyện cho hương hồn thân phụ bạn Hiệp mãi sống cõi bình an và hạnh phúc thật.  
NGHE TIN TRỄ THÂN PHỤ BẠN LÂM HỮU HIỆP
TỪ TRẦN 20/07/2011

Cái chết đến tuy thật dễ dàng và giản dị với bạn, điều này thật tự nhiên vì rồi ai trong chúng ta cũng sẽ phải ghé trạm này, nhưng lại đau buồn, thương nhớ với gia đình và ANH EM BÈ BẠN ĐỒNG MÔN.  Vài hàng ghi lại để bạn bè chúng ta cùng thương nhớ và lưu luyến chia tay Cụ Lâm Minh Mẫn. Chuyến xe cuối cùng của cuộc đời sẽ đưa Cụ đến nơi chốn bình an, hạnh phúc và hoan lạc. Tin đến thật nhanh trong thời đại điện toán ngày nay, nhưng lại quá chậm trễ vì đời sống quay vòng chóng mặt của ANH EM. Còn đâu nỗi niềm hy vọng th
ương nhớ, hầu hạ Cụ Ngày hôm qua còn thấy bóng Cụ hao gầy trên giường bệnh, bảo ban dạy dỗ con cháu vẫn túc trực hầu hạ Cụ bên giường.

Hiệp ơi, giờ đây Bạn không còn gì để lo nghĩ, bận tâm về Cụ, nhưng chắc cây cao bóng cả vẫn là bóng mát che chở cuộc đời bạn. Anh em bọn mình tin chắc rằng, Cụ đang hưởng hạnh phúc thật viên miễn nơi miền Cực lạc. Lòng nhân từ của Trời Phật luôn nhớ đến Cụ, vẫn yêu thương và che chở Cụ nơi cõi vĩnh hằng.

Giờ đây Anh em chúng tôi xin đốt nén nhang trầm, nghiêng mình trước linh cửu của Cụ. Cầu xin Trời Phật đón nhận những lời nguyện thiết tha của chúng tôi, bạn đồng môn của Hiệp. Ước mong Cụ mau chóng về cõi sống thật - nơi đó không còn giận hờn, ghen ghét, ưu tư, sầu não, đau buồn, bệnh tật và thương đau. Xin tạm biệt Cụ và hẹn ngày gặp Cụ  khi chúng tôi cùng ghé trạm.
PhillipDat k1