Tuesday, June 30, 2009

Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích Phần 2 103 / STRATA


Trong bài diễn văn lịch sử trên hệ thống truyền hình Hoa Kỳ ngày 31 tháng Ba năm 1968, tổng thống Johnson tuyên bố sẽ không ra tái tranh cử và ra lệnh chấm dứt ném bom ngoài vĩ tuyến 20 trên miền Bắc Việt-Nam. Theo lệnh trên, bộ Ngoại Giao nhấn mạnh cho đơn vị SOG biết, không được cho máy bay ra ngoài vĩ tuyến 20. Thi hành lệnh trên, đơn vị SOG coi như bỏ rơi sáu toán biệt-kích đã nhẩy dù xuống miền Bắc trước đây. Hà-Nội đã bắt được vài toán báo cáo sai lạc về cho đơn vị SOG. Trên tấm bản đồ miền Bắc Việt-Nam trong phòng hành quân có ghim tám cây kim mầu xanh, đánh dấu vị trí hoạt động của tám toán biệt kích. Nơi hướng tây bắc gần biên giới Trung-Hoa có bốn toán Remus, Easy, Tourbillon và Red Dragon. Hướng đông bắc, sát biên giới là toán Eagle, gần bờ biển có điệp viên Ares. Xuống dưới miền trung (Thanh-Hoá, Nghệ-An) có toán Hadley và Romeo.

Toán Verse nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon ngày 7 tháng Mười
Một năm 1965. Trong số tám người nhẩy xuống miền bắc, hai bị chết (dù không mở?).
Ðiều này đáng nghi ngờ. Hai tuần sau, khi đã huấn luyện cho toán Tourbillon về kỹ
thuật dò thám đường, toán Verse tự ý di chuyển ra khỏi vùng hoạt động. Trong mười
tám tháng kế tiếp, toán Verse báo cáo lập được nhiều thànhquả, nhưng thực ra rất ít. Ðơn vị SOG ra lệnh cho toán Verse di chuyển đến một điạ điểm bí mật của cơ quan CIA bênLào. Ðiều này toán không thi hành. Cuối cùng vào tháng Sáu năm 1967, phi-đoànHành-Quân Ðặc Biệt 21 của SOG bên Thái-Lan dùng trực thăng bay vào miền Bắc Việt-Nam để bốc toán Verse, kết qủa một máy bay Hoa-Kỳ bị bắn rơi gần bãi đáp. Ba tuần sau, đài Hà-Nội loan tin bắt được toán Verse.

Toán Tourbillon gồm tám biệt kích nhẩy dù xuống miền Bắc ngày 16 tháng 5 năm
1962, một người chết khi xuống tới đất. Toán được tăng cường lần đầu vào tháng 11
cùng năm, cả bốn biệt kích quân đều tử nạn. Tháng 5 năm 1964, thêm bẩy người nhẩy dù xuống tăng cường cho toán Tourbillon, một người chết, đến tháng 7 toán Tourbillon
nhận thêm 8 người, hai người chết. Tất cả biệt kích quân đều đã qua khoá huấn luyện
nhẩy dù của đơn vị SOG, mặc đồ đặc biệt để bảo vệ thân thể, tuy nhiên số tổn thất quá cao. Có thể họ bị bắt, bị giết để làm gương cho những người còn sống 'phải hợp tác' Ngày 12 tháng 12 năm 1964, bốn người nhẩy xuống tăng cường cho toán Tourbillon,
tám ngày sau hai bị chết trong một trận phục kích. Rồi đến toán Verse nhẩy xuống vào
tháng 11 năm 1965, hai chết. Gần như mỗi lần nhẩy dù xuống miền Bắc đều có người
chết. Hai lần trong năm 1966, đơn vị SOG tìm cách thâu hồi toán Tourbillon, cả hai chuyến đều phải hủy bỏ vì toán không lên máy vô tuyến liênlạc tại bãi đáp. Ðêm Giáng-Sinh năm 1966, toán Tourbillon nhận thêm hai người và hai tuần sau nhân viên truyền tin (người mới) bí mật gửi về một điện văn cho biết anh ta đã nằm trong tay địch quân.

Qua những biến cố kể trên, toán Tourbillon có lẽ đã nằm trong tay địch quân từ lâu. Khi toán Verse nhẩy dù xuống tăng cường cho Tourbillon, định mệnh đã an-bài cho các biệt kích quân trong toán. Phòng Nhì cơ quan MACV cùng với SOG giám định lại
tình trạng các toán biệt-kích thả ngoài Bắc, họ đi đến kết luận tất cả các toán biệt kích đều bị địch bắt, kể cả điệp viên Ares.

Ngay từ lúc khởi thủy, kế hoạch thả biệt kích ra ngoài Bắc đã gặp trở ngại. Chuyến
thả dù đầu tiên trong tháng Ba năm 1961, bị trúng đạn phòng không và phải đáp xuống
khẩn cấp. Tất cả biệt kích lẫn phi hành đoàn đều bị bắt hoặc bị giết. Trong năm 1963, cơ quan CIA thả mười ba toán biệt kích xuống miền Bắc, một toán bị đơn vị an ninh Bắc Việt bắt khi vừa xuống tới đất. Năm sau, thêm 5 toán bị bắt, một toán thoát. Chuyện này lập lại trong năm 1965 và 1966, mỗi năm một toán thoát, số còn lại bị bắt sống hoặc bị giết gần như tại bãi đáp.

Từ năm 1961, cơ quan CIA và SOG huấn luyện, thả dù ra ngoài miền Bắc 54 toán biệt kích tất cả 342 người. Nhiều người rất can đảm, ái-quốc bị giết bị tra tấn trong những năm tháng tù đày ở ngoài Bắc. Kế hoạch 34-A là một thất bại trong ngành phản gián Hoa-Kỳ, cho đến nay nhiều chi tiết vẫn không được báo cáo rõ ràng.

Trong trường hợp toán Remus, một tù binh Bắc Việt do quân đội Hoa-Kỳ bắt được
cho biết, một toán biệt kích nhẩy dù xuống một nơi gần làng của anh ta và bị đơn vị
công-an biên-phòng bắt ngay tức khắc. Khi người tù binh chỉ làng anh ta trên bản đồ, nơi đó gần điạ điểm thả dù toán Remus. Tin này làm rung động bộ chỉ huy đơn vị SOG. Làm sao quân Bắc Việt có thể 'hốt' toán biệt kích Remus một cách nhanh chóng, điạ điểm thả dù rất xa xôi, hẻo lánh?

Trong tháng Ba năm 1968, báo 'Nhân Dân' của đảng Cộng-Sản miền Bắc ra thông
cáo án tử hình cho tất cả những hành động chống lạicách-mạng. Ðến đầu tháng
Tám năm 1968, Bắc Việt cho biết đã bắt được ba toán biệt kích. Ðơn vị SOG chỉ còn lại năm toán Red Dragon, Hadley, Eagle, Ares và Tourbillon và họ sắp đặt trả
đũa. SOG cho một toán biệt kích biết sẽ thả dù tiếp tế đựng trong thùng chứa có hình dạng giống như bom Napalm do phản lực F-4 thả. Lần này họ cho thả bom thứ thật, và tin rằng người nhận sẽ là đơn vị công-an biên-phòng chứ không phải toán biệt kích.
Trong năm 1968, máy bay C123, C-130 của SOG thả tiếp tế (bom thật) ra ngoài Bắc
tám chuyến. Công-An Biên-Phòng Bắc Việt sau đó không thèm nhận đồ tiếp tế thả cho các toán Hadley và Tourbillon nữa.

Từ cuối năm 1967, SOG thả những toán biệt-kích STRATA, dò thám đường, tìm mục
tiêu 150 dặm qua khỏi vùng phi-quân-sự. Vùng hoạt động của những toán Strata nằm
dưới vĩ tuyến 20 nên không bị ảnh hưởng do lệnh giới hạn không tập ngoài vĩ tuyến 20
của tổng thống Johnson. Thời gian hoạt động trong lòng địch khoảng một hoặc hai tuần lễ. Mục tiêu cho những toán Strata dò thám là hệ thống đường xá dẫn đến các đèo
Mụ-Già, Ban Karai và Ban Raving, rồi đổ vào hệ thống đường mòn Hồ-Chí-Minh. hầu
hết các toán đều xâm nhập qua biên giới Lào khoảng 10 dặm, trong vùng đồi núi hiểm
trở.

Toán viên Strata được huấn luyện như những toán biệt kích thả ra Bắc trước đây
trong căn cứ bí mật ở Long Thành. Họ được huấn luyện riêng để bảo mật, sau đó đưa
ra căn cứ gần núi Non-Nước ngoài Ðà-Nẵng. Tất cả mười bốn toán biệt kích Strata, số
toán trong khoảng từ 90 tới 122. Các toán Strata xâm nhập vào Bắc Việt-Nam phát xuất từ căn cứ không quân Nakhon Phanom bên Thái-Lan. Họ được phi cơ SOG C-130 Black Bird đưa vào căn cứ không quân và được lệnh 'ở bên trong' phòng làm việc của đơn vị SOG. Sau khi thay đổi quân phục sang quân phục của quân đội Bắc Việt, biệt kích quân lên trực thăng 'Pony' thuộc phi-đoàn 21 SOG Hành-Quân Ðặc-Biệt. Chỉ khoảng nửa giờ bay qua 65 dặm bề ngang nước Lào. Trực thăng phải bay lên cao độ 10 ngàn bộ tránh phòng không, sau đó bay theo mây dọc theo dẫy Trường-Sơn, rồi khi vào không phận Bắc Việt, bay thấp để tránh hoả tiễn SAM đến bãi thả biệt kích.

Tất cả hoạt động đều chấm dứt ngày 15 tháng Mười năm 1968 sau cú điện thoại từ
Washington đến Việt-Nam cho Ðại-Tá Cavanaugh chỉhuy trưởng đơn vị SOG. 'Ông
có toán biệt-kích Strata nào vượt biên ra ngoài Bắc không?'. Một tướng lãnh trong
Ngũ Giác Ðài hỏi Cavanaugh. Ông trùm SOG trả lời có hai toán đang hoạt động ngoài vĩ tuyến 17. Vịtướng lãnh ra lệnh 'Ông phải thâu hồi các toán biệt-kích trong vòng 24 tiếng đồng hồ'. Vị tướng cho biết thêm, Tổng-Thống Johnson sắp sửa ra lệnh hoàn toàn chấm dứt các phi tuần ném bom miền Bắc Việt-Nam.

Ðại-Tá Cavanaugh sau này than Washington không cần biết đến sinh mạng của những
biệt kích quân đang kẹt ngoài Bắc. Muốn thâu hồi một toán biệt kích trong vòng 24 tiếng đồng hồ đâu phải chuyện dễ. Rất nhiều lý do trong vấn đề hành quân ngoại lệ, thời tiết v.v... đến ngày 23 tháng Mười, các toán biệt kích Strata mới về tới căn cứ ngoài Ðà-Nẵng.

Từ lúc toán Strata đầu tiên xâm nhập cho đến khi mười ba tháng sau tất cả triệt xuất. Biệt kích Strata ra ngoài Bắc tất cả hai mươi sáu lần, mất tích 26 quân nhân, trong đó có hai toán bị mất hoàn toàn. Sự tổn thất do thời tiết xấu, kế hoạch cấp cứu toán biệt kích bị đình trệ, có khi đến năm ngày. Thiệt hại khoảng một phần tư trong số 102 biệt kích Strata.

25 tháng Ba, 2000 Cọp Khánh-Hòa

Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích (1) 99


THẢ BIỆT-KÍCH
(Phần 1)

Trong những tháng đầu năm 1964, cơ-quan tình báo CIA hoàn tất việc bàn giao những toán biệt-kích thả ngoài miền Bắc Việt-Namcho Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát (SOG). Gồm bốn toán Bell, Remus, Tourbillon, và Easy mà họ tin là vẫn còn hoạt-động trong hậu-phương địch. Các toán tổng cộng gần ba mươi người. Toán thứ năm Europa, cơ-quan CIA thả trong tháng Hai 1962 bị mất liên lạc trong khi đang tiến hành chương trình bàn giao. Toán này có lẽ đã nằm trong tay địch quân. Cuối cùng CIA bàn giao điệp viên Ares, căn cứ huấn luyện ở Long-Thành với khoảng 169 biệt-kích quân đang thụ huấn và nhiều nhà tạm trú cho các biệt-kích quân trong Saigon. Bộ-trưởng Quốc-Phòng Hoa-Kỳ Mc Namara và những viên chức cao cấp ở Hoa-Thịnh-Ðốn muốn hành động. Họ thúc đẩy đơn-vị SOG gia tăng việc thả những toán biệt-kích ra ngoài Bắc. Khoảng giữa tháng Tư năm 1964 đến tháng Mười năm 1967, gần ba mươi toán biệt-kích và vài điệp viên đơn độc đã xâm-nhập vào miền Bắc Việt-Nam, khoảng 250 người. Cộng thêm những toán do cơ-quan CIA thả trước đây, tất cả gần 500. Cũng như CIA, mức độ thành công rất thấp trong kế-hoạch 34-A thả biệt-kích ra ngoàiBắc. Ðến cuối năm 1967, chỉ còn lại bấy toán Remus, Tourbillon, Easy, Eagle, Hadley, Red Dragon, Romeo và điệp-viên đơn-độc Ares vẫn còn hoạt động ngoài Bắc.

Cơ-quan CIA thả toán Tourbillon ngày 16 tháng Năm năm 1962, sau đó thả thêm biệt kích ra tăng cường hai lần. Hoạt động trong vùng tây bắc, Bắc Việt-Nam, toán Tourbillon được lệnh tổ chức những vụ phá-hoại, sau đó đổi sang thâu thập tin tức tình báo. Không có gì ghi nhận những hoạt-động của Tourbillon. Mỗi lần đơn vị SOG tìm cách triệt-xuất toán, Tourbillon không đến được điểm hẹn bãi đáp để được bốc về..

Tháng Tám năm 1963, cơquan CIA thả toán Easy trong vùng tỉnh Sơn-La để bắt liênlạc với các nhóm dân thiểu-số Mèo, Thái, lập những khu-vực an-toàn cho các toán khác đến hoạt-động. Ngoài ra toán Easy sẽ dọ-chừng mức độ phản-ứng, tuyển mộ dân thiểu số phục-kích, phá hoại trục lộ giao thông của địch. Sau tháng Giêng năm 1964, nhiệm vụ này không được tiếp tục vì đơn vị SOG không hề được chấp thuận, cho phép tổ chức quân kháng chiến. Easy chỉ còn nhiệm vụ lấy tin tình báo từ những sắc dân thiểu số mà họ đã tuyển mộ. Trong hồ sơ đơn vị SOG, không có bản báo cáo nào quan trọng về toán Easy. Toán Easy được gửi ra tăng cường bốn lần, tất cả hai mươi ba quân biệt-kích. Khi được báo cho biết là sẽ thâu hồi vài người trong toán, Easy xuống máy chấm dứt việc liên lạc. Toán Remus, sáu biệt kích quân nhẩy dù xuống ngày 16tháng Tư năm 1962 gần ÐiệnBiên-Phủ để thiết lập căn cứ cho các hoạt-động tình báo. Những tin tức liên quan đến quân-đội, tình hình chính trị và kinh tế. Ngoài ra toán có thêm nhiệm vụ tìm kiếm những khu vực làm điạ điểm thả dù tiếp-tế, khu vực an toàn cho những toán xâm nhập kế tiếp, tuyển mộ dân thiểu số cho công tác yểm trợ.

Năm 1964, toán Remus báo cáo đã phá hủy hai chiếc cầu. Bộ trưởng quốc-phòng Mc Namara rất hài lòng. Ông trùm 'Xịa' Colby nhớ lại lúc đó ông bộ-trưởng quá hứng thú như đưá trẻ con khi nhận được bản báo cáo. 'Ông ta coi như một thành quả to lớn, có thể làm thay đổi cục diện chiến tranh'. Vì được đơn vị SOG coi như thành công, toán Remus được tăng cường thêmnăm lần. Ðược lệnh thay đổi
nhiệm vụ năm 1966, toán bắt đầu than phiền không nhận được lệnh đầy đủ, rõ ràng. Năm 1967, đơn vị SOG ra lệnh cho toán trả lại (thâu hồi) hai biệt-kích quân. Remus trả lời là điều đó rất nguy hiểm.

Năm 1968, mọi liên lạc vôtuyến với Remus chấm dứt. Cũng trong thời gian đó, do thẩm vấn một tù binh Bắc Việt, anh ta cho biết là có nghe nói đến một vụ bắt được toán biệt-kích trong vùng hoạt động của toán Remus trong tháng Sáu năm 1962. Ngày 13 tháng Năm 1968, Hà-Nội xác định có bắt được một toán biệt kích... Không còn nghi ngờ, đó là toán Remus.

Ares là người điệp viên duy nhất do cơ-quan CIA gửi ra ngoài Bắc sống sót. Trong các bản báo cáo, nhân viên CIA gặp Ares trong văn phòng định cư tại Saigon ngày 29 tháng Tám 1960 và thẩm định rằng Ares là người có khả năng, linh động và muốn trả thù những kẻ ngự trị ngoài miền Bắc. Sau đó anh ta được tuyển mộ. Ares được gửi ra xâm nhập ngoài Bắc bằng đường biển đầu năm 1961 gần biên giới Trung-Hoa. Lúc đầu anh ta rất thành công, cung cấp những tin tức về miền Bắc, nhà máy điện Uông-Bí, đường-xá, cầu cống, hải cảng Hải-Phòng và nhiều tin tức khác. Tuy nhiên đến năm 1966, đơn vị SOG bắt đầu để ý đến những bản báo cáo cũng như yêu cầu tiếp tế của điệp viên Ares. Khi được lệnh tìm một điạ điểm để thả dù tiếp tế, Ares đề nghị mộtphương thức khác. Ðiều này làm cho SOG nghi ngờ. Khi được lệnh triệt xuất, anh ta không trả lời. Ares tiếp tục liên lạc cho đến năm 1968.

Toán Eagle xâm nhập vùng gần biên giới Trung-Hoa ngày 27 tháng Sáu năm 1964. Nhiệm vụ của toán là phá hoại đường số 1 và số 4, đường rầy xe lửa Mục Nam Quan và căn cứ không-quân Mai-Phả. Không có điều gì ghi nhận toán Eagle thi hành các nhiệm vụ, ngoài ra toán còn phải thâu thập tin tức về những mục tiêu kể trên. Theo báo cáo của đơn vị SOG, những báo cáo của toán Eagle rất tầm thường hoặc vô giá trị. Năm 1966, toán nhận nhiệm vụ mới dò thám đường. Kết qủa cũng không được báo cáo. Năm 1968, toán được lệnh di chuyển về hướng nam để triệt xuất. Eagle báo cáo không tìm ra vị trí để triệt xuất, sau đó mất liên lạc luôn.

Tháng Mười Một năm 1965, đơn vị SOG dùng trực thăng đưa toán Romeo mười người vào vùng xâm nhập phiá bắc vùng phi-quân-sự. Nhiệm vụ của toán là lấy tin tức tình báo, dò thám đường và phá hoại. Mục tiêu chính yếu của toán là đường 103, con đường chính đưa quân đội Bắc Việt, đồ trang bị, tiếp liệu xâm nhập vào miền Nam. Theo bản báo cáo của đơn vị SOG, toán Romeo không đạt được
kết qủa mong muốn trong năm 1966 và không báo cáo trong năm 1967, 1968.

Toán Hadley cũng xâm nhập vào phiá bắc vùng phi-quânsự, dò thám đường số 8 nối liền đường số 15 và đường 81, 12 và 121 bên Lào. Những đường này quân đội Bắc Việt dùng để chuyển quân cũng như đồ tiếp liệu. Ngoài ra toán phải để ý dòng sông Ngan-Pho nguồn cung cấp nước chính yếu. Toán gặp trở ngại ngay lúc đầu bị địch phát giác lúc xâm nhập. Toán báocáo ngay tức khắc cho đơn vị SOG, tuy nhiên vẫn không có gì chứng minh toán Hadley hoạt động hữu hiệu hoặc báo cáo về những mục tiêu cho phi cơ oanh kích.

Toán chót được thả gần cuối năm 1967. Toán Red Dragon gồm bẩy biệt-kích quân xâm nhập ngày 21 tháng Chín 1967 trong vùng phiá bắc tỉnh Lào-Kay và Yên-Bái. Hai tỉnh điạ đầu nằm trong thung lũng sông Hồng dọc theo biên giới Việt-Hoa. Những trục lộ giao thông chính, đường rầy xe lửa, thủy lộ đều đi qua hai tỉnh này. Toán Red Dragon có nhiệm vụ dò thám và phá hoại. Theo các bản báo cáo về toán có sự bất đồng giữa người Hoa-Kỳ và Việt-Nam. Người Hoa-Kỳ tin là toán đã nằm trong tay địch quân và bị ép buộc phải gửi những báo cáo sai lầm về cho đơn vị
SOG. Các sĩ quan Việt-Nam tin ngược lại cho rằng toán vẫn còn hoạt động chưa bị bắt. Red Dragon vẫn tiếp tục liên lạc trong năm 1968, đến năm 1969 mới chấm dứt.

Theo tài liệu trong cuốn 'The Secret War Against Hanoi' tác gỉa Richard H. Shultz, Jr.

Carrollton, Texas Bạch-Hổ

Giới thiệu Nha-Kỹ-Thuật / TTM. 96


Trang 96
Nha Kỹ-Thuật (NKT) là cơ quan tình báo chiến lược của QLVNCH, là một đơn vị đặc trách tổ chức, hoạt động sưu tầm tin tức tình báo, phản tình báo chiến lược từ nội bộ cộng sản Bắc Việt cũng như trong hậu tuyến địch, những nơi có cơ sở, đơn vị cộng-sản trong và ngoài lãnh thổ VNCH.

Khởi đầu là Phòng 6 TTM do trung tá Lung đảm trách. Trong thời đệ nhất Cộng Hòa là sở Liên-Lạc Phủ Tổng-Thống và Lực Lượng Ðặc Biệt do đại tá Lê quang Tung làm tư lệnh. Sau cuộc chỉnh biến 11/63 cho đến tháng 4/75 lần lượt chỉ huy bởi các tướng Nghiêm, Quảng, Lam-Sơn, Phú, trung tá Lan, đại tá Hổ và cuối cùng là đại tá Nu. Danh xưng được đổi từ Phòng 6, đến sở Liên Lạc Phủ TổngThống, Lực Lượng Ðặc Biệt,sở Khai thác Ðiạ hình, và cuối cùng là Nha Kỹ Thuật.

Trong thời đệ nhất Cộnghòa, mọi hoạt động được đại tá Tung trực tiếp nhận chỉ thị cũng như phúc trình với Tổng Thống Ngô đình Diệm và cố vấn Ngô đình Nhu. Cũng trong thời gian này, mọi hoạt động được cố vấn và yểm trợ bởi cơquan Trung-Ương Tình-Báo CIA Hoa Kỳ. Sau tháng 11/63 mọi hoạt động đều trực tiếp qua đại tướng TTMT bộ TTM và được cố vấn, yểm trợ bởi cơ quan tình báo quân sự Hoa Kỳ SOG (Study and Observation Group). Các đơn vị, cơ sở thuộc NKT gồm: sở Công Tác, sở Liên Lạc, sở Phòng Vệ Duyên Hải, sở Tâm Lý Chiến, sở Không Yểm và trung tâm huấn luyện Quyết Thắng. Sở Công Tác đóng tại Sơn Trà, Ðà Nẵng, đoàn 11, 72 đóng tại Ðà nẵng, đoàn 75 đóng trên Pleiku và đoàn 68 tại Saigon. Các toán trong đoàn công tác được huấn luyện xâm nhập bằng hàng không hay đường bộ vào lòng địch tại Bắc Việt hay ngoại biên Lào, Miên hoặc Thái Lan. Sở Liên Lạc đóng tại Saigon, chiến đoàn 1 tạiÐà Nẵng, chiến đoàn 2 trên Kontum và chiến đoàn 3 tại Ban Mê Thuột. Các toán thuộc sở Liên Lạc xâm nhập vào hậu tuyến địch từ vĩ tuyến 17 trở vào cho đến mũi Cà Mau. Sở Phòng Vệ DuyênHải đóng tại Tiên Sa, Ðà Nẵng gồm Lực lượng Hải Tuần thuộc Hải Quân Việt Nam, xử dụng thuyền máy PCF, PT có tốc độ nhanh, hỏa lực mạnh để hoạt động phiá bắc hải phận vĩ tuyến 17. Lực lượng Biệt Hải được huấn luyện thành các toán Người Nhái để xâm nhập vào Bắc Việt bằng đường biển.

Sở Tâm Lý Chiến đóng tại số 7 đường Hồng Thập Tự, Saigon tổ chức và điều hành đài Tiếng Nói Tự Do và đàiGươm Thiêng Ái Quốc. Ngoài ra sở TLC còn có nhiệm vụ gửi cán bộ ra Bắc hoạt động trong lãnh vực tâm lý chiến. Sở Không Yểm đóng tại Saigon thuộc Không Quân Việt Nam để phối trí phi đoàn trực thăng 219, phi đoàn quansát 110 tại Ðà Nẵng trong việc xâm nhập, liên lạc, hướng dẫn và triệt xuất các toán hoạt động trong lòng địch. Trung tâm huấn luyện Quyết Thắng tại Long Thành, Biên Hoà huấn luyện về chiến tranh ngoại lệ cho các toán, các phương pháp xâm nhập vào đãt địch, hoạt-động nơi hậuphương địch, du kích chiến, ám sát, bắt cóc, phá hoại, chiến tranh tâm lý v.v...

Vì lý do bảo mật, tuy cùng đơn vị, nhiều quân nhân NKT không được phép tiếp xúc hay tìm hiểu nhiệm vụ của một số chiến hữu khác. Các cơ quan, đơn vị NKT đồn trú trên khắp bốn vùng chiến thuật hạn chế tối đa sự liên lạc với các cơ quan quân, dân, chính điạ phương. Vì vậy ít người biết về NKT hoặc chỉ biết mà không hiểu rõ về các hoạt động của NKT. Quân nhân, dân sự được tuyển chọn về NKT đều trải qua một cuộc điều tra tỉ mỉ về quá khứ và liên hệ. Tãt cả đều thuộc thành phần tình nguyện, các chiến sĩ NKT khi nhận nhiệm vụ đều thấu hiểu rằng đó là công tác gian nan nguy hiểm, khi ra đi ít hy vọng trở về an toàn. Bao nhiêu chiến sĩ đã hy sinh trên khắp vùng rừng núi Bắc Việt, ngoại biên và trong lãnh thổ VNCH.

Những chiến công oanh liệt, những thành quả tối quan trọng, các chiến sĩ thuộc NKT chỉ được khen thưởng, tuyên dương âm thầm, kín đáo trong đơn vị. Trải qua 20 năm hoạt động, qua nhiều cấp chỉ huy, giám đóc, đường lối hoạt động của NKT cũng có phần ảnh hưởng bởi các thay đổi trong các cấp lãnh đạo và diễn biến chính trị quốc tế về Việt Nam. Nha Kỹ Thuật đã nhiều lần thay đổi về cơ cấu tổ chức và các hoạt động, tuy nhiên các chiến sĩ NKT luôn luôn vì Tổ Quốc sẵn sàng hy sinh, nêu cao tinh thần phục vụ cho Tự Do, cho Lý Tưởng.

Trần bá Tuấn, K.B.C. số 9, 1988
Ngày Quân Lực 1996

Kế-hoạch 37 (Oplan 37) Biệt-hải. 126

Bắt đầu từ những tháng đầu năm 1961, cơ quan Trung Ương Tình Báo Hoa Kỳ (CIA) điều khiển những trận tấn công bất ngờ, phá hoại căn cứ quân sự dọc theo bờ biển miền Bắc. Các cuộc đột kích kể trên do những toán Biệt Hải đảm trách (Marops).
Ðến mùa thu năm 1962, sau khi đã đọc bản báo cáo kết qủa về những cuộc hành quân trên. Ðô Ðốc Harry Felt hết ý-kiến, cơ-quan CIA có-lẽ đã hết trò chơi... các cuộc hành quân biệt-hải không gây thiệt hại nào đáng kể cho chính quyền miền Bắc. Vị tư-lệnh Lực-Lượng Hoa- Kỳ trong vùng Thái-Bình- Dương hiểu biết về vấn đề hành quân biển hơn ai hết. Những toán biệt-hải do cơ quan CIA tuyển mộ xử dụng những chiếc tầu nhỏ mong manh, trang bị hỏa lực yếu kém. Ngay cả việc lái chiếc tầu nhỏ đến mục tiêu đã là một vấn đề khó khăn. Thực ra, trùm Xiạ (CIA) Bill Colby, người chịu trách nhiệm chỉ làm theo lệnh của Washington.

Ðến tháng Bẩy 1962, vị tư lệnh hành-quân biển, Ðô-Ðốc George Anderson được mời tham gia tổ chức những trận đột kích quấy rối bờ biển miền Bắc. Kế hoạch này nhằm mục đích làm cho Bắc Việt không còn đủ sức yểm trợ cho quân Việt-Cộng trong miền Nam. Người trực tiếp chịu trách nhiệm cho kế hoạch này la xịa (CIA) Tucker Gougelmann. Ông ta lập căn cứ nơi Ðà-Nẵng trong name 1961 và bắt đầu đưa những toán biệt hải ra ngoài Bắc. Kế hoạch hành quân biển (Marop) do cơ quan CIA điều khiển chỉ có tầm hoạt động giới hạn.

Nhiệm vụ chính là lấy tin tức, dò-thám bờ biển miền Bắc. Theo những tài liệu đã hết thời gian bảo mật, giai đoạn đầu trong kế-hoạch rất lặng-lẽ, tránh đụng độ với Hải-Quân Bắc Việt. Năm 1962, Gougelmann đưọc lệnh của Washington bắt đầu những trận đột kích phá hoại để trả đủa cho những hoạt động gia tăng của quân đội Bắc-Việt, và cũng để xây đựng những ổ kháng chiến nơi miền Bắc trong tương lai. Tổng-Thống Kenedy thúc nay cơ-quan CIA gia tăng những hoạt động bí mật ra ngoài miền Bắc Việt-Nam. Ðơn-vị Biệt-Hải dưới quyền Gougelmann xử dụng loại thuyền máy cũ-kỹ đóng ở trong miền Nam cho các trận đột kích. Ðiều này làm ÐôÐốc Felt không đồng ý, thuyền máy đã cũ không thể dùng để tấn công bất ngờ. Loại hành quân này cần tốc độ và bí mật. Khi Washington ra lệnh gia tăng các cuộc hành quân biệt hải, Hải-Quân Hoa-Kỳ được lệnh yểm trợ, cung cấp đồ trang bị cho cơ quan CIA để cơ quan này hoàn thành nhiệm vụ.

Tháng Tám 1962, Tướng Harkins tư-lệnh Bộ Chỉ-Huy Quân-Viện dự trù xử dụng loại tầu Torpedo (phóng thủy lôi) được căn cứ tiếp vận hải quân ở Ðà-Nẵng yểm trợ cho những hành quân biệt hải ra ngoài Bắc. Kế hoạch này được chính quyền Kenedy chấp thuận vào cuối tháng chín. Hải-Quân Hoa-Kỳ bắt đầu cứu xét, tìm loại tầu thích hợp cho các hành quân biệt-hải. Tháng Mười, phụ-tá Tổng- Trưởng Quốc-Phòng Hoa-Kỳ Roswell Gilpatric ra lệnh cho Ðô-Ðốc Anderson giao hai loại Topedo đóng từ năm 1950 PT-810, PT-811 cho cơ-quan CIA. Hai loại này trang bị hai đại bác 40 ly, hai đại bác 20 ly, và được đặt tên mới là PTF-1, PTF-2 (Tầu tuần tiễu nhanh - Patrol Type Fast)..

Ðầu năm 1963, Hải-Quân Hoa-Kỳ mua hai loại tầu Nasty (PTF-3, PTF-4) của Hải-Quân Na-Uy, loại này chạy rất nhanh và tránh được radar. Mặc dầu chuyện bí mật, Ðô-Ðốc Anderson gửi hai loại tầu Nasty đến Washington biểu diễn hành quân và yểm trợ đổ bộ. Cuộc biểu diễn trên sông Potomac do các toán biệt kích Người-Nhái SEAL, cũng mới thành lập đảm trách. Cơ quan CIA nhận được những chiếc tầu Nasty trong những tháng cuối năm 1963. Ðể lái loại tầu này xâm nhập hải-phận Bắc Việt-Nam, cơ quan CIA tuyển mộ lính đánh thuê người Na-Uy và Ðức. Trợ lức cho cơ-quan CIA, Hải- Quân Hoa-Kỳ cho mượn đơn vị SEAl để huấn luyện biệt kích quân Việt-Nam về hành quân phá hoại và cung cấp đồ tiếp vận cũng như bảo trì các loại tầu PTF.

Trong khi chương trình đang tiếp diễn, Tổng Thống Kenedy ra lệnh xúc tiến ke áhoạch Ðổi-Lui (Switch Back). Tất cả các hoạt động của cơquan CIA nơi miền Bắc Việt Nam được bàn giao cho Ngũ- Giác-Ðài, Bộ Tổng-Tham- Mưu Quân-Lực Hoa-Kỳ, kể cả chương trình Hành-Quân
Biệt-Hải. Mới đầu nằm trong kế-hoạch 34-A, một bộ phận trong Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG). Ðầu name 1964 đơn vị SOG thành lập Ban Cố-Vấn Hải-Quân, danh xưng cho kế-hoạch 37 ở Ðà- Nẵng. Ban Cố-Vấn Hải-Quân thực sự làm việc từ đầu tháng Giêng năm 1964, nhiệm vụ bao gồm các hành quân biệt hải bí mật. Năm sau, một văn phòng liên lạc được thành lập trong đơn vị SOG trông coi kế hoạch 31 (OP-31) văn phòng này lo về nhân viên, Ban Cố-
Vấn Hải-Quân (NAD) là cánh tay hành động. Nằm dưới quyền chỉ huy của SOG. Tìm một sĩ-quan hải-quân cấp bậc đại-tá trong Quân-Lực Hoa- Kỳ không khó, tuy nhiên viên sĩ quan này phải rành về Chiến-Tranh Ngoại-Lệ mới có thể làm việc cho đơn vị SOG.

Kết qủa là Ban Cố-Vấn Hải-Quân thay cấp chỉ huy liên tục, Vị chỉ huy đầu tiên là Jack Owens được một năm, Ðại-Tá Bob Fay lên thay. Không như sĩ-quan hải-quân thuần túy Owens, Fay xuất thân từ đơn vị Người Nhái. Ngày 28 tháng Mười name 1965, chiếc xe Jeep chở ông ta trúng đạn pháo kích của Việt- Cộng và là sĩ quan Hoa-Kỳ đầu tiên trong đơn vị biệt-hải tử trận trên chiến trường Việt- Nam. Ðại-Tá Fay mới chỉ huy NAD được sáu tháng, những cấp chỉ huy kế tiếp cũng không rành về chiến tranh ngoại lệ, họ đều mang cấp bậc Hải-Quân Ðại-Tá. Sau Fay, NAD được chỉ huy bới các vị sĩ quan William Hawkins, Willard Olson, Robert Terry và Norman Olson. Kế-Hoạch 37 do NAD đảm trách được giao cho trách nhiệm tấn công, phá hoại những mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Vùng hoạt động từ vĩ-tuyến 17 ra đến vĩtuyến 21, và trong vòng 30 dặm dọc theo bờ biển, Theo lệnh hành-quân, khu vực hoạt động của các toán biệt hải nằm dưới hải cảng Hải- Phòng. Sáu loại nhiệm vụ được giao phó, 'Ngăn chận và
quấy phá' bao gồm ngăn chận, bắt tù-binh, thẩm vấn, tiêu-hủy v.v... tất cả các loại tầu võ trang, tiếp vận của miền Bắc. Phá hoại đường tiếp vận biển, tiếp tế cho Việt- Cộng trong miền Nam. Bắn phá các mục tiêu dọc theo bờ biển.

Ðột kích lên bờ, tấn công các căn cứ quân, dân sự. Thả biệt-kích, điệp viên xâm nhập miền Bắc. Tâm-lý chiến, thả truyền đơn, radio, qùa tặng cho nhân dân miền Bắc. Mặc dầu đơn vị SOG tài trợ, huấn luyện, tất cả những cuộc hành quân biệt hải, vượt tuyến đều do biệt-kích, người nhái Việt Nam đảm trách. Trong năm 1964, Ban Cố- Vấn Hải-Quân (NAD) gồm bẩy ban, những ban quan trọng lo việc huấn luyện thủy thủ đoàn lái tầu Nasty, và các toán biệt-hải. Kế hoạch 37 phối hợp giữa đơn vị SOG và Nha Kỹ-Thuật QL/VNCH. NAD soạn thảo kế hoạch hành quân, huấn luyện thủy thủ, biệt-kích và tài trợ cho kế hoạch. Sở Phòng-Vệ Duyên- Hải trực thuộc Nha Kỹ-Thuật lo những vấn đề yểm trợ khác, sở này có năm toán 15 quân nhân biệt-hải, mười toán nhân viên thủy thủ đoàn lái tầu Nasty và toán bảo trì.

Tất cả nằm trong kế-hoạch 37. Nhiệm vụ chính của sở là tuyển mộ thủy thủ, biệt-kích quân. Tất cả mọi cuộc hành quân biệt-hải đều phải được sự chấp thuận của giới chức thẩm quyền ở thủ-đô Washington D.C. Cơ-quan NAD chọn mục tiêu, soạn thảo kế-hoạch hành quân, phối hợp và điều khiển cuộc hành quân. Từ tháng Tư cho đến tháng Mười Hai name 1964, các toán biệt hải vượt tuyến tất cả 32 lần tấn công, phá hoại các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc như trạm kiểm soát, cầu, các đảo nhỏ, đài radar. Ngày 12 tháng Sáu, biệt hải phá hủy một nhà kho, cuối tháng phá xập một cây cầu ở ngoài Bắc. Trong tháng Bảy, phá hủy một nhà máy bơm nước, đánh chìm ba tầu nhỏ. Ngày 30 tháng Bảy, bốn chiếc PTF chạy ra ngoài bắc bắn phá. Họ đến điểm hẹn đông nam Hòn Me (19 độ Bắc, 106 độ 16' đông). Từ đó chia tay, PTF-3 và PTF-6 hướng về Hòn Me, PTF-5, PTF-2 đi về Hòn Niêu. Cả hai đến bắn phá binh trạm, xưởng ráp súng, đài tiếp liên trước khi chạy về hướng nam do tầu Swatows của Hải Quân Bắc Việt đuổi theo.

Chuyện này liên quan đến vụ chiến hạm Maddox ngoài khơi vịnh Bắc Việt. Cuối năm 1964, đơn vị SOG ra lệnh cho NAD gia tăng các chuyến hành quân biệt-hải. Kết qủa trong năm 1965, có 170 chuyến vượt tuyến bắn phá, quấy rối hải phận miền Bắc Việt-Nam. Năm 1966, NAD tổ chức 126 hành quân chính và 56 phụ. Hà-Nội đã tăng cường lực lượng duyên phòng dọc theo bờ biển gây trở ngại nguy hiểm cho các toán biệt-hải. Càng khó khăn hơn cho những trận tấn công đột kích lên bờ, trong 34 trận tấn công loại này chỉ có bốn trận được coi như thành công. Bắt đầu từ năm 1967, các hành quân biệt hải trong kế hoạch OP 37 giảm đi cường độ. Năm 1967 chỉ có 151 cuộc hành quân, hoàn tất 125, hủy bỏ 19 vì vấn đề thời tiết, 7 bị hư hại tầu bè hoặc nhân viên. Ngày 1 tháng 11 năm 1968, mọi cuộc hành quân vượt tuyến trong kế hoạch OP 37 đều đình chỉ. Ðến tháng Bảy năm 1971, Sở Phòng-Vệ Duyên-Hải hoàn toàn chịu trách nhiệm cho các chuyến hành quân biển.

Theo tài liệu 'The Secret War Against Hanoi' by Richard H. Shultz Jr.
Carrollton, Texas 05/03/2000 Bạch-Hổ

Kế-hoạch 35 (Oplan 35) Vượt-biên. 112

Kế hoạch 34-A Tâm-lý chiến. 108


TÂM LÝ CHIẾN


Chiến-tranh tâm-lý, mật hiệu Forae được chấp thuận ngày 14 tháng Ba năm 1968. Tướng Westmoreland cho phép bằng lời nói chứkhông có trên giấy tờ. Ðiều này cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì đường lối hoạt động của đơn-vị SOG và những kế-hoạch bí mật đàng sau hậu phương địch. Forae bắt đầu với sáu kếhoạch, ba trong số đó đượcgiao cho đơn-vị Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) để áp dụng trong chương trình Chiến Tranh Tâm Lý. Ba kế hoạch còn lại nằm trong kế-hoạch 34-A và trở nên rường cột trong chương trình 'Trở mặt'. Chương trình Forae nhằm mục đích làm cho địch bối rối về mặt tâm-lý. Bob Kingstonquyết định 'Ðặt máy phát thanh trên miền Bắc Việt-Nam', một số máy do các toán biệt-kích đem theo gài, số khác thả bằng dù. Những máy phát thanh đó đã được điều chỉnh trước để phát đi hai đài phát thanh 'đen', đài GươmThiêng Ái Quốc và đài CờÐỏ. Ðiều này sẽ làm địch phải xử dụng lực lượng anninh biên-phòng đi lùng những toán quân biệt-kích mà thực ra chỉ là những máy phát thanh. Ngoài ra những đài phát thanh đen này còn gửi những mật điện cho những toán biệt-kích đang hoạt động ngoài Bắc hoặc những mật điện giả làm bối rối địch quân.

Năm 1968, vị đảm trách kếhoạch 34-A là Bob McKnight, ông ta có một tổ nhỏ gồm những sĩ quan lo việc điều nghiên, tìm hiểu hệ thống an ninh nội bộ trong hàng ngũ địch quân. Họ cấu tạo một hệ thống 'trở mặt tay ba' rất phức tạp. Kế-hoạch này gồm ba chương trình.

Chương trình Borden do ÐạiÚy Bert Spivy đảm nhiệm, tuyển mộ tù binh Bắc Việt làm gián điệp cho đơn vị SOG. Họ đến những trại giam tù binh Bắc Việt do quân đội Toán biệt kích trở về sau chuyến xuất ngoại qua Lào Hoa-Kỳ bắt được, chiêu dụ những tù binh 'biết-điều' mời hợp tác (Họ không dùng những tù binh do QLVNCH bắt được). Một điều các tù binh được chọn lựa không biết rằng người Hoa-Kỳ có thật lòng hay không? Thực ra, trong hồ sơ của chương trình Borden, họ hy vọng phần lớn
những tù binh này sẽ ra trình diện và báo cáo cho cấp chỉ huy trong quân đội Bắc Việt về nhiệm vụ của họ. Những nhiệm vụ này đều giả tạo cũng như những tin tức tình báo mà người Hoa-Kỳ đã trao cho những điệp viên 'đi hàng ba' này. Khi được thả dù trở ra ngoài Bắc, những cựu tù binh sẽ hoạt-động cho kế-hoạch 34-A một cách mù-quáng mà họ không biết. Trùm đơn vị MACV-SOG, Ðại Tá Steve Cavanaugh thay thế Jack Singlaub trong tháng Chín năm 1968 cắt nghiã 'Trong thời gian huấn luyện, chúng tôi cho người điệp viên biết về nhiệm vụ liên lạc với các toán biệt-kích đang hoạt động ngoài Bắc và trao cho họ những tin tức, lệnh lạc... Lẽ dĩ nhiên là không có toán biệtkích nào ở toạ độ đó cả. Tất cả đều giả tạo, cúng tôi mong họ ra trình diện hoặc bị bắt để họ báo cáo cho các sĩ quan
trong quân đội Bắc Việt về những toán quân 'biệt-kích ma' đang hoạt động trong hậu phương của họ.

Trong chương trình huấn luyện, những quân nhân thuộc Nha-Kỹ-Thuật VNCH được gài vào để thỉnh thoảng 'rỉ-tai' cho tù binh Bắc Việt về những toán biệt kích đã ra hoạt động ngoài miền Bắc 'phe ta đang làm ăn khấm-khá' và tin đồn về những tổ chức kháng chiến đang được xây dựng ở ngoài Bắc. Họ cũng cung cấp cho tù binh những tin tức sai-lầm hoặc báo cáo giả do điệp viên hay những toán biệt-kích gửi về. Lúc thả dù xuống miền Bắc, tù binh 'hàng ba' cũng được trao cho vinh dự nhẩy ra Một toán Earth Angels (tu øbinh Bắc Việt) trước vì đậu thủ khoa trong khoá huấn luyện. Những người trong toán sẽ nhẩy theoanh ta. Ðiều người cựu tù binh không được biết là khi anh ta đã rơi vào màn đêm, toán biệt kích thứ thiệt sẽ tháo dây móc dù ra và ngồi xuống ghế. Mọi chuyện đều xắp đặt trước, đến khi quân Bắc Việt tìm thấy dù vướng trên ngọn cây, toán biệt kích đã biến mất... Thực ra đó là những tảng nước đá đã tan ra nước.

Cũng theo Spivy, lúc bắt đầu chương trình Borden, họ dự trù thả xuống miền Bắc hàng trăm điệp viên 'tù binh' mỗi năm. Trong năm 1968, lúc chương trình bắt tiến hành, hồ sơ có ghi rõ là 98 tù binh được tuyển mộ, năm mươi người bị loại và 44 người được thả xuống những khu vực do quân đội Bắc Việt hoặc Việt Cộng kiểm soát... Bốn người khác sẽ được thả dù xuống vào tháng Giêng năm 1969. Năm 1968 được coi như thành công, rồi đến cuối năm Washington ra lệnh chấm dứt tất cả những kế hoạch vượt biên ra ngoài miền Bắc.
Chương trình Urgency gồm hai lãnh vực. Lãnh vực một đối với lính Bắc Việt, đảng viên cộng-sản không chịu hợp tác. Thành phần tin tưởng vào Bác và Ðảng. Kế-hoạch 34-A có hai cách giải quyết, cách thứ nhất tìm họ trong những trại giam tù binh hoặc bắt cóc trong chương trình Plowman, hành quân biển bắt cóc dân sống ngoài miền Bắc của đơn vị SOG. Những người này sẽ được đem ra đảo Paradise (Hải đảo Thần Tiên)hay cù lao Chàm ngoài khơi Ðà Nẵng. Họ bị nhồi sọ về những tổ chức kháng chiến ngoài Bắc,đài phát thanh Gươm Thiêng Ái Quốc do khối Chiến Tranh Tâm Lý của đơn vị SOG điều hành. Theo Bob McKnight, những tay cứng đầu này bị dàn cảnh chụp mũ làm điệp viên cho người Hoa Kỳ rồi thả ra trở lại miền Bắc... Chúng tôi hy vọng rằng họ sẽ bị bắt, bị tra tấn và bị giết... bởi chính bàn tay của họ.

Cách thứ hai dành cho những tù binh ngoài cù lao Chàm muốn hợp tác, họ được huấn luyện để trở thành điệp viên, được gửi ra miền Bắc nằm chờ lệnh, sẽ liên lạc sau. Thực ra kế hoạch 34-A đã bắt đầu chương trình này từ năm 1967, hai điệp viên bí danh Goldfish và Pergola đã trở ra ngoài Bắc trong tháng Chín năm 1967. Cả hai đều biệt tăm.

Chương-trình Oodles dùng hệ thống phát thanh, truyền tin đánh lạc hướng quân Bắc Việt. Trong hồ-sơ của đơn-vị SOG, chương trình Oodles nguỵ tạo ra một màng lưới điệp viên đang hoạt động rất hữu hiệu trong một số vùng chọn lưạ ngoài Bắc. Cho đến khi chương trình chấm dứt, có 14 toán biệt kích ma hoạt động trong lòngđịch. Ðể làm như thật, nhiều điện văn giả được gửi đi những toán biệt-kích ma. Những điện văn giả bao gồm, lệnh hành quân lấy tin tình báo cho những mục tiêu, báo cáo về những hoạt động của các toán biệt kích khác, những chuyến thả dù tiếp tế sắp tới, và tăng cường thêm nhân lực. Họ cũng làm những chuyến thả dù tiếp tế, nhưng khi quân biên-phòng Bắc Việt đến chỉ thấy những kiện hàng trống rỗng còn đồ tiếp liệu đã biến mất, điều này làm cho địch quân càng tin là những toán quân biệt-kích ma là có thật. Cũng như Borden và Urgency, tất cả đều chấm dứt
vào cuối năm 1968.

Chương trình Strata là những toán biệt-kích hoạt động ngắn hạn. Những toán Strata cũng được thả ra ngoài Bắc với nhiệm vụ dò-thám đường xá, và tìm mục tiêu chiến lược. Chương trình này bắt đầu từ tháng Năm năm 1967. Hai toán Strata đầu tiên xâm nhập miền Bắc vào cuối năm đó. Vùng hoạt động của những toán biệtkích Strata nằm dưới vĩ tuyến 20, khoảng 150 dặm phiá bắc vùng phi-quân-sự. Toán xâm nhập lấy tin tức về hệ thống đường mòn dẫn đến ba ngọn đèo để cuối cùng sẽ nhập vào đường mòn Hồ Chí Minh trên đất Lào. Những toán biệt-kích Strata chỉ hoạt động trong thời gian ngắn do đó họ có cơ-hội sống-sót nhiều hơn những toán biệt kích thả sâu ngoài miền bắc trước đây.

Những toán Strata thường gồm từ 5 đến 15 biệt-kích quân Việt-Nam hoặc người thiểu số xâm nhập miền Bắc bằng trực thăng Hoa-Kỳ hoặc Việt-Nam... Thời gian hoạt-động trong lòng địch khoảng 15 cho tới 30 ngày. Hai mươi bốn toán như vậy đã xâm nhập miền Bắc trong năm 1968. Ngoài nhiệm vụ dò thám đường, các toán Strata còn thêm nhiệm vụ gài mìn bẫy, bắt tù binh và rải truyền đơn trên những lộ trình có dân hoặc quân đội Bắc Việt di chuyển qua. Ðến năm 1969, các toán biệt-kích Strata chuyển hướng hoạt động qua đất Lào và Kampuchia.

Theo tài liệu trong cuốn'The Secret War Against Hanoi' by Richard H. Shultz.

Carrollton, Bạch-Hổ

Oplan 39 Chiến Tranh Tâm Lý 131

Dưới vĩ-tuyến 17, dọc theo hải phận Việt-Nam, ngoài khơi Ðà-Nẵng có một đảo nhỏ tên là cù-lao Chàm, người Hoa-Kỳ gọi là Paradise island (Hải-ÐảoThần-Tiên). Ðảo này trở nên phần đất tự-do cho những người dân sống dọc theo bờ biển miền Bắc Việt-Nam bị bắt cóc đem đến đảo trongphong trào Gươm-Thiêng Ái-Quốc.

Trước hết, kế-hoạch 39 (OP 39) xây dựng trên đảo những làng nhỏ theo khuôn mẫu những làng dọc theo bờ biển Bắc Việt-Nam. Phải nói là giống y hệt, đơn vị SOG để ý đến từng chi tiết nhỏ. Vấn đề là làm sao đem những người dân miền Bắc đến đảo và cho họ tin rằng vẫn còn sống trênđất Bắc. Ðể thực hiện điều này, đơn vị SOG lập một đơn vị Biệt-Hải cho phong-tràoGươm-Thiêng Ái-Quốc. Bắt đầu từ tháng Năm 1964, những chiếc tầu võ trang không tên xâm nhập vào hải phận miền Bắc Việt-Nam, bắt cóc ngư-dân miền Bắc và đưa họ đến cù-lao Chàm. Nhân viên thủy thủ trên những chiếc tầu bí mật đó đều nói giọng miền trung hoặc bắc Việt-Nam, nhiều người di cư vào nam trong năm 1954. Trên tầu có treo cờ của phong-trào Gươm-Thiêng Ái-Quốc và thủy thủ đoàn tự xưng là hội viên của phong trào.

Những hoạt-động biệt-hải là sự kết hợp giữa hai kếthoạch 39 và 37. Ban Cố-Vấn Hải-Quân là tên mật cho kếhoạch 37 nằm tại Ðà-Nẵng. Nhóm này trông nom tầu bè, nhân viên thủy thủ biệt phái cho phong trào Gươm-ThiêngÁi-Quốc trong những hải vụ bắt cóc thường dân ngoài miền Bắc. Thiếu-Tá Roger McElroy, một trong số rất ít người Hoa-Kỳ đã thực sự ra đến miền Bắc trong một hảivụ kể trên. Ông ta kể rằng những chiếc tầu đó được đóng bằng gỗ để tránh bị radarkhám phá và dấu ở Ðà-Nẵng
chứ không để trên đảo... Thỉnh thoảng tôi đi theo toán biệt-hải, lúc lên tầu tôi mặc quần áo ngụy trang, đội lưới che mặt và không đem theo giấy tờ hay vật dụng gì chứng minh tôi là người Hoa-Kỳ. Khi vào đến hải phận miền Bắc Việt-Nam, McElroy không được lên trên bong tầu, nhiệm vụ của ông ta là liên lạc với lực lượng hải-quân Hoa-Kỳ đang hiện diện ngoài khơi vịnh Bắc Việt.

Khi bắt được ngư dân hoặc thường dân nơi bờ biển, họ được cho biết là nằm trong tayphong trào Gươm-Thiêng Ái-Quốc, một phong-trào yêu nước và họ sẽ được đưa đến phần đất đã được giải-phóng dọc theo bờ biển. Những người bị bắt cóc sau đó được cho biết là vì lý do an ninh nên phải bịt mắt lại và đưa xuống dưới hầm tầu. Khi đến cù-lao Chàm, họ được đưa lên trên bong tầu, gỡ băng che mắt ra, và trước mắt họ là một làng đã được giải phóng ... dường như đâu đó ở ngoàiBắc. Ðó mới là phần đầu, những ngày sau đó là phần tuyên truyền, nhồi sọ.

Theo Ðại-Tá Don Blackburn, một trong những ông trùm trong đơn vị SOG 'Mục đích của kế-hoạch 39 này là làm cho họ tin rằng đang ở trong một làng giải-phóng ở miền Bắc. Khi trả họ về, họ sẽ loan tin là lực lượng kháng chiến có thật và đã giải phóng nhiều vùng ở ngoài Bắc'. Những người bị bắt cóc sẽ sống trên đảo khoảng ba tuần lễ. Trong thời gian đó họ chỉ gặp những người nói giọng miền Bắc, họ ăn uống, nói chuyện về đời sống dưới chế độ cộng-sản, những điều về phong trào Gươm-Thiêng Ái- Quốc. Có người được đưa đi thăm những làng ở trên đồi, gây cho họ ý-tưởng về những căn cứ kháng chiến nằm sâu trong vùng rừng núi ngoài Bắc. Jack Singlaub thay Blackburn kể thêm 'Chúng tôi lo cho họ rất chu đáo, người nào cũng mập ra, chữa bệnh cho họ làm cho họ cảm thấy sống trong vùng kháng chiến sướng hơn dưới chế độ cộngsản. Chúng tôi lấy tin tức từ những người bị bắt cóc và cho họ biết những xấu-xa suy-đồi của giới lãnh đạo Hà-Nội. Những ngư dân đôi khi cho biết về những viên chức tham nhũng ngoài Bắc. Ðài Gươm-Thiêng Ái-Quốc nêu đích danh tên tuổi những giới chức tham-ô, lạm dụng quyền lực của địch rất chính xác, gây sự nghi ngờ trong nội bộ chính quyền miền Bắc.

Trong những ngày cuối cùng ở cù-lao Chàm, họ được dặn dò liên lạc với phong tràoGươm-Thiêng Ái-Quốc điạ phương. Họ được trao qùa lưu niệm, những đồ dùng khan hiếm ở ngoài Bắc và máy radio để nghe đài Gươm-Thiêng Ái-Quốc. Sau đó họ được đưa trả về làng cũ bằng cách như lúc họ bị bắt cóc đưa đến Hải-Ðảo Thần-Tiên (Paradise island) hay cù-lao Chàm.

Năm 1966 là năm hoạt động mạnh nhất, 353 ngư dân hoặc thường dân ngoài Bắc được đưa đến cù-lao Chàm. Từ năm 1964 đến 1968, tất cả 1003 người được phong trào Gươm-Thiêng Ái-Quốc 'truyền giáo'. Kế hoạch 39 có nhiều cách làm việc rất độcđáo... như chuyện tiểu thuyết. Trong những hải vụ xâm nhập, thỉnh thoảng cũng có đụng độ với tầu tuần-duyên Bắc Việt. Trong trường hợp này, phe ta bắt được tù binh chứ không phải bắt cóc thường dân. Tù binh sẽ bị đưara tòa án Gươm-Thiêng Ái-Quốc bị khép tội chống lại quê-hương của họ và lãnh án tử hình. Tuy nhiên bản chất của phong-trào Gươm-ThiêngÁi-Quốc là phụng-sự hòabình, do đó tù-nhân được ân xá và được đối xử nhân đạo như bao người khác trên đảo. Những tù binh này sẽ được rỉ tai, nhồi sọ kỹ hơn và trước khi được trả về làng cũ, đương sự phải viết giấy thú tội, thề sẽ trung thành với phong trào.

Trường hợp khác, đối với những ai có thiện chí, muốn hợp tác, họ sẽ được chọn lọc, huấn luyện thêm để làm việc cho phong trào. Khi trở về lại nguyên quán họ sẽ hoạt động ngầm, quảng bá cho quần chúng về phong trào Gươm-Thiêng Ái-Quốc. Những người thực sự muốn ở lại phần đất tự do, sẽ được gửi vào miền Nam sống trong những khu định cư dành cho hồi chánh viên.

Ðơn vị SOG thúc đẩy phongtrào Gươm-Thiêng Ái-Quốc hoạt động mạnh hơn, xúi-dục dân chúng miển Bắc võ trang chống lại chế độ hoặc tổ chức ám-sát giới chức lãnh đạo. Tất cả mọi dự án đều không được Washington chấp thuận. Tài liệu đã hết hạn bảo mật cho biết, Washington có bốn trở ngại. Thứ nhất bành trướng phong trào Gươm-Thiêng Ái-Quốc sẽ vi phạm đến những điều luật trong kế hoạch chống lại nhà cầm quyền Hà-Nội. Thứ hai, Washington e ngại phong trào sẽ đi quá trớn, rất khó kiểm soát. Thứ ba, sự khủng hoảng ngoài Bắc có thể làm Hà-Nội phản ứng mạnh mẽ bằng cách xua quân vào chiếm miền Nam. Thứ tư trường hợp chế độ miền Bắc suy-xụp, rất có thể Trung Cộng sẽ nhẩy vào vòng chiến như trong trận chiến tranh Triều Tiên.

Song-song với đài Gươm-Thiêng Ái-Quốc, kế hoạch 39 tạo nên nhiều đài phát thanh'đen' khác. Ðài Tiếng Nói Tự-Do (Voice Of Freedom), đài này thường đọc tin tức, nói về văn-hóa, Tuyên truyền cho người dân miền Bắc biết về đời sống trong thế-giới tự do. So sánh nếp sống của người dân sống trong hai miền Bắcvà Nam Việt-Nam. Ðài cũng tường thuật chính xác về những tin tức liên quan đến
chiến tranh. Năm 1968, đài phát thanh 75 giờ hàng tuần trên năm ngôn ngữ.

Ðài phát thanh Cờ Ðỏ (Red Flag) là tiếng nói của những người thoát ly chống lại chếđộ cộng-sản miền Bắc. Ðài chỉ trích giới lãnh-đạo Hà-Nội đã ngả xang Trung Cộng và người Tầu đã xúi dục miền Bắc gia tăng cuộc chiến tranh xâm lược, làm cho nhân dân miền Bắc phải chịu đựng nhiều cực nhọc, hy sinh nhânmạng không cần thiết. Ðài CờÐỏ làm lợi cho cộng sản Nga sô.


Cơ quan Trung-Ương Tình-Báo CIA lập đài phát thanhSao-Ðỏ (Red Star) chống lại Mặt Trận Giải Phóng MiềnNam (Việt Cộng). Ðài này loan tin cho rằng Mặt Trận là bù-nhìn của chế độ cầm quyền ngoài miền Bắc và Cộng sản miền bắc làm theo lệnh của sư-phụ Trung Cộng.

Khẩu hiệu của đài là 'Miền Nam Việt-Nam là của người miền Nam'.

Tất cả các hoạt động ngoài vĩ-tuyến 17 được lệnh chấm dứt vào tháng 11 năm 1968, chính quyền Johnson quyết định nhận đề nghị của Hà-Nội tìm giải pháp cho hòa bình. Kế hoạch 39 phải bỏ rơi Hải- Ðảo Thần-Tiên, chỉ còn lại những đài phát thanh 'đen'.


Carrollton, Bạch-Hổ

Xâm nhập vùng Khe-Sanh 148


Đầu năm 1966, đại-sứ Hoa-Kỳ bên Ai-Lao William Sullivan, rộng-rãi thêm chút đỉnh, cho phép Đoàn Nghiên-Cùu, Quan-Sát (SOG) xử-dụng trực thăng để thả hoặc bốc các toán viễn thám. Ông cũng đồng ý cho SOG hoạt-động dọc theo biện giới Lào-Việt trong vòng 20 cây-số trên đất Lào. Thêm phần trách nhiệm, đến giữa năm 1966 đơn-vị SOG tăng số toán viễn-thám lên đến hai mươi toán và thêm vài đại đội xung-kích tuyển mộ từ các bộ lạc sắc dân thiểu-số. Cũng trong thời gian này, SOG được trang bị súng tiểu liên CAR-15, nòng ngắn chỉ bằng nửa khẩu M-16 và báng xếp. (Quân lực VNCH lúc đó vẫn chưa được cấp phát súng M-16. Phải đợi đến sau trận Tết Mậu-Thân). Những toán viễn-thám cuả SOG là những đơn vị duy nhất trang bị súng CAR-15. Tuỳ theo nhiệm vụ, quyết định cuả toán trưởng, họ được đem theo tất cả mọi thứ vũ khí trên thế giới, tiểu liên Uzi cuả Do-Thái, K-9 Thụy-Sĩ, kể cả vũ khí trong khối cộng-sản AK-47, B-40.

Muà hè 1966, SOG bắt đầu nhiệm-vụ mới, kiểm-chứng trận dội bom (Bomb Damage
Assessment). Các toán viễn thám sẽ được thả xuống khu vực vừa mới bị phi tuần B-52 thả bom. Điều này chưa từng thực hiện trong trận Thế-Chiến thứ hai cũng như trongchiến tranh Triều-Tiên. Toán viễn thám xâm nhập vào vùng có hàng ngàn địch quân trang bị đầy đủ và đang căm phẫn vừa mới bị đánh bom. Qua sự kiểm chứng cũng như không ảnh do phi cơ U-2 chụp, ngành tình báo có thể biết được các ToánLôi HổViệt-Mỹ hoạt động cuả quân Bắc Việt trên đường mòn Hồ-Chí-Minh. Đến giữa năm 1966, SOG nổi tiếng trong ngành tình báo là họ có thể đến bất cứ nơi nào và dám làm nhiều chuyện. Tháng bẩy 1966, hành-quân Shining Brass đã xâm nhập vùng hoạt động cuả địch trên đất Lào 48 lần, thiệt hại rất nhẹ, một chết, tám bị thương (Hoa-Kỳ). Muà hè năm đó, SOG di chuyển các toán viễn thám đến căn cứ Khe-Sanh dò thám vùng phi-quân-sự dài 14 dặm chia đôi Bắc và Nam Việt-Nam cũng như về hướng tây trên đường số 9 qua đất Lào đến Tchepone, nơi quân Bắc Việt đóng quân, làm đường.

SOG đưa các toán viễn thám xâm nhập từ một trại LLĐB nhỏ nằm bên cạnh phi đạo.
Một trong những khám phá mới là 'Khe núi xe đạp', thung lũng hẹp nơi quân Bắc Việt
chất đồ lên xe đạp trước khi lên đường xuôi nam, mỗi chiếc có thể tải trên 200 kí-lô
lương thực, vũ-khí, quân dụng. Dân công đẩy xe từ trạm này qua trạm nọ rồi đạp xe không
về tải chuyến khác. Xe vận tải của địch di chuyển rất nhộn nhịp nơi hướng tây vùng phi quân-
sự, từng đoàn xe chạy hằng đêm trừ khi bị ném bom, lúc đó các xe ủi đất công binh
và dân công ra lấp hố bom, dọn dẹp chướng ngại vật rất nhanh chóng.

Quân Bắc Việt xuôi nam rất tự-túc, họ đi bộ mang theo ít đồ ăn khi rời miền Bắc. Họ
đóng quân dọc theo đường mòn Hồ-Chí-Minh, săn bắn, trồng trọt để có thêm thực
phẩm phụ trội. Những nơi biệt kích khám phá ra, đều phải công nhận địch quân ngụy
trang rất khéo và cẩn thận, hầu hết hệ thống đường mòn, binh trạm, kho tiếp vận, bãi chứa xe
đều không thấy trên không ảnh, chỉ có những toán quân biệt-kích mới tìm ra, nhờ xâm
nhập trên bộ vào sâu trong lòng địch.

Tại Khe-Sanh, các toán viễn thám tin tưởng nơi hai phi công tài ba, can đảm thuộc phi-đoàn
219 KL/VNCH có biệt danh Cowboy và Mustachio. Hai tay này dám vào bốc các biệt-kích
quân đang bị vây, bất chấp hoả lực của địch cũng như thời tiết xấu. Mustachio bay một phi vụ
đáng ghi nhớ trong một đêm giữa năm 1966, một toán viễn thám bị tấn công tại điểm đóng
quân đêm, chạy thoát nhưng phải đem theo mấy đồng đội bị thương, có lẽ sẽ không thoát
trước khi trời sáng Phi công trực thăng Mỹ-Việt đều lắc đầu không dám bay trong màn
đêm, ngoại trừ Mustachio tình nguyện bay. Chuyến ra đi gần như vào cõi chết, nên
Mustachio đi một mình, không đem theo phi công phụ cũng như xạ thủ đại liên. 'Tôi không
biết làm sao Mustachio đem họ (biệt-kích quân) ra được.' Scotty Crerar nói 'Chiếc trực
thăng bay về với 88 lỗ đạn và viên phi công bị bắn mất ngón tay cái'.

Buồn thay, vài tuần sau Mustachio trong một chuyến chở toán Nevada về Kontum, khi chiếc trực thăng bay gầnKhâm-Đức, đuôi máy bay rớt ra đập vào thân tầu làm văng các toán viên cùng phi hành đoàn ra giữa trời, tất cả đều thiệt mạng. Ngoài Mustachio cùng phi hành đoàn, toán viễnthám Nevada gồm Thượng-sĩ Ralph Reno, Trung-sĩ Donald Fawcett, các biệt-kích Nùng,thêm sĩ-quan hành-quân Đại-Úy Edwin MacNamara. Các toán viễn thám vào đem được
xác các quân nhân bị tử nạn về trừ ra xác Reno.

Ba tuần sau, một toán viễn thám xâm nhập khu vực hướng tây Khe-Sanh, sang ngày thứ
ba toán biệt kích trên đường xuống núi Cơ-Rốc đến một con suối lớn để lấy nước uống.
Trung-sĩ nhất Whalen cùng Sain canh chừng cho Trung-sĩ Laws, hai biệt-kích Nùng
xuống suối lấy nước trước. Khi Whalen định báo động, Sain trúng đạn AK vào mặt, không
kịp bắn trả đủa, đạn AK nổ vang trời, Whalen nhào xuống suối, Hai biệt-kích Nùng cùng
với Laws nhẩy luôn xuống, bơi theo giòng nước. Quân Bắc Việt ở đâu tràn ra rất đông
cũng nhào xuống suối, vừa bắn vừa đuổi theo làm Whalen phải bơi ngược giòng, không
nhập vào với Laws cùng hai người Nùng. Được một quãng, có chùm cây chìa ra bờ suối,
Whalen hít vào một hơi dài rồi lặn chui vào trong nằm im. Quân Bắc Việt lục soát một hồi, tìm không ra rồi bỏ đi, Whalen vẫn chưa dám xử dụng máy truyền tin báo nguy vì địch vẫn quanh quẩn đâu đây.

Đợi đến khi trời tối, Whalen mới ra khỏi chỗ trú ẩn và được trực thăng cứu thoát, anh ta là người duy nhất trong toán viễn thám sống sót. Hai ngày sau, SOG cho một toán viễn thám khác vào lấy xác. Đúng theo lời báo cáo của Whalen, đem về được xác của Sain. Laws cùng hai biệt-kích Nùng mất tích không tìm ra xác. Thân nhân của họ cũng không được cho biết chính xác về cái chết của họ 'Mất tích trong một chuyến đi trinh sát ở nam Việt-Nam'. Trong mùa thu 1966, Trung Tướng Lewis W. Walt tư-lệnhLực-Lượng Đệ Tam Thủy Bộ yêu cầu SOG thám sát khu vực gần khu phi-quân-sự. Trong hành quân Hastings, TQLC/HK đẩy lui hai sư đoàn Bắc Việt về vùng phi quân sự, chiếm hai vị trí quan trọng Cồn-Thiên và dẫy đồi Rockpile. Hai vị trí chiến lược này liên tục ăn đạn pháo binh của địch dấu trong vùng phi quân-sự. Không biết hai sư đoàn của địch di chuyển đi đâu, thêm vài dấu hiệu chứng tỏ quân Bắc Việt định tấn công hai tỉnh cực bắc của VNCH. Địch quân đi đâu? Tăng viện? Pháo binh dấu nơi đâu? Tướng
Walt muốn biết những điều đó. Khi những toán viễn thám SOG chuẩn bị hành trang, balô
đi lên hướng bắc làm việc cho TQLC, họ đem theo dụngcụ nghe lén đường dây điệnthoại.
Năm trước đó, SOG khám phá hơn chục đường dây điện thoại của địch dọc theo đường mòn. Ban tham mưu của tướng Walt chấm 17 mục tiêu trong khu vực phi-quân-sự và dọc theo biên giới Lào-Việt cho các toán viễn thám SOG. Ba toán đầu tiên vào vùng gắn máy nghe lén, chưa được ba ngày, hai toán phải chạy lấy thân. Ba toán kế tiếp vào được hơn hai ngày chạm địch, chạy thoát đem về một tù binh.

Ngày 28 tháng chín, toán viễn thám đụng một đơn vị địch cấp đại đội gần Khe-Sanh, toán bị phân tán. Trung sĩ Danny Taylor cùng hai biệt kích Nùng mất tích. Năm hôm sau, toán Colorado và Arizona được trực thăng TQLC đưa vào khu vực gần Khe-Sanh. Toán Phù hiệu bộ chỉ huy sở Bắc Đà Nẵng Colorado xâm nhập trước, nơi bắc bờ sông Bến-Hải, phiá tây vùng phi-quân-sự. Trực thăng quay về đưa toán Arizona vào vùng xâm nhập. Khi chiếc CH46 thả xong toán Arizona vừa bay lên, địch khai hỏa tứ phiá xung quanh bãi đáp. Toán Arizona xuống đúng nơi đóng quân của địch.

Cách đó 15 dặm, toán Colorado nghe rõ tiếng kêu cứu của toán Arizona'Đến đem tụi tôi ra! Bạn phải đến đem tụi tôi ra!'. Mặc dầu có không yểm bắn xung quanh bãi đáp, súng của địch vẫn nổ, không cho toán Arizona ngóc đầu dậy. Cuối cùng tiếng của hiệu thính viên trong toán Arizona, Echevarria rất bình tĩnh anh nói 'Thôi hết! Bạn hiền!' rồi tiếp 'Đừng đến nữa! Chấm dứt'. Lần đầu tiên, nguyên một toán bị mất, bị nuốt sống! Trong số bẩy trực thăng đến giải cứu toán Arizona, sáu chiếc cùng một khu trục A-1 Skyraider trúng đạn, may không chiếc nào bị rớt.

Trong khi đó toán Colorado rất thành công, khám phá ra nhiều căn cứ của quân Bắc
Việt, họ gắn được máy nghe lén và đem về được 7 cuốn băng cassettes ghi âm những
cuộc điện đàm trong quân đội Bắc Việt. Những máy nghe lén điện thoại do các toán viễn
thám SOG đặt, trong lòng địch đã đem lại những nguồn tin tình báo rất có giá trị.

Theo tài liệu trong cuốn SOG,
tác giả John L. Plaster

Carrollton, 11-01-2000
Cọp Khánh-Hòa

HQ Prairie Fire Xâm nhập Lào 143


HANH QUAN PRAIRIE FIRE
Trang 143

Tháng Ba năm 1967, chuyện khám phá ra một kho để bảo mật cho các lương thực lớn nhất của địch
hoạt-động trên đất Lào của Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG), hành quân Shining Brass đổi tên là Prairie Fire (Cánh Ðồng Lửa). Prairie Fire cũng là mật hiệu khẩn cấp cho những toán viễn-thám SOG bị địch phát-giác và tấn công. Khi một chiếc máy bay thámthính biệt-danh Covey nhận được mật-hiệu 'Prairie Fire Emergency', Covey sẽ báo về bộ-chỉ-huy Không-Yểm Hoa-Kỳ và chỉ vài phút sau những phi tuần của Không, Hải-quân và TQLC/HK sẽ làm thành một làn lưới lửa bảo vệ cho trực thăng vào bốc toán viễn thám.


Trong một cuộc hành quân, trực thăng võ-trang bắn hỏa tiễn xuống quân Bắc Việt tình cờ trúng kho quân-dụng của địch phát ra tiếng nổ long trời. Một trung đội xung-kích SOG được gửi đến lục xoát ngọn đồi phát ra tiếng nổ. Họ khám phá ra kho lương thực khổng lồ gồm những bao gạo 100 kílô dấu dưới những cây cao. Tất cả vào khoảng 250 tấn đủ nuôi một sư-đoàn Bắc Việt trong sáu tuần lễ. Lúc đó vị chỉ-huy-trưởng thứ ba của đơnvị SOG là Ðại-Tá Singlaub, ông ta rất hãnh diện về trong trận chiến tranh Việt-Nam.

Giữa tháng Bảy, toán viễn thám do Thượng Sĩ Sam Almendariz, Robert Sullivan, TrungSĩ Nhất Harry Brown và năm biệt-kích Nùng xâm nhập khu vực gần đường 922 của Lào, khoảng 60 dặm về hướng tây thành phố Huế. Toán viễn thám này bị phục kích, một lính Bắc Việt vật lộn với Sullivan, lấy được khẩu CAR15 và bắn anh ta chết, Brown bị thương nơi vai, một tên địch khác bắn Almendariz chết. Trung-Sĩ Brown và những biệt-kích Nùng còn sống bỏ chạy lấy thân, sau đó Brown liên lạc báo tin cầu cứu. Tại Khe-Sanh, phi công trực thăng Việt-Nam thuộc phi đoàn lừng danh 219 lên đường ngay đi cứu toán viễn-thám khi được thông báo. Mặc dầu không có trực thăng võ-trang Hoa-Kỳ bay theo yểm trợ, chàng phi công biệt danh Cowboy lái chiếc H-34 bay sát đầu ngọn cây tìm toán viễn thám . Họ tìm thấy Brown và mấy biệt-kích Nùng nhưng vị trí không thể đáp xuống được. Trong khi đó quân Bắc Việt vẫn truy lùng toán biệt-kích, trông thấy chiếc H-34, địch bắn lên máy bay làm phi-công Cowboy phải bỏ ý-định tìm bãi đáp bay về Khe-Sanh.

Trong căn cứ Khe-Sanh, sau khi lấy thêm xăng, xem qua chiếc máy bay cũ-kỹ, bị đạn nhưng vẫn còn bay được. Lo cho sinh mạng phi-hành đoàn, Cowboy cho phép phi-công phụ cùng người xạ-thủ đại liên ở nhà. Chàng phi công gan dạ bay một mình vào cứu toán viễn thám , lần này địch bắn lên như mưa, trúng Cowboy nơi cổ. Cuối cùng câu lên được Brown cùng mấy biệt-kích Nùng đem về Khe-Sanh.

Quân Bắc Việt đã biết được có biệt-kích quân miền Nam xâm nhập, dò thám, phá hoại trong vùng hoạt động của họ.Ðể đề phòng, quân đội Bắc Việt xử dụng quân trong lữ đoàn Nhẩy-Dù 305, đây là những quân nhân tinh nhuệ, được tuyển chọn của họ. Tình báo Hoa-Kỳ không biết rằng một phần trong lữ-đoàn này được dùng để chống lại quân biệt-kích miền Nam, nhiệm vụ của họ là truy lùng và tiêu diệt những toán viễn thám của đơn vị SOG.

Ðiều này được phối kiểm, hai toán biệt-kích bị tấn công tại vị trí đóng quân đêm. Trường hợp đầu, cả toán đều bị giết chết, trường hợp sau, tất cả bị báo cáo mất tích trong đó có Trung-Sĩ Gunther Wald, William Brown và Donald Shue. Dấu hiệu cho thấy, đơn vị chống biệt-kích của địch hoạt động trong khu vực nằm giữa Khe-Sanh và Tchepone, một đơn vị khác cấp tiểu-đoàn hiện diện trong thung-lũng A-Shau kéo dài 20 dặm về phiá tây và một tiểu đoàn thứ ba tuần tiễu trong vùng phiá nam Ai-Lao, phía bắc lãnh-thổ Cambodia.

Toán viễn-thám Maine do Trung-Sĩ Nhất David Baker làm trưởng toán gồm có Toán phó Trung-Sĩ Sherman Miller, hiệu-thính viên Trung-Sĩ Mike Buckland và năm biệt kích quân sắc tộc thiểu số. Toán này xâm nhập vào căn cứ của địch bị phát giác và toán quân săn biệt-kích truy lùng. Trong một lúc bất ngờ, toán Maine trông thấy rõ ràng trước mặt 9 quân nhân Bắc Việt cùng với máy truyền tin đang trên đường đi tìm họ. Toán Maine khai hỏa chớp nhoáng rồi cắm đầu chạy xuống phiá bên kia sườn đồi, mặc cho tiếng súng AK bắn đuổi theo của địch. Một tiếng đồng hồ sau, toán Maine được trực thăng bốc về lại căn cứ chỉ có hai biệt kích quân bị thương nhẹ.

Trong một trường hợp khác, máy bay thám thính Covey đang bao vùng trên không phận phiá nam Lào báo cáo 'Tôi nhận được tín hiệu khẩn cấp trên máy vô-tuyến'. Một biệt kích Hoa-Kỳ gọi trên máy 'Xuống đem tôi ra'. Phi công yêu cầu anh ta bình tĩnh và biếtrằng người quân nhân LLÐB chạy lạc một mình, mất liên lạc với toán biệt kích, tuy nhiên anh ta chưa cho biết lý-do tại sao.

Toán viễn thám do Miguez làm trưởng toán có thêm Bill Pilton, Mike Glenn. Miguez là một cựu TQLC, trong chuyến (Viêt-Nam tour) trước đây anh tham dự hành-quân Delta doLiên-Ðoàn 5 LLÐB/HK đảm trách. Lần này, khi xâm nhập Miguez biết đã bị địch phát giác và truy lùng, tuy nhiên anh vẫn hy vọng lẫn tránh được. Ðây là một điều lầm lẫn. (Miguez là mật danh). Trong cùng ngày, một trưởng toán khác, Trung-Sĩ Nhất Fred Zabitosky được bốc ra từ một mục tiêu khác gần đó. Zabitosky đang ở trong căn-cứ hành-quân tiền phương Dak-Tô thì nhận được lệnh thả thêm một toán cấp cứu Bright-Light. Viên toán trưởng Bright Light là một tên chết nhát, lầm lẫn khi tình nguyện về đơn-vị SOG, tên này tìm đủ mọi lý do để không đi hành quân. Zabitoskynổi nóng 'Thôi được! Ðể tôi đi cứu họ!'.

Tối hôm đó, Zabitosky được nghe một câu chuyện rất lý-thú do Glenn, trong toán của
Miguez kể lại. Sáng hôm đó, quân Bắc Việt bất ngờ hiện ra, toán biệt-kích không bắn được một phát súng. Tất cả đều bị bắt trừ toán phó Pilton trốn thoát. Họ tha chết cho Glenn, cố tình cho trực thăng vào bốc anh ta để tay này về kể lại ... Quân Bắc Việt mổ bụng Miguez cho ruột lòi ra rồi dùng đuốc đốt anh ta trước cặp mắt hãi hùng của Glenn, viên sĩ quan Bắc Việt biết nói tiếng Anh dặn Glenn về nói lại với quân biệt-kích Mũ-Xanh Hoa-Kỳ rằng những gì đang chờ đợi họ ở bên đất Lào.

Nhiều người không tin Glenn, cho rằng bịa đặt, hèn nhát. Một vị Trung Tá biệt-kích Hoa-Kỳtừ Ðà-Nẵng vào thăm và ra lệnh tìm sự thật về toán viễn thám của Miguez. Toán viễn thám do Zabitosky làm trưởng toán tìm ra bãi thả toán của Miguez, rồi theo dấu khoảng 600 thước đến một ngọn đồi. Họ tìm thấy ba-lô, những đồ trang bị bỏ lại của toán biệt kích lúc bị bắt. Xa hơn chút nữa họ trông thấy cây, khoảng đất bị súng phun lửa đốt cháy. Mấy xác chết biệt-kích quân Thượng nằm rải rác, họ cũng bị thiêu sống. Thêm một ngày gay go cho Zabitoskt mới lấy được xác Miguez, áp lực của địch quá mạnh đành phải bỏ lại xác mấy biệt-kích quân người Thượng.

Trong tháng Sáu 1967, đạiđội xung-kích (Hatchet Force) tấn công mục tiêu Oscar Eight, khoảng 25 dặm tây bắc thung lũng A-Shau, nơi đường 922 tách rời đường 92. Vùng này máy bay Hoa-Kỳ rớt nhiều nhất trên đất Lào, Vùng đồi núi mục tiêu Oscar Eight được bảo vệ bới dàn phòng không mạnh mẽ là nơi đặt bộ-chỉ-huy tiềnphương
đoàn vận-tải 559 do tướng Võ-Bầm chỉ huy. Trung tâm kiểm soát đường mòn HồChí-
Minh.

Ðơn-vị SOG lẫn tình báo Không-Quân Hoa-Kỳ đều tin rằng Oscar Eight chứa quân
dụng lớn nhất ngoài lãnh thổ miền Bắc Việt-Nam. Trung-Sĩ John Meyer xâm nhập gần
Oscar Eight nói rằng 'Chỗ đó rất nóng (nguy-hiểm). Toán nào vô cũng chạy... ra quần'. Trước trận đột kích năm 1967, đơn-vị kiểm thính Hoa-Kỳ cho biết, mỗi ngày có khoảng 2300 công-điện phát xuất từ đó đi Hà-Nội. Tướng Westmoreland tin rằng nơi đó đặt bộ-chỉ-huy quân đội Bắc Việt hoạt-độngtrong lãnh thổ Quân-Ðoàn I VNCH.

Trận đột kích bắt đầu với 9 chiếc B-52 thả hàng ngàn bom 500, 750 cân Anh trên mục tiêu Oscar Eight, gây nhiều tiếng nổ phụ. Khi màn khói tan dần đi, chín chiếc H-34 (Kingbees) do phi công Việt-Nam lái và năm chiếc CH-46 Sea Knight thả xuống đại-đội xung-kích Nùng. Quân Bắc Việt có mặt khắp nơi bao vây khoảng 100 biệt-kích quân, đang ẩn nấp trong những hố bom gọi phi-cơ yểm trợ tiếp cận.

Hỏa lực phòng không của địch bắn lên trúng một khu-trục A-1 Skyraider. Nơi bãi đáp ở dưới, Trung-Sĩ Nhất Charles Wilklow mục kích rõ ràng chiếc A-1 đâm đầu xuống đất
chết người phi công. Quân biệtkích Nùng cùng với Hoa-Kỳ nấp dưới những hố bom lo
chống trả những đợt tấn công của địch. Họ phải chiến đấu như vậy suốt buổi chiều, suốt đêm. Ngày hôm sau, đoàn trực thăng cùng với máy bay phản lực từ Khe Sanh đến thâu hồi đại đội xung kích. Hai chiếc trực thăng võ trang của TQLC/HK bay thấp bị bắn rớt, rồi một chiếc Kingbee cũng trúng đạn cháy rớt. Sau đó một chiếc CH-46 của TQLC đáp xuống bốc được một trung-đội, rồi một chiếc F-4 Phantom trúng đạn phòng không đâm vào núi bốc cháy.

Trong bãi đáp, Charles Wilklow, Ron Dexter, Billy Ray Laney sẵn sàng cho chuyến
bốc thứ hai. Chiếc CH-46 vào bãi đáp bốc được một trung đội rồi bay lên. Bên trong chiếc trực thăng, Wilklow thấy đạn xuyên thủng khắp nơi, trúng một phi công. Chiếc máy bay lảo đảo đụng vào cây rớt xuống đứt làm đôi. Quân Bắc Việt tiếp tục khai hỏa vào chiếc máy bay bị rớt. Lính biệt-kích Nùng chết, bị thương nằm la-liệt khắp nơi, Wilklow thấy Billy Laney trúng đạn nơi ngực, có lẽ chết, không thấy Ron Dexter đâu. Xạ thủ đại liên trên chiếc máy bay TQLC trúng đạn nơi đầu nằm chết gục trên cây súng. Người lính Green Beret Wilklow bi thương nơi chân, không chạy được, anh ta bò lết vào bụi cây gần đó định trốn. Bay bao vùng trên bầu trời, Billy Waugh lắc đầu nhìn đámcháy ở dưới. Ðại đội xung kích Hatchet Force về không được một nửa... Bây giờ chỉ còn tìm những biệt-kích quân sống sót đang lẩn trốn trong rừng.

Kết quả trận đột kích vào mục tiêu Oscar Eight, hai mươi ba quân nhân Hoa-Kỳ chết,
quân biệt-kích Nùng chết gấp đôi. Tất cả năm mươi tám quân nhân biệt-kích Green Beret Hoa-Kỳ chết trên đất Lào và Cambodia. Charles Wilklow là người sống sót duy nhất trở về.

Carrollton, Texas 17-01-2000
Bạch-Hổ
(CIDG Camp Ben-Het)

HQ Shining Brass Xâm nhập Lào 135

Năm 1965, Ðại-Tá Donald Blackburn được đề cử làm chỉ huy trưởngđơn vị Liên-Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát (SOG). Ông ta là một sĩ quan thâm niên trongnghành Lực-Lượng Ðặc-Biệt, một trong những người nổi tiếng trên thế giới về du-kíchchiến. Ðơn-vị SOG được lệnh của tướng Westmoreland xâm nhập hệ thống đường mòn Hồ-Chí-Minh đưa quân đội Bắc Việt vào miền Nam Việt-Nam.



Lúc đó chưa ai biết chắc chắn chuyện gì đang xẩy rabên Lào. Ðó cũng là mục tiêu cho cuộc hành quân Shining Brass do đơn vị SOG đảm trách. Ðại-Tá Blackburn chỉ định Ðại-Tá Arthur D. 'Bull' Simons chỉ huy cuộc hànhquân. Ðại-Tá 'Bull' Simmons có tầm vóc dễ nể, rất xứng đáng với danh hiệu 'Bò Mộng' của ông ta... to lớn, bành-ki. Trong trận Thế Chiến ThứHai, tiểu đoàn 6 Biệt-Ðộng- Quân của Bull Simons là đơn vị trinh-sát, tai và mắt cho sư đoàn 11 Nhẩy-Dù Hoa-Kỳ và đi tiên phong trong trận đổ bộ lên đảo Leyte, Phi-Luật-Tân.



Ðại-Tá Bull Simons cũng biết vùng nam Lào do trước đây, ông ta đã tuyển mộ, huấn-luyện người sắc tộc Kha cho cơ-quan tình báo CIA năm 1961-1962. Hiệp-định Geneva 1962, trung-lập hóa Ai-Lao, Bull Simons và các hoạt độngbí mật của Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ cũng rút lui. Hành quân Shining Brass lấy quân tình nguyện từ Liên-Ðoàn 1 LLÐB/HK và bắt đầu huấn luyện bên Okinawa.




Ðến cuối mùa hè, 16 quân nhân mũ-xanh đã thụ huấn xong, đủ cho năm toán viễn thám còn dư một người làm trừ-bị. Theo đường lối làmviệc của Ðại-Tá Simons, mỗi toán viễn-thám sẽ gồm hai hoặc ba quân mũ xanh Hoa-Kỳ và chín quân nhân khác tuyển mộ từ các bộ lạc sắc tộc thiểu số. Toán viễn thám hỗn hợp này có đầy đủ kinh nghiệm để hoàn thành sứ mạng, người Hoa-Kỳ có phương tiện đầy đủ, vũ-khí, máy móc tối tân, người thiểu số có kinh nghiệm đi rừng, phục kích v.v...Thêm một điều

nữa là, các toán viên đa số là người sắc tộc, sự tổn thất về nhân mạng của người Hoa-Kỳ sẽ giảm đi rất nhiều.



Lúc bắt đầu, quân thiểu số thuộc gốc người Nùng, họ khởi nguồn từ phiá nam tỉnh Quảng Tây bên Tầu. Trongtrận chiến Ðông-Dương, họ nổi tiếng là những chiến-sĩ can-trường, đặc biệt về những hoạt động biệt-kích trong lòng địch. Chính quyền miền Nam cho họ được hưởng những quyền lợi đặc biệt dành cho các sắc dân thiểu số. Họ không bị động-viên, không phải tham gia nghiã vụ quân sự, nhờ vậy đơn vị SOG tha hồ tuyển mộ họ. Một quân nhân Nùng cấp bậc thấp nhất được lãnh lương hàng tháng khoảng 60 dollars, tương đương vớimột sĩ quan cấp Ðại-Úy trong Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa.



Theo kế-hoạch của Ðại-Tá Simons trong đợt một, các toán viễn-thám sẽ thám-sát vùng nam Lào, nhận diện các căn-cứ, nơi đóng quân của quân Bắc Việt sau đó hướng dẫn các phi vụ oanh kích vào các mục tiêu trên. SOG tổ chức thêm những đơn vị xungkích cấp đại-đội dùng chiến thuật trực-thăng-vận tấn công chớp nhoáng vào những căn cứ, bộ chỉ huy, kho quân dụng của địch khi những toán viễnthám

đã tìm ra. Dưới hoả lực yểm trợ mạnh mẽ của khôngquân, các đại đội xung kích (Hatchet Forces) sẽ nhẩy xuống, tràn vào tiêu hủy mục tiêu rồi rút nhanh trước khi địch kịp trở tay. Những đợt tấn công chớp nhoáng này nằm trong đợt hai.



Trong đợt ba, SOG sẽ tuyển mộ quân thiểu số bên Lào, phục kích phá hoại các đơn vị Bắc Việt để họ phải tập trung cho vấn đề an-ninh. Lúc đó địch quân sẽ là miếng mồi ngon lành cho các phi vụ oanh-kích và các đơn vị xungkích. Kế hoạch của Ðại-Tá Blackburn bị vị đại-sứ Hoa-Kỳ William Sullivan bên Lào cản trở. Vị này giới hạn phạm vi hoạt động của SOG trong hai ô-vuông dọc theo biên giới Việt-Lào. Ông ta đòi hỏi thêm, tất cả các cuộc oanh Kích đều phát xuất từ Thái-Lan và cấm xử dụng trực thăng thả quân xâm nhập. Các toán viễn-thám đều phải lội bộ xâm nhập vào đất Lào, mặc dầu họ vẫn có thể được trực thăng bốc về trong trường hợp khẩn cấp.



Gặp trở ngại với vị đại-sứ, Ðại-Tá Blackburn xin được một phi đoàn trực thăng thuộc Không-Lực VNCH biệt phái, đó là phi-đoàn 219 đóng ngoài Ðà-Nẵng. Các phi-công trong phi đoàn 219 lái những chiếc trực thăng H-34 cũ-kỹ nhưng rất bảo đảm. Họ rất can-đảm và rất nổi tiếng trong huyền thoại của đơn-vị SOG, đã cứu thoát nhiều quân nhân biệt-kích.



Ðầu tháng chín, Ðại-Tá Simons lập bộ chỉ huy tiềnphương cho hành quânShining Brass ngoài Ðà-Nẵng do Trung-Tá Ray Call chỉ huy. Bộ chỉ huy trong Saigon bắt đầu gọi BCH/Ðà-Nẵng là C&C cho các toán viễn thám trong hành quân Shining Brass. Sau này trở nên các C&C North, Central và South (BCH-Bắc, Trung và Nam). BCH/Ðà-Nẵng nằm trong phi trường.



Tuy nhiên, Ðà Nẵng vẫn còn cách xa biên giới Lào-Việt, hành-quân Shining Brass cần một Căn-Cứ Hành-Quân Tiền-Phương (FOB) để chứa quân, nhiên-liệu cho trực thăng và đưa các toán viễn thám xâm-nhập. Họ quyếtđịnh xử dụng trại LLÐBKhâm-Ðức, cách Ðà-Nẵng 60 dặm về hướng tây-nam, cách biên giới Lào-Việt chừng 10 dặm làm căn cứ hành-quân. Thiếu-Tá Charlie Norton được chỉ định làm trưởng căn cứ, Ðại-úy Larry Thorne chịu trách nhiệm thả các toán viễn thám.





Năm toán đầu tiên hoàn tất huấn luyện trong trại LLÐBKhâm-Ðức là Iowa, Alaska, Idaho, Kansas và Dakota. Toán trưởng có danh hiệu là Một-Không (One-Zero), toán phó là Một-Một, nhân-viên truyền tin là Một-Hai. Toán viên người Nùng hoặc thêm một sĩ-quan LLÐB/VN đi theo học hỏi kinh-nghiệm về kỹ thuật viễn-thám.



Toán đầu tiên nhẩy sang Lào trong hành-quân Shining Brass là toán Iowa gồm hai quân nhân Hoa-Kỳ, một sĩquan LLÐB/VN và bẩy biệtkích quân Nùng. Họ mặc quân phục không cấp-bậc, phù-hiệu đơn-vị, quần áo, ba-lô đều sản xuất tại Việt-Nam. Vũ-khí mang theo là tiểu liên 9 ly của Thụy-Sĩ, súng ngắn 9 ly của Bỉ. Tất cả đồ trang bị của họ đều bí mật, trường hợp bị giết, địch cũng không biết họ là ai?



Trường hợp bị bắt sống, toán viên Iowa được dặn dò trả lời rằng họ trên đường đi tìm chiếc máy bay C-123 bị rớt và không dè 'đi lạc' qua biên giới. Một toán lôi Hổ trong căn cứ hành quân tiền phương Ðể đỡ thêm cho câu trả lời, SOG làm thêm bản đồ giả đặc biệt dời đường phân chia ranh giới Việt-Lào 10 cây-số về hướng tây.



Mặc dầu Hà-Nội vẫn chối là không có quân ở bên Lào, đến tháng 10 năm 1965, quân phòng-vệ, công-binh, tiếp vận của họ ở bên Lào lên đến 30 ngàn quân, chưa kể 4500 quân xâm-nhập vào miền Nam mỗi tháng. Khoảng 200 xe vận tải chở đồ tiếp liệu di chuyển trên đường mòn Hồ-Chí-Minh hàngtháng. Ðến mùa thu 1965, không ảnh cho biết quân Bắc Việt đã phát triển hệ thống đường dài 900 dặm vào tới caonguyên trung phần. Ngày 02 tháng 10 năm 1965, không ảnh do phi cơ thám thính U-2 chụp

được cho thấy địch quân mở thêm đường mới bên Lào, và xe vận tải di chuyển trên đường.



Mục tiêu cho toán Iowa là D-1, khoảng 20 dặm tâybắc Khâm-Ðức, nơi đường 165 của Lào đến gần biên giới. Mục tiêu D-1 là nơi tình nghi quân Bắc Việt đặt súng cối và bắn hỏa tiễn vào các đơn vị Thủy-Quân Lục-Chiến và căn cứ Không-Quân Hoa-Kỳđóng tại Ðà-Nẵng. 18 tháng 10 năm 1965, báo chí Hoa-Kỳ đăng tin sưđoàn 1 Không-Kỵ Hoa-Kỳ đụng nặng với quân Bắc Việt thuộc hai trung-đoàn 66 và 33 trong thung lũng Ia Drang. Không aibiết cùng lúc trong trại LLÐB Khâm-Ðức có chuyện bí mật đang tiến hành.



Vừa qua buổi trưa, tất cả mọi người trong toán Iowa mở ba-lô, túi quần áo để thanh tra lần cuối cho chác chắn, họ không được mang theo những gì liên hệ đến quốc gia Hoa-Kỳ. Trong khi các quân nhân biệt kích đang bắn thử súng của họ, Thiếu-TáNorton, Ðại-Úy Thorne đưa các phi-công Việt-Nam, phi công trực thăng yểm trợ và phi công lái máy bay thám-thính, điều hành không yểm tiền tuyến (FAC) vào trung-tâm hành-quân bàn kế hoạch thả toán biệt kích.





Nơi thả toán Iowa là một khu vực cây cối bị đốn và đốt cháy, dân tộc thiểu-số ở Lào cũng như ở Việt-Nam vẫn thường đốt rừng làm rẫy. Theo kế hoạch, toán sẽ được thả vào lúc trời sắp tối làm cho địch không có thì giờ như lúc trời còn sáng cho quân truy lùng. Trường hợp chạm địch tại bãi thả, trực thăng H-34 do phi công Việt-Nam lái vào bốc toán trong khi các trực thăng võ trang khác bắn yểm trợ.



Lúc 5g45 chiều, máy bay thám thính (FAC) do Thiếu-Tá không-quân Harley Pyles cất cánh trước chở theo sĩ-quan không-yểm của SOG ở Saigonlà Ðại-Úy TQLC Winfield Sisson. Vài phút sau Pyles báo cáo về là thời tiết có mây thấp cùng với sương mù, lệnh tiến hành việc thả toán viễn thám được ban ra. Ba chiếc H-34 nổ máy, sẵn sàng ra đi. Các quân nhân Hoa-Kỳ đã phải để lại tất cả thẻ bài, thẻ căn cước, kể cả thuốc lá Hoa-Kỳ. Trường hợp họ bị giết lấy không được xác, chính quyền Hoa-Kỳ sẽ chối cãi về hành tung của họ.



Ðúng 6 giờ chiều các trực thăng cất cánh đem theo toán Iowa, các trực thăng võ trangbay theo yểm trợ. Ðến điạ điểm, ba chiếc H-34 đáp xuống chớp nhoáng và toán Iowa biến mấtvào bià rừng. Ðại-Úy Thorne, người chịu trách nhiệm thả toán cho lệnh hai chiếc H-34 bay về trước, sau đó là máy bay thám thính và trực thăng võ trang.Ông ta chờ cho đến khi toán Iowa báo cáo là đã an-toàn mới bay trở về Khâm-Ðức.



Ðại-Úy Thorne cùng chiếc H34 của phi đoàn 219 KQ/VN mất tích. Ngay từ phút đầu tiên trong hành quân Shining Brass đã có tổn thất. Chiếc máy bay thám thính do Thiếu-tá Pyles láicùng với Ðại-úy Sisson cất cánhrời trại LLÐB Khâm-Ðức trên đường về Ðà-Nẵng cũng biến mất luôn. Ngày đầu, quân-đội Hoa-Kỳ đã mất đi ba quân nhân MIA, không tìm ra. (Mới tìm ra năm 2003).



Rạng đông ngày hôm sau, Thiếu-Tá Norton được báo cáo toán Iowa đã đến mục tiêu D-1, có quân đội Bắc Việt trongvùng. Ðịch quân có mặt khắp nơi, đóng quân rải rác và có hệ thống đường mòn. Sang ngày thứ ba N+2, sau khi đi qua nhiều đường mòn, toán đi về hướng có tiếng động cơ xe vận tải để quan sát. Họ đụng phải toán quân Bắc Việt đang đi tuần, hai bên nổ súng, người khinh-binh Nùng đi đầu trúng đạn gục xuống, quân Bắc Việt đuổi theo.



Thiếu-Tá Norton than 'Chúng tôi không thể đem trực thăng vào bốc họ ra được'. Phải đem theo đồ trang bị cùng với xác chết của người quân nhân xấu số, toán Iowa lẩn tránh quân săn đuổi chậm chạp, quân Bắc Việt tẽ ra như cánh quạt truy lùng đám Biệt-Kích. Hai hôm sau, trời quang đãng, toán Iowa gọi 37 phi vụ F-105 oanh kích, rồi trực thăng H-34 vào bốc toán Iowa ra khỏi vùng nguy hiểm.



Mục tiêu kế tiếp trong hành quân Shining Brass cách mục tiêu trước chừng 10 dặm, một con đường lớn gần biên giới, nơi quân Bắc Việt làm căn cứ dưỡng quân, tồn trữ đồ tiếp vận cho những trận tấn công vào phầnđất Nam Việt-Nam. Ðặt tên là A-1, mục tiêu này nằm trong thung lũng, có cỏ tranh cao rất dễ để lại dấu vết cho địch quân.



Ngày 02 tháng 11 năm 1965, toán viễn thám Alaska có ba quân nhân Hoa-Kỳ xâm nhập mục tiêu A-1. Quân Bắc Việt báo động có toán biệt-kích xâm nhập, hai bên chơi trò mèochuột cả đêm. Toán Alaska khám phá một hệ thống đường mòn cho xe đạp và đi bộ phát xuất từ đường 165 bên Lào và những toán tuần tiễu của địch đang truy lùng họ. Sau ba ngày lẫn tránh, đến ngày thứ tư, quân Bắc Việt tìm ra toán Alaska. 'Chúng tôi chạy hoài, rồi tiếp tục chạy'. Sau cùng họ quyết định chạy lên một ngọn đồi cao nhất dùng máy truyền tin liên lạc yêu cầu bốc toán về. Quân Bắc Việt bao vây tứ phiá. Trên đỉnh đồi là đám cỏ tranh cao hơn đầu người, họ liên lạc được với máy bay thám thính (FAC) và được cho biết các phi tuần oanh kích cùng trực thăng cấp cứu đang trên đường đến mục tiêu.



Quân Bắc Việt đốt đám cỏ tranh định thiêu sống mấy quân nhân biệt-kích nhưng họ ráng chịu đựng khói không ra hàng. Mười phút sau, các phi cơ F-105 đến oanh kích không cho địch quân tiến lên đồi, rồi một chiếc H-34 đáp khẩn xuống giữa đám cháy đem toán Alaska ra. Không một người bị thương, cám ơn các anh hùng phi công Việt-Nam trong phi đoàn 219.



Ðầu tháng 12 năm 1965, các toán viễn thám Kansas và Idaho cũng nhẩy vào vùng xâm nhậptừ trại LLÐB Khâm-Ðức. Cũng như hai toán đầu, Idaho cũng vừa bắn vừa tìm lối thoát. Lúc đó Ðại-Tá Bull Simons quyết định đổi hướng. Ngày 11 tháng 12, một đoàn 24 chiếc B-52 thả bom lần đầu tiên trên đất Lào. 2600 quả bom nổ trên mục tiêu do toán Iowa tìm ra.



Hành quân Shining Brass chuyển hướng xuống phiá nam Lào bên cạnh miền cao-nguyên trung phần miền nam Việt-Nam. Các toán xâm nhập từ phi đạo ở Dak-Tô, thám sát vùng lân cận đường 110E bên Lào, tìm kiếm các căn cứ của địch cũng như hệ thống đường mòn vào lãnh thổ miền Nam. Mục tiêu K-1 do toán Kansas xâm nhập, chạm súng nặng với địch quân. Toán phải phân tán làm hai biệt kích Nùng mất tích. Toán Idaho nhẩy vào cũng đụng, một biệt-kích mũ-xanh Hoa-Kỳ bị thương nhẹ, mộtngười Nùng tử trận. Ðến cuối năm 1965, có tất cả 8 chuyến xâm nhập trong hành quân Shining Brass, 6 chuyến khám phá ra căn cứ của địch, đường mòn hoặc kho tiếp vận.



Sau mỗi chuyến xâm nhập khoảng năm, sáu ngày sau, toán viễn thám sẽ bay vào Saigon để báo cáo kết quả về chuyến đi trong bộ chỉ huy đơn vị SOG. Những buổi tường trình có thể kéo dài nửa ngày hoặc nhiều ngày. Cuối cùng ngành tình báo Hoa-Kỳ đã biết được những hoạt động cuả địch quân trên đất Lào.





Carrollton, Texas Cọp Khánh-Hòa


Hành-quân biệt-kích 1968. 168


Ðầu năm 1968, Khe-Sanh là một trại biên phòng Lực-Lượng Ðặc-Biệt.Ðơn vị SOG xử dụng trại này làm căn cứ hành-quân tiềnphương. Nơi đây trở nên tiền đồn bảo vệ phía tây vùng phiquân-sự. Trong căn cứ có 6000 quân thuộc trung-đoàn 26 TQLC/HK và tiểu-đoàn 37Biệt-Ðộng-Quân QL/VNCH. Bên ngoài có sự hiện diện của 20000 quân cộng-sản Bắc-Việt. Tất cả mọi hỏa lực đều tập trung xung quanh căn cứ, pháo binh, phi cơ, kể cả B-52 yểm trợ ngày đêm. Sự có mặt, cũng như hành quân vượt biên của đơn vị SOG được bảo mật, không ai biết đến.

Bên trong Khe-Sanh, đơn vị SOG gồm 50 quân nhânLLÐB/HK và khoảng 500Dân-Sự Chiến Ðấu sống dưới hầm cũng như binh-sĩ TQLC/HK chịu đựng 1500 quả đạn đại-bác, súng cối của địch bắn vào căn cứ hàng ngày. Bên ngoài Khe-Sanh, trên những ngọn đồi, tử thần rình rập, các toán biệt-kích SOG phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương 1 (FOB 1) ở Phú-Bài, xâm nhập tìm mục tiêu cho phi cơ oanh-kích, đặt máy nghe lén điện thoại, và đặt máy dò thám điện tử.

Nơi hướng tây căn cứ Khe-Sanh bên kia biên giới Lào-Việt, các toán biêt-kích SOG khác phát xuất từ 'cửa hâu' của đơn vị SOG, phi trường Nakhon Phanom (NKP) bên Thái-Lan. Tại đây, SOG có bẩy nhân viên làm việc với phi-đoàn 21 'Pony' Hành-Quân Ðặc-Biệt thuộc Không-Lực Hoa-Kỳ, đơn vị anh-em của SOG phi đoàn 20 Green Hornets. Từ tháng Giêng 1967, Ponies yểm trợ cho các toán biệt-kích SOG hoạt động ngoài miền Bắc Việt-Nam, các hoạt động của cơ-quan CIA bên Lào và đến cuối năm thả các toán biệt-kích SOG xâm nhập vào đất Lào. Căn cứ bên Thái-Lan trở nên quan trọng từ đầu năm 1968 khi trực thăng của SOG không hoạt động được trên phi đạo bên trong căn cứ Khe-Sanh.

Một trong những mục tiêu thường xuyên của SOG bên Lào là rặng núi Cơ-Rốc, cao 1800 bộ về hướng tây Khe-Sanh, quân Bắc Việt, đào hầm hố, đục đá núi làm đường chuyển quân. Ngày 12 tháng Giêng năm 1968, toán biệtkích Indiana bị phục kích trên một sườn núi. Toán chạy lạc, phân tán, toán phó là Trung-Sĩ Jim Cohron cùng hai biệt-kích Nùng tách rời khỏi toán. Phần còn lại chạy đến được một
con đường mòn, tìm cách liên lạc với Cohron. Nhóm này thoát, còn nhóm Cohron mất tích.

Tình báo Hoa-Kỳ cho rằng, toán Indiana đụng phải trungđoàn 'Ðồng Nai' CSBV. Hệ thống kiểm thính bắt được tần số của địch cho biết Cohren bị địch bắt và bị hỏi cung. Cho đến nay, Hà-Nội vẫn trả lời không biết gì về người lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ, quê quán ở tiểu bang Iowa. Cách căn cứ Khe Sanh năm dặm về hướng tây, trong bóng của rặng Cơ-Rốc bên kia biêngiới là trại LLÐB Lang-Vei do Ðại-Úy Frank Willoughby chỉ huy. Do áp lực của quân đội Bắc Việt vào đầu năm 1968, 282 quân biệt-kích người Thượng được tăng cường thêm một đại đội biệt kích Thượng và quân Mũ-Xanh Lực-LượngÐặc-Biệt Hoa-Kỳ.

Phần còn lại của toán Indiana đến trại LLÐB Lang-Vei một buổi tối cuối tháng Giêng sau nhiều ngày bị địch săn đuổi trên ngọn núi Cơ-Rốc. Trưởng toán Rick Bayer thông báo cho người hạ-sĩ quan LLÐB của trại Bill Craig rằng: Toán biệt-kích Indiana trông thấy dấu xích xe-tăng của địch! Thêm điều nữa, trong khi đi ngang qua sông Xe-Kong lúc trời xập tối, toán biệt-kích trông thấy quân Bắc
Việt thăm dò mực nước sông và đánh dấu bãi chuẩn bị hành quân vượt sông. Bayer không hoài nghi chuyện quân đội Bắc Việt sẽ đem xe tăng vào chiến trường miền Nam.

Khi được đưa vào Saigon để báo cáo, Trung-Sĩ Bayer nhớ lại 'Họ cho tôi là thằng nói dóc!'. Cấp chỉ huy của anh ta trong FOB 1, Thiếu-Tá Ed Rybat cũng mất mặt không kém. 'Tụi tôi gửi báo cáo về, họ trả lời rằng không có gì hết, đó là dấu xe ủi đất'. Tôi đã phục vụ trong đơn vị Thiết-Giáp trước đây, tôi bìết thếnào là dấu xích xe tăng. 'Ðó là dấu thiết vận xa lội nước PT76 của địch'. Trong Saigon, trùm đơn vị SOG là Ðại-Tá Singlaub tin rằng quân Bắc Việt chuẩn bị xe-tăng để tấn công. Bộ Chỉ-Huy Quân Viện Hoa-Kỳ MACV bỏ qua lời báo động của ông ta.

Vừa quá nửa đêm ngày 6 tháng Hai, binh sĩ TQLC nơi giao thông hào phiá tây căn cứ Khe-Sanh nghe tiếng động cơ theo gío đưa tới, nghe như tiếng cưa máy - Xe Tăng!Trong trại LLÐB Lang-Vei, mặt đất rung chuyển khi mười một chiến xa PT-76 cùng một tiểu đoàn bộ-binh Bắc Việt khi bắn hết đạn súng Carbine, được pháo binh 152 ly yểm trợđại liên vào các chiến xa tràn vào trại. Ðại bác 76 ly đang tiến tới của địch. Lính trên chiến xa bắn xập các Mũ-Xanh Hoa-Kỳ dùng súng pháo đài bên trong. Hơn nửacối 106 ly tiêu diệt hơn nửa sốDân Sự Chiến Ðấu Thượng PT-76. chết tại vị trí chiến đấu, sau Trùm đơn vị SOG thông báo về vụ tấn công trại LLÐB Lang-Vei cho cơ-quan MACV, vị tướng trưởng phòng Nhì cơ quan vẫn từ chối không tin. 'Làm gì có xe tăng ở Việt-Nam'. Trong khi trận đánh nơi Lang-Vei vẫn đang tiếp diễn, đơn vị SOG trong Khe-Sanh chuyển lời cầu cứu của trạiLLÐB cần viện binh. Ðại-tá David Lownds chỉ huy trưởng căn cứ Khe-Sanh từ chối 'Tôi không muốn hy sinh sinh mạng người Hoa-Kỳ'. Biệtkích SOG kể rằng 'Ông ta liếc qua tụi tôi chớp nhoáng như máy quang tuyến, rồi khước từ một cách dã man'.

'Ðúng vậy, chúng tôi có thoả thuận rằng sẽ đi tiếp cứu trạiLLÐB Lang-Vei trong trường hợp căn cứ này có thể bị dứt điểm' Thiếu-Tá Jim Stanton, sĩ quan điều hợp pháo-binh TQLC trong căn cứ Khe-Sanh đã xác định bằng lời nói trên. 'Tình trạng chiến đấu trong căn cứ đã xuống thấp, không ai dám bảo đảm vấn đề antoàn cho họ'.

Sĩ-quan tùy viên cho tướng Westmoreland đánh thức ông ta dậy hai lần trong đêm chobiết trận tấn công trại LLÐB Lang-Vei. Ðại-Tá Francis Kelly, chỉ huy trưởng Liên-Ðoàn 5 LLÐB/HK yêu cầu ông gửi quân tiếp viện cho Lang-Vei, nhưng tướng Westmoreland ngần ngại ra lệnh cho bộ tư-lệnh TQLC/HK. Cá nhân tướng Westmoreland xem chuyện từ chối không tiếp viện cho trạiLLÐB do sự mâu-thuẫn giữa bộ chỉ huy MACV của ông tavà bộ tư-lệnh TQLC/HK. Ông ra lệnh triệu tập một buổi họp với các vị tướng lãnh TQLC/HK tại Ðà-Nẵng sáng hôm sau.

Trong trại LLÐB Lang-Vei, quân Bắc Việt đã hoàn toàn làm chủ tình hình. Sĩ quan quân đội Bắc Việt ra lệnh tấtcả quân nhân LLÐB/Việt-Mỹ mở cửa hầm chỉ huy và ra đầu hàng. Sĩ-quan Việt-Nam ra trình diện dường như bị bắn tại chỗ. Quân Bắc Việt dùng chất nổ phá cửa hầm, sức nổ làm tám quân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ bất tỉnh.

Ðến Ðà Nẵng, Tướng Westmoreland ra lệnh cho Trung Tướng Robert Cushman cung cấp trực thăng đưa một đơn vị cấp cứu SOG trong căn cứ Khe-Sanh vào Lang-Vei ngay tức khắc. Sau này tướng Westmoreland biết được lệnh của ông ta không được thihành. Ông ta viết 'Ðó là điều xẩy ra trong thời gian tôi phục vụ tại Việt-Nam. Chuyện đó làm tôi muốn xin về hưu'. Tại Khe sanh, Thiếu Tá George Quamo, Thượng-Sĩ Charles 'Skip' Minnicks có thể nhìn thấy khói bốc lên từ trạiLLÐB Lang-Vei. Quamo nói về sự nguy-hiểm đang chờ đợi họ, và hỏi 'Ai muốn đi?'. Một tá lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ xách tiểu-liên CAR-15, tập họp ba mươi biệt-kích Nùng, Thượng rồi leo lên trực thăng TQLC/HK ra đi.

Sự thờ-ơ của TQLC ảnh hưởng viên phi công lái trực thăng, không nhiệt tâm đi cứu. Kinh hoàng trông thấy xe tăng cháy, doanh trại đổ nát ở dưới, mất tay phi công CH-46 lái bay vòng vòng trên không. Cuối cùng Thiếu-tá Quamo ra lệnh 'vào' lúc đó họ mới hạ cánh.

Xuống tới đất, toán biệt-kích SOG, chia ra lục xoát các hầm hố, công sự phòng thủ tìm người sống sót. Hàng ngàn quân Bắc Việt trú ẩn xung quanh Lang-Vei sợ không-lực Hoa-Kỳ oanh-kích không tấn công tiếp. Hầu hết người Hoa-Kỳ sống sót nhờ Trung-Sĩ Nhất Eugene Ashley, chết sáng hôm đó trong những đợt phản công đẩy lui quân cộng sản ra khỏi Lang-Vei. Anh ta được ân thưởng huy chương
Danh-Dự cao qúy nhất của chính phủ Hoa-Kỳ. Vài lính Mũ-Xanh Hoa-Kỳ thoát nhờThiếu-Úy Qúy lái xe Jeep xông vào trại đem họ đi.

Toán biệt-kích SOG gom tất cả những biệt-kích Hoa-Kỳ sống sót và đem thêm với khả năng của họ những biệt-kích quân Thượng bị thương ra bãi đáp chờ trực thăng bốc. Khi đoàn tầu bay lên, trưởng toán Alabama John Allen trông thấy một quân nhân Hoa-Kỳ chạy ra bãi đáp vẫy tay. Không thể quay trở lại, anh ta bị bỏ rơi cho số mệnh. Người biệt kích Hoa-Kỳ đó tên là Dennis Thompson, bị tù năm năm trước khi được trả tự do. Trong số hai mươi bốn quân nhân biệt-kích Hoa-Kỳ ở trạiLLÐB Lang-Vei, Thiếu-Tá Quamo đem về được mười bốn, trong đó có một bị thương.

Ðơn vị SOG đóng góp trong trận bao vây Khe-Sanh, cũng là thành quả lớn nhất của họ thâu thập bên Lào trong năm 1968, khám phá được căn cứ lớn, bộ chỉ huy, kho chứa đạn dược của địch gần rặng núi Cơ-Rốc. Phi vụ B-52 Arc Light được lệnh tiêu hủy mục tiêu này kết qủa gây ra nhiều tiếng nổ phụ trong vòng hai tiếng đồng hồ. Trong nhật ký của tướng Westmoreland, ông ta tin rằng trận đánh bom B-52 trúng bộ chỉ huy đầu não của địch trong trận bao vây Khe-Sanh. Hệ thống truyền tin của địch bị mất liên lạc trong vòng hai tuần lễ, chứng tỏ có sự bối rối trong hệ thống chỉ huy của địch, do đó quân Bắc Việt không mở trận tấn công lớn vào căn-cứ Khe-Sanh trong kỳ Tết Mậu-Thân.

Cuối tháng Ba, trong khi sưđoàn 1 Không-Kỵ Hoa-Kỳ bắt đầu hành quân giải tỏa áp-lực của địch xung quanh căn cứ Khe-Sanh. Toán biệt-kích Asp xâm nhập khu vực cách Khe-Sanh 25 dặm về hướng tây bắc, theo dõi sự triệt thoái của các đơn vị Bắc Việt. Trưởng toán Asp là Trung-Sĩ Nhất George Brown, có Trung Sĩ Charles Huston và Alan Boyer. Toán Asp bị một đơn vị lớn của địch tấn công bất thần.

Một chiếc Kingbee vào cứu Brown và Huston bị hỏa lực địch bắn vào không được. Một chiếc Kingbee khác trông thấy Alan Boyer, thả thang dây xuống cứu anh ta, đạn bắn đứt thang dây, anh này rơi xuống vào giữa địch quân. Tất cả đều mất tích.
Hai trăm lẻ năm TQLC Hoa-Kỳ tử trận trong bẩy mươi bẩy ngày bao vây căn-cứ Khe-Sanh. Thiếu-Tá Quamo chỉ huy cuộc cứu nguy trại LLÐB Lang-Vei, lên máy bay của đơn-vị SOG bay về Ðà-Nẵng. Chiếc máy bay cũng biến mất luôn vì thời tiết xấu. Xác Thiếu-Tá Quamo tìm được năm 1974. Vài tuần sau, căn cứ hành quân tiền phương (FOB) ở Khe-Sanh đóng cửa.SOG dời FOB qua trại LLÐB Mai-Lộc đông bắc Khe-Sanh.

Trong khi trận chiến dịu dần xung quanh căn cứ Khe-Sanh, các toán biệt-kích SOG khác vượt biên qua Cambodia, dò thám xem địch quân đã rút qua đất Miên hay chưa, sau trận Tổng-Công-Kích. Ngày 2 tháng Năm 1968, toán biệtkích do Trung-Sĩ Nhất Leroy Wright làm trưởng toán xâm nhập vùng Lưỡi Câu. Trong toán có Trung-Sĩ Lloyd 'Frenchie' Mousseau, Brian O'Connor và chín biệt-kích Nùng.

Buổi sáng lúc toán ra đi từ căn cứ Quản-Lợi, Trung Sĩ Nhất Roy Benavidez bạn của Wright ra tiễn đưa, cảm phục những người ra đi hoạt-động trong lòng địch. Chẳng bao lâu, khi xuống bãi đáp, toán hạm địch và chạy trở lại bãiđáp. Ðịch đuổi theo sát đuôi, bắn không cho toán biệt-kích ngóc đầu dậy và đuổi những chiếc trực thăng cấp cứu ra chỗ khác. Một trực thăng võ trang bị bắn rớt.

Ðịch đem thêm quân đến bao vây toán biệt-kích đang nằm chịu trận dưới hỏa lực súng cối, B-40, AK-47. Một loạt đạn AK trúng Wright vào đầu, anh ta chết ngay tức khắc. Mousseau và O'Connor bị thương nhiều chỗ. Tất cả các biệt-kích Nùng đều trúng đạn, nằm la liệt, bị thương hoặc chết. Không chạy được, hết thuốc chữa, toán biệt kích sắp sửa bị địch thanh toán.

Trong một túp lều dã chiến dựng lên nơi căn cứ hành quân tiền phương Quản-Lợi, Roy Benavidez lắng nghe những chuyện xẩy ra từ máy truyền tin, điện đàm giữa các phi công trực thăng võ trang, và phi công lái máy bay quan sát điều hành không yểm (FAC). Roy sốt ruột lo cho các chiến hữu của mình, Leroy Wright trúng đạn, Frenchie Mousseau trúng đạn, Brian O'Connor cũng trúng đạn và
tất cả biệt-kích Nùng đều trúng đạn chết hoặc bị thương nặng. Một lữ-đoàn thuộc sư đoàn 1 Bộ-Binh Hoa-Kỳ đang hành quân gần đó nhưng họ không được phép vượt rào qua Cambodia. Toán cấp cứu Bright Light cũng không có sẵn. Mình phải làm gì đây! Roy đứng ngồi không yên. Bị mất nhiều máu, Brian O'Connor yếu đi, anh nghe tiếng trực thăng đến nhưng không di chuyển được. Chiếc máy bay hạ thấp rồi Roy Benavidez xách túi đựng dụng cụ y-khoa nhẩy xuống chạy thật nhanh vào bụi rậm nơi các biệt kích SOG nằm la liệt. Roy tình nguyện đi cứu toánmột mình. Ðịch trông thấy trực thăng đáp xuống, bắn ra tới tấp, một viên trúng vào đùi Roy, chàng vẫn tiếp tục chạy, không dám ngừng lại. Vào đến nơi, Roy liếc thật nhanh, vị trí chiến đấu của toán biệt kích, Wright đã chết, Mousseau trúng đạn vào đầu, nằm thẳng cẳng nhưng chưa chết, O'Connor bị thương nhưng vẫn còn bò lết được. Roy Benavidez băng bó cho bạn, phân phối đạn còn lại từ những biệt kích quân đã chết. Chàng lãnh thêm một viên AK nữa vào đùi phải trong khi điều khiển trực thăng oanh kích và trực thăng vào đem những người còn sống ra.

Khi chiếc trực thăng hạ cánh, Roy đưa khẩu AK cho O'Connor, chàng vác theo xác Wright. Một viên AK khác trúng vào phổi, Roy ngã xuống gần ngất đi. Chiếc trực thăng trúng đạn súng cối tiêu hủy, viên phi công và người xạ thủ đại liên chết. Roy lết lại chiếc trực thăng, giúp những người còn sống ra khỏi máy bay trúng đạn trước khi bốc cháy. Chàng tiếp tục điều khiển phản lực Phantom F-4 oanh kích, và lãnh thêm hai viên AK nữa. Ðịch bắn rớt thêm một chiếc gunship. Rồi một chiếc Huey khác vào bãi đáp, trên máy bay cóy-tá LLÐB Trung-Sĩ Ronald Samsons, anh ta giúp Benavidez kéo, dìu phi hành đoàn chiếc trực thăng trúng đạn, xác biệt kích quân lên máy bay. Trên đường về Benavidez bất tỉnh vì mất nhiều máu và kiệt sức, Mousseau chết vì vết thương quá nặng nơi đầu. Wright và Mousseau (chết) được lãnh huy chương Ngoai-Hạng (Distinguish Service Cross).
Benavidez nằm bệnh viện gần một năm chữa bẩy vết thương đạn AK, hai mươi tám miểng B-40, cối 61 ly của địch. Roy Benavidez cứu tám người, tuy nhiên giấy tờ thất lạc. Mười ba năm sau, đã về hưu, Thượng-Sĩ Benavidez được máy bay quân đội đưa đi Washington và được tổng thống Reagan gắn huy chương Danh-Dự (Medal of Honor).

Sau ngày Benavidez cứu toán biệt-kích trong tháng Năm 1968 bên Miên. Toán Alabama xâm nhập Lào cách thung lũng A-Shau 15 dặm để gắn máy nghe lén điện thoại. Trưởng toán là Trung-Sĩ John Allen, cùng với Kenneth Cryan, Paul King và sáu biệt kích Nùng. Toán Alabama xâm nhập vùng tình nghi có sự hiện diện của một sư-đoàn Bắc Việt, đơn vị này rút quaLào khi sư-đoàn Ðệ Nhất Không-Kỵ Hoa-Kỳ mở cuộc hành quân càn quét khu vực xung quanh thung lũng A-Shau.

Khi trực thả toán biệt-kích bay gần đến bãi đáp, Allen trông thấy hầm hố, công sự phòng thủ của địch dưới rặng cây. Không thấy bóng dáng quân Bắc Biệt tại địa điểm thả toán, Allen ra hiệu 'xuống' và toán biệt-kích bắt đầu làm nhiệm vụ. Họ di chuyển khoảng một tiếng đồng hồ, giác quan thứ sáu báo động cho Allen biết (Allen đã có kinh nghiệm đi 20 chuyến qua Lào và một chuyến Bright Light ngoài miền Bắc). Chàng hút-gió báo cho toán phó Ken Cryan biết 'Có điều gì nhìn không bình thường, ngửi cũng khác thường, có chuyện khác thường'. Allen cùng một biệt kích Nùng tiến tới đằng trước quan sát.

Hai người lên trước khoảng 250 thước, họ trông thấy khoảng đất rộng đã được dọn dẹp, những nhánh cây cao trên đầu cột lại che dấu khoảng đất trống ở dưới. Ở giữa có một căn nhà làm bằng tre, rõ ràng là bộ chỉ huy của địch với lính Bắc Việt ra vào. Xa hơn chút nữa có đường hầm rộng đủ hai người cùng đi đào sâu vào trong núi. Allen chụp mấy tấm ảnh rồi lùi về chỗ toán Alabama.

Toán phó Ken Cryan cho biết vài địch quân đi ngang qua, có lẽ toán lùng biệt-kích. Allen quyết định 'cắt đuôi', rồi cả toán nghe tiếng la lối, tiếng xục-xạo trong các bụi rậm trên lộ trình họ vừa di chuyển qua. Toán biệt-kích 'dọt', vài phút sau, biệt-kích hướng đạo (đi-đầu - Point man) dẫn toán băng qua một con đường mòn lớn, có lẽ dẫn tới bộ-chỉ-huy.Âm thanh truy kích của toán lùng biệt-kích chỉ cách phiá sau chừng 50 thước, Allen quyết định tăng tốc độ di chuyển. Họ băng qua một đường mòn nữa rồi nghe tiếng gọi nhau của địch phiá bên phải, và tiếng trả lời phiá sau. Toán biệt kích chạy 'hết tốc lực' lên một ngọn đồi. Súng AK của địch nổ vang dội, một biệt kích đáp lại một tràng CAR-15. Cryan qụy xuống ôm lấy đùi bên phải, Allen chạy lại xốc nách Cryan dìu đi mặc dù Cryan nói hãy chạy đi để
chàng ở lại. Một biệt-kích Nùng trúng một viên AK ngay ngực gục xuống đất chết, được đồng đội cõng theo.

Trong khi Paul King gọi máy cấp cứu, Allen tìm chỗ để phòng thủ, chàng thấy một hố bom chừng 50 thước trên đường lên núi. Ra lệnh cho toán viên bắn yểm trợ, Allen dìu Cryan di chuyển đến hố bom, rồi phần còn lại theo sau. Allen trải tấm Pa-nô (Panel) mầu cam giữa lòng hố bom đánh dấu vị trí toán biệt-kích cho phi cơ. Paul King lo cứu thương, người biệt kích Nùng đã chết, Cryan trúng đạn vào đùi bể xương, hèn chi anh ta đứng lên không nổi. Sợ phải cưa chân, King chích morphine cho Cryan đủ cho anh chàng này đỡ đau và còn tỉnh táo. Allen cùng mấy biệt-kích chuẩn bị tuyến phòng thủ xong thì quân Bắc Việt xuất hiện tiến lên đồi. Nhờ vị trí trên cao, toán biệt-kích ném lựu đạn xuống làm địch phảilui lại. King gọi Allen 'Ðã có phi cơ FAC lên vùng' và đưa máy cho anh ta liên lạc, King bước ra miệng hố thay cho Allen, một viên AK bắn trúng King ngay đầu, chết ngay tức khắc. Toán Alabama giờ có hai người chết.


Máy bay quan sát điều khiển các phi tuần đánh bom đẩy lui quân Bắc Việt ra xa, hết Phantom F-4, đến lượt Super Sabres F-100, rồi đến A-1 Skyraider. Rồi trực thăng đến, nhưng viên phi công nhát không dám xuống mặc dầu Allen đã trải pa-nô đánh dấu vị trí toán biệt-kích và đưa tay vẫy, sau đó chiếc trực thăng bay về vì hết nhiên liệu, hẹn hôm sau sẽ trở lại. Toán Alabama đành phải đợi sáng hôm sau, đêm đó họ phải chiến đấu suốt đêm, thêm một biệt kích Nùng bị thương nhẹ.

Sáng hôm sau, quân Bắc Việt vẫn tiếp tục bò lên tấn công, rồi một tiếng nổ lớn rung động hố bom. Allen định thần nhìn quanh, toán Alabama chín người lúc xâm nhập giờ đây còn lại mình chàng và một biệt-kích Nùng, số còn lại chết bị thương nằmla liệt trong hố bom. Ðêm qua quân Bắc Việt đã đem súng phòng phông 12 ly 7, đại bác 37 ly đến xung quanh khu vực toán biệt-kích, họ biết máy bay Hoa-Kỳ sẽ đến tiếp cứu toán, nên đã chuẩn bị chiến trường.

Một chiếc Phantom bị bắn rớt, các chiếc khác phải lo tiêu diệt các ổ phòng khôngcủa địch. Ðến chiều trực thăng cấp cứu CH-53 Jolly Green đến bốc toán Alabama. Sườn núi dốc chiếc CH-53 không đáp được thả dây cấp cứu xuống, Allen đặt Cryan lên một dây, dây bên kia cho một biệt-Kích Nùng ngồi vào, chàng nói 'Hẹn gặp ở Phú-Bài'. Chiếc CH-53 từ từ bốc lên, đạn AK bắn theo trúng cả hai, máu nhiễu xuống vào mặt Allen, chiếc trực thăng hoảng bay đi luôn. Quân địch vẫn bắn theo, nhằm vào lính biệtkích chứ không phải trực thăng. Hai xác chết buông xuôi tay, vẫn còn dính dây cấp cứu được trực thăng đem đi. Allen nổi điên, chửi thề um xùm. nói với FAC là sẽ tìm đường khác. Viên phi công lái FAC rất bình tĩnh 'John, anh định tìm đường nào?'. John Allen lấy thêm đạn từ những biệt kích chết, rồi ra khỏi hố bom chạy xuống núi, quân Bắc Việt không ngờ, không bắn không đuổi theo. Chạy được một quãng, chàng gọi FAC. Tôi đã ra khỏi. Trực thăng có chưa? Tôi vẫn theo bạn, sẽ có Kingbee đến đón.


Còn mấy ông bạn của tôi sao?

Y-tá nói họ OK! Họ OK! (Phi công FAC trấn an Allen)

Cuối cùng chiếc Kingbee do phi công tài ba Việt-Nam thuộc phi-đoàn 219 bốc Allen đưa về căn cứ hành-quân tiềnphương Phú Bài. Nhờ tài bình tĩnh của viên phi công lái FAC, nói dối để trấn an Allen, Cryan và biệt kích Nùng lãnh mỗi người ba mươi viên AK khi được trực thăng CH-53 bốc. Toán biệt-kích SOG Alabama còn mỗi mình Allen sống sót. Người biệt-kích ngồi ghế sau chiếc FAC là Trung Sĩ
Nhất John Robertson tử trận khoảng 15 ngày sau khi đi theo Kingbee trong một sứ mạng cách toán Alabama xâm nhập khoảng 10 dặm. Quân Bắc Việt bắn rớt Kingbee bằng hỏa tiễn SA-7.

Ba ngày sau toán Idaho xâm nhập cách đó khoảng 5 dặm. Chiều hôm đó, trưởng toán Glen Lane, toán phó Robert Owen nói vắn tắt cho Covey (FAC) biết họ không báo cáo được vì quân Bắc Việt đã baovây toán. Ðó là lần cuối cùng toán Idaho báo cáo, không ai biết chuyện gì xẩy ra cho toán biệt-kích. Toán Oregon vào tìm toán Idaho, họ tìm được dấu vết lựu đạn nổ, chứng tỏ có chiến đấu và toán Idaho bị địch bắt. Ðến phiên toán Oregon bị đơn vị chống biệtkích tấn công, tất cả mọi người trong toán đều bị thương nhưng thoát hiểm.

Mùa Hè năm 1968, xếp mới đơn vị SOG là Ðại-Tá Cavanaugh, Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dồn nỗ lực qua Lào và Miên. Trong nội điạ, chỉ để ý thung lũng A-Shau,cách Ðà-Nẵng 40 dặm về hướng nam. Thung lũng A-Shau rộng 25 dặm qua biên giới Lào về hướng tây bắc. Trong vùng này, quân đội Hoa-Kỳ bỏ rơi hai phi đạongắn và ba trại LLÐB. Ngày 3 tháng Tám, toán Idaho mới lập lại do Wilbur
Boggs làm trưởng toán xâm nhập vào thung lũng A-Shau cách chỗ toán Idaho cũ biến mất ngày 20 tháng Năm chừng mười dặm. Toán phó là John Walton, anh này rất thông minh, chơi xì-phé giỏi (sau này trở về hưởng gia tài do cha ông để lại những tiệm Wal-Mart), ngoài ra có thêm Tom Cunningham, biệt-kíchThượng.

Xâm nhập không lâu, toán bị tấn công, trưởng toán Boggs bị thương nặng, hai biệt-kích Thượng chết. Toán bị bao vây, không lối thoát. Walton gọi oanh kích ngay trên đầu toán. Nhờ vậy quân Bắc Việt lui ra, Walton lo cấp cứu những biệt kích bị thương, kể cả Cunningham, tất cả đều thoát. Cùng trong tháng Tám, 3 giờ sáng ngày 23, đặc công cộng sản tấn công bộ chỉ huy Bắc (CCN), trận tấn công kéo dài ba tiếng đồng hồ. Kết quả, 15 sĩ quan, hạ sĩ quanLLÐB/HK chết, con số tổn thất lớn nhất từ trước đến giờ, 16 biệt kích quân Việt Nam,Nùng, Thượng chết. Ðịch bỏ lại 38 xác, 9 bị thương làm tù binh. Trong số xác địch để lại có tên làm trong bếp, nội tuyến của địch gài vào.

Sau vụ Ðà-Nẵng, toán biệt kích SOG vẫn tiếp tục xâm nhập qua Lào. Trong mùa Thu, không ai may mắn hơn Trung-Sĩ Lynne Black Jr. Ngày 5 tháng Mười toán của anh ta xâm nhập miền trung Lào, vào vùng đụng ngay, toán trưởng Trung Sĩ James Stride chết trong loạt đạn đầu. Toán phân tán để chạy, Black cùng với hai biệt kích Thượng chạy ngang qua bộ chỉ huy quân Bắc Việt, chuyện xẩy ra
nhanh chóng địch không phản ứng kịp.

Một chiếc CH-53 Jolly Green đến từ Thái Lan, Black cho hai người Thượng, và Mũ-Xanh thất lạc vừa tới lên trước. Nghe tiếng trực thăng, hai lính Bắc Việt chạy ra đụngBlack, hai bên giằng co. Không hiểu sao, Black thoát được và được câu lên trực thăng. Ðúng lúc đó chiếc trực thăng chao đi vì trúng B-40, viên phi công đáp an toàn xuống một rặng núi khác, rồi một chiếc CH-53 đến bốc tất cả về căn cứ an toàn. Xác trưởng toán Stride không tìm được.

Bill Copley không được may như Lynne Black. Vài tuần sau khi Black thoát hiểm, toán biệt kích khác xâm nhập vùng nam Lào, bị rượt. Copley bị thương, anh ta cầu cứu 'Giúp tôi, Tôi bị thương!'. Một toán viên cõng Copley chạy đến khi kiệt sức phải bỏ lại vì địch đuổi theo bén gót. Sau đó toán cấp cứu Bright Light vào tìm, chỉ thấy dấu máu nơi Copley nằm. Tổng kết năm 1968, ngoại trừ vụ đặc công tấn công bộ chỉ huy Bắc. CCN mất 18 Mũ Xanh tử trận, 18 mất tích.

CCN/FOB Phú-Bài