Tuesday, June 30, 2009

Hành-quân Salem House Cam Bốt 161


Ðầu năm 1969, hải cảng SihanoukVille nhộn nhịp qua lại với những chiếc tầu chở hàng đến từ những quốc gia Ðông Âu. Hàng đoàn xe vận tải của công ty Hak Ly chờ bốc hàng, sau đó dùng đường số 4 đến Nam Vang.Ðoàn xe rẽ vào một kho tiếp vận quân sự ở ngoại ô thành phố, giao đồ tiếp liệu cho các viên chức Bắc Việt Nam. Những kiện hàng bí mật chứa vũ khí, đạn dược được tiếp tục vận chuyển suốt đêm trên đường số 7, băng qua đồn điền cao-su đến vùng biên giới rậm rạp thuộc tỉnh Kompong Cham hay khu vực Lưỡi Câu. Khu vực này do đơn-vị Hậu-Cần 70 chăm sóc, gồm nhiều kho lương thực tiếp vận yểm trợ cho công-trường 5, 7 Cộng Sản Bắc Việt và công-trường 9 Việt-Cộng.

Tất cả vũ-khí, đạn dược vào đến lãnh thổ quân-khu III và IV đều qua ngả Cambodia. Sao hai mươi mốt tháng bí mật xâm nhập, đơn vị SOG đã khám phá ra nhiều mật khu chứa tới 200 ngàn quân CSBV và Việt-Cộng. Hành quân xâm nhập vào đất Miên có tên là Daniel Boon, đến mùa thu năm 1969 cải danh thành Salem House để bảo mật. Sự hiện diện của quân đội Bắc Việt được xác định ngày 2
tháng Ba khi một toán biệt kích SOG thuộc bộ chỉ-huy Nam (CCS) bị địch phát giác, truy kích kết quả chết hai quân nhân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ là Trung-Sĩ William Evans và Micheal May. Xác của họ không tìm ra.

Tổng thống Hoa-Kỳ Johnson ra lệnh cho pháo-đài bay B-52 bí mật thẳ bom khu vực Lưỡi Câu gây ra 73 tiếng nổ phụ. Chỉ có viên phi công và sĩquan navigator biệt mục tiêu của trận ném bom. Một tháng sau, tổng thống Johnson ra lệnh cho B-52 thả bom trên mục tiêu do tướng Abram đềnghị. Trung Ương Cục Miền Nam (COSVN) do một hàng binh chỉ điểm. Mục tiêu này cách Memot 14 dặm về hướng
đông nam, trên đất Cambodia, cách biên giới một dặm. Trận đánh bom này xẩy ra ngày 24 tháng Tư.

Chuẩn Tướng Phillip B. Davision trưởng phòng Nhì cơ-quan MACV yêu cầu đơn vị SOG cho một đơn vị nhẩy vào thanh toán chiến trường sau khi trận ném bom B-52 chấm dứt. Ðại-Tá Cavanaugh ra lệnh cho bộ chỉ huy Nam (CCS) chuẩn bị cho một đại đội Hatchet Force nhẩy vào.

Trong khi đó nơi bộ chỉ huy Nam, Nhiệm vụ được giao cho 'Mad Dog Shriver' một huyền thoại sống. Taị căn cứ Fort Braggs (bộ chỉ huyLLÐB/HK) không ai biết đến đơn vị SOG cũng như hành quân Daniel Boon hoặc Salem House, nhưng đều biết Trung-Sĩ Nhất Jerry Shriver mà đàiHà-Nội gọi là 'Chó Ðiên'. 'Mad Dog' Shriver cũng là người phát ra câu nói nổi tiếng trong lịch sử đơn vị SOG. Toán của anh ta bị địch bao vây, phi cơ điều không FAC cho Shriver biết 'Tình hình coi bộ rất xấu', anh ta trả lời tỉnh bơ 'Không, không có gì đâu. Tôi phải đánh nhau với tụi nó tại chỗ tôi muốn - (Bị bao vây cứng bên trong lòng địch)'.

Sáng ngày 24 tháng Tư năm 1969, trong khi các phi cơ B52 cất cánh từ đảo Guam, đại đội xung-kích Hatchet Force thuộc bộ chỉ huy Nam (CCS) tập họp trên phi đạo Quản-Lợicách bộ chỉ huy Trung-Ương Cục Miền Nam khoảng 20dặm. Ðại đội xung kích này có nhiệm vụ vào thanh toán chiến trường, sau khi B-52 ném bom.

Năm chiếc trực thăng Green Hornet chỉ đem được hai trung đội vào vùng hành quân.Trung đội 3 do Thiếu-Úy Bob Killebrew phải ở lại phi trường Quản-Lợi. Trung đội 1 của Trung Úy Walter Marcantel và trung đội 2 doTrung-Úy Greg Harrigan nhẩyxuống bộ chỉ huy Trung Ương Cục. Khi hai trung đội lên máy bay, các pháo đài bay B52 sửa lại đội hình lần cuối trước khi đến mục tiêu. Trận ném bom vừa xong, các trực thăng đáp xuống thả hai trung-đội xung kích rồi bay đi.
Rồi thì súng đạn vang dội nổ khắp nơi, các biệt-kích quân vội nhào xuống các hố bom hoặc nằm sau những thân cây mới bị B-52 đốn ngã để tránh đạn. Nằm cuối đoàn quân, Shriver gọi máy cho biết có khẩu đại liên của địch phiá trước bên trái. Khẩu này trấn áp không cho toán của Shriver ngóc đầu lên được,trong khi đó Ðại-úy Cahill, Trung-úy Marcantel và y-tá Trung-Sĩ Ernest Jamison báo cáo cũng bị địch đàn áp. Jamison chạy ra để cứu người bị thương bị bắn gục tại chỗ.

Không ai có thể di chuyển được. Nổi điên, Shriver cùng một biệt kích quân Thượng chạy lên để thanh toán khẩu đại liên. Cả hai biến mất, không tìm ra xác. Jamison nằm chết cách hố bom chừngvài thước, Ðại-úy Cahill nghe từng tràng đạn AK, B-40 của địch cầy nát mặt đất, khi ông ta ngóc đầu lên, một viên AK xuyên qua miệng, đi ngược lên trên làm hư một mắt. Bị thương nặng, ông ta gục xuống. Trong một hố bom khác, Trung-Úy Harrigan đang điều khiển trực thăng võ trang bắn rocket và minigun cản những đợt xung phong của địch. Harrigan báo cáo đã thiệt hại hơn nửa trung đội chết hoặc bị thương. Nhờ bìnhtĩnh điều không, Trung-Úy Harrigan cầm cự được khoảng 45 phút, sau đó trúng đạn tử trận.

Ðại-Úy O'Rourke bay trên đầu muốn xuống nhưng chiếc trực thăng chở ông ta không qua khỏi màn lưới lửa của địch quân. Trung-Tá Earl Trabue, chỉ huy trưởng bộ chỉ huy Nam cũng không xuống được, biết phe ta đang bị tàn sát ở dưới họ đành bó tay. Cuối cùng chỉ còn Trung-Úy Marcantel còn sống, anh ta điều khiển luôn mất chiếc B57 Canberra của Úc-Ðại-Lợi thuộc phi-đoàn số 2 cất cánh
từ Phan Rang vào đánh giải vây cho trực thăng vào đem rađược Trung-Úy Marcantel đã bị thương cùng chín biệt kích quân Thượng. Ba chiếc khác vào đem ra được thêm 15 quân nhân bị thương cùng xácTrung-Úy Harrigan. Cuộc hành quân coi như chấm dứtÐại-Tá Cavanaugh đến thăm hỏi các quân nhân sống sót, sau đó nói với Tướng Davidson 'Nếu tôi biết kết qủa sẽ như vậy, tôi sẽ không đưa họ vào chỗ chết'. Tướng Davidson nhận trách nhiệm về chuyến hành quân vào bộchỉ huy Trung Ương Cục MiềnNam. Trung Úy Marcantel bình phục, ông ta chết khoảng sáu tháng sau trong một chuyến nhẩy dù trong căn cứ Fort Davens, tiểu bang Massachusetts. Ðại-Úy Cahill giải ngũ vì vết thương. Xác Ernest Jamison thâu hồi được ít lâu sau. 'Mad Dog' Shriver cho đến nay vẫn không tìm ra xác.
Ðược báo cáo về số tổn thất của đơn vị SOG, Tướng Abrams ra lệnh cho cơ quan MACV phân tích về sự thiệt hại của đơn vị SOG trong vòng hai tháng đầu năm 1969. Kết quả 15 quân biệt-kích Mũ-Xanh Hoa-Kỳ chết hoặc mất tích, 68 bị thương và mườitrực thăng bị rớt. Ðổi lại, biệt kích SOG tiêu hủy 13 xe vận tải Molotova, giết 1400 địch quân, chỉ điểm mục tiêu cho phi cơ đánh bom gây 455 tiếng nổ phụ.

Tổng thống Nixon ra lệnh cho B-52 thả bom bí mật lần thứ ba trên lãnh thổ Cambodia đầu tháng Năm. Lần này trên nhiều mục tiêu trong đó co căn cứ của trung-đoàn 27 Cộng-Sản Bắc Việt. Toán biệt-kích Illinois xâm nhập vào mục tiêu, phối kiểm trận đánh bom. Toán trưởng là Trung-Sĩ Ben Thompson, toán phó là Trung-Sĩ George Bacon III xuống mục tiêu hai mươi phút khi trận đánh bom chấm dứt. Chưa được nửa ngày, toán biệt kích vừa bắn vừa chạy lấy thân, điều này chứng tỏ bom thả trên mục tiêu có nhiều địch quân. Vài tháng sau, ngày 25 tháng Tám, toán biệt kích Florida do Trung-Sĩ Ken Worthley làm trưởng toán xâm nhập vùng đông bắc Cambodia, nơi tình nghi có trung-đoàn 66 CSBV. Toán này có thêm Trung-Sĩ Bob Garcia, Dale Hanson và bốn biệt-kích quân Việt-Nam, tổng cộng bẩy quân nhân.

Họ xuống bãi đáp an toàn vào lúc trưa và bắt đầu leo lên một dốc núi cao. Ðến hai giờ chiều, toán biệt kích đang ngồi nghỉ trên một sườn núi, Garcia trông thấy hai lính Bắc Việt đang dò tìm dấu vết của họ để lại. Anh ta bắn gục một địch quân, rồi thì đạn AK nổ tứ phiá, thì ra cả một đại đội lính Bắc Việt đang dàn quân ra bao vây toán biệt kích.

Trong khi chạy, người hiệu thính viên Dale Hanson trúng một viên AK mất ngón giữa bàn tay trái, vừa chạy vừa băng bó, Garcia phải thay anhta mang máy. Ðến gần tối, trưởng toán Worthley quyết định trốn trong một thung lũng qua đêm, họ đã rải hơi cay mắt để đánh lạc hướng chó. Sáng sớm hôm sau, họ băng qua khu rừng, khoảng 9:30, toán đang di chuyển trên một sườn đồi bỗng người dẫn đạo
ra dấu im-lặng. Worthley bò tới trước trông thấy hai lính Bắc Việt nơi một con đường mòn. Họ khai hoả giết cả hai, biệt kích quân hướng đạo bị thương nơi tay. Quần áo cho thấy một địch quân là cấp chỉ huy, đeo súng lục có thể mang cấp bậc đại-tá, người kia có lẽ là cận vệ. Toán biệt kích lấy được túi đeo da có đựng tài liệu của viên sĩ quan BắcViệt. Ðơn vị SOG sau khi xem xét tài liệu cho biết toán
Florida đã giết được một sĩ quan tình báo cao cấp của địch.

Trên đường chạy, trưởng toán Worthley trúng một viên AK vào cổ chết tức khắc, còn tất cả đều được trực thăng thả dây cấy cứu kéo lên. Khi về đếnKontum, một chiếc 'Chim Ðen' C-130 của đơn vị SOG đến đem chiếc túi da của viên sĩ quan Bắc Việt về Saigon. Tài liệu trong túi da cho biết một danh sách điệp viên nằm vùng của địch. Tài liệu này cũng xác nhận về chuyện Thái KhắcChuyên bị Ðại Tá Robert Rheault cựu chỉ huy trưởngLiên Ðoàn 5 LLÐB/HK ra lệnh hành quyết vào tháng Năm1969. Vài tháng sau Ðại-Tá Rheault được tự do, ông ta cũng không biết nhờ công của toán biệt kích Florida.

Trong một chuyến đàu tiên xâm nhập Cambodia năm 1970, toán biệt kích Vermont trên Kontum nhẩy xuống khu rừng rậm rạp trong tỉnh Ratanakiri ngày 5 tháng Giêng tìm kiếm căn cứ binh trạm của địch. Trưởng toán là Trung-Sĩ Franklin 'Doug' Miller, người biệt kích hướng đạo dẫm lên một sợi dây giăng ngang đường, tiếp theo là một tiếng nổ lớn làm bốn biệt kích quân bị thương. Trong phút chốc một nửa toán viên bất khiển dụng và địch đã phát giác sự hiện diện của toán. Miller phụ giúp băng bó cho những người bị thương rồi ra lệnh cho toán phó dẫn toán lên đồi lập vị trí phòng thủ, còn anh ta ở lại, đương đầu với địch quân.

Vừa bắn cầm chừng vừa lui về chỗ phòng thủ, Miller liên lạc yêu cầu triệt xuất toán, sau đó dẫn toán di chuyển đến bãi trực thăng nơi một hố bom lớn cách đó khoảng 175 thước. Khi chiếc trực thăng định đáp xuống bốc toán biệt kích, địch bắn lên xối xả đuổi chiếc trực thăng bay ra chỗ khác rồi tiếp tục tấn công toán Vermont. Toán biệt kích núp trong hố bom chống trả quyết liệt mặc dầu tất cả đều bị thương, kể cả trưởng toán Miller trúng đạn AK nơi tay trái. Anh ta vẫn tiếp tục hướng dẫn toán đến một bãi đáp trực thăng khác, sau đó được một toán cấp cứu Bright Light đem ra an toàn. Miller đem về cho đơn vị SOG huychương danh dự thứ bẩy.

Vùng đông bắc Cambodia rất 'nóng' (nguy-hiểm). Ngày 9 tháng Giêng, một toán biệt kích thuộc bộ chỉ huy Nam do Trung-Sĩ Nhất Larry Barlett làm trưởng toán, toán phó là Trung-Sĩ Richard Thomas trên đường di chuyển đến bãi đáp cách nơi toán Vermont bị tấn công khoảng 30 dặm về hướng nam. Toán này bất ngờ bị một đơn vị địch tấn công chết cả hai quân nhân Mũ-Xanh Hoa-Kỳ. Toán cấp cứu Bright Light vào chết thêm một biệt kích quân Thượng trước khi đem xác họ ra.

Ngày 11 tháng Ba năm 1970, đảo chính bên Cambodia, hàng ngàn người Miên đập phá toà đại sứ Bắc Việt và Việt-Cộng ở Nam Vang, Hoàng-Tử Sihanouk chạy qua tỵ nạn bên Pháp. Ba hôm sau, toán biệtkích Pennsylvania do Trung Úy Jerry Poole làm trưởng toán xâm nhập vùng rừng núi trong ttỉnh Ratanakiri. Toán này có thêm hai quân nhân Hoa Kỳ là Trung Sĩ Nhất John Boronski, Trung-Sĩ Gary Harned. Sau ba ngày lẩn trốn, họ được một trực thăng vào bốc. Khi chiếc báy may bay lên cao khoảng 100 bộ, trúng một quả B-40 nổ tung, tất cả quân nhân trên máy bay gồm toán biệt kích Pennsylvania cùng phi hànhđoàn gồm Ðại úy Michael O'Donnell, Chuẩn Úy John Hosken, Rudy Becerra, và Berman Gande Jr. đều thiệt mạng. Không thâu hồi xác họ được.

Tin tức tình báo cho biết quân Bắc Việt đang mở rộng vùng kiểm soát trên đất Miên về phiá bắc và tây. Họ lấy tỉnh Svay Riêng trong vòng mấy ngày, trong khi đơn vị Bắc Việt khác lấn xuống phiá nam đuổi quân đội Cambodia ra khỏi vùng Mỏ Vẹt. Trong vòng hai tuần lễ, quân đội Bắc Việt chiếm được hai trong số mười bẩy tỉnh của Miên và bao vây thêm năm tỉnh khác, yểm trợcho quân Khmer Ðỏ. Chính phủ mới bên Miên báo động cho thế giới biết về sự xâm lăng của quân đội Bắc Việt, và
Hoa Kỳ bí mật gửi sang Miên 3000 khẩu AK.

Trong trung tâm nước Cambodia, ba Trung-Sĩ Troy Gilley, Ben Lyons, và Charles Chapin bí mật xâm nhập để phối kiểm tin tình báo về một binh trạm dành cho sĩ quan cao cấp Bắc Việt. Họ được bốc ra và ba hôm sau thả xuống một nơi gần những chòi dành cho cấp lớn của địch. Họ gặp lính Bắc Việt di chuyẻn cùng với voi chở đồ. Quân biệt kích phục kích đánh tơi tả, sau đó gọi trực thăng lên bốc về an toàn. Troy Gilley về Saigon báo cáo về chuyến đi, anh ta biết thêm đơn vị Bắc Việt có voi tải đồ bị chận đánh có nhiệm vụ hộ tống hai tướng lãnh Bắc Việt và cả hai đều chết trong trận phục kích vừa qua. Khi bắt đầu trận đánh qua đất Miên do Quân-Lực VNCH và Hoa-Kỳ đảm trách, đơn vị SOG ra lệnh đưa mấy toán biệtkích ngoài Ðà-Nẵng và trên Kontum vào Ban Mê Thuột trợ lực cho bộ chỉ huy Nam (CCS). Sau đó, ngày 30 tháng Sáu, đơn vị SOG chuyển năm toán biệt kích ra bộ chỉ huy Bắc, năm toán khác lên bộ chỉ huy Trung, giao đất Miên hoàn toàn do QL/VNCH đảm trách.


A-244 Dak Pek

Hành-quân Daniel Boone Cambốt 153

Ngồi đằng sau chiếc máy bay quan-sát, Wilcorek để-ý đường 19 nơi hướng đông bắc lãnh thổ Cambodia. Con đường này rộng đủ cho hai xe chạy, bụi bay lên mù-mịt chứng tỏ có đoàn xe đang di chuyển ở dưới, khu vực xung quanh không có làng mạc hay dấu hiệu nào của dân cư. Trong tháng Mười năm 1965, nơi thung-lũng Ia-Drang, sư-đoàn 1 Không-Kỵ Hoa-Kỳ mất 304 quân, khi chạm súng với hai trung đoàn chính-quy Bắc Việt, di chuyển và nhận tiếp tế từ bên Miên qua. Năm 1966, đường 19 được bí mật nối liền với đường 110 và 96 trên đất Lào, điều này cho biết hệ thống đường mòn
Hồ-Chí-Minh không dừng lại ở Lào và tiếp tục đi về hướng nam qua đất Cambodia. Cuối năm 1966, các toán biệt-kích thường xuyên phát giác đoàn quân xa của địch chuyển quân qua Miên. Ðầu năm 1967, tướng Westmoreland cùng đôđốc Grant Sharp tư lệnh Lực-Lương Thái-Bình-Dương, yêu cầu giới chức thẩm quyền ở Washington D.C. cho phép biệt-kích thuộc đơn vị SOG xâm nhập, dò-thám lãnh thổ Cambodia. Tháng Năm 1967,Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) được ưng thuận tổ chức
hành-quân Daniel Boon, vượt biên qua Miên.

Chính quyền Sihanouk có nhiều liên hệ mật thiết với giới lãnh đạo Hà-Nội, các toán biệt-kích xâm nhập qua đất Cambodia phải dấu thật kín để bộ Ngoại-Giao Hoa-Kỳ có thể chối cãi dễ dàng. Các
toán bìệt-kích chỉ có nhiệm vụ lấy tin tức tình báo chiến lược, không được tấn công, phá hoại, phục kích hoặc gài mìn bẫy. Họ được dặn dò thêm, cẩn thận nhầm lẫn lính Cambode và lính cộng-sản
Bắc Việt, cả hai đều mặc quân phục xanh, trang bị AK47. Trực thăng võ trang là hỏa lực duy nhất yểm trợ cho các toán biệt-kích hoạt-động bên Miên trong trường hợp khẩn cấp.
Lúc ban đầu, hành quân Daniel Boon chú trọng vào khu vực rừng núi rậm rạp tây bắc Cambodia, ráp-ranh với cao nguyên trung phần thuộc lãnh thổ Quân-Khu II / VNCH. Chuyến đầu tiên êm xuôi,
chuyến thứ hai xâm nhập ngày 15 tháng Sáu năm 1967. Trung Sĩ Nhất Lowell Stevens làm trưởng toán biệt kích tuyên bố như sau 'Ðó là ngày dài nhất trong đời tôi'.Ðược một chiếc H-34 không phù hiệu Kingbee thuộc phiđoàn 219 KL/VNCH đưa vào vùng xâm nhập nơi một sườn núi trong đất Lào khoảng 100 thước. Trưởng toán (One Zero) Stevens, toán phó Trung-Sĩ Roland Nuqui và bốn biệt-kích Nùng chạy ra khỏi bãi đáp cỏ tranh bị cháy, biến mất vào trong cánh rừng núi rậm rạp theo sau là những
tiếng gọi nhau ơi-ới cùng tiếng súng bắn báo động. Họ đã bị địch phát giác.

Nhiệm vụ của toán biệt kích này là tìm kiếm hai con đường mòn, trạm đóng quân, vị trí đặt súng đại bác của pháo binh CSBV trong vòng năm ngày. Họ đã bị lộ khi xâm nhập, bây giờ chỉ cầu an, quân Bắc Việt đang bủa lướibao vây toán biệt-kích. Ðặt khẩu tiểu liên Thụy Sĩ K xuống đất, Stevens báo cáo 'Bọn Bê-Bối (lính Bắv Việt) đang bao vây tụi tôi. Yếu cầu triệt xuất ngay tức khắc'.

Rủi cho toán biệt-kích, viên sĩ quan SOG ngồi ghế sau chiếc máy bay quan sát điềukhông
(FAC) không có kinh nghiệm về chiến tranh ngoại lệ, tưởng rằng Stevens nói hoảng, nên không ra lệnh cho chiếc Kingbee quay trở lại bốc toán biệt-kích. Viên sĩquan này đòi hỏi phải có bằng
chứng áp-lực của địch. Ngồi trong bụi, toán trưởng biệtkích cùng toán viên có thể nghe tiếng sĩ-quan Bắc Việt ra lệnh cho binh-sĩ của họ di chuyển lên đỉnh núi nơi toán biệt kích đang lẩn trốn.

Ðúng ra, Stevens cùng toán viên của anh ta thuộc hànhquân Omega (Project Omega), trên giấy tờ họ làquân nhân trong Liên-Ðoàn 5LLÐB/HK. Ðơn vị này tổ chức hành quân Omega do B50/LLÐB gánh chịu và hànhquân Sigma do B-56 đảm trách. Hai hành quân, này nhiệm vụ xâm nhập vùng địch
kiểm soát trong miền Nam Việt-Nam. Các sĩ quan cao cấp trong LÐ 5/LLÐB muốn dành nhiệm vụ qua Miên, cuối cùng bộ tư-lệnh Quân-Viện giao cả hai hành quân Omega, Sigma cho đơn vị SOG điều khiển.

Phải thúc giục nhiều lần, cuối cùng viên sĩ quan trên ghế sau chiếc FAC đưa vào bốn chiếc trực thăng võ trang (Huey gunship) bắn yểm trợ cho trực thăng H-34 vào bốc toán biệt-kích ra. Vì sườn núi
có độ dốc cao, chiếc H-34 đem theo một quân nhân Hoa-Kỳ Thượng-Sĩ Ben Snowden, phụ giúp việc lôi các quân nhân biệt-kích lên máy bay. Khi Stevens nâng người dẫn đạo Nùng lên cho Snowden,
địch quân bắn xối xả vào chiếc máy bay, chiếc Kingbee lắc lư nhưng vẫn đem các biệt kích ra khỏi vùng đang bị hỏa lực địch đàn áp.

Trúng 68 viên đạn, hỏng máy chiếc H-34 rớt xuống đất. Từ nơi trú ẩn, Stevens nhìn lên sườn núi thấy một cái hang, bên trong là khẩu đại liên, địch đã ngưng bắn sau khi chiếc máy bay rớt. Chiếc FAC gọi thêm khu trục thả bom làm thành màn lửa che cho toán biệt kích. Một chiếc Kingbee khác đáp xuống rước toán biệt-kích. Khi chiếc bày bốc kên cao khoảng 30 bộ, khẩu đại liên trong hang lại khai hỏa, bắn đứt đuôi chiếc trực thăng. Chiếc Kingbee quay vòng vòng trên trời rồi rớt xuống, phát hỏa. Tất cả
biệt-kích cùng với phi hành đoàn chạy thoát ra ngoài, chạy lên một ngọn đồi khác lẩn trốn. Chỉ còn chiếc Kingbee duy nhất trên trời, nhưng chiếc này phải quay về đổ thêm xăng.

Kể cả nhân viên phi hành đoàn, tất cả chín người, chỉ có viên xạ thủ đại liên trên chiếc H-34 bị thương nặng. Từ trên đồi, họ theo dõi các khu trục A-1 Skyraider thả bom Napalm, rồi một chiếc trúng
đạn rớt. Các biệt kích quân nín thở nhìn chiếc dù bị gió thổi dạt về hướng có quân Bắc Việt. Sau đó đoàn trực thăng khác xuất hiện, chiếc Kingbee còn lại xuống đón tất cả về Dakto an toàn. Stevens cùng toán biệt-kích Nùng ra khỏi máy bay, họ kiệt sức. Trong một chiếc poncho có xác Thượng Sĩ Snowden, ông ta lãnh chín viên trong số 68 viên bắn trúng chiếc Kingbeethứ nhất. Ðể đặt danh dự cho
người quân nhân đầu tiên hy sinh trong hành quân Daniel Boon, văn phòng làm việc trong căn cứ ở Kontum được đặt tên la Snowden Hall.

Trong vòng vài tháng, các toán biệt kích trong hành quân Daniel Boon đem về nhiều tin tức về hệ thống đường mòn, điện thoại, căn cứ và kho tiếp vận của địch. Phiá nam vùng tam biên, dưới tỉnh Pleiku VNCH, là một khu vực hiểm trở, rừng núi rậm rạp. Quân đội Bắc Việt xây dựng một căn cứ rất rộng lớn. Quân Bắc Việt và Việt-Cộng tập trung trong khu vực này từ ba đến bốn sư-đoàn. Trong khu vực Lưỡi-Câu gần Lộc-Ninh, địch quân đặt bộ chỉ huy tối cao của Mặt-Trận Giải-PhóngMiền Nam (Trung Ương Cục Miền Nam hay Cục R).

Hầu hết các chuyến xâm nhập qua Miên, nhắm vào khu vực Lưỡi Câu và vùng Tam-Biên. Mùa Thu năm 1967, quân đội Hoa-Kỳ thiệt hại nhiều nhất trong trận Dakto, gần khu vực hoạt động của đơn vị SOG. Trong khi lư õđoàn 173 Nhẩy-Dù Hoa-Kỳ đánh từng thước đất lên đồi 875 tây nam Dakto. Vài toán biệt-kích SOG xâm nhập về hướng tây 5 dặm trên đất Cambodia để yểm trợ cho lữđoàn 173 (Ðơn vị này chưa chắc đã biết các hoạt động của SOG). Một toán do trưởng toán Stevens lãnh đạo, toán
phó là Trung Sĩ Nhất Ken 'Shoebox' Carpenter, lội bộ qua đất Miên từ Nam Lào tìm con đường tiếp vận bí mật mà quân Bắc Việt dùng để tiếp tế cho các đơn vị đang chiến đãu trên đồi 875 và để biết địch sẽ tăng viện thêm quân hay rút lui. Toán biệt-kích này lục soát hai ngày, đến trưa ngày thứ ba họ khám phá ra con đường được trồng cây giả và rải lá nguỵ trang. Toán biệt kích bố tri và chờ xem...

Trời vừa chập tối, quân biệt kích bắt đầu nghe tiếng động cơ xe Molotova. Khoảng 10 giờ đêm, từng toán dân công xuất hiện như những bóng ma, lặng lẽ dọn đường cho xe đi. Con đường nhỏ đủ cho chiếc xe vận tải chạy qua. Nửa giờ sau, đoàn xe vận tải chạy qua đem theo đồ tiếp liệu, lương thực tiếp tế cho đơn vị đangđánh trên đồi 875. Ðịch không tăng viện thêm quân vào chiến trường. Khoảng 4 giờ sáng đoàn xe trở lại đem theo xác quân Bắc Việt tử trận. Trước khi trời sáng, đoàn quân ma xuất hiện, trồng lại cây, một vài dân công đi sau đeo túi lớn, rải những lá cây trên mặt đường che dấu bánh xe.

Mùa Thu năm 1967, và đầu năm 1968, SOG xử dụng quâncủa Liên-Ðoàn 5 LLÐB/HK, hành quân Omega và Sigma cho hành quân Daniel Boon. Các toán biệt-kích đóng tại Ban-Mê-Thuột xâm nhập qua Miên. Các toán khác đóng trên Kontum đảm trách những mục tiêu vùng Nam Lào. Bộchỉ huy ngoài Ðà-Nẵng với các căn hành quân tiền phương ở Phú-Bài, Khe-Sanh và Kontum trở thành bộ chỉhuy Bắc (CCN), các toán biệtkích có tên tiểu bang hoặc rắn như Anaconda, California. Ban-Mê-Thuột trở nên bộ chỉhuy Nam (CCS) các toán biệt kích có tên dụng cụ như Saw (Cưa), Hammer (Búa).

Ðầu năm, ngày 29 tháng Giêng năm 1968, đơn vị SOG lãnh tổn thất mất tích đầu tiên bên Miên. Trung-Sĩ Nhất Charlie White, còn ba ngày nữa hết hạn kỳ phục vụ ở Việt-Nam, xâm nhập vào khu
vực đông bắc Cambodia, chạm súng với địch, chạy đến một khoảng đất trống để trực thăng có thể dùng dây câu lên. White to con như cầu thủ chơi Football, 6 feet 4, 280 pounds. Khi trực thăng kéo
anh ta lên cao khoảng 25 feet, White rớt xuống đất. Trong lúc địch đang truy kích và vì trời tối, nên phải đợi đến sáng hôm sau, đơn vị SOG mới tổ chức tìm kiếm.

Toán cấp cứu Bright Light gồm Trung-Sĩ Nhất Zabitosky và Dallas Longstreath III nhẩy xuống khu vực bãi đáp nơi bốc toán biệt kích hôm qua. Họ tìm thấy dấu vết quân Bắc Việt dàn hàng ngang lục xoát
tiến lên đồi, rối tụ lại tại một điểm có cây bị gẫy, có lẽ nơi Trung-Sĩ White rớt. Không thấy có vết máu, trong vùng có nhiều dấu chân địch, và còn đơn vị Bắc Việt, toán biệt kích Bright Light phải quay
về. Bộ Quốc Phòng Hoa-Kỳ coi như Trung-Sĩ White tử trận. Trung Sĩ Zabitosky, người đi tìm, tin rằng White bị bắt, Hà-Nội trả lời không biết gì về chuyện đó.

Một trường hợp mất tích khác xẩy ra bên Miên, Trung-Úy Harry Kroske Jr. được biết rõ. Kroske rất nổi tiếng, làm trưởng toán biệt-kích Hammer trên Ban-Mê-Thuột. Toán Hammer gồm hai LLÐB/HK
và bốn biệt kích Nùng lãnh nhiệm vụ dò thám khu vực Lưỡi-Câu, nơi tình nghi có căn cứ lớn quân-đội Bắc-Việt và Cục 'R'. Sau vài ngày thực tập, toán biệt-kích phát xuất từ căn cứ hành quân tiền-phương Bù-Ðốp xâm nhập vào buổi chiều. Bãi đáp chỉ có cỏ tranh, trống trải, toán biệt kích di chuyển thật nhanh đến một cánh rừng cách đó khoảng 1/4 dặm. Vào đến bià rừng, Trung-Úy Kroske ra lệnh cho Stockdale gọi máy liên lạc trong khi anh ta cùng người hướng đạo Nùng đi sâu vào trong quan sát một con đường lớn mà họ trông thấy từ trên trực thăng khi đáp.
Stockdale báo cáo xong, tiếng trực thăng bao vùng bay về căn cứ. Còn nửa tiếng nữa, mặt trời lặn và toán biệt kích sẽ tìm điểm đóng quân đêm an toàn. Bỗng dưng, một tràng đạn AK sé tan bầu im lặng (cả biệt-kích lẫn địch quân đều xử dụng AK), rồi một tràng nữa rồi súng đạn nổ vang dội, cách
Stockdale khoảng 50 feet, nơi Kroske cùng người khinh binh đi thăm dò. Stockdale vội vã gom toán biệt kích còn lại sẵn sàng ứng chiến, rồi người lính Nùng chạy trở lui báo cáo 'Lieutenant fini! Trung-úy chết rồi!'. Stockdale bất chấp nguy hiểm chạy lên tìm Kroske. Anh ta vừa di chuyển vài bước, súng AK nổ tiếp, đạn cầy trên mặt đất văng đất buộc Stockdale phải năm xuống, mấy người lính Nùng
phát hoảng bỏ chạy.

Sau này Stockdale biết rằng, Kroske đi đụng ba người lính Bắc Việt, anh ta nổ súng trước trúng hai địch quân, tên thứ ba bắn trả lại trúng Kroske hai viên vào bụng, một vào ngực. Chàng chạy trở lui, chui vào một góc rừng nằm im khoảng năm tiếng đồng hồ, đến nửa đêm. Quân Bắc Việt đi lùng
khắp nơi suốt đêm, tìm không ra người lính biệt-kích Hoa-Kỳ.

Trong khi đó cách Ban-Mê-Thuột 80 dặm, một đơn vị độc nhất thuộc Không-Lực Hoa-Kỳ, Phi-Ðoàn 20 Hành-QuânÐặc-Biệt gửi sáu chiếc trực thăng Huey đi cứu Stockdale. Trực thăng thuộc phi-đoàn
này không sơn phù hiệu KL/HK, chỉ sơn hình con ong nên có biệt danh 'Green Hornets'. Ðơn vị cấp cứu mất gần ba tiếng đồng hồ đánh đuổi địch quân mới thả dây cấp cứu xuống câu Stockdale ra khỏi vùng nguy hiểm.Trung-Úy Kroske mất tích, không thâu hồi được xác. Stockdale trở thành trưởng toán Hammer, anh làm trưởng toán gần hai năm và rất nổi tiếng trong bộ chỉ huy Nam (CCS).

Trong phi-đoàn GreenHornets, Thiếu-Úy Flemming rất nổi về tài thả những toán biệt-kích của SOG, Trong một phi vụ bay có Thiếu-Tá Paul McClellan thả toán biệt-kích Chisel nơi mục tiêu Tango-51
Toán biệt kích xuống bãi đáp an-toàn, di chuyển đến một giòng sông rộng làm nhiệm vụ thám thính sự di chuyển của địch trên sông. Chiếc trực thăng Green Hornets bay về trại LLÐB Ðức-Cơ gần biên
giới, nơi phát xuất của toán biệt-kích. Họ sẽ ăn trưa, lấy thêm xăng, rồi buổi chiều bay về hướng nam thả toán biệtkích khác vào đất Miên.

Trong khi đó toán Chisel đã bố trí xong, trong một bụi cây gần bờ sông để quan sát. Toán này do Trung-Sĩ Ancil 'Sonny' Franks làm trưởng toán đã gần một năm, toán phó là Trung-Sĩ Charles Hughes và ba biệt-kích người Thượng. Họ đem theo Ðại-Úy Randolph Harrison, cấp chỉ huy mới của đại-đội thámkích. Ông ta đi theo để biết đàn em mình làm ăn ra sao.

Trong khi mọi người làm thêm ngụy trang chỗ ẩn núp, Hughes đang kéo cần antenna lên để liên lạc thì địch tấn công toán Chisel. Trung Sĩ Hughes cố gắng gọi cầu cứu nhưng không ai trả lời. Trưởng toán Franks biết bị kẹt nơi bờ sông, hết chỗ chạy. Toán biệtkích cố gắng cầm cự tại vị trí, trong lúc quân Bắc Việt kéo đến càng đông. Hughes tiếp tục liên lạc cầu cứu, phi đoàn năm chiếc Green Hornets đã
bay xa 30 dặm, không chiếc nào nghe được tiếng cầu cứu của Hughes.

May thay trên vùng lúc đó có máy bay FAC do Thiếu-Tá TQLC/HK Charles Anonsen lái, ông này bắt được tần số của toán Chisel và bay về hướng toán đang bị vây để nghe rõ hơn và gọi hợp đoàn
Green Hornets quay trở lại. Thêm một trở ngại nữa là các trực thăng đã gần hết xăng,
chỉ còn đủ nhào xuống một chuyén bốc toán biệt kích. Hai chiếc gunship cố gắng đẩy lùi
quân Bắc Việt ra xa để chiếc khác xuống bốc. Không dè địch có thêm đại-liên phòng
không 12 ly 7 bắn rớt một chiếc, nhưng đáp được nơi an toàn, chiếc thứ hai xuống cứu
phi hành đoàn và bay thẳng về Ðức Cơ vì gần hết xăng.

Toán Chisel bị đẩy lui dần về bờ sông, thêm một trực thăng phải bay về vì hết xăng, còn lại hai chiếc trên vùng, chiếc thả viễn thám do Flemming lái và chiếc gunship do Thiếu-Tá Leonard Gonzales lái. Chiếc gunship nhào xuống bắn đại liên và rocket xung quanh toán biệtkích bị trúng đạn bốc khói.
Flemming đã gần hết xăng chỉ còn cách nhào xuống bốc toánbiệt kích hoặc quay về. ÐượcFAC hướng dẫn, Thiêú-Úy Flemming nhào xuống, cùng lúc quân Bắc Việt khai hỏa dữ dội, không biệt kích quân nào ngóc lên được để chạy ra trực thăng. Rồi quân Bắc Việt xung phong, Flemming nghe tiếng báo động trên máy truyền tin 'Tụi nó vô được rồi! Vô được rồi! Chạy đi, chạyđi!'. Thiếu-Úy Flemming kéo cần lái. Chiếc trực thăng rời bờ sông bay lên trời xanh.

'S.O.G.' tác giả John L. Plaster

Cọp Khánh-Hòa

Nhẩy dù xâm-nhập (HALO). 181


Chuyến cứu tù-binh đầu tiên (Bright Light) do đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) thực hiện trong năm 1966, hai tiểu-đoàn Việt-Cộng tiêu- diệt cả trung-đội do Huckleberry và Charlie Vessels chỉ-huy. Sau nhiều vố đột-kích không thành-công, trùm đơn vị SOG Ðại-Tá Jack Singlaub nhận thấy rằng có dấu-hiệu cho biết tù-binh Hoa-Kỳ đã được di-chuyển đến nơi khác chừng vài giờ đồng hồ trước khi quân biệt-kích tấn-công. Các sĩ-quan tham-mưu SOG đặt vấn-đề nghi-vấn?

Thiếu-tá Ed Rybat, chỉ huy trưởng Tiền-doanh #1 Phú-bài (FOB#1) cũng băn-khoăn. Dường như địch quân biết mình trên đường đến mục-tiêu . Ðến năm 1969, vấn-đề trở nên trầm- trọng. Ðại-Tá Steve Cavanaugh lên thay Jack Singlaub cũng để tâm đến vấn-đề an-ninh nội bộ. Ông ta đến thăm các căn-cứ hành-quân tiền-phương hỏi thăm các toán trưởng biệt-kích và đem theo toán An-Ninh Lục-Quân Hoa-Kỳ thuộc đại-đội 101 Kiểm Thính để theo dõi tất cả các cuộc điện-đàm trong đơn vị SOG.

Trong khi đó các toán biệt- kích xâm nhập đều biết rằng, địch quân cũng dò tầng số liên-lạc của họ để ‘mần thịt’ các toán biệt-kích xâm nhập. Ðơn vị SOG phải tìm giải- pháp xâm nhập khác để bảo-vệ các toán biệt-kích khi xâm nhập. Xâm nhập ban đêm, không sợ địch phát giác nhưng các phi cơ trực-thăng không được an-toàn khi xuống bãi đáp trong màn đêm. Chỉ còn cách là nhẩy dù xuống mục-tiêu, xâm nhập vào lúc ban đêm.

Khi trưởng toán biệt-kích Auger, Frank Oppel yêu-cầu được phép nhẩy dù xuống khu vực Lưỡi-Câu trên đất Miên trong tháng Mười Hai năm 1969. Bộ chỉ huy SOG chấp-thuận ngay, chỉ có một trở ngại nhỏ, khi Oppel báo tin vui cho các toán viên, anh toán phó ‘lạnh cẳng’ không chịu đi, phải tìm người khác thay thế, đó là Bob Graham mà sau này rất nổi tiếng ở tiền-doanh # 3 (CCS).

Toán Auger gồm hai quân nhân Hoa-Kỳ Oppel, Graham cùng với ba biệt kích quân Nùng bắt đầu tập nhẩy dù từ trực thăng do phi-công trong phi đoàn Green Hornet lái. Sau một tuần lễ thực-tập và một saut nhẩy đêm. Ðúng bốn giờ sáng ngày 23 tháng Mười Hai, 1969, toán biệt kích Auger nhẩy dù xuống, xâm nhập khu vực Lưỡi Câu trên đất Miên. Họ xuống tới đất, tập họp nhanh chóng, tuy nhiên một biệt-kích Nùng bị trật chân, nên sáng hôm sau trực thăng phải vào bốc toán biệt-kích đem về.

Năm 1970, Ðại Tá John Sadler thay thế Ðại-Tá Cavanaugh, ông ta rất rành về kỹ-thuật nhẩy dù, và skydiving (nhẩy dù điều khiển) quân đội gọi là HALO (High Altitude Low Opening). Nhẩy dù HALO từ độ cao 10,000 bộ, để rơi tự-do lái đến mục-tiêu, còn khoảng 1000, 2000 bộ tới mặt đất mới mở dù. Mặc dầu Lực-Lượng Ðặc Biệt Hoa-Kỳ đã huấn-luyện nhẩy dù HALO từ năm 1957, tuy nhiên quân-đội Hoa-Kỳ cũng như trên thế giới chưa từng xử dụng HALO trên chiến-trường.

Tháng Bẩy 1970, Ðại-Tá Sadler ra lệnh thành lập toán biệt-kích HALO đầu tiên. Trung Sĩ Cliff Newman và Trung-Sĩ Nhất Sammy Hernandez đang chỉ-huy toán biệt-kích Virginia thám-thính khu vực lân cận Khe-Sanh bỗng được lệnh tìm một bãi đáp gần nhất để triệt-xuất. Toán biệt-Kích HALO đầu tiên gồm có Newman, Hernandez, thêm Trung-Sĩ Nhất Melvin Hill, hai biệt-kích quân người Thượng và một sĩ-quan QLVNCH. Mặc dầu Newman cấp bậc thấp hơn hai viên Trung-Sĩ nhất kia, nhưng có nhiều kinh-nghiệm trong đơn-vị SOG hơn được đề-cử làm trưởng toán HALO lấy tên là Florida.

Kế tiếp, một chiếc C-130 Chim-Ðen (Blackbird) đưa toán biệt-kích Florida qua Okinawa để huấn-luyện kỹ-thuật nhẩy dù HALO. Họ được dấu bí-mật trong một khu vực riêng biệt vì hai biệt-kích quân Thượng và sĩ-quan Việt-Nam không có sự chấp thuận nhập cảnh của Nhật-Bản.

Các huấn-luyện viên được tuyển chọn là những sư-phụ về môn HALO trong liên-đoàn 1 LLÐB/HK. Khi nhẩy ra khỏi phi cơ, chỉ cần 12 giây, con người đạt tới vận tốc rơi trong không khí 125 dặm mỗi giờ. Trong lúc thả rơi tự do, các quân nhân vẫn phải điều-khiển thân mình theo hướng rơi tự do của nhóm. Khi bung dù điều-khiển ra, họ lái dù khoảng 2500 bộ nữa đến bãi đáp (drop zone). Như vậy, nếu nhẩy ra ở cao độ 12,500 bộ, để rơi tự do 60 giây, thêm hai phút rưỡi lái dù đến bãi đáp, tổng cộng chỉ có ba phút rưỡi đồng hồ. Các quân nhân còn được trang bị thêm đồng hồ cao-độ để dù mở tự động tại độ cao an-toàn,trong trường hợp có chuyện bất trắc.

Sau một tháng huấn-luyện bên Okinawa, toán biệt-kích Florida về tới Long-Thành huấn luyện thêm hai tuần về chiến-thuật, và nhẩy thêm vài saut HALO. Trong một chuyến thực-tập nhẩy dù đêm, Trung-Sĩ Hernandez bị gió thổi dạt qua một dẫy nhà khác của quân đội Hoa-Kỳ. Một viên Trung-sĩ chạy ra ngoài quan-sát vì Hernandez rơi trúng nóc nhà trước khi xuống đất. Nhìn thấy Hernandez vẫn còn vướng dù, bôi mặt ngụy trang, đeo kính che mắt, võ trang đến tận răng nào là khẩu CAR-15, Shotgun cưa ngắn nòng, súng phóng lựu M-79, dao găm, lựu-đạn đeo đầy mình. Viên Trung-sĩ văn-phòng quỵ xuống, lên cơn đau tim tưởng lầm là lính nhẩy dù cộng-sản tấn công.

Lần cuối cùng thực-tập, toán biệt-kích nhẩy dù đêm xuống chiến khu D, lục soát hai ngày, sau đó trở về căn-cứ, sẵn-sàng nhận công- tác. Toán Florida có nhiệm-vụ gắn máy nghe lén điện-thoại bên Lào, trên con đường địch mới xây, nằm về phiá Tây căn cứ Chu-Lai. Mục-tiêu này gần nơi mà toán biệt-kích Iowa xâm nhập lần đầu tiên qua đất Lào năm 1965 trong hành-quân Shining Brass. Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát phỏng đoán CSBV có chừng một sư-đoàn chính-quy 10,000 quân trong khu vực hoạt-động của toán Florida. Ðơn-vị bạn gần nhất cách năm mươi dặm, có một căn-cứ hỏa-lực do sư-đoàn 101 Nhẩy-Dù Hoa-Kỳ trấn đóng.

Khoảng quá nửa đêm ngày 28 tháng Mười Một 1970, toán biệt-kích Florida tập họp trong căn-cứ ở Long-Thành, leo lên chiếc C-130 Blackbird. Ðúng 2 giờ sáng, chiếc Blackbird đang bay trên cao độ 18,000 bộ, như vậy toán HALO sẽ phải để rơi tự do 71 giây, và sẽ mở dù lúc cách mặt đất 1500 bộ. Khi đèn báo hiệu bật lên, toán Florida từng cặp hai người một, nắm tay nhẩy ra. Ðại-Tá Pinkerton phát biểu ‘Họ phải có nhiều can-đảm mới dám làm chuyện này, nhẩy ra trong màn đêm xuống một cánh rừng mà không biết có chuyện gì đang chờ họ ở dưới.

Toán biệt-kích bị phân tán, gom lại như sau. Sĩ-quan Việt-Nam và một biệt-kích Thượng, toán trưởng Newman cùng với một người Thượng, Sammy Hernandez và Mel Hill mỗi người xuống mỗi nơi. May mắn, không ai bị thương, đến sáng phi-cơ quan-sát Covey lên bao vùng cho toán biệt-kích ở dưới biết, đêm qua thả sai, cách mục tiêu sáu dặm, nơi họ xuống không có trên bản đồ hành- quân mà toán biệt-kích đem theo. Tuy nhiên toán biệt-kích Florida tiếp-tục làm nhiệm-vụ.

Toán Florida coi như chia thành bốn tiểu toán, hoạt-động độc- lập. Họ phải thận trọng hơn, trường hợp một toán bị lộ, yêu-cầu triệt- xuất có thể gây nguy hiểm cho những người còn lại. Hernandez tìm một chỗ để đặt máy nghe lén, anh chàng lần mò về nơi phát tiếng người nói chuyện, tiếng xe ủi đất. Bỗng dưng nghe tiếng súng nổ phiá bên trái, rồi bên phải. Ðịch quân bắn báo hiệu? Họ đã tìm ra dấu vết của mình rồi chăng? Nhưng không, mấy binh sĩ CSBV đang đi săn thú rừng để có thêm thực phẩm tươi. Nếu họ tìm ra dấu chân của Hernandez, thì kể như ... ‘bỏ ăn’.

Qua ngày thứ ba, Hernandez trông thấy một toán lính Bắc Việt, đeo AK vừa đi vừa nói truyện, như vậy chứng tỏ địch không biết có toán biệt-kích HALO xâm nhập. Ðến ngày thứ tư, tất cả các tiểu toán (bất đắc dĩ) biệt-kích đều trông thấy địch quân. Sang ngày thứ năm, Hernandez vẫn chưa tìm thấy đường dây điện-thoại của địch để đặt máy nghe lén. Bộ chỉ-huy đoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) quyết định đem toán biệt-kích về. Trực thăng Jolly Green CH-53 từ Thái-Lan qua bốc toán Florida tại bốn bãi đáp, riêng anh chàng Hernandez, trực thăng phải thả dụng cụ xuyên rừng (giống như đầu mũi tên) xuống câu lên vì rừng quá rậm.

Tháng Tư năm 1971, nhà viết báo Jack Anderson, viết một bài tường thuật về đơn vị SOG, đăng trên tờ Washing Post. Ðể bảo mật, các chuyến xâm nhập qua Lào trong hành quân Prairie Fire được đổi tên là Phù-Dung. Ðầu năm 1971, SOG thành lập thêm toán HALO thứ hai, toán này do Ðại-Úy Larry Manes làm trưởng toán, đã làm hai chuyến (tours) tại Việt-Nam, lên từ hàng hạ sĩ-quan, đang giữ chức đại-đội trưởng viễn-thám nơi bộ chỉ-huy Bắc (CCN). Larry Manes chọn ba toán viên Noel Gast, Trung-Sĩ Robert Castillo, và John ‘Spider’ Trantanella. Toán này hoàn toàn là người Mỹ.

Ngày 7 tháng Năm, toán HALO nhẩy dù điều khiển xuống khu vực nằm giữa thung lũng A-Shau và Khe-Sanh. Quân CSBV đang làm thêm đường, nối đường 921 từ đất Lào vào miền Nam Việt-Nam. Toán biệt-kích HALO trong lúc xuống, một quả mìn nhỏ chống người không chịu nổi áp-suất không khí phát nổ trong ba-lô Gast, làm anh ta bị thương nặng ở lưng khi xuống tới đất. Trantanella cũng bị thương gẫy chân, sáng hôm sau trực thăng phải vào đem hai anh chàng về. Năm hôm sau triệt-xuất hai người còn lại.

SOG lập thêm toán HALO thứ ba gồm có Trung-Sĩ nhất Billy Waugh làm toán trưởng, Trung-Sĩ James ‘J.D.’ Bath, Trung-Sĩ Jesse Campbell, và Madison Strohlein. Kinh nghiệm nhiều nhất là Bath, từng làm toán phó cho Sisler (được huy chương Medal of Honor), và là chuyến thứ hai của anh ta tại Việt-Nam. Cũng như hai toán HALO trước, họ được huấn luyện bên Okinawa và trại Long-Thành.

Toán HALO thứ ba có nhiệm vụ xâm nhập khu vực cách Ðà-Nẵng 60 dặm về hướng tây nam trên đất Lào. Hai toán biệt kích từ sở Bắc (CCN) xâm nhập trước đây, một toán chỉ ở dưới đất chừng bốn mươi lăm phút phải triệt-xuất. Toán thứ hai bị bắn tại khu vực bãi đáp phải bỏ chuyến xâm nhập. Không ảnh cho thấy binh trại của quân Bắc Việt có nhiều hỏa lò (bếp) và địch quân trồng trọt thêm hoa mầu.

Sau hai lần hoãn lại vì lý do thời tiết xấu, ngày 22 tháng Sáu toán HALO lên đường. Bath nhẩy trước, bật đèn xanh nhỏ để các biệt kích khác theo sau. Trời đổ mưa, các biệt-kích bị lạc mỗi người mỗi nơi. Waugh trông thấy đoàn quân xa của địch mở đèn di-chuyển cách vị-trí của chàng khoảng năm dặm về hướng bắc. Bath không trông thấy mặt đất, rơi trúng một cành cây lớn bị thương nơi lưng và chân, chẩy máu miệng, nằm bất tỉnh.

Strohlein cũng rớt vào cây bị gẫy tay phải, treo lủng lẳng trên cây, không xuống được. Phần Bath di-chuyển không được, anh chàng chuẩn bị vị-trí phòng thủ, đặt mìn Claymore, lấy các băng đạn ra để sẵn. Trên tầng số cấp cứu, qua các cuộc đối thoại giữa Covey (FAC - Máy bay trinh-sát bao vùng), chàng biết được, Campbell đang bị địch săn đuổi. Toán biệt-kích cấp cứu Bright Light định xuống bốc Bath trước nhưng chàng trả lời, lo cho Strohlein trước vì anh ta bị nặng hơn.

Vướng trên cây, và rừng quá rậm, trực thăng không xác định chính-xác vị-trí của Strohlein, lại thêm sương mù che phủ. Cùng đường Strohlein thả trái khói mầu đánh dấu vị trí, nhưng trực thăng cũng không thấy. Quân Bắc Việt ở dưới đất trông thấy trái khói mầu kéo tới. Strohlein báo lên cho trực thăng rằng đã trông thấy địch quân.

Trời càng nhiều mây, trực thăng bốc được Campbell và Waugh đem về. Ðến chiều, sau khi lấy thêm xăng, trực thăng chở toán Bright Light quay trở lại cứu Bath. Hai quân nhân Mũ-Xanh phải nhẩy xuống cột Bath vào cáng cho trực thăng kéo lên. Rặng núi nơi Strohlein bị kẹt, mây vẫn che phủ...

Sáng hôm sau, thức dậy trong bệnh viện ổ Ðà-Nẵng, trước mặt Bath là Billy Waugh, anh chàng hỏi ‘Strohlein nằm đâu? . ... Trưởng toán biệt-kích HALO trả lời ‘Mình không đem Strohlein về được... tụi nó...’. Ngày hôm sau, SOG đem vào một trung-đội tiếp ứng Hatchet Forces tìm Strohlein, chỉ thấy cành cây nơi anh ta bị vướng đã bị đạn AK bắn gẫy, bản đồ của Strohlein rớt trên mặt đất. Tuy nhiên cho đến giờ quân Bắc Việt vẫn trả lời, không biết về chàng biệt kích Strohlein.

Tình hình càng trở nên nguy hiểm cho các toán biệt kích trong đơn vị SOG. Tổn thất lên cao, ba lần đổ quân cấp trung đội Hatchet Forces đem lại thảm-họa ngay tại bãi đáp. Hành quân Crimson Tide, cả trung-đội tiếp-ứng bị tiêu-diệt. Năm 1967, mục tiêu Oscar Eight tấn công binh-trạm điều khiển đường mòn Hồ-Chí-Minh bên Lào, kết quả Charles Wilklow bị bắt sống. Năm 1969, đột kích Trung-Ương Cục Miền Nam (Cục R) bên Miên, Jerry ‘Mad Dog’ Shriver bị mất tích.

Toán HALO thứ tư do Ðại-Úy Jim Storter làm trưởng toán, Trung-Sĩ Nhất Newman Ruff, Trung-Sĩ Miller Moye và Trung-Sĩ Jim Bentley. Họ xâm nhập khu vực thung lũng Plei Trap, Tây bắc Pleiku. Toán này không gặp trỏ ngại khi xuống, tập họp và lục soát mục-tiêu bốn ngày rồi triệt-xuất êm thấm.

Lần cuối cùng xâm nhập bằng dù HALO do toán biệt kích trên Kontum (CCC) thực hiện gồm toán trưởng Trung-Sĩ Nhất Dick Gross, Trung-Sĩ Nhất Mark Gentry, Bob McNair, Trung-Sĩ Howard Sugar và Thượng-Sĩ Charles Behler. Toán này thám-thính khu vực thung-lũng Ia-Drang cách Pleiku 25 dặm về hướng tây nam trên đất Miên.

Theo tài liệu ‘SOG’, John Plaster, Simon & Schuster.


Carrollton, Texas
Bạch-Hổ

Phụ Bản về Đoàn Nghiên Cứu Quan Sát


Cuối tháng Ba năm 1971, Tên Salem House và Prairie Fire do Jack Anderson đặt ra được thay đổi kể từ ngày 8 tháng Tư. Thốt- Nốt cho những cuộc hành quân bên Miên và Phù-Dung cho bean Lào.

Hành-quân Thốt-Nốt.
Sáu mươi tám đơn vị (toán biệt-kích, trung/đại đội xung kích Hatchet Force) hoạt động tất cả 237 ngày trong vùng hành quân Thốt-Nốt. Thời gian hoạt động trung bình là bốn ngày, lâu hơn thời gian trong bản báo cáo
trước. Các toán biệt kích xâm nhập dò thám đường 13 và khu vực phiá nam thị trấn Kratie, đường 14 về phiá bắc, đông bắc căn cứ điạ 351, đường 19 và đường 194. Một trung đội xung kích Việt-Nam xâm nhập vào
đặt mìn trên đường 13, toán khác gài mìn trên đường 194. Các toán biệt kích khác dò thám sông Tonle Kong và Tonle San. Hai toán Pike Hill xâm nhập, một toán hoạt động trong khu vực hướng tây căn cứ điạ 351,
toán thứ hai gần đường 141.

Trung bộ Thốt-Nốt.
Một điều hấp dẫn là lần đầu tiên toán biệt kích xâm nhập bằng phương tiện nhẩy dù qua Miên. Toán biệt kích gồm sáu người được phi cơ C-123 Hoa- Kỳ thả từ một cao độ rất thấp. Toán biệt kích gom lại nhanh
chóng và tiếp tục nhiệm vụ. Toán này báo cáo nghe tiếng động cơ xe vận tải của địch. Sáu toán biệt kích dò thám dọc theo đường 13, nơi hướng bắc và đông nam Kratie, hoạt động tất cả hai mươi ngày, báo cáo không thấy xe cộ của địch di chuyển. Ðiều này cho thấy hoạt động của địch giảm về số lượng xe cộ lẫn nhân sự. Ngày 21 tháng Tư, một toán hoạt động nơi phiá bắc Kratie khám phá nơi dấu vũ khí của địch, gồm hai đại liên 30, hai đại bác không dật 57 ly, và hai súng phòng không, không rõ loại. Toán biệt kích được bốc về, đem theo ít chiến lợi phẩm, số còn lại phá hủy. Một trung đội xâm nhập gài mìn trên đường, hướng tây bắc căn cứ điạ 712, được thả vào dọc theo đường 13 ngày 7 tháng Tư. Lúc xâm nhập, một trực thăng CH-34 trúng B-40 rớt. Phi hành đoàn được cứu còn chiếc CH-34 bị tiêu hủy.

Ngay tức khắc, toán biệt kích trông thấy ba tên địch dắt chó đi lùng. Họ giết hai tên, và khám phá ra công sự của địch. Ðêm 7 tháng Tư, trung đội xung kích nghe tiếng xe vận tải di chuyển về hướng nam trên đường 13, họ yêu cầu phi cơ oanh kích. Một máy bay điều không O-2 thả trái sáng, toán biệt kích trông thấy xe bọc sắt trên bánh xe di chuyển về hướng nam, chiếc này bắn đại liên phòng không lên máy bay. Trung đội xung kích gài 42 quả mìn trên đường và được đem về ngày 8 tháng Tư. Một trong bốn trung đội xung- kích hoạt động gần căn cứ điạ 712, khám phá một nơi làm than gần đường 13.

Nơi này đã bị oanh kích trước đây thiệt hại 80%. Một toán biệt kích gài ba quả mìn trên đường 132 và tổ chức phục kích. Một xe 3/4 tấn cán phải mìn nổ tung, mười chiếc phải dừng lại, toán biệt kích cho nổ thêm bốn quả mìn chống người Claymore rồi rút lui. Sáng hôm sau, toán biệt kích quay trở lại quan sát báo cáo một xe vận
tải mười bánh do Nga-Sô chế tạo Zil-151 bị tiêu hủy, mấy chiếc khác bị hư hại do mảnh vụn để lại trên đường. Nơi căn cứ điạ 712, không thấy dấu hiệu hoạt động của địch. Một toán biệt kích khám phá một căn cứ cấp trung đoàn, hai căn cứ cấp tiểu đoàn đã bỏ đi khoảng năm tháng.

Trong một căn cứ biệt kích tìm thấy một khẩu súng và hầm chứa đạn. Về phiá đông, một toán Pike Hill cùng toán an-ninh Strata xâm nhập ngày 1 tháng Tư trong
vùng lân cận làng Pu Char, với nhiệm vụ tìm bắt một cảm tình viên VC tên là Muc. Toán Pike Hill vào làng và biết được tên Muc cùng gia đình đã bỏ làng đi từ hai tháng trước. Một cảm tình viên cho biết địch quân vẫn thường đi ngang qua làng từng toán năm người đến cấp trung đội, họ dừng lại để xin nước uống.
Một toán khác hoạt động trong khu vực Wasteland báo cáo nghe tiếng động cơ khoảng 35-40 xe vận tải di chuyển về hướng nam từng chập trong đêm 4 tháng Tư. Toán báo cáo lên phi cơ điều không, nhưng xác nhận không có kết quả. Trong vòng ba tháng liên tục, rất ít hoạt động của địch trong khu vực đông nam căn cứ điạ
740. Vùng này gần như không có dân cư.

Khu vực bắc Thốt-Nốt.
Nơi hướng bắc vùng hành quân Thốt-Nốt, rõ ràng địch gia tăng hoạt động trong khu vực dọc theo và gần sông Tonle Kong. Có bản báo cáo đoàn xe vận tải địch từ 35-40 chiếc di chuyển trên đường 97. Các toán khác xâm nhập cũng báo cáo số lượng xe cộ di chuyển gia tăng. Một toán báo cáo nghe được tiếng động cơ của 92 xe vận tải từ 31 tháng Ba đến 3 tháng Tư. Toán này cũng nghe được khoảng 30-40 tràng đại liên phòng không 12 ly 7 của địch trong vùng lân cận. Ngày 19 tháng Tư, một toán biệt kích phát hiện đơn vị không rõ quân số của địch di chuyển trên sông Tonle Kong bằng thuyền tam bản gắn động cơ lúc 1930 giờ. Lúc 0530 giờ sáng ngày 20, toán trông thấy đơn vị cấp đại đội của địch di chuyển về hướng nam trên đường 194. Những toán biệt kích thám sát khu vực phiá nam sông Tonle Kong mười ngày, báo cáo yên lặng. Hai chuyến xâm nhập, thám sát đường 194. Toán đầu vào vùng một tiếng đồng hồ phải triệt xuất vì địch hoạt động mạnh trong khu vực do-thám. Toán thứ hai vào gài mìn, được hai ngày, chạm địch kết quả hai biệt kích tử trận, một mất tích. Toán khác vào tìm xác ngày 14, không tìm ra. Những toán thám sát dọc theo đường biên giới, chỉ có một toán báo cáo có hoạt động đáng kể của địch. Toán này chạm địch, chạy phân tán làm hai. Trong thời gian phân tán, một tổ chạm súng hai lần với cấp tiểu đội của địch giết hai địch quân. Mười một toán biệt kích Hoa- Kỳ hoạt động bên này lãnh thổ Việt-Nam, báo cáo có nhiều hoạt động của địch, thời gian xâm nhập của mỗi toán ngắn hơn hai ngày. Ngày 17, một toán trông thấy hai tên địch cao sáu bộ (6') nói giọng miền bắc. Hai tên nói trên hướng dẫn hai toán quân 20-25 người mỗi toán.
Toán thứ hai dắt theo bốn con trâu tải tám thùng đạn, một thùng hỏa tiễn không rõ loại và nhiều đạn súng B-40.
Ngày 28 tháng Ba, một toán biệt kích khác nghe thấy khoảng 40 tên địch nói chuyện. Ba khu trục cơ A-1 Skyraider KL/VNCH và hai phản lực cơ F-100 Hoa-Kỳ được điều động đến oanh kích. Trong lúc phi cơ oanh kích, toán biệt kích bắn hạ thêm ba tên địch chạy lạc. Ba tên này đều cao tối thiểu sáu bộ (6'). Những toán còn lại đều được triệt xuất do cường độ hoạt động của địch.

Tóm lược hành-quân Thốt- Nốt.
Các toán biệt kích xâm nhập dọc theo đường 13 nghe được bốn và trông thấy ba xe của địch, ít hơn số xe cộ báo cáo trong thời gian trước. Các toán hoạt động trong khu vực căn cứ điạ 712, báo cáo không có hoạt động của địch, tuy nhiên khám phá căn cứ cấp tiểu đoàn đã bỏ trống từ sáu tháng đến một năm. Khu vực này tình nghi có trung đoàn 6, công-trường 5 VC đóng quân trước đây. Xe cộ trên đường 14 chỉ có xe điạ phương di chuyển, không thấy có dấu hiệu địch xử dụng. Các toán biệt kích xác định, xe vận tải hạng nặng có thể chạy trên đường.
Các toán xâm nhập khu vực căn cứ điạ 740, tiếp tục trông thấy toán nhỏ từ 5 đến mười tên địch. Không thấy dấu hiệu đáng kể về các hoạt động của địch. Về hướng bắc, vấn đề chuyển vận trên sông Tonle Kong của địch không đáng kể, mức xe cộ di chuyển trên đường 97 tăng gấp đôi. Ðiều này chứng tỏ địch đã phát triển màng lưới an ninh hiệu qủa dọc theo những căn cứ tiếp vận, do đó các toán biệt kích thường chạm địch trong khu vực xâm nhập. Sông Tonle San không thấy dấu hiệu địch xử dụng chuyên chở đồ tiếp liệu vì mực nước thấp. Ðường 19, chỉ có quân địch đi bộ hoặc xử dụng xe đạp, mặc dầu xe vận tải lớn có thể chạy trên đường.

Hành quân Phù-Dung.
Ngoại trừ một toán xâm nhập khu vực Salient, các hoạt động khác trong vùng hành quân Phù- Dung và trên đất Lào nhắm vào khu vực phiá tây căn cứ điạ 607 và về hướng nam. Chuyện này do giới hạn của phi cơ thám thính Hoa-Kỳ bên Lào và ảnh hưởng thời tiết. Ðiều đáng chú ý là số toán biệt kích Hoa-Kỳ hoạt động trên đất Việt Nam gia tăng, khu vực bên này biên giới, vùng phi quân sự (Nickle Steel). Lý do không yểm đã trở lại làm việc cho đơn vị SOG, sau trận 'Lam-Sơn 719'.

Căn cứ địa 609/613.
Hai chuyến xâm nhập đồng thời vào khu vực phiá tây căn cứ điạ 609. Trong lúc thả toán Strata ngày 4 tháng Tư, một trực thăng UH-1H bị hỏng máy rớt. Hai biệt kích bị thương và trực thăng bốc cháy. Một chuyến xâm nhập đặt máy nghe lén không thành công, toán đụng phải hai mươi địch quân, kết quả một biệt kích Việt Nam tử trận.
Khu vực này địch hoạt động rất mạnh. Những lần xâm nhập trước, các toán biệt kích báo cáo, địch chuyển quân đông đảo, thêm nhiều ổ súng phòng không. Hoạt động của địch cùng với xe cộ di chuyển trên đường 110 cũng gia tăng. Hoạt động của địch nơi hướng bắc căn cứ điạ 609 rất mạnh, các toán biệt kích thường xuyên chạm súng với cấp trung, tiểu đội CSBV. Ba toán Lôi-Hổ hoạt động trong khu vực Dak Rolong, một toán báo cáo khoảng 25-30 tên địch di chuyển ngang qua vị trí của toán ngày 29 tháng Ba. Trên phần đất Việt-Nam, hoạt động tất cả 28 ngày, do ba trung đội xung kích Việt-Nam, và các toán biệt kích Hoa-Kỳ. Một trung đội xung kích chạm địch ngày 20 tháng Tư, kết quả một quân nhân Hoa-Kỳ bị thương, giết ba địch quân.

Căn cứ địa 614.
Trong ba toán xâm nhập khu vực phiá nam căn cứ điạ 614, chỉ có toán biệt kích Hoa-Kỳ báo cáo có hoạt động đáng kể của địch. Toán này chạm địch cấp trung đội, giết bốn địch quân, điều động hai phản lực cơ F-4 oanh kích, thiệt hại của địch không rõ. Hai toán xâm nhập khu vực căn cứ điạ 614, đều chạm địch. Toán nơi phiá nam đụng cấp trung đội, kết quả giết năm địch quân, hai biệt kích tử trận. Ðường 966 có nhiều xe cộ qua lại. Một toán báo cáo nghe tiếng động cơ chín xe vận tải, máy dò điện tử cho biết mười chiếc. Buổi sáng ngày 31, toán biệt kích nghe tiếng hoạt động của địch gần đó, rồi nghe súng địch nổ. Toán biệt kích điều động tám chiếc F-4, và hai chiếc F-100 oanh kích vị trí địch cùng súng phùng không, làm im mấy ổ súng và nhiều tiếng nổ phụ.

Căn cứ địa 607.
Tất cả năm toán Lôi-Hổ Việt Nam xâm nhập bên Lào đều chạm địch và hoạt động trung bình ba ngày trong mục tiêu, chạm súng tất cả sáu lần. Năm lần với cấp tiểu đội, kết quả một xung kích hoạt động từ ngày 14 đến 17 tháng Tư. Ðây là lần đầu tiên một trung đội xung kích Việt Nam xâm nhập khu vực phiá bắc vùng hành quân Phù- Dung. Các toán biệt kích Hoa-Kỳ rất hoạt động bên này biên giới Việt Nam, tất cả hoạt động trung bình hai ngày, trừ một toán xâm nhập thung lũng A-Shau, lục xoát chín ngày và báo cáo không có hoạt động đáng kể của địch. Một toán khác chạm địch, kết qủa hai quân nhân Hoa-Kỳ bị thương, ba biệt kích quân bị thương, giết chín cộng quân. Một toán biệt kích Hoa-Kỳ khác xâm nhập từ ngày 11 đến 14 tháng Tư báo cáo địch hoạt động mạnh, gồm có hai lần bắn 45 hỏa tiễn 122 ly vào mục tiêu cách đó 21 giây.

Căn cứ địa 611.
Ngày 21 tháng Tư, trung đội xung kích Việt Nam xâm nhập khu vực Salient bên Lào một cách êm thấm. Ngày hôm sau, trung đội xung kích đụng phải 300 địch quân, kết quả mười biệt kích quân bị thương, chin mất tích, thiệt hại của địch không rõ. Trong lúc bốc đơn vị xung kích, một trực thăng UH- 1H bị bắn rơi và bốc cháy khi
chạm đất. Hai nhân viên phi hành đoàn bị thương, sau đó được cứu thoát cùng với trung đội xung kích.
Một chuyến xâm nhập, dò thám đường 548 ngày 3 tháng Tư bị địch tấn công, toán biệt kích Hoa-Kỳ chỉ ở được chừng hai tiếng rưỡi đồng hồ.

Khu Vực về hướng tây khu Phi Quân Sự
Các toán biệt-kích Hoa-Kỳ xâm nhập vùng phi quân sự (Nickle Steel). Ngày 6 tháng Tư, một trực thăng UH-1H bị hỏng máy lúc thả toán và rớt trên bãi đáp. Kết quả một nhân viên phi hành đoàn và ba biệt kích quân bị thương. Toán thứ hai nghe tiếng đại liên 51 ly, và hai súng đại bác 152 ly bắn tất cả tám viên. Trực thăng võ trang Cobra được điều động tấn công các ổ súng gây hai tiếng nổ phụ lớn. Một bộ phận trong Toán Cố Vấn Ðặc Nhiệm 1 thay thế toán Một, sư đoàn 5 Cơ-Ðộng Hoa- Kỳ trên đồi 950 (Hickory) nơi đài tiếp vận. Hoạt động của địch trong các ngày 19, 20 và 21 cho thấy địch nới rộng vùng kiểm soát và có thể tấn công đài tiếp vận trong tương lai.

Tóm lược hành quân Phù Dung.
Các toán biệt kích xác nhận, địch vẫn tiếp tục xử dụng đường 110. Khu vực bắc căn cứ điạ 609 địch hoạt động mạnh. Cách xa căn cứ điạ 609 hơn 10 cây số về hướng tây, ít thấy địch hoạt động. Bốn cây số về hướng nam đài tiếp vận Golf-5, có sự hiện diện của địch. Ðiều này cho biết trong thời gian qua, khu vực dọc theo suối Dak Xou hoạt động của địch gia tăng trong mùa mưa. Một kho tiếp vận của địch cách căn cứ điạ 609 22 cây số về hướng bắc, trong thung lũng suối Dak Rolong vẫn còn hoạt động. Ðịch quân trở về trại nơi hướng bắc căn cứ điạ 609 khoảng 10- 15 cây số để chuẩn bị trồng trọt, cầy cấy trong mùa mưa nơi những vùng sản xuất gạo. Các toán biệt kích hoạt động xung quanh căn cứ điạ 607 báo cáo địch xử dụng vùng bình nguyên, đặc biệt trong thung lũng có suối. Ðịch đang xử dụng đường 614, và có lẽ nghi ngờ bãi trực thăng đổ quân nên tiếp tục cưa cây chỉ còn cao ba bộ (feet) không cho trực thăng đáp xuống.
Tài liệu tìm thấy của tù binh (chết trước khi thẩm vấn) cho biết Tiểu-Ðoàn 802, Ðoàn 4, Quân-Khu Trị-Thiên-Huế hoạt động trong vùng phụ cận thung lũng suối Yavor, khoảng 15 cây số về hướng đông căn cứ điạ 607. Tài liệu cho biết thêm, Ðoàn 4 gồm mười một đơn vị trực thuộc (có lẽ cấp đại-đội), sáu nhận thêm tân binh và cán bộ. Ðơn vị đang trong giai đoạn củng cố, tuy nhiên vẫn có nhiệm vụ tác chiến, đánh phá đường tiếp vận, kho vật liệu, phối hợp với lực lượng điạ phương chống lại biệt kích. Tài liệu tiếp tục với huấn lệnh của ủy ban Vấn-Ðề Hiện-Tại, báo động những trận tấn công biệt kích các căn cứ hậu cần. Các đơn vị tổ chức mừng ngày 19 tháng Năm (sinh nhật Hồ-Chí-Minh) với chiến thắng. Các toán biệt kích xâm nhập phần giữa, khu vực hành quân Nickle Steel không thấy dấu hiệu hoạt động của địch. Trong khi đó các toán xâm nhập nơi hướng đông báo cáo địch hoạt động mạnh và xử dụng pháo binh. Việc bàn giao các trung đội xung kích cho Việt-Nam có phần chậm trễ, lý do thiếu không trợ.

Hành quân Biệt-Hải.
Tất cả sáu chuyến hành quân Dodge Mark được hoạch định, và thực hiện được năm chuyếntrong thời gian kể trên. Ngày 29 tháng Ba, trong hành quân Dodge Mark 12, chạm súng giếtmột địch quân, tịch thâu một súng tay và ít tài liệu. Hành quân Dodge Mark 17 diễn ra trong vùng phi quân sự ngày 20 tháng Tư. Kết quả không chạm địch. Tốc đỉnh PTF bắn phá bờ biển mười lăm phút.

Theo tài liệu MACV/SOG Command History, Annex B. ByCharles F. Reske.
Bạch-Hổ

Chien Tranh Ngoai Le / toán STRATA


Dơn vị SOG tuyển thêm nhân viên, mặc dầu kế hoạch 34A (miền Bắc) không còn là nỗ lực chính nữa, SOG có thêm nhiệm vụ mới. Ðến tháng Giêng năm 1967, SOG có 207 nhân viên, phía Việt-Nam đông đảo hơn, 470 người năm 1964, đầu năm 1966 tăng lên hơn 1700 người. Phần lớn những quân nhân này nằm trong hành quân Shining Brass (vượt biên qua Lào). Shining Brass đã bước qua giai đoạn thứ hai, xử dụng trung đội Hatchet tấn công các mục tiêu trên đất Lào do các toán biệt kích tìm ra.

Một trong những nhiệm vụ mới trao cho đơn vị SOG, tìm kiếm những quân nhân Hoa-Kỳ mất tích (MIA). Ðầu năm 1967, SOG phác hoạ chương trình khác Dọ-Thám Ðường, Tìm Mục-Tiêu Ngắn Hạn gọi tắt là STRATA. Kế hoạch này sẽ cho biệt-kích quân Việt-Nam xâm nhập vùng phiá nam của miền Bắc thâu thập tin tình báo và đem toán biệt-kích về khoảng bốn tuần sau. Kế hoạch này có vẻ giống như hành quân Shining Brass đã đổi tên là Prairie-Fire. Francois được chỉ định trông coi chương trình Strata.

Toán Strata đầu tiên qua Lào là Strata 111, phát xuất từ căn cứ hành quân tiền phương Khe-Sanh, được trực thăng H-34 King Bee (phi-đoàn 219 Long Mã) thuộc KLVNCH đưa đến mục tiêu. Vài giờ sau khi xâm nhập, toán biệt-kích phát giác địch có mặt ở khắp nơi. Công-điện bắt được của địch cho biết toán biệt-kích vào đúng ổ sư-doàn 325 Bắc Việt.

Toán biệt-kích Strata đội nón cối, mặc quân phục, trang bị AK-47 như lính Bắc Việt cho họ có yếu-tố bất ngờ trong những giây phút đầu với địch quân. Bị lộ, họ chạy xa mục tiêu khoảng năm cây số và yêu cầu được triệt-xuất khẩn cấp. Ðã tránh đưọc địch quân và tìm được bãi đất trống trải, họ được trực thăng H-34 đến bốc đưa về Ðà-Nẵng. Tháng Tám toán Strata 112, xâm nhập Lào từ căn cứ tiền-phương ở Dak-To trên Kontum. Nhiệm vụ của toán là dò thám một nhánh trên đường mòn Hồ chí Minh. Họ xuống an-toàn, ngày hôm sau di-chuyển dọc theo con đường, họ khám phá ra vài căn chòi. Sáng hôm sau nữa bị phát giác, toán Strata 112 lên máy yêu cầu triệt-xuất. Mặc dầu có nhiều mây che phủ, các phi-công H-34 vẫn vô được mục-tiêu đem toán biệt-kích về tới Dak-To an-toàn.

Các toán Strata kế tiếp chuẩn-bị ra miền bắc. Ngoài trang-bị như lính Bắc Việt, họ được mang theo máy truyền tin PRC-74 có thể liên lạc thẳng với máy bay thám thính bao vùng. Toán Strata 111 lần này có nhiệm-vụ dọ thám xe cộ của địch di-chuyển trên đường 101 trong tỉnh Quảng-Bình. Một nhánh đường nhập vào đường 12 trước khi đến đèo Mụ-Giạ rồi nối vào đường mòn Hồ-Chí-Minh. Toán biệt-kích đem theo ống nhòm đặt trên chân ba càng, toán sẽ theo dõi xe cộ của địch từ núi Khe-Sai gần đó.

Rạng đông ngày 24 tháng Chín, biệt-kích Strata lên trực thăng CH-3 trong căn cứ không quân Nakhon-Phanom bên Thái-Lan. Ðể tránh rườm rà, chỉ có bẩy người đi thay vì cả toán mười ba người. Thiếu-tá Wilgus lên chiếc C-130 chỉ huy chuyến thả toán Strata 111. Thiếu tá Alton Deviny lái chiếc CH-3 kể lại ‘Bọn tôi thả họ lúc trời vừa sáng, đỉnh núi chỗ họ xuống quá dốc và rừng thật rậm rạp’. Trong địa thế hiểm trở, có điều lợi là ít bóng dáng địch quân, tuy nhiên rất trở ngại cho toán biệt-kích lúc di-chuyển. Ðiều này toán biệt kích sẽ rõ hơn, phải quan-sát sáu cây số đường trong địa thế hiểm hóc là điều khó khăn. Kẹt hơn nữa khi họ hết nước uống, thêm hai biệt-kích bị bệnh. Hôm 28 tháng Chín, toán Strata yêu cầu triệt-xuất. Mặc dầu toán Strata không đem về được nhiều tin tức, đơn vị SOG mừng rỡ thành công vì là lần đầu tiên đem về được toán biệt-kích từ miền Bắc.

Không đầy một tháng, Strata chuẩn bị cho chuyến kế tiếp, lúc đó thiếu-tá Wilgus đã mãn thời gian phục-vụ tại Việt-Nam được thay thế bởi thiếu-tá Victor Calderon. Ðến Việt-Nam lần thứ hai, Calderon gom toán Strata 112 lại cho họ biết nhiệm-vụ của họ xâm nhập phía bắc tỉnh Quảng Bình, dọ thám ngã ba nơi đường 15 nhập vào đường 12 rồi chạy về hướng nam đến đèo Mụ-Giạ. Ðịa-điểm họ xuống sẽ là khu vực rừng núi cách mục- tiêu tám cây số về hướng Tây-bắc. Lần này họ phải nhẩy dù.

Ðêm 23 tháng Mười, mười quân nhân biệt-kích trong toán Strata 112 lên máy bay MC-130 trong phi-trường Tân-Sơn-Nhất. Phi cơ bay từ biển vào đến mục-tiêu, các biệt-kích quân nhẩy ra. Như những toán nhẩy dù xuống trước đây, toán Strata 112 bị phân tán. Hiệu-thính viên Ngô phong Hải không trông thấy ai trong toán trong khi đáp xuống, chiếc dù mang anh ta vướng trên một ngọn cây cao. Ðợi đến sáng, Hải cắt dây dù, leo xuống, sau đó gặp Mai văn Hợp, chuyên-viên chất nổ trong toán. Cả hai quay trở lại chỗ Hải xuống hồi đêm thâu hồi máy truyền-tin. Năm tiếng đồng hồ sau, cả toán gom lại đầy đủ. Trưởng toán là t/u Nguyễn văn Hùng hoài nghi điạ-thế xung quanh khu vực thả dù không giống như trong bản đồ. Thêm vào nữa vài người trong toán báo cáo có làng gần đó.

Sau khi phối kiểm, toán Strata 112 bị thả lầm xuống gần ranh giới tỉnh Hà-Tĩnh. Toán biệt-kích phải di-chuyển gấp, dân điạ phương sẽ khám phá ra họ và báo cho công an vũ-trang. Sáng ngày 31 tháng Mười, toán biệt-kích bị phục-kích gần bờ một con suối. Ba biệt-kích quân chết, một bị thương. Toán Strata 112 chạy về hướng nam tỉnh Quảng-Bình. Mặc dầu liên-lạc được với máy bay Hoa-Kỳ, nhưng rừng quá rậm, họ không thể xác định đúng vị-trí cuả toán biệt-kích. Trực thăng cấp cứu phải quay về.

Hết đồ ăn, toán biệt-kích phải tìm cây, củ trong rừng nướng ăn, dân điạ phương thấy khói lại đi báo công an. Trong tuần lễ kế tiếp, công an vũ-trang săn đuổi toán biệt-kích. Toán Strata 112 bị phân tán, chạy lạc, một nhóm bị bao vây vào buổi trưa ngày 4 tháng Mười Một, mấy người khác bị bắt vài hôm sau. Ngô phong Hải trốn thêm được mười hôm, mong có trực-thăng đến cứu, hết đạn, bị đói, hết hy-vọng, anh ta đầu hàng.

Chương-trình Strata có cấp chỉ-huy mới là thiếu-tá George ‘Speedy’ Gaspard. Sau khi nghiên-cứu tấn thảm-kịch Strata 112, ông ta di- chuyển các toán Strata ra Ðà-Nẵng. Có điều lợi là với máy PRC-74, các toán biệt-kích có thể liên- lạc thẳng với căn-cứ hành-quân tiền-phương, không phải qua trung gian BUGS bên Phi-Luật-Tân. Thứ hai để tránh thảm-hoạ, các toán sẽ xâm nhập bằng trực thăng CH-3 phát xuất từ căn-cứ không quân Nakhon-Phanom bên Thái-Lan. Ðể tránh rườm rà, toán biệt-kích Strata sẽ gồm từ bốn đến tám người. Thêm vào nữa, sức vóc người Việt Nam nhỏ không nên đem theo nhiều đồ, chỉ đem đầy đủ thực-phẩm đạn duợc, nếu cần sẽ được tiếp tế bằng CH-3.

Hài lòng, thiếu-tá Gaspard chuẩn bị cho chuyến thứ nhất trong năm 1968 Toán Strata 111 dự trù sẽ xâm nhập nơi phía tây làng Mơ, làng lớn trong huyện Lệ-Ninh tỉnh Quảng-Bình. Con đường 196 được xử dụng nhiều, chạy từ hướng tây-nam làng Mơ qua biên giới Lào-Việt đổ vào đường mòn Hồ-Chí-Minh. Trong khu vực có sông Gianh, nhiều dấu hiệu cho thấy, Bắc Việt xử dụng cả hai lộ trình chuyển quân và đồ tiếp vận vào miền Nam. Tin tức lấy được trong khu vực này sẽ có giá trị cho Không Lực số 7 Hoa-Kỳ.

Chiều ngày 17 tháng Ba, Strata 111 được trực- thăng đưa vào vùng hoạt-động. Xuống tới đất, toán biệt kích di-chuyển đến mục-tiêu. Sáng sớm hôm sau, họ đụng phải hai tiểu đội tuần-tiễu của địch, hai bên bắn nhau chừng hai mươi phút, toán biệt-kích di-chuyển ra chỗ khác. Ðêm đó họ báo cáo về Ðà-Nẵng chuyện chạm súng ban sáng.

Ðến ngày thứ ba, 19 tháng Ba, toán biệt-kích trở nên dè dặt, cẩn-thận, ba lần họ trông thấy các toán tuần-tiễu của lực lượng an-ninh địa-phương đang truy lùng họ. Bắt buộc toán Strata 111 phải yêu cầu triệt-xuất.

Kế tiếp Gaspard thử toán mới Strata 113. Ngày 31 tháng Ba, toán biệt-kích xâm nhập vào cùng mục-tiêu trước. Không thấy dấu hiệu của địch, một tuần sau, trực thăng vào bốc về. Strata 114 xâm nhập miền bắc, ngoài nhiệm vụ dọ thám đường toán biệt-kích đem theo truyền đơn của đài Gươm-Thiêng Ái-Quốc, và gài mìn trên đường và khu vực lân cận. Trong ngày thứ hai, toán đụng phải đơn-vị tuần-tiễu Bắc Việt, toán chạy thoát.

Di-chuyển dọc theo đường 196 về hướng nam, Strata 114 báo cáo về Ðà-Nẵng, chiều ngày 11 tháng Tư đã đến vị trí quan-sát con đường. Quan- sát con đường hai mươi bốn tiếng đồng hồ, ngày 12 SOG ra lệnh cho toán biệt-kích băng qua đường, chụp ảnh và rải truyền đơn, mìn bẫy. Một tiếng đồng hồ, sau khi đã thi-hành xong nhiệm- vụ, toán biệt-kích di-chuyển đến chỗ an-toàn. Họ nghe tiếng mìn nổ, chứng tỏ địch có xử dụng con đường.

Toán Strata 114 còn hai ngày nữa mới hết chuyến công-tác, tuy nhiên họ hết nước, đòi về. Toán biệt kích khát nước phải đợi đến ngày 15 tháng Tư, trực thăng mới vào bốc về. SOG quá hài lòng, biệt-kích ra vào sau lưng địch như chỗ không người.

Trong tháng Năm, căn cứ SOG ngoài Ðà-Nẵng có thêm nhiều toán biệt-kích mới vừa xong khoá huấn-luyện trong căn cứ Long-Thành. Toán lên đường là toán Strata 120 gồm sáu quân nhân, hai người đã có kinh-nghiệm từ toán Red Dragon trước đây, hai Việt-Nam và hai người sắc tộc Nùng.

Toán Strata 120 trang bị giống như những toán nằm vùng dài hạn trước đây, quần áo bộ-đội, súng không có số. Họ được trực thăng CH-3 đưa đến xâm nhập gần làng Mơ. Vài tiếng đồng hồ sau, toán biệt-kích trông thấy toán tuần-tiễu của địch đang di chuyển trong rừng, Họ báo cáo về Ðà-Nẵng yêu cầu triệt xuất, Ðược lệnh tiếp tục nhiệm-vụ vì địch chưa khám phá ra sự hiện diện của toán biệt-kích.

Strata 120 di chuyển đến một điểm khác, nơi phía bắc làng Mơ và biến mất. Trong vòng chín ngày sau, đơn vị SOG cố tìm kiếm toán biệt-kích. Thêm máy bay quan-sát, gọi Strata 120 trên tần số khẩn cấp mỗi giờ, gửi điện- văn trên đài Gươm-Thiêng Ái-Quốc. Ngày 26 tháng Năm, toán coi như mất tích.

Ðơn vị SOG không hề tìm ra số phận cuả toán biệt kích Strata 120. Ðịnh-mệnh đến với họ ngày 18 tháng Năm, bốn ngày sau khi xâm nhập. Nguyễn đình Lành xuống dò thám một giòng suối mà toán sẽ phải vượt qua. Giây phút sau, phần còn lại của toán nghe tiếng hò hét ‘Ðầu hàng! Ðầu hàng!’, tiếp theo là súng nổ. Lành trúng nguyên băng đạn AK chết tại chỗ. Hai quân nhân Nùng nổ súng đáp lại, ba người còn lại lủi vào bụi.

Chạy thục mạng cả năm biệt-kích gặp lại nhau. Trong lúc chạy họ bỏ lại tất cả chỉ đem theo súng và ít đồ ăn. Ðêm đó họ trèo lên đỉnh một ngọn đồi, thắp đèn báo hiệu, hy-vọng phi-cơ quan-sát Hoa-Kỳ sẽ trông thấy, đã bỏ mất máy truyền-tin, các quân nhân biệt-kích không còn cách nào hơn.

Trốn trên một ngọn đồi nắng cháy, chờ được cứu thoát, họ hết nước uống, và hai người Nùng đi tìm nước, có Trịnh quốc Anh đi theo. Hai người còn lại trên đồi nghe tiếng súng nổ, sau đó tất cả bị bắt ngày 24 tháng Năm.

Ngày 14 tháng Năm, cùng lúc với toán Strata 120, Toán Strata 111 cũng xâm nhập trở lại khu vực họ đã xuống trước đó hai tháng. Hai ngày đầu họ báo cáo an-toàn, đến ngày 17 toán biệt- kích nghe có tiếng súng và tiếng chó sủa. Mọi người nằm im chờ nguy-hiểm qua đi, rồi di-chuyển đến vị-trí thám-thính đường. Họ tiếp tục quan-sát con đường thêm tám ngày và được bốc về ngày 30 tháng Năm.

Một ngày sau khi toán Strata ra đi, toán Strata 122 xâm nhập nơi hướng bắc, trong toán này có ba anh em người Mông. Xuống đất Lào, toán không chịu vượt biên-giới vào Bắc việt. Trực thăng đem họ về và sa thải ra khỏi đơn vị SOG.

Cuối tháng Năm, Strata 113 xâm nhập lần thứ hai, trở về bình yên. Ngày 6 tháng Sáu, toán Strata 114 cũng xâm nhập lần thứ hai gần khu vực làng Mơ. Họ gặp ngay đoàn quân xa Molotova Bắc Việt đang di-chuyển trên đường về phía đường mòn Hồ chí Minh. Không lực Hoa-Kỳ đã để ý mục-tiêu này từ trước. Ngày 10 tháng Sáu, toán biệt-kích báo cáo bom rơi gần chỗ họ đang ẩn núp. Ðơn vị SOG phải thông báo cấp tốc cho KLHK và yêu cầu dành cho một khu vực an toàn không bị đánh bom.

Trận đánh bom của KLHK không có hiệu-quả, toán Strata 114 báo cáo bom không trúng mục- tiêu con đường. Hai ngày sau, toán biệt-kích mục-kích đoàn Molotova chở đồ tiếp-vận rất nặng nề di-chuyển trên đường. Sau đó, họ khám- phá ra một binh trạm chứa khoảng sáu mươi xe vận-tải dấu kín trong cánh rừng già có cây che phủ rất rậm rạp.

Những điều may mắn cho toán Strata 114 chấm dứt hôm 12 tháng Sáu, người trưởng, phó toán và nhân viên truyền-tin không trở lại sau một chuyến đi quan-sát ngắn. Nghe tiếng súng, lựu- đạn nổ, bốn quân nhân còn lại trong toán dọt lẹ và được bốc về ngày 18 tháng Sáu.

Strata 115 là toán mới, xâm nhập ngày hôm sau. Toán này sẽ tìm kiếm mục-tiêu trong vùng phía nam tỉnh Hà-Tĩnh, xa nhất cho các toán Strata, và cũng là toán gồm toàn người Miên. Trong những ngày kế tiếp, toán biệt-kích Miên di- chuyển đến mục-tiêu dọ thám đường của họ. Hết đồ ăn, SOG phải nhờ một chiếc khu trục A-1 của Không-quân Việt-Nam thả bom Napalm giả chứa đồ ăn cho họ. Ngày 27 toán Strata 115 chạm súng với địch chết môt biệt-kích quân. Họ được vào cứu đem về.

Cũng trong cùng thời gian, toán Strata 111 đi chuyến thứ tư. Ngày 20 tháng Sáu, toán xâm nhập mười sáu cây số phiá bắc vùng phi quân- sự. Trong bốn ngày đầu toán biệt-kích không thấy sự hiện diện của quân-đội Bắc Việt. Ngày 24, họ bị phát giác, gọi về Ðà-nẵng báo cáo rồi rải mìn di-chuyển đến vị-trí khác. Ba hôm sau Strata 111 đụng nữa, lần này phải chiến-đấu, một biệt kích quân bị thương nơi đùi, họ yêu-cầu được triệt-xuất. Toán Strata 111 khi về đến Ðà-nẵng bị giải tán.

Trong mùa hè 1968, chương trình Strata tiếp- tục phát-triển, bây giờ có mật danh là kế-hoạch 34B, biệt-kích nằm vùng dài hạn là 34A. Những toán mới được tuyển mộ gồm sĩ-quan, hạ-sĩ-quan trẻ trong QLVNCH. Họ làm gia tăng hiệu-năng cho các toán biệt-kích Strata.

Toán Strata 115 (Miên) xâm nhập lần thứ hai, sau mười tám ngày hoạt động họ đụng phải quân Bắc Việt. Toán bị phân tán. Trực-thăng đem về được ba người, bốn người khác mất tích.

Toán cuối cùng xâm nhập trong tháng Bẩy là Strata 119, gồm sắc dân thiểu-số Tầy. Họ được tuyển mộ từ bên Lào, sau đó đưa về Long Thành huấn luyện cho đến hết năm 1967. Họ được chia làm hai toán, toán Qua không có kết-quả phải cho họ về lại Vạn-Tượng. Toán Axe thành công có thêm hai hiệu-thính viên Việt-Nam trở thành Strata 119.

Ngày 29 tháng Bẩy, Strata 119 được trực- thăng đưa vào khu vực gần làng Mơ. Trong tuần lễ đầu, họ không gặp trở ngại nào, sau đó toán biệt-kích phát hiện quân-đội Bắc Việt thường xuyên. Ngày 10 tháng Tám, hai ngày trước khi hết thời gian công tác, Strata 119 phát hiện địch quân đang đi lùng, trưởng toán Lò văn Thông ra lệnh cho toán viên nằm im, gọi máy bay quan-sát xin chỉ dẫn. Vì rừng quá rậm rạp, Thông cùng với một biệt-kích quân leo lên cây để định hướng, đúng lúc súng nổ vang dội ở dưới, cả hai nằm im trên cả tiếng đồng hồ. Trong lúc đó toán biệt-kích còn lại chạy thoát và được trực-thăng bốc đưa qua Thái-Lan. Thông cùng biệt-kích quân còn lại định tìm đường qua Lào, họ bị quân Bắc Việt bắt.


Theo tài liệu ‘How American Lost the Secret War in North Vietnam’, Kenneth Conboy, Dale Andradé, United Press, 2000.


16-03-2001
Bạch-Hổ

Lời Giới Thiệu


Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM
Trong chiến tranh Việt-Nam, một đơn-vị tối mật được ít người biết đến với danh hiệu Nha-Kỹ-Thuật thuộc bộ Tổng-Tham-Mưu, Quân-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Những quân-nhân trong đơn-vị bí mật này thường được gọi là Lôi-Hổ hoặc xếp họ vào hàng lính Biệt-Kích thuộc binh-chủng Lực-Lượng Ðặc-Biệt. Người Hoa-Kỳ cho rằng Nha-Kỹ-Thuật là một huyền thoại trong cuộc chiến tranh Ðông-Dương. Cả hai đơn-vị NKT và LLÐB đều được Hoa-Kỳ yểm trợ mạnh mẽ, NKT có tổ chức riêng biệt dựa theo cơ-cấu tổ chức của LLÐB. Các 'Sở' hoặc Bộ-Chỉ-Huy (CCN, CCC, CCS - Command & Control North, Central, South) tương đương với các Bộ-Chỉ-Huy 'C' (C1, C2, C3, C4) của LLÐB. Các 'Căn-cứ Hành-Quân Tiền-phương' (FOB – Forward Operation Base) tương-đương với các BCH 'B' (B50, B52, B57, v.v...). Các toán 'Lôi-Hổ' tương-đương với các toán 'A' biên-phòng. Bài viết này theo tài liệu trong cuốn 'SOG – The Secret Wars of America's Commandos in Vietnam', tác giả John L. Plaster. Tháng Hai 1961, môt chiếc thuyền đóng theo kiểu những thuyền đánh cá khác ở Bắc Việt-Nam trôi bềnh bồng ngoài khơi vịnh Bắc Việt, lặng lẽ hướng về Cẩm-Phả, một thành phố nhỏ ven biển. Hai đêm trước, họ đã lướt qua hải cảng Hải-Phòng một cách êm-thấm. Ðêm nay lúc hoàng hôn, họ có thể thấy mờ-mờ những rặng núi trong tỉnh Quảng-Ðông của Trung-Hoa vào khoảng 40 dặm về phiá bắc. Trường hợp không may xẩy ra, nếu họ bị bao vây, sẽ không có một chiếc tầu nào của phe ta đến tiếp cứu họ. Chiếc thuyền con không được đóng ở ngoài Bắc mà ở Vũng- Tàu cách xa 800 dặm, những người lái tầu đã được cơ-quan tình báo CIA Hoa-Kỳ bí-mật tuyển mộ và huấn luyện để đưa một người Việt-Nam tuổi khoảng trung tuần đem theo máy truyền tin xâm nhập vào miền Bắc. Ðiệp viên bí danh Ares đã đặt chân lên miền Bắc thành công mỹ-mãn. Dưới thời tổng-thống Kenedy, điều-khoản số 52 trong Hội Ðồng An-Ninh Quốc-Gia chấp thuận cho cơ-quan CIA xư ûdụng quân Biệt-Kích Mũ- Xanh (Special Forces) và đơnvị Người Nhái Hải Quân (Navy SEALs) để huấn-luyện, cố-vấn quân-nhân Việt-Nam

Trận Chiến Bí Mật - NKT/TTM Trang 5
trong những nhiệm-vụ bí-mật do ông trùm Xịa CIA Colby tổ chức. Tại thành phố bờ biển Nha-Trang, Lực-Lượng Ðặc-Biệt Hoa-Kỳ huấn luyện cho Biệt- Kích quân Việt-Nam thuộc Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát để dòthám đường mòn Hồ-Chí- Minh. Trong năm 1961-1962, Liên-Ðoàn 1 Quan-Sát tổ chức 41 cuộc hành-quân viễnthám, tìm kiếm dấu vết đường xâm-nhập cuả địch qua ngã Lào. Trong khi đó, ngoài Ðà- Nẵng, toán người-nhái Hoa- Kỳ huấn luyện thủy-thủ Việt- Nam, chuyên chở người xâm nhập miền Bắc bằng đường biển. Ngoài ra tổ chức thêm những toán Biệt-Hải với nhiệm-vụ mở những cuộc tấn công bất ngờ các mục tiêu dọc theo bờ biển miền Bắc. Sau vài chuyến thành công, Hải- Quân Bắc Việt đã đề phòng, ngăn chận đánh chìm một số hải thuyền. Sau khi nhận định lại tình hình, cơ-quan CIA đổi hướng xâm nhập miền Bắc bằng đường hàng-không qua sự tiếp tay của Không-Lực Việt-Nam Cộng-Hòa. Các nhân-viên (Trong giai đoạn này họ là dân-sự) xắp
xâm nhập miền Bắc được huấn luyện trong căn cứ ở Long-Thành, cách Saigon khoảng 20 dặm về hướng đông. Quân Mũ-Xanh và nhân viên CIA huấn luyện họ về ngành tình-báo, kỹ-thuật pháhoại, xử-dụng vũ-khí, nhẩy dù, đánh morse và mưu-sinh. Những khả năng để họ có thể hoạt động trong nhiều năm ngoài Bắc.

Ðến cuối muà Xuân 1961, điệp-viên Ares vẫn thường gửi những điện văn morse đến trung tâm truyền tin viễn thông của CIA ở Phi-Luật-Tân để báo cáo. Không như điệp viên Ares, ra đi đơn độc. Bây giờ đến giai đoạn thả những toán biệt kích xâm-nhập từ 3 đến 8 người. Họ không được may mắn như điệp-viên Ares.

Chuyến đầu tiên thả toán Atlas, toán này không có cơ hội để gửi điện văn báo cáo là đã đến nơi, chiếc máy bay chở họ cũng biến mất luôn! Tướng Kỳ đích thân lái phi vụ thứ hai thả toán Castor sâu vào miền Bắc Việt-Nam. Ba tháng sau, Hà-Nội làm rùm beng vụ đem xét-xử ba người sống sót trong toán Atlas. Ít lâu sau toán Castor cũng mất liên-lạc, rồi đến hai toán Dido và Echo cũng nằm trong tay địch quân. Toán cuối cùng thả xuống miền Bắc trong năm 1961 là toán biệt kích Tarzan cũng mất tích. Trong mùa hè 1962, cơ-quan CIA đồng-ý bàn giao các hoạt động trong vùng Ðông-Nam- Á cho quân-đội trong vòng 18 tháng. Chương trình bàn giao có tên là Kế-Hoạch Trở-Lại (Operation Switchback). Rồi thì chính-biến 1-11-1963 xẩy ra và nhiều biến đổi trong miền Nam Việt-Nam làm cho kế-hoạch chậm trễ. Quân-đội Hoa-Kỳ vẫn chưa có một đơn vị đặc biệt nào để đảm nhận chương trình của CIA bàn giao.
Hà-Nội gia tăng mức độ xâm nhập vào miền Nam làm cho bộ-trưởng Quốc-Phòng Mc Namara ra lệnh thả nhiều toán 'Biệt-Kích' ra ngoài Bắc phá hoại 'Giới lãnh-đạo miền Bắc nên biết rằng họ sẽ phải trả giá nếu còn tiếp tục nuôi dưỡng, cho quân xâm nhập vào miền Nam'. Kế-hoạch 34A (OPLAN-34A) ban-hành ngàỵ 15 tháng 12 năm 1963 giới hạn cho một số mục tiêu. Mặc dầu Mc Namara thúc đẩy, kế-hoạch 34A bắt đầu từ ngày 1 tháng Hai 1964, Bộ- Chỉ-Huy Quân-Viện (MACV) mới lập xong một đơn vị cho các hoạt động bí mật của CIA.

Ðơn vị này do một đại-tá chỉ huy và bao gồm nhiều đơn vị, từ LLÐB, Người Nhái, Không-Ðoàn Cảm-Tử (Air Commando). Ðơn vị mới này lấy tên là SOG (Special Operation Group) Liên-Ðoàn Hành-Quân Ðặc-Biệt. Sau đó đổi tên để bảo mật mặc dầu vẫn viết tắt là SOG (Study and Observation Group) Ðoàn Nghiên-Cứu, Quan-Sát, tên mới nghe có vẻ chỉ gồm những chuyên-gia hoặc những nhà giáo.
Ðơn-vị mới SOG không trực thuộc cơ-quan MACV hoặc cấp chỉ huy của MACV là tướng William Westmoreland, mà nhận lệnh thẳng từ bộ TTM/QLHK (JCS) trong Ngũ- Giác-Ðài và thường nhận lệnh từ tòa Bạch Ốc. Chỉ có 5 sĩ quan cao cấp Hoa-Kỳ ở Saigon được báo cáo về những hoạt động bí-mật của SOG: Tướng Westmoreland, tham-mưu-trưởng của ông ta, trưởng phòng Nhì, tư-lệnh Ðệ- Thất Không-Lực, và viên tưlệnh lực-lượng Hải-Quân HK tại Việt-Nam. SOG được chấp thuận mở những cuộc hành quân phát xuất từ miền Nam Việt-Nam, và Thái-Lan vào đất Ai-Lao, Miên, Bắc Việt và có thể ở phiá bắc Miến-Ðiện, Quảng Ðông, Quảng Tây, Hồ-Nam và đảo Hải-Nam bên Tầu. Ngân khoản dành cho SOG sẽ
dấu trong ngân khoản dành cho Hải-Quân Hoa-Kỳ. Trùm SOG là một sĩ-quan thuộc binh-chủng Nhẩy-Dù trong trận Thế-Chiến thứ Hai, sau đó chuyển qua Lực-Lượng Ðặc-Biệt trong thập niên 50. Ðại-Tá Clyde Russell đã từng theo sư-đoàn 82 Dù nhẩy xuống Pháp, Hòa-Lan, sau đó chỉ-huy Liên-Ðoàn 10 LLÐB bên Âu-châu, sau đó là LiênÐoàn 7 LLÐB trong căn-cứ Fort Bragg, North Carolina. Trong kế-hoạch 34A, đại-tá Russell và ban tham-mưu thay đổi cơ-cấu tổ chức của LiênÐoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát dựa theo tổ chức OSS xâm nhập với sở Không yểm, Hải yểm và một đơn-vị Tâm-lý chiến. Cơ-quan CIA cho SOG xử-dụng hệ-thống tiếp-liệu đặc biệt với những đồ chơi 'Xa-xỉ phẩm' như vũ-khí tối tân, dụng cụ câu dây điện thoại để nghe lén. Ðồ tiếp liệu bí mật này có trong căn cứ Chinen ở Okinawa. Ngoài ra còn có thêm văn phòng chuyên lo việc tiếp liệu cho đơn vị SOG và LLÐB. CIA bàn giao thêm cho SOG một phi đội C-123 từ Ðài- Loan do các phi-công Ðài- Loan lái để thay thế các máy bay C-47 của Không-Lực VNCH. Phi-đội này có tên là Ðệ Nhất gồm bốn chiếc C- 123. Mỗi chiếc có một phi hành đoàn phụ Hoa-Kỳ để bay những phi vụ trong miền Nam, các phi-công Ðài-Loan bay những phi vụ ra Bắc hoặc qua đất Miên. Những phi công Ðài-Loan này không biết tiếng Việt, có thẻ căn-cước Việt-Nam nhưng chỉ một số rất ít viên chức Việt-Nam mới biết họ là ai. CIA cũng bàn giao thành quả 3 năm hoạt-động của họ cho tới năm 1964. Tất cả 22 toán thả ra ngoài Bắc, chỉ còn liên-lạc được 4 toán Bell, Remus, Easy, Tourbillon và Ares. Trong căn-cứ Long- Thành gần Saigon, SOG nhận được khoàng hơn 20 nhân viên đang thụ-huấn. Các sĩ quan SOG không tin tuởng nơi họ và phải loại trừ những quân nhân đó. SOG cũng không thể trả họ về cho QL/VNCH vì họ đã biết những nhiệm-vụ, hoạt động bí mật của cơ-quan ở ngoài Bắc. Cách giải quyết dễ dàng nhất là... cứ thả họ ra ngoài Bắc (Bỏ rơi cho địch quân). Trong tháng Năm, Sáu, Bảy 1964, các toán Boone, Buffalo, Lotus và Scorpion nhẩy dù xuống miền Bắc và đều bị bắt hết. Ngoài ra một số nhân viên khác cũng được gửi ra ngoài Bắc để tăng cường cho hai toán Remus và Tourbillon. Sau khi thanh toán xong các toán do CIA để lại, SOG bắt đầu tuyển mộ nhân viên mới cho một chương trình huấn luyện dài 21 tuần lễ. Danh từ 'LÔI-HỔ' có từ đây. Ðể yểm trợ cho kế-hoạch 34A tấn công bất ngờ bờ biển Bắc Việt, trong đêm 16 tháng 2 năm 1964, ba thủy thủ người Na-Uy lái chiếc tầu Nasty (chạy rất nhanh, hỏa lực mạnh do Na-Uy chế tạo) chở theo người nhái Việt-Nam dự tính phá hủy một chiếc cầu, bị địch phát giác phải quay trở lại. Mấy đêm sau, một toán phá hoại người nhái khác xâm nhập miền Bắc bị thất bại, mất đi 8 quân nhân thuộc Lực- Lượng Người Nhái HQVN. Qua tháng 7, các tốc đỉnh Nasty và Biệt-Hải dùng chiến thật tấn công bất ngờ rồi chạy, phá hủy được năm mục tiêu ngoài Bắc trong hai ngày 9 và 25 tháng Bảy.

Ngày 30 tháng 7, SOG xử dụng 5 chiếc tốc đỉnh Nasty tấn công những dàn ra-đa gần Hải-Phòng gây nhiều tiếng nổ phụ. Trong tháng Tư 1964, bộ trưởng quốc-phòng Mc. Namara ra lệnh thám-thính phần đất bên Ai-Lao. Chương trình 'Leaping Lena' bắt đầu thả toán đầu tiên qua Lào ngày 24 tháng Sáu, đến 1 tháng Bảy, năm toán Biệt- Kích Việt-Nam nhẩy dù qua biên giới Lào để dò-thám các hoạt động của quân-đội Bắc Việt Chương trình 'Leaping Lena' tới tai cố-vấn của tổngthống Hoa-Kỳ, ông William Bundy qua bản báo cáo 'Tất cả các toán đều bị địch tìm ra vị-trí, chỉ còn bốn người sống sót chạy thoát trở về'. Ðầu năm 1965, phi công Jim Ryan của Air America (CIA), chụp được một số hình ảnh, những con đường mới làm từ đèo Mụ-Già qua phần đất Ai- Lao, hệ thống đường mòn Hồ- Chí-Minh gia tăng. Ngày 8 tháng Ba năm 1965, SOG có một cấp chỉ huy mới là Ðại-Tá Donald Blakburn, một huyền thoại trong ngành Lực-Lượng Ðặc-Biệt.

Theo tài liệu:
SOG The Secret Wars Of America's Commandos in Vietnam, John L. Plaster.
Dallas 20-11-1999
VÐH

Mục-Lục

Nha Kỹ Thuật - Tổng Tham Mưu
TRẬN CHIẾN BÍ-MẬT
Mục-Lục

Trận chiến bí mật (Lời giới thiệu). Trang 4
Chiến tranh ngoại lệ (bài 1- 9). 10
Biệt-kích quân 63
Ngày trở về (phần 1) 69
Ngày trở về (phần 2) 73
Lực-Lượng Ðặc-Biệt trên chiến trường Việt-Nam. 76
Giới thiệu Nha-Kỹ-Thuật / TTM. 96
Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích. (phần 1). 99
Kế-hoạch 34-A Thả biệt-kích. (phần 2). 103
Kế hoạch 34-A Tâm-lý chiến. 108
Kế-hoạch 35 (Oplan 35) Vượt-biên. 112
Kế-hoạch 37 (Oplan 37) Biệt-hải. 126
Kế hoạch 39 (Oplan 39) Chiến tranh tâm-lý. 131
Hành quân Shining Brass. (Xâm nhập vượt biên qua Lào) 135
Hành-quân Prairie Fire (Xâm nhập Lào). 143
Khe-Sanh. (Xâm nhập vùng Khe-Sanh). 148
Hành-quân Daniel Boone. (Xâm nhập qua Miên). 153
Hành-quân Salem House. (Xâm nhập qua Miên). 161
Hành-quân biệt-kích năm khói lửa 1968. 168
Nhẩy dù xâm-nhập (HALO). 181
Ðơn-vị đặc-nhiệm 957 Du-Kích Lưu-Ðộng.
(Mobile Guerilla Forces). 189
Ðại-đội xung-kích Hatchet Forces. 195
Hành-quân biệt-kích. 202
Mật-hiệu Bright Light. (Cứu tù-binh, con tin). 211
Hành-quân biệt-kích cứu tù-binh. 215
Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát (SOG) chiến-đấu trong cô-đơn. 224
Trận chiến bí-mật - Nhìn lại. 230
Phụ-bản về đơn vị Ðoàn Nghiên-Cứu Quan-Sát, Nha-Kỹ-
Thuật TTM/QLVNCH. (1-10) 237

Wednesday, June 10, 2009

Anh Binh 10B72



Vua moi tham Anh BINH tai benh vien CHO RAY ,Hien gio , Cai mieng cua Anh BINH bot meo, nhung tay phai va chan phai van con bi liet , dai , ia rat kho khan.. nghe minh chuyen loi tham hoi cua PHAM HOA va anh em DONG MON ben MY den tinh trang lam nan , benh hoan ....BINH xuc dong nhieu ....khoc , lap bap noi khong thanh tieng.... Duong nhu loi tham hoi ( duoc chuyen den ) da lam cho BINH co them duoc nhieu nghi luc , tang them suc manh cho BINH nhieu va BINH da trao doi voi minh nheu viec rat tinh tao ( truoc do thi tam tri ngo ngo, ngan ngan...y nhu nguoi bi mac benh tam than,

Friday, June 5, 2009

Đơn xin gia nhập Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa


Hội Bảo Tồn Truyền Thống Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Republic of Vietnam Armed Forces Preservation Association
Đơn xin gia nhập Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa
(Membership Application for The Republic Of Vietnam Color Guard) Please Print

Họ và tên/Name__________________________________________________

Địa chỉ /Address________________________________________________

Thành Phố/City __________ Tiều Bang/State ________ZipCode_______

Điện Thoại /Telephone. Home:_____________Office:________________

Cell Phone ____________________________________________________

Đia chỉ Email:_________________________________________________

Tốt nghiệp khóa/Class________Ngày ra trường /Date ____________

Chi tiết cần ghi thêm / additional information _______________

Có thể viết thêm trang giấy kèm theo / additional paper if needed.

- Individual member ( cá nhân)
- Hội Viên hiện thời (Current Member)____Hội Viên mới (New member)____
- $25.00 (1 năm) - $70.00 (3 năm)
- Hội viên suốt đời -Life member tuổi 49 - $250.00 / 50-55-$225.00
56-60-$200.00/ 61-65-$175.00 / 66 &up 150.00 _________________________

Donation: $_____cho Hội Bảo Tồn Truyền Thống Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa

Qũy điều hành (General fund)________Học bổng (Scholarship fund)_______

Thương binh ( Disabled veterans)_____________________________________

Ngày (Date)________ Tháng (Month)________ Năm (Year)_________

Ký tên / Signature ________________________________________________

Xin gởi đơn và check hoặc money order về:
(Đính kèm giấy tờ, hình ảnh nếu có)

Hòa Phạm

Hội Bảo Tồn Truyền Thống Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa
Post Office Box 7973
Torrance, CA 90504 USA


Fax 425-963-8116 - E-mail: hoavanpham@yahoo.com
Online Application download at: http://CoVangTungBay.BlogSpot.com
For Official use only: Membership Director Approval Signature
__________________________Hồ Sơ Lưu / _________________

Membership number: ____________________________________

Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai


Nói Chuyện Với Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai
Tạp Chí TRẺ , Jun 02, 2009
Lời nói đầu của Phóng viên Tạp Chí Trẻ: Qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Trọng Huấn, một Cựu Đại Úy Thủy Quân Lục Chiến, thành viên Hội Quảng Đà Dallas-Fortworth, Texas, đã đưa chúng tôi đến thăm Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai tại Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt Cao Niên Garland, Texas

Chúng tôi đến Trung Tâm vào giờ ăn trưa của các cụ nơi đây và được bác Đỗ, Giám đốc Trung Tâm tiếp đón. Bác Đỗ nhờ người thưa với Cựu Thiếu Tường Đỗ Kế Giai là có nhà báo chúng tôi xin được gặp ông, và mời ông Tướng ra phòng khách để cho chúng tôi được gặp, bác Đỗ cho chúng tôi biết ông Đỗ Kế Giai hôm nay không được khoẻ lắm..

Rồi tôi thấy Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai đi vào phòng khách của Trung Tâm. Hình ảnh một vị cao niên chống gậy vẫn không che được phong cách và uy nghi của một vị Tướng lãnh từng một thời oai vũ.

Chân dung và tiểu sử Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai được ghi lại không đầy đủ như sau: Ông xuất thân Khoá 5 Sĩ Quan Võ Bị Đà Lạt, ra trường Tháng 4/1952, ông về phục vụ Tiểu Đoàn 3 Nhảy Dù đóng ở Hà Nội. Năm 1954, ông là sĩ quan hành quân “Officier Adjoint” cho Thiếu tá Mollo ở Đồng Đế, Nha Trang, với cấp bậc Trung úy. Cấp bậc cuối cùng của ông là Thiếu Tướng Biệt Động Quân, chỉ huy Lực Lượng bảo vệ Sài Gòn cho tới khi nhận lệnh buông súng…

Những người đàn anh của tôi ở đây là những cựu Trung úy, cựu Đại úy đang làm thiện nguyện ở Trung Tâm, các anh lo bữa ăn trưa cho vài chục cụ người Việt cao niên ở đây, các cụ đang… nói chuyện, chơi cờ, xem ca nhạc Asia và chờ cơm. Thấy Thiếu Tướng đi tới các anh đến mới ông đến chiếc ghế êm ả nhất phòng. Tôi cúi chào Thiếu Tướng.

Phóng Viên Trẻ: “Thưa bác, cháu là phóng viên Tạp Chí Trẻ. Xin được chào bác, chúc bác sức khoẻ. Xin được hỏi bác đôi điều…”

Cựu Thiếu Tướng Đỗ Kế Giai: “Từ ngày xưa, tôi đánh giặc đã không thích kể chuyện đăng báo vì kể lể chiến công với báo chí tôi cho là việc tự kể cho đối phương nghe, biết chiến thuật của mình”

PV Trẻ: “Thưa bác, cháu xin không hỏi bác nhiều về những chuyện đã qua. Thay mặt Nhóm thực hiện báo Trẻ, cháu đến thăm hỏi sức khoẻ bác vì được nghe bác đã tham gia sinh hoạt tại Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên Garland.”

CTTĐKGiai: “Nếu anh muốn hỏi gì thì phải đợi tôi nói xong hãy hỏi tiếp, đừng hỏi ngang làm tôi quên chuyện tôi đang nói…”

PV Trẻ: “Thưa bác, bác có viết quyển hồi ký nào không?”

CTTĐKGiai: “Tôi không viết hồi ký vì những đánh bóng cá nhân hay chạy tội trước lịch sử đều không phải là hồi ký. Theo thời gian, tôi chỉ nói ra những gì tôi thấy là cần thiết…”

PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã trả lời. Xin hỏi bác đã đi “cải tạo” bao nhiêu năm?”
CTTĐKG: “Tôi không có đi cải tạo. Tôi đi tù.”

PV Trẻ: “Xin lỗi bác, cháu chỉ muốn dùng lời nói cho nó nhẹ nhàng thôi!”

CTTĐKG: “Ngày tôi đi phỏng vấn ở Trụ Sở ODP để sang đây, có người thông dịch viên cũng hỏi tôi một câu như thế. Tôi cũng trả lời rõ ràng như thế. Và ông nhân viên Mỹ nói luôn với tôi: “Mời ông ký giấy tờ để hoàn tất thủ tục.”

PV Trẻ: “Thưa bác, thời gian… ở tù của bác bao lâu?”

CTTĐKG : “17 năm thiếu 10 ngày.”

PV Trẻ: “Xin hỏi: Có phải bác là người đi tù sớm nhất và về trễ nhất?”

CTTĐKG: “ Có thể. Ngày 15 tháng 5, 1975, họ đến nhà tôi, mời tôi đi họp nhưng thật ra là bắt tôi đi luôn từ đó. Lệnh tập trung những sĩ quan Quân lực VNCH vào Tháng 6, họ bắt tôi giữa Tháng 5. Có thể tôi là người đi tù sớm nhất!”

PV Trẻ: “Nhưng khi ấy họ chưa tổ chức kịp những trại tập trung thì họ đưa bác đi giam ở đâu?”

CTTĐKG: “Khám Chí Hoà. Một năm sau họ đưa tôi từ Nhà Tù Chí Hoà đến Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung cũ. Bữa sau nữa, họ đưa tôi ra Bắc.”

PV Trẻ: “Bác tù ở ngoài Bắc 17 năm. Khi trở về Nam, bác thấy miền Nam sau 17 năm kiểu cộng sản “giải phóng” thế nào?”

CTTĐKG: “Tôi không thích tiếng: giải phóng”!

Bác Giai im lặng-hồi tưởng. Mọi người im lặng-chờ đợi. Ở đây chỉ có những người trẻ làm thiện nguyện là đến trung tâm sinh hoạt cao niên này để phục vụ người già. Trong thái độ, ánh mắt, giọng nói của những người lính cũ, tôi cảm nhận được sự kính trọng Tướng Giai của họ như ngày họ còn tấm thẻ bài lính chiến trên ngực. Hình như với những người lính cũ, kỷ luật quân đội vẫn sống trong họ.

Bác Giai nói tiếp: “Hôm đó trong trại tù, một người thuộc Mặt Trận Giải Phóng miền Nam nói với tôi: “… Trong Quốc ca của các anh có câu: Này công dân ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng…, thì hôm nay chúng tôi đã giải phóng cho các anh rồi! Còn thắc mắc gì nữa!” Tôi nghe anh ta nói câu đó thì tức đến chết được, để rồi tôi nói cho các anh nghe về lịch sử bài quốc ca của Quốc Gia VNCH…”

Cuộc nói chuyện ngưng vì bác Đỗ đến mời vị Cựu Tướng đi ăn cơm, anh Tuấn và tôi được mời cùng ăn với vị Cựu Tướng. Bác Giai chống gậy, đi đứng đã có phần khó khăn, nhưng vẫn đi được một mình. Nhìn bác tự lo cho mình bữa ăn, tôi không biết ngày xưa, cấp Tướng thì có bao nhiêu người phục vụ? Tôi thấy ở ông phong cách tự tại, bình thản của một cụ già người Việt trong Trung Tâm Sinh Hoạt Cao Niên. Một chút ngậm ngùi nổi lên trong lòng tôi dù tôi thấy là vô lý. Bác Giai rất an nhiên, tự tại.

Tôi nói với bác Giai: “Hôm qua, cháu nói điện thoại với cô Kiều Mỹ Duyên. Cô gởi lời thăm bác.”

Ông ngồi yên như hồi tưởng lại những người quen biết cũ.

Thấy ông có vể xúc động, tôi hỏi thêm câu nữa: “Ngày xưa, chắc cô Kiều Mỹ Duyên đẹp lắm hả bác?”

Ông cười, nụ cười bí hiểm với ánh mắt trầm mặc sau làn kính cận dày. Nhưng sau đó… ông tỏ ra bớt “quạu”, chắc tâm tư sảng khoái nên ông ăn cơm thấy ngon.
Tôi hỏi: “Cơm ngon không bác? Cháu thấy món thịt kho rất ngon.”

Ông trả lời nhẹ nhàng: “ Ngon hơn cơm tù.”

Trên chiếc bàn trải khăn trắng muốt, đơn sơ, mỗi người một đĩa cơm có thịt kho, cải xào, chén canh đậu hũ trắng nấu với cà chua và thịt bằm. Trước mặt có ly trà, trái chuối để tráng miệng. Một phần ăn trưa rất bình thường ở Mỹ, bình thường đến nỗi người ăn chỉ làm công việc ăn chứ ít ai nghĩ đến ân sủng của Ơn Trên đã ban cho lương thực hàng ngày hay công lao người nấu bữa ăn, hoặc tiền chợ có từ đâu? Nhưng nghe bác Giai vừa ăn vừa nói chuyện, mọi người như mới nhận thức ra giá trị của bữa ăn hàng ngày, bác nói:

“Từ ngày tôi ra tù đến nay, không bao giờ tôi bình phẩm về món ăn.”

Là một phóng viên chuyên thực hiện những cuộc phỏng vấn, nhưng lần này có lẽ là lần thứ nhất tôi không muốn đóng vai trò phóng viên đặt câu hỏi mà chỉ muốn ngồi nghe câu chuyện của một chứng nhân lịch sử, một trong những “Tự điển sống” hiếm hoi còn lại tới bây giờ. Những câu hỏi về lịch sử không phù hợp với không gian, thời gian. Từng câu hỏi như những mũi kim chích vào ung nhọt quá khứ, nó có cái “đã” của một vết thương mưng mủ được tuôn ra, nhưng tiếp theo sau là nỗi buồn vết sẹo không lành sau mỗi câu trả lời của vị Cựu Tướng. Tôi tự thấy mình có lỗi trong những câu hỏi có thể gợi sự bất an, hay không vui trong lòng vị Cựu Tướng nên tôi chuyển sang chuyện khác, may ra cuộc trò chuyện được vui vẻ hơn.

PV Trẻ: “Thưa bác, hiện nay bác đến Trung Tâm này sinh hoạt hàng ngày hay sao?”
CTTĐKG: “Không, một tuần tôi đến đây ba ngày thôi.”

PV Trẻ: “Vậy, những ngày ở nhà thì bác làm gì? Bác đang sống với ai?”

CTTĐKG: “Tôi sống với hai người con trai của tôi, hai con tôi qua đây đã lỡ tuổi, dở dang mọi chuyện nên chúng không lập gia đình. Công việc hàng ngày thì tôi làm được gì thì làm, được tới đâu hay tới đó.”

PV Trẻ: “Bác có thường xuyên liên lạc với bạn hữu và các vị tướng lãnh xưa không ạ?”

CTTĐKG: “ Ít khi. Từ hôm ra tù đã thế. Ngày ra tù, họ cho hay trong nửa ngày phải thu xếp rời trại. Tưởng chuyển trại thôi vì tôi tin là tôi sẽ ở tù tới chết. Không ngờ họ cho về. Tôi với Thiếu tướng Trần Bá Di, Thiếu tướng Lê Văn Thân, Thiếu tướng Lê Minh Đảo là 4 người trong 100 người mà họ muốn giam tù cho tới chết. Nhưng nhờ sự đấu tranh của các chiến hữu, các vị đồng hương ở hải ngoại, tạo thành áp lực buộc họ phải thả chúng tôi. Bốn người chúng tôi là đợt cuối cùng trong 8 đợt thả 100 người tù cuối sổ. Lúc đợi xe đưa về Sài Gòn bốn chúng tôi tính với nhau: tôi sẽ được đưa về nhà trước vì là người lớn tuổi nhất trong anh em, kế đến là Trần Bá Di, tới Lê Văn Thân. Lê Minh Đảo trẻ tuổi nhất, sẽ về sau chót. Nhưng khi xe đưa chúng tôi về đến Sài Gòn thì thì những người áp giải chúng tôi làm ngược lại! Lê Minh Đảo được đưa về nhà trước nhất, tôi là người về nhà sau cùng.”

PV Trẻ: “Vậy, bác đúng là người đi tù trước nhất và về nhà sau cùng. Bác có không được vui về chuyện ấy không?”

CTTĐKG: “Từ những ngày cuối cùng của Tháng Tư, 1975, sau khi Tổng thống Thiệu và Thủ tướng Khiêm đã rời Sài Gòn thì ngày 28, 29 Tháng Tư, tướng Times bên Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ngỏ lời sẵn sàng giúp tôi đưa cả gia đình tôi đi ra nước ngoài. Nhưng tôi quyết định ở lại vì trách nhiệm.”

PV Trẻ: “Bác có ân hận về quyết đnh ở lại đó với 17 năm tù và về sau chót?”
CTTĐKG: “Không. Tôi đã làm tròn trách nhiệm của một Tướng lãnh với Tổ Quốc, với Quân đội, với đồng bào và đồng đội. Qua 17 năm tù tôi vẫn giữ tác phong, danh dự của Quân Lực VNCH. Những người bắt tôi còn đó, họ có thể không thích tôi nhưng họ không có gì để khinh tôi.”

PV Trẻ: “Đối với bên kia, thì đã rõ về tác phong của bác. Nhưng đối với đồng đội, đặc biệt là với các vị Tướng đã bỏ nước ra đi vào những phút chót dầu sôi lửa bỏng, Bác nghĩ gì về họ?”

CTTĐKG: “ Tôi quyết định ở lại vì tôi thấy hành động như vậy là đúng. Nhưng không phải vì vậy mà tôi công kích những người ra đi Tháng Tư năm 1975. Bởi vì trường hợp mất Nam Việt Nam thật đặc biệt, không thể qui trách cho những người cầm súng giữ nước. Các đơn vị quân đội vẫn hiên ngang chiến đấu, chúng ta không hề bỏ chạy trước cộng quân. Quân đội phải buông súng vì lệnh đầu hàng của ông Dương Văn Minh. Do đó, nếu quí vị Tướng có ở lại trong nước thì trước sau các ông cũng vô tù như tôi. Hơn nữa nhờ có một số chiến hữu thoát được ra hải ngoại nên về mặt chính trị mới có cơ hội tranh đấu cứu vãn những người còn kẹt lại.

Về mặt kinh tế, những người đi trước đa số đã thành công trong việc xây dựng được cuộc sống ổn định ở nước ngoài, nhờ đó ta có thể có thể tương trợ lẫn nhau. Bây giờ không nên nói nhiều nữa về chuyện đi hay không đi, đi trước- đi sau, mà mọi người nên, và phải cùng chung lưng xây dựng một lực lượng vững mạnh cả chính trị và kinh tế nơi thế hệ tương lai của người Việt tại hải ngoại.”
PV Trẻ: “Cảm ơn bác đã cho nghe về lịch sử và những biến động ở Sài Gòn cũng như miền Nam vào những ngày cuối cùng của nền Cộng Hoà. Trong tương lai, bác có suy tư nào để chia sẻ với những người đời sau?”

CTTĐKG: “Những ngày lễ, ngày Tết, đặc biệt là Ngày 30 Tháng Tư hàng năm, đều có những người trẻ tìm đến tôi để hỏi thăm. Tôi cảm ơn nhiều.. Phần các cháu hỏi, thì câu trả lời của tôi còn đó, đến năm sau có thể ta sẽ lại gặp nhau. Các cháu hãy làm đi, làm những gì có thể làm cho quốc gia, dân tộc chúng ta khá hơn, hay hơn.”

PV Trẻ: “Cảm ơn lời chỉ dạy của bác. Xin được chào bác và để bác nghỉ. Xin chúc bác được nhiều sức khoẻ để làm chỗ dựa tinh thần cho lớp trẻ dấn thân vào việc xây dựng tương lai chung của chúng ta. Kính chào bác.”

Khi ngồi nghe chuyện Cựu Tướng Đỗ Kế Giai sau bữa ăn trưa ở Trung Tâm Sinh Hoạt Người Việt cao niên, những câu hỏi tôi đã chuẩn bị để hỏi ông không có cơ hội được tôi nói ra vì dòng hồi tưởng của vị Tướng Già cứ tuôn chảy theo ký ức và tâm cảm của ông. Hai nữa có những chuyện tôi không muốn hỏi sợ làm ông buồn.

Thế rồi bác Đỗ lái xe đưa bác Giai về tư gia. Trongcuộc sống âm thầm nơi viễn xứ, những người lính cũ vẫn sống bên nhau với tình đồng đội ngày nào. Thật đáng kính phục những người Lính Chiến của một Quân Lực oai hùng nay không còn nữa.
Tôi trở về toà soạn, ngồi gõ keyboard viết những dòng chữ này để Tưởng Niệm Tháng Tư 2009 gửi đến quí vị độc giả Tạp Chí Trẻ.

Người viết Phóng Viên Trẻ.

Monday, June 1, 2009

Chuẩn Tướng TRƯƠNG QUANG ÂN



Chuẩn Tướng TRƯƠNG QUANG ÂN

Nguồn tin vừa được loan đi đã làm sửng sốt toàn thể chiến sĩ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, đặc biệt là các chiến sĩ thuộc Khu 23 Chiến Thuật. Ðó là tin Chuẩn Tướng Trương Quang Ân, Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 23 Chiến Thuật tử nạn phi cơ cùng phu nhân và phái đoàn của Khu 23 Chiến Thuật sáng ngày chủ nhật 8-9-1968 vừa qua trên đường tới thăm viếng và tưởng thưởng các chiến sĩ đang hành quân tại Ðức Lập.

Nguồn tin trên quả đã gây xúc động trong toàn thể chiến sĩ chúng ta, vì không nhiều thì ít, chúng ta cũng đã được biết về vị Tướng Lãnh vốn nổi tiếng về khả năng và kỷ luật gương mẫu. Chuẩn Tướng Trương Quang Ân siêng năng tận tụy lúc nào cũng một lòng lo tròn nhiệm vụ. Trong thời gian vừa qua, Chuẩn Tướng làm việc không có ngày nghỉ; mặc dầu công việc rất bề bộn, cũng đã dành ngày chủ nhật để cùng phu nhân và phái đoàn của Khu 23 Chiến Thuật đáp máy bay đến vùng Ðức Lập với mục đích theo dõi cuộc hành quân đang diễn tiến và để tưởng thưởng tại chỗ các chiến sĩ xuất sắc.

Bất cứ trận chiến nào tại Khu 23 Chiến Thuật cũng đều có sự hiện diện của Tướng Trương Quang Ân vào lúc sôi động nhất. Ðơn vị nào thuộc Khu 23 Chiến Thuật, hành quân cũng được chính Chuẩn Tướng đích thân tới

tưởng thưởng và uỷ lạo.

Chúng ta hẳn không quên Tướng Trương Quang Ân là một quân nhân hiện dịch, chọn binh nghiệp làm lẽ sống, tốt nghiệp Thủ khoa Khóa 7 Ðà Lạt, về Tiểu Ðoàn 3 Nhảy Dù, lập những công trạng hiển hách đầu tiên trong đời binh nghiệp với trận đánh lừng lẫy tại bản Hu siu (Lào). Năm 1957, làm Trưởng Phòng Hành Quân của Lữ Ðoàn Nhảy Dù, kế đó là các chức vụ Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 8 Nhảy Dù, Tham Mưu Trưởng Lữ Ðoàn, rồi Chiến Ðoàn Trưởng Chiến Ðoàn 2 Nhảy Dù. Sau một thời gian làm Tỉnh Trưởng Gia Ðịnh, Chuẩn Tướng Trương Quang Ân đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Phó Sư Ðoàn 25 Bộ Binh và cuối cùng, năm 1967 làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 23 Bộ Binh kiêm Tư Lệnh Khu 23 Chiến Thuật.

Trong thời gian đảm nhiệm chức vụ cuối cùng là Tư Lệnh Khu 23 Chiến Thuật từ năm 1967, đặc biệt từ Tết Mậu Thân, đã anh dũng đánh tan tất cả nỗ lực tấn công của Cộng quân nhằm chiếm đóng thị trấn của miền Cao nguyên này. Cũng trong suốt thời gian Chuẩn Tướng Trương Quang Ân làm Tư Lệnh, các chiến sĩ Sư Ðoàn 23 Bộ Binh đã tiếp tục tạo lập chiến thắng dồn dập, nêu cao danh dự đơn vị cũng như danh dự của toàn thể Quân Ðội. Tướng Trương Quang Ân được vinh thăng cấp bậc cuối cùng hiện tại vào ngày Quân Lực 19-6-1968 vừa qua, cũng đã được tưởng thưởng 30 huy chương đủ loại kể cả Bảo Quốc Huân Chương.

Suốt trong đời binh nghiệp, Chuẩn Tướng Trương Quang Ân lúc nào cũng nêu gương sáng về kỷ luật, chỉ biết sống cho Quân Ðội, chết cho Quân Ðội. Chuẩn Tướng cũng là một sĩ quan dũng cảm có tài chỉ huy, thương yêu thuộc cấp và đặc biệt là một trong những chiến sĩ Dù giỏi nhất về môn nhảy tự động chính xác.



Trong tai nạn đau buồn nầy, phu nhân của Chuẩn Tướng cũng tử nạn cùng chồng. Phu nhân nhũ danh là Dương Thị Kim Thanh, nữ Chuẩn uý phục vụ tại Tổng Y Viện Công Hòa và là một trong 7 Nữ Phụ tá đầu tiên trong Quân Lực tốt nghiệp bằng Nhảy Dù. Cả gia đình đều phục vụ Quân Ðội. Cả Chuẩn Tướng và Phu Nhân trong suốt đời binh nghiệp đã nêu gương phục vụ cho tất cả thuộc cấp.

Người chiến sĩ dũng cảm và tận tuỵ, con chim đầu đàn của Sư Ðoàn 23 Bộ Binh và Khu 23 Chiến Thuật không còn nữa, nhưng tinh thần kỷ luật tuyệt đối và thiện chí phục vụ cao độ của Chuẩn Tướng Trương Quang Ân sẽ còn là tấm gương sáng mãi mãi cho tất cả chiến sĩ chúng ta. Gắn liền cuộc đời vào binh nghiệp, tuyệt đối tôn trọng kỷ luật, phục vụ Quân Ðội không mỏi mệt, lúc nào cũng nghĩ tới đồng đội và thương yêu thuộc cấp. Ðó là tính chất của một chiến sĩ lý tưởng và là những yếu tố cao quý tạo thành cuộc đời của Chuẩn Tướng Trương Quang Ân vậy.