"Chấm dứt chiến tranh VN, không đơn thuần là chỉ rút quân về nhà là xong. Vì lẽ cái giá phải trả, cho loại Hòa bình đó, là ngàn năm tăm tối, cho thế hệ sinh ra tại VN về sau." President Ronald Reagan
Sau hiệp định Geneve tháng 7 năm 1954 chia đôi đất nước, hàng ngàn đồng bào gốc Ba Làng-Thanh Hóa trốn chạy cộng sản di cư vào Ðồng Ðế làm ăn sinh sống rồi mau chóng xây dựng lên một làng đánh cá gọi tên là “Ba Làng” trên mảnh đất dài gần 1km và rộng hơn 200m nằm về phía Ðông của Ðồng Ðế sát bờ biển, từ đó Ba Làng thuộc lãnh thổ Xã Vĩnh Hải, Quận Vĩnh Xương, Tỉnh Khánh Hòa .
Ðồng thời củng vào cuối năm 1954, theo Quy Ước Geneve của trường Ecole De Commando của quân đội Pháp từ Bải Cháy (Quảng Yên) di dời vào miền Nam, tạm trú tại Suối Dầu (Khánh Hòa) đến đầu tháng 2-1955 chuyển tiếp về Ðồng Ðế, đồn trú trong trại binh cũ của Pháp và cải danh là “Ecole De Commando Et Education Physique”, rồi chuyển giao cho Quân đội Quốc gia Việt Nam do Thiếu Tá Lê Cầm tiếp nhận chỉ huy đầu tiên và ngay sau đó đổi tên là “Trường Biệt Ðộng Ðội Thể Dục Ðinh Tiên Hoàng”, trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH. Do đó quân trường nầy xem như được thành lập kể từ tháng 2 năm1955 tại Ðồng Ðế, Nha Trang .
Tiếp đến đầu năm 1956, Ðại Tá Trần Vỉnh Ðắc được cử về thay thế Thiếu Tá Lê Cầm và một năm sau Ðại Tá Nguyển Thế Như Tư Lệnh Lữ Đoàn Liên Binh Phòng Vệ Phủ Tổng Thống được bổ nhiệm thay thế Ðại Tá Trần Vĩnh Ðắc trong Chức vụ Chỉ Huy Trưởng Trường Biệt Ðộng Ðội Thể Dục Ðinh Tiên Hoàng, đồng thời một loạt sỉ quan vừa tốt nghiệp các khoá quân sự ở Hoa kỳ, Okinawa (Nhật bản) và Mả Lai v.v…được thuyên chuyển về trường. Ðến đầu tháng 2-1957, Bộ Tổng Tham Mưu quyết định đổi tên Trường Biệt Ðộng Ðội Thể Dục Ðinh tiên Hoàng thành Trường Hạ Sỉ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa” để thích hợp với hoàn cảnh và nhiệm vụ mới.
Trước năm 1955 chẳng mấy ai biết đến vùng đất Ðồng Ðế, nhưng từ khi có một làng đánh cá của dân di cư và một trường Võ Bị QLVNCH được thiết lập tại đây đó là Trường Biệt Ðộng Ðội Thể Dục Ðinh Tiên Hoàng sau cải danh thành Trường Hạ Sỉ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa thì Ðồng Ðế được hầu hết dân chúng địa phương Nha-Trang Khánh-Hòa biết đến …,và chỉ 2 năm sau vùng đất Ðồng Ðế đã hoàn toàn thay da đổi thịt, dọc theo hai bên con đường phía trước Trưòng HSQ Ðồng Ðế nối liền từ quốc lộ 1 hướng Tây ra đến tận bờ biển giáp giới với đường Ba Làng dài trên 1km gọi tên là đường Ðồng Ðế bổng biến thành một khu phố đông đúc tấp nập, nhà cửa dựng lên san sát, dân cư phần đông là đồng bào địa phương Nha-Trang, Khánh-Hòa đổ về, một phần là thân nhân gia đình của các quân nhân đang phục vụ ở Trường HSQ Ðồng Ðế từ các nơi đến cư ngụ làm ăn sinh sống. Ðồng bào ở đây gọi Trường HSQ –QLVNCH là “Trường Ðồng Ðế Nha Trang” hoặc “Quân Trường Ðồng Ðế” để thay thế cho cụm từ xưng danh của trường quá dài . Tên gọi Quân Trưòng Ðồng Ðế dần dà đã trở thành quen thuộc đối với dân chúng và các đơn vị quân đội địa phương đồn trú vùng đất Nha Trang. Khánh Hòa .
Trở lại quá trình 20 năm của quân trường Ðồng Ðế :
1.Giai đoạn mới thành lập
-Xây dựng doanh trại cơ sở, tiện nghi huấn luyện, bổ xung Sĩ quan, Hạ Sĩ Quan, Binh Sĩ, mở các lớp huấn luyện Biệt Ðộng Ðội, Thể dục, Võ thuật, Cận chiến.
-Cấp chứng chỉ B1, B2 cho Hạ Sĩ quan, tu nghiệp Hạ Sĩ Quan chính quy và Hạ Sĩ Quan các giáo phái Bình Xuyên, Cao Ðài, Hoà Hảo mới được sát nhập vào hàng ngủ QLVNCH.
-Ðào tạo Hạ Sĩ Quan huấn luyện chiến tranh đặc biệt cho Liên Đoàn 77 / LLÐB .
-Huấn luyện căn bản quân sự cho các SVSQ Hải Quân, Không Quân và cuối năm 1958 huấn luyện Biệt Ðộng Quân song song với TTHL Song Mao và Ðà Nẵng trong khi TTHL Dục Mỹ được thành lập .
2. Giai Đoạn Huấn Luyện Đặc Biệt
Ðầu năm 1959, chương trình huấn luyến Biệt Ðộng Ðội và Thể Dục củng như việc huấn luyện tu nghiệp cho Hạ Sĩ Quan các giáo phái hoàn tất, Trung Tá Ðoàn Văn Quảng thuộc binh chủng Lực Lượng Ðặc Biệt được cử về Chỉ Huy Trường Ðồng Ðế thay thế Trung Tá Nguyển Thế Như trong giai đoạn trường chuyển mình bước sang giai đoạn và nhiệm vụ mới: chỉnh trang, xây dựng, mở thêm doanh trại, chuẩn bị những nhu cầu, phương tiện cần thiết để nhận trách nhiệm mở các khóa huấn luyện đào tạo Sĩ Quan Hiện dịch Ðặc biệt theo chỉ thị của Tổng Thống VNCH Ngô Đình Diệm sau đợt Tổng Thống đến thăm các Quân Đoàn, Vùng Chiến Thuật, các Quân Trường như Trường HSQ Ðồng Ðế, Trường Võ Bị Ðà Lạt, Thủ Ðức, Trường Quân Y v..v….Tài nguyên sinh viên được quy định là những HSQ ưu tú, có trình độ văn hóa từ Trung học trở lên, thâm niên cấp bực tối thiểu 2 năm, tác phong hạnh kiểm tốt, có kinh nghiệm chiến trường và phải qua một cuộc thi sách hạch văn hóa do Bộ Tổng Tham Mưu tổ chức . Sau đó, khóa Sĩ Quan Hiện Dịch Ðặc Biệt đầu tiên khai giảng có sĩ số 329 SVSQ .Chương trình huấn luyện gồm 9 tháng học quân sự tại trường và 3 tháng thực tập tại các đơn vị tác chiến chuyên môn như Pháo binh, Công binh, Thiết giáp, Truyền tin .v..v, rồi trở về trường thi trắc nghiệm cuối khóa . sau 13 tháng tôi luyện võ nghiệp, có 329/350 SVSQ tốt nghiệp .Lể mản khoá 1 Sĩ Quan Hiện dịch Ðặc Biệt được tổ chức trọng thể tại Trường Ðồng Ðế vào sáng ngày 23-7-1960 dưới sự chủ tọa của ông Phụ tá Bộ Trưởng Quốc Phòng và Ðại Tướng TTM Trưởng đại diện cho Tổng Thống VNCH .
Sau khi thực hiện thành công tốt đẹp nhiệm vụ huấn huấn luyện cho khoá 1 Sỉ quan hiện dịch được đánh giá là rất thành công , Quân Trường Ðồng Ðế một lần nữa được giao trách nhiệm tổ chức mở tiếp các khoá 2, 3 và 4 Sỉ Quan hiện dịch trong 3 năm liền 1961, 1962 và 1963 ; mổi khóa với sĩ số trên dưới 500 SVSQ .Riêng khóa 3 và 4 có hơn 100 sinh viên đã tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh được chính phủ gởi ra trường Ðồng Ðế theo học chung với các SVSQ hiện dịch để sau khi mãn khóa Sĩ Quan sẽ được bổ nhiệm giử các chức vụ hành chánh tại các địa phương và trung ương như Quận Trưởng, Phó Tỉnh Trưởng, Chủ Sự, Giám Đốc .v.v. Sau khi chấm dứt việc huấn luyện Sĩ quan hiện dịch vào cuối năm 1963, trường Ðồng Ðế lại tiếp tục gia tăng việc huấn luyện đào tạo Hạ Sĩ Quan cho đến đầu năm 1968 .
3. Giai đoạn đặc biệt khẩn trương
Sau cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân 1968 của Việt cộng, chính phủ VNCH ban hành lệnh tổng động viên đối với các thanh niên trong hạn tuổi thi hành nghỉa vụ quân sự có văn bằng tú tài 1 trở lên, có sức khỏe tốt trình diện nhập ngủ, theo học các khóa Sĩ Quan trừ bị .Trước tình hình khẩn trương của đất nước, Trường Ðồng Ðế được giao trọng trách mở các khóa huấn luyện Sĩ Quan trừ bị song song với Trường Bộ Binh Thủ Ðức . Từ đó cho đến cuối năm 1973, quân trường Ðồng Ðế dồn mọi nỗ lực vào nhiệm vụ liên tục mở ra nhiều khoá đào tạo Sĩ Quan Trừ Bị mỗi năm có từ 4 đến 5 khoá, mỗi khoá có từ 500 đến 1000 SVSQ theo học. Kết quả Trường Ðồng Ðế đã đào tạo thành công cho QLVNCH có thêm trên dưới 12.000 Sĩ Quan trừ bị trong giai đoạn khẩn trương Việt nam hóa chiến tranh .
Trong quá trình 20 năm, quân trường Ðồng Ðế đả được 17 Sĩ Quan cấp Tướng Tá tài ba lỗi lạc, giàu kiến thức quân sự và kinh nghiệm chiến trường chỉ huy hướng dẩn, trước nhất là Thiếu tá Lê Cầm, từ đầu tháng 2-1955, rồi lần lượt tiếp đến :
-Ðại Tá Trần Vĩnh Ðắc
-Ðại Tá Nguyễn Thế Như
-Trung Tá Ðoàn Văn Quảng
-Ðại Tá Ðặng Văn Sơn
-Ðại Tá Ðổ Cao Trí
-Ðạị Tá Nguyễn Văn Kiểm
-Ðại Tá Nguyễn Vỉnh Xuân
-Trung Tá Lê Quang Liêm
-Thiếu Tướng Nguyễn Văn Là
-Ðại Tá Lâm Quang Thơ
-Ðại Tá Phạm Văn Liễu
-Ðại Tá Lê Văn Nhật
-Trung Tướng Linh Quang Viên
-Chuẩn Tướng Vỏ Văn Cảnh
-Trung Tướng Dư Quốc Ðống
-Trung Tướng Phạm Quốc Thuần
Quân trường Ðồng Ðế khởi đầu từ một trường biệt động đội nhỏ bé, sau trở thành một quân trường lớn, một quân Quân trường trường kiểu mẫu, một lò luyện thép của QLVNCH, đa năng, đa nhiệm, có khả năng mở nhiều khóa huấn luyện khác nhau, đảm nhiệm những trách vụ khác nhau, từ huấn luyện biệt động đội, thể dục, võ thuật, cận chiến, bổ túc và đào tạo Hạ Sĩ Quan, huấn luyện căn bản quân sự cho SVSQ Hải và Không Quân, đến đào tạo Sĩ Quan hiện dịch và trừ bị, và đã hoàn thành được nhiệm vụ một cách tốt đẹp. Ðó là nhờ công lao, lòng nhiệt thành cùng tinh thần phục vụ cao của các vị chỉ huy, trong đó đáng kể nhất là Ðại Tá Ðặng Văn Sơn Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ binh được Tổng Thống VNCH bổ nhiệm về chỉ huy quân trường Ðồng Ðế gần cuối năm 1959 với nhiệm vụ đặc biệt là lãnh đạo việc huấn luyện đào tạo Sỉ Quan hiện dịch, kiện tòan hệ thống tổ chức điều hành của trường và chỉnh trang xây dựng mở mang trường ốc .v.v..
Trong 2 năm giử chức vụ Chỉ Huy Trưởng quân trường, với tài lảnh đạo chỉ huy sáng suốt, kiến thức dồi dào cùng với lòng nhiệt thành hăng say phục vụ …,Ðại Tá Sơn đã hoàn thành được trách vụ một cách tốt đẹp do thượng cấp giao phó .
Quân trường Ðồng Ðế có quá trình 20 năm lịch sử hoạt động không ngừng nghỉ gắn liền với chiều dài chiến tranh VN, đã tạo được những thành tích không nhỏ trong nhiệm vụ thực hiện công tác quân huấn, đã chu toàn tốt đẹp các khóa huấn luyện được giao phó. Là một quân trường huấn luyện biệt động quân đầu tiên, và nhất là đã đào tạo được trên 100,000 Hạ Sĩ Quan ưu tú, 1,800 Sĩ Quan hiện dịch, 12,000 Sĩ Quan trừ bị, góp phần không nhỏ vào việc phát triển và nâng cao hiệu năng tác chiến của QLVNCH.
Trong cuộc chiến chống cộng sản xâm lược miền Nam, đã có nhiều chiến binh các cấp từ quân trường Ðồng Ðế khi ra trận địa đã giữ tròn lời thề trung thành với tổ quốc, đã chiến đấu rất kiên cường dũng cảm, đã hy sinh cho lý tưởng tự do, đã nằm xuống vĩnh viễn trong lòng đất mẹ VN như:
-Cố Ðại Tướng Ðỗ Cao Trí, nguyên Chỉ Huy Trưởng Quân Trường Ðồng Ðế, trong các chức vụ tư lệnh chiến trường , nổi danh là một tướng lãnh can trường bất chấp mọi hiểm nguy , luôn luôn có mặt tại mặt trận để chỉ huy điều động các đơn vị dưới quyền chiến đấu …; đã tử nạn trực thăng ngày 23 tháng 2 năm 1971 trong khi bay thị sát chiến trường ngoại biên.
-Cố Ðại Tá Hồ Ngọc Cẩn, xuất thân khóa 2 Sỉ Quan hiện dịch trường Ðồng Ðế .Trong các chức vụ Ðại Đội Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân , Trung Đoàn Trưởng Bộ Binh, ông nổi tiếng là một cấp chỉ huy can đảm, có biệt tài điều quân chiến đấu, nhất là trong trận đánh giải tỏa An Lộc năm 1972 và Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Chương Thiện. Trong biến cố 30-4-1975 ông đã chiến đấu chống quân xâm lược cộng sản đến viên đạn cuối cùng, nhất định không chịu quy hàng địch quân , bị địch bắt được xử bắn tại Cần thơ .
- Cố Ðại Tá Cao Văn Ủy , nguyên Trưởng Khoa Chiến Thuật, cố Ðại Tá Vũ Phi Hùng nguyên Trưởng Khoa Vũ khí trường Ðồng Ðế, sau là 2 kiện Tá Liên Đoàn Trưởng Biệt Ðộng Quân nổi tiếng can đảm, là đối thủ đáng sợ của Sư đoàn Sao Vàng Việt cộng .
-Trung Tá Nguyễn Ðăng Hòa, đồng khóa 2 Sỉ Quan hiện dịch với cố Ðại tá Hồ ngọc Cẩn, tiểu đoàn trưởng Tiểu Ðoàn Quái Ðiểu TQLC, nổi tiếng trong nhiều trận chiến, nhất là trận đánh trực thăng vận đổ xuống ngay trên đầu địch quân để tái chiếm quận Triệu Phong trong “mùa Hè đỏ lửa” năm 1972.
-Trung Tá Lê Quý Dậu, xuất thân khóa 3 Sĩ Quan hiện dịch trường Ðồng Ðế, Liên đoàn Trưởng BÐQ là một cấp chỉ huy kiệt xuất trong nhiều chiến trận, như trận đánh ác liệt tử thủ An Lộc tháng 6-1972 .
-Và nhiều những chiến sỉ khác xuất thân từ trường Ðồng Ðế đả nêu cao gương chiến đấu dũng cảm trước họng súng quân thù, đả hy sinh cho lý tưởng tự do, máu của họ đã đổ xuống trong nhiều trận địa, xương thịt đã vùi sâu trong lòng đất mẹ Việt nam .., nhiều chiến sĩ đả trở thành thương binh, để lại một phần thân thể trong cuộc chiến …và nhiều chiến sĩ đang định cư tại các quốc gia tự do trên thế giới sau những năm bị đoạ đày, lầm than cơ cực trong ngục tù cải tạo của Cộng Sản.
Bất ngờ thế cuộc xoay chiều đổi hướng, đồng minh ngoảnh mặt, Hiệp Ðịnh Paris chấm dứt chiến tranh tái lập hòa bình tại VN bị phản bội .Biến cố bất hạnh 30 Tháng 4 1975 ập đến, Bắc Cộng tràn vào đánh chiếm cả miền Nam, Saigon thất thủ, VNCH sụp đổ, Nha Trang mất, ngôi Trường Ðồng Ðế lọt vào tay kẻ thù, hàng triệu người Bắc Nam suôi ngược tìm đường trốn chạy CS bỏ nước ra đi, hàng triệu người kẻ vượt núi đồi băng rừng đi đường bộ bất kể hiểm nguy, kẻ đổ xô ra biển lênh đênh trên những con thuyền bé nhỏ mong manh đương đầu với sóng xô bảo táp của đại dương mênh mông cùng lủ hải tặc man rợ. Chiến hữu Ðồng Ðế, kẻ mất người còn, kẻ vượt biển, người vượt biên, người bị Cộng quân trả thù, đày đọa trong lao tù tăm tối vô vọng…..
Ngày tháng qua đi, ngờ đâu vận may lại đến, ngọn lửa ngày mai, tương lai, hy vọng lóe lên, chiến dịch nhân đạo (Humanitarian Operations) ra đời từ bàn tay rộng mở của nhân dân và chính phủ Hoa Kỳ sau đó. Những chiến binh Việt Nam Cộng Hòa trong các trại tập trung dưới chế độ Cộng Sản dần dần được can thiệp ra khỏi nhà tù và cùng với gia đình sang định cư nơi Hoa Kỳ hoặc đến các quốc gia tự do khác trên thế giới…
Các cựu chiến binh VNCH có cơ hội gặp lại nhau nơi hải ngoại trong nỗi mừng vui khôn siết.
Sau cơn mưa trời lại tạnh
Qua cơn giông tố mịt mù trời lại sáng
Chiến tranh nào rồi cũng có ngày tàn
Cuộc chiến Việt Nam đã tan
Nhưng tình chiến hữu vẫn thiết tha gắn bó.
Từ tâm nguyện đó cùng với ý chí của anh em tù nhân cải tạo nên đã hình thành được những Hội Ai Hữu các quân binh chủng và các quân trường của QLVNCH ở hải ngoại vào những năm đầu thập niên 90 cho đến nay trong đó có Quân trường Ðồng Ðế Nha Trang.
Hội Ái Hữu Quân Trường Ðồng Ðế Nha Trang khởi điểm là do một số anh em cựu SVSQ khóa 1 cùng tìm đến nhau tại quận Cam, Nam California Hoa Kỳ rồi hình thành ban đại diện khóa vào đầu năm 1997 để lo việc sinh hoạt và tương trợ nhau đồng thời cùng hợp tác với nhau trong việc tìm kiếm, liên lạc nối kết các chiến hữu đồng môn cựu SVSQ các khóa 1, 2, 3, 4 Sĩ Quan hiện dịch, các khóa Sĩ Quan trừ bị cùng các niên trưởng đang định cư tại các tiều bang Hoa Kỳ và các quốc gia khác trên thế giới nhằm mục đích liên kết lại với nhau thành một tập thể có tổ chức để làm sống lại tình Huynh Ðệ Chi Binh và tương thân tương ái trong cuộc sống tị nạn CS tại hải ngoại.
Kết quả đến đầu năm 1998 đã nối kết được gần 200 anh em cựu SVSQ các khóa rồi bầu được ban đại diện khóa, ban đại diện toàn trường để lo chuẩn bị cho ngày họp mặt cựu SVSQ Ðồng Ðế vào giữa năm 1998 để sau đó tiến hành lập Hội Thân Hữu Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Ðồng Ðế Nha Trang.
Ngày họp mặt đầu tiên mang chủ đề “Họp Mặt Tình Nghĩa” được tổ chức vào ngày 26 Tháng 7 năm 1998 tại thành phố Santa Ana quy tụ được 200 anh em cựu SVSQ và gia đình cùng một số niên trưởng và thân hữu nhằm mục đích :
-Nối lại sợi dây thân ái, tình chiến hữu huynh đệ, tình đồng khóa, đồng trường .
-Thảo luận việc thành lập Hội thân Hữu cựu SVSQ Ðồng Ðế Nha Trang .
-Bầu Ban Tổ Chức Ðại hội và soạn thảo bản Nội quy Hội Thân Hữu .
Sau 5 tháng tiến hành, bản dự thảo nội quy của Hội thân hữu cựu SVSQ Ðồng Ðế hoàn thành vào năm 1999 và tiếp theo đó là Ðại hội Tình Nghỉa cựu SVSQ Ðồng Ðế Nha Trang khai diễn ngày chủ nhật 5-9-1999 cũng tại thành phố Santa Ana, miền Nam California với sự tham dự của hơn 300 cựu SVSQ và gia đình, cùng hơn 40 Niên Trưởng, Quan Khách và thân hửu đến dự từ một số tiểu bang ở Hoa kỳ, Canada, Úc Đại Lợi …, trong số nầy có cựu cố vấn trưởng của trường Ðồng Ðế là Ðại Tá Lewis Millett cùng một số phái đoàn cựu Chiến Sĩ Đại diện các Hội Ái Hửu Quân Binh Chủng tại địa phương dưới sự chủ tọa danh dự của Cựu Ðại Tá Phạm Văn Sơn, cựu Chỉ Huy Trưởng Ðồng Ðế trong những năm đầu của thập niên 60.
Mục đích của đại hội là gắn kết, phát huy tình chiến hữu huynh đệ và tương thân tương ái giữa các các cựu chiến sĩ đã một thời thụ huấn tại trường Ðồng Ðế Nha Trang, thông qua nội quy của hội, thực hiện Ðặc san làm tiếng nói của hội và bầu các phần hành điều hành hội trong nhiệm kỳ 3 (1999-2002).
Nội quy của cựu SVSQ Ðồng Ðế gồm 8 Chương và 22 điều khoản với tôn chỉ là :
“Làm mục đích kết hợp tất cả các chiến hữu không phân biệt cấp bực, đả từng thụ huấn tại Quân trường Ðồng Ðế Nha Trang thành một tập thể nhằm duy trì, phát huy tình chiến hửu, tình đồng khóa đồng trường để tương thân tương ái, chung vui sẻ buồn trong cuộc sống tha hương nơi hải ngoại”.
Ban chấp hành và Ban Giám sát do đại hội bầu ra gồm các cựu SVSQ các khóa 1,2 ,3 hiện dịch và các khóa trừ bị .
Sau 3 năm tích cực hoạt động, Ban chấp hành, Ban Giám sát nhiệm kỳ 1 mãn nhiệm . Ðại hội Tình Nghỉa cựu SVSQ kỳ V được tổ chức ngày 25-8-2005 tại thành phố Westminster, miền Nam California với mục đích thảo luận và biểu quyết việc mở rộng Hội Thân Hữu cựu SVSQ thành Hội Ái Hữu Quân Trường Ðồng Ðế Nha Trang cho phù hợp với tình hình thực tế và mời gọi tất cả các chiến hữu không phân biệt cấp bực, đã từng một thời phục vụ hoặc thụ huấn tại Trưòng Ðồng Ðế tham gia vào hội, bầu Ban chấp hành, Ban Giám sát cho nhiệm kỳ 2002-2005 . Ðặc biệt các thành viên trong ban chấp hành của hội bầu ra đều là những đồng môn trẻ hay trung niên thuộc các khoá Sĩ Quan trừ bị, thay thế cho lớp đàn anh các khóa hiện dịch hiện nay đều đả cao niên .
Vào cuối tháng 8-2005, Ban chấp hành và Ban Giám sát nhiệm kỳ 2 chấm dứt nhiệm vụ . Ðể mọi sinh hoạt của hội không gián đoạn, Ðại Hội Tình nghỉa Quân Trường Ðồng Ðế Nha Trang kỳ thứ VIII được tổ chứ ngày 4-9-2005 tại thành phố Santa Ana, quận Cam để bầu Ban chấp hành và Giám sát mới cho nhiệm kỳ 2005-2008 ,tu chỉnh Nội Quy và ấn định thể thức bầu ban cố vấn của hội .Kết quả tất cả 6 thành viên trong ban chấp hành nhiệm kỳ mới đều là các cựu SVSQ trừ bị. Riêng ban Cố Vấn , đại hội đồng thuận để ban chấp hành mời một số quý Niên Trưởng và Huynh Trưởng . Ðại Hội củng tán thành tu chính một số điều khoản trong Bản Nội Quy của hội, đặc biệt chú trọng đến điều khoản tương trợ hội viên bị bệnh hoạn, gặp hoàn cảnh khó khăn, tích cực giúp đở các chiến hửu, các thương binh, gia đình cô nhi quả phụ thuộc Trường Ðồng Ðế xưa mà ngày nay đang sống cơ cực lầm than nơi quê nhà.
Hội Ái Hữu Quân Trường Ðồng Ðế NhaTrang từ ngày thành lập cho đến nay và trong quá trình 9 năm hoạt động đã tổ chức được một ngày họp mặt toàn trường, 7 đại hội thưòng niên, tất cả đều mang chung chủ đề là:” Ðại hội Tình Nghỉa” và mỗi năm lại tổ chức họp mặt tất niên hoặc tân niên một lần . Ðường hướng sinh hoạt chung của hội đều theo đúng tôn chỉ, mục đích đả đề ra ngay từ ngày hội mới thành lập, đó là:
“Lấy tình nghĩa huynh đệ chi binh và lý tưởng tự do làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động .Nối kết tất cả các chiến hữu không phân biệt cấp bực đã một thời phục vụ hay thụ huấn tại Trường Ðồng Ðế Nha Trang thành một tập thể có tổ chức, nhằm duy trì phát huy tình huynh đệ đồng môn đồng trường để tương thân tương ái, chung vui sẻ buồn với nhau trong cuộc sống tha hương nơi hải ngoại “
Ngày nay anh em cựu chiến binh HộI Ái Hửu Quân Trường Ðồng Ðế Nha Trang dù ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào củng đều ý thức được rằng:
Cuộc chiến đả tàn, nhưng tình chiến hữu vẫn thiết tha gắn bó ..
Và luôn luôn hướng về quê hương đất nước, nhớ về nơi quân trường củ, chiến trường xưa …
NHẬP CUỘC Rồi cũng xong những nắng mưa gian khổ Đã xa rồi thời ứng chiến, gát đêm Ngày mai rực ánh hồng trên quang lộ Vung gươm thiêng, khua ánh thép vang rền.
Mang hào khí của bao đời lịch sử Súng trên tay nhập cuộc với binh đao Bạn và tôi theo gương của anh hào Mang tuổi trẻ dấn thân vì sông núi.
Bước giang hồ sá gì thân gió bụi Gánh quê hương chia xẻ với Cha, Anh Dường như có tiếng Người xưa vang vọng Gọi Ta đi theo từng bước quân hành.
Rồi cũng đến lúc lìa xa Trường Mẹ Bạn và Tôi dong ruổi bốn phương trời Thanh kiếm bạc vẻ trang đời Bạn nhé Cho vầng dương muôn thuở rạng trùng khơi.
Chào Đồng Đế, Nha Trang. Ta nhập cuộc! Chào đêm mưa, sương muối, nắng quân trường. Bạn cùng tôi lên đường vì đất nước Mang hùng tâm tuổi trẻ đến biên cương.
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc gia Việt Nam tự do từ Nam ra Bắc có từ ngày 5 tháng 6 năm 1948, sau khi Hoàng Đế Bảo Đại ký Hiệp Ước Vịnh Hạ Long với Pháp. (3) (Xin chú ý: Trên bản đồ, hình lá cờ vàng ba sọc đỏ được dùng trên toàn nước Việt Nam)
SƠ LƯỢC VỀ LỊCH SỬ QUỐC KỲ VIỆT NAM TỰ DO Phạm Văn Thanh
I. Ý NIỆM VỀ QUỐC KỲ
Trước cuộc Cách Mạng Pháp năm 1789, đa số các quốc gia trên thế giới đều theo chế độ quân chủ hoặc là quân chủ chuyên chế do một nhà Vua nắm quyền hay quân chủ phong kiến do nhà Vua cùng nhóm quý tộc nắm quyền cai quản quốc gia và sở hữu chủ lãnh địa. Năm 1793 sau cuộc cách mạng, Quốc Ước Hội Nghị Pháp đã chọn cờ tam tài làm quốc kỳ của nước Pháp. Quốc kỳ Pháp có 3 màu: xanh tiêu biểu cho Tự Do (Liberté), trắng tiêu biểu cho Bình Đẳng (Egalité) và màu đỏ tiêu biểu cho Bác Ái (Fraternité).
Quốc kỳ tam tài của Pháp mang đầy đủ ý nghĩa tượng trưng cho những giá trị Tự Do, Bình Đẳng và Bác Ái rất phù hợp với lý tưởng chung của nhân loại nên về sau, nhiều quốc gia theo thể chế tự do, dân chủ trọng nhân quyền khác đã chấp nhận các màu sắc xanh, đỏ, trắng làm màu sắc căn bản cho quốc kỳ của mình trong đó có nước Anh, Hoa Kỳ, v.v.
II. LỊCH SỬ CÁC LÁ QUỐC KỲ TỰ DO TẠI VIỆT NAM
Từ thời quân chủ xa xưa, người Việt đã dùng cờ làm biểu tượng cho những nhân vật quan trọng như viên đại tướng, nhà Vua hoặc tiêu biểu cho một triều đại. Ví dụ, hiệu kỳ của một viên đại tướng thường dùng cờ theo màu Ngũ Hành hợp với mạng của vị tướng đó: vị tướng thuộc mạng Kim dùng cờ màu trắng, Mộc dùng màu xanh, Thủy dùng màu đen, Hỏa dùng màu đỏ và mạng Thổ dùng cờ màu vàng. Mỗi triều đại cũng tự chọn lá cờ có hình thức và màu sắc kết hợp cách riêng theo thuyết vận hành Âm Dương thế nào để tượng trưng cho sự hưng thịnh nhất của triều đại đó như triều Lý chọn cờ viền màu ngũ hành có chữ Lý ở giữa, triều Nguyễn chọn màu vàng của hoàng tộc. Cũng vậy, lá cờ biểu tượng cho vị quân vương thường có thêu hình rồng ở chính giữa, tụy nhiên dù lá cờ biểu tượng cho nhà Vua, hoặc cho một triều đại cũng chỉ tượng trưng cho hoàng gia mà thôi và thường treo tại hoàng thành hoặc chỗ nào có nhà Vua ngự đến mà không phải là lá quốc kỳ tiêu biểu tổng quát cho một quốc gia gồm cả chính quyền, lãnh thổ và nhân dân trong đó như quốc kỳ Pháp.
Quốc kỳ triều Lý
1. Cờ Long Tinh Sau Thế Chiến Thứ II, Hoàng Đế Bảo Đại ấn định quốc kỳ đầu tiên của nước Việt Nam gọi là cờ Long Tinh gồm nền vàng với một sọc đỏ nằm ngang bằng 1/3 chiều rộng lá cờ. Cờ Long Tinh được dùng trên toàn cõi Bắc Kỳ và Trung Kỳ do Triều Đình Huế cai quản. Trong khi đó, Nam Kỳ đã bị Pháp chiếm làm nước thuộc địa nên treo cờ tam tài của mẫu quốc Pháp.
Cờ Long Tinh
Cờ Long Tinh có từ ngày 11 tháng 3 năm 1945 (1)
2. Cờ Quẻ Ly Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chánh Pháp tại Đông Dương và lên tiếng trao trả độc lập lại cho Việt Nam. Hai ngày sau, Hoàng Đế Bảo Đại tuyên bố Việt Nam đôc lập và giao cho học giả Trần Trọng Kim lập nội các ngày 17 tháng 4. Ngày 2 tháng 6, Chính Phủ Trần Trọng Kim chọn cờ vàng chính giữa có một quẻ Ly của Bát Quái Đồ gồm 2 vạch liền hai bên và một vạch đứt khúc ở giữa làm quốc kỳ cho toàn nước Việt Nam gọi là cờ Quẻ Ly. Tuy nhiên, Nhật hoãn trả Nam Kỳ lại cho Triều Đình Huế mãi đến ngày 14 tháng 8, năm 1945 chỉ 4 ngày trước khi Nhật đầu hàng Đồng Minh và 10 ngày trước khi Hoàng Đế Bảo Đại thoái vị nên trên thực tế, Nam Kỳ chưa từng treo quốc kỳ Quẻ Ly.
Cờ Quẻ Ly
3. Cờ Quẻ Càn Sau Thế Chiến Thứ II, quân Trung Hoa sang giải giáp quân Nhật tại miền Bắc, ủng hộ các đảng phái quốc gia hòa giải với Việt Minh để lập nên Chính Phủ Liên Hiệp qua Hiệp Định Sơ Bộ ký ngày 6 tháng 3 năm 1946. Phần vì không đồng ý với tinh thần bản Hiệp Định Sơ Bộ và phần khác vì Việt Minh ra tay tiêu diệt các đảng phái quốc gia, cụ Nguyễn Hải Thần, ông Nguyễn Tường Tam phải rút sang Tàu. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, các đảng phái quốc gia họp tại Hồng Kông lập nên Mặt Trận Quốc Gia, mời Hoàng Đế Bảo Đại chấp chính trở lại. Hoàng Đế Bảo Đại sai nối vạch đứt khúc ở giữa cờ Quẻ Ly làm thành cờ Quẻ Càn, quẻ thứ nhất trong Bát Quái Đồ. Quẻ Càn tượng trưng cho Trời, nhà Vua và quyền lực, ứng với quốc gia, dân tộc và sức mạnh của dân Việt. Kể từ lúc này, trên nguyên tắc, cờ Quẻ Càn là quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập tự do.
Cờ Quẻ Càn (Phần II: Sơ Lược Về Lịch Sử Quốc Kỳ Việt Nam Tự Do)
4. Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Không thể thỏa hiệp được với Việt Minh, vào tháng 9 năm 1947, Pháp quay sang thương nghị chính thức trao trả độc lập cho Việt Nam với Hoàng Đế Bảo Đại qua Hiệp Ước Vịnh Hạ Long ký kết ngày 5 tháng 6 năm 1948. Hoàng Đế Bảo Đại chọn mẫu cờ vàng ba sọc đỏ của Họa Sĩ Lê Văn Đệ vẽ (nối dài 3 vạch đỏ của cờ Quẻ Càn) làm quốc kỳ cho quốc gia Việt Nam độc lập và giao cho Thiếu Tướng Nguyễn Văn Xuân lập chính phủ lâm thời ngày 1 tháng 6 năm 1948 tại Sài Gòn. Hôm sau, Thủ Tướng Nguyễn Văn Xuân ký pháp lệnh ban hành quốc kỳ và quốc ca. Quốc Kỳ của nước Việt Nam nền vàng, ba sọc đỏ ở giữa. Quốc Ca là bài “Tiếng Gọi Sinh Viên” sau đổi thành “Tiếng Gọi Thanh Niên”của Lưu Hữu Phước. Lá quốc kỳ nền vàng ba sọc đỏ đã chính thức là quốc kỳ của nước Việt Nam độc lập, tự do kể từ thời đó đến khi đất nước chia đôi năm 1954, nối tiếp qua các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa miền Nam cho đến cuối tháng 4 năm 1975. Sau năm 1975, gần 3 triệu người Việt chối bỏ chế độ CS đã di tản ra hải ngoại và định cư khắp nơi trên thế giới và những cộng đồng người Việt yêu tự do này vẫn nhất quyết dùng lá cờ vàng ba sọc đỏ làm biểu tượng của họ.
Quốc kỳ Việt Nam độc lập từ Nam ra Bắc do Hoàng Đế Bảo Đại chọn năm 1948
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc gia Việt Nam độc lập, tự do từ Nam ra Bắc, có từ ngày 5 tháng 6 năm 1948 (2)
Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ là cờ của quốc gia Việt Nam tự do từ Nam ra Bắc có từ ngày 5 tháng 6 năm 1948, sau khi Hoàng Đế Bảo Đại ký Hiệp Ước Vịnh Hạ Long với Pháp. (3) (Xin chú ý: Trên bản đồ, hình lá cờ vàng ba sọc đỏ được dùng trên toàn nước Việt Nam)
III. Ý NGHĨA LÁ QUỐC KỲ VÀNG BA SỌC ĐỎ
1. Về Phương Diện Màu Sắc Không những màu vàng và đỏ tượng trưng cho dân Việt da vàng máu đỏ mà màu quốc kỳ Việt Nam còn mang ý nghĩa sâu sắc hơn nhiều, liên hệ đến nhân-sinh-quan cùng vũ-trụ-quan của dân Việt. Nói chung, màu vàng thuộc hành Thổ (trong ngũ hành) nằm tại trung ương, vì thế màu vàng tượng trưng cho lãnh thổ và cho uy quyền sở-hữu-chủ của lãnh thổ này. Màu đỏ thuộc hành Hỏa và nằm ở hướng Nam; do đó, màu đỏ chỉ dân tộc Việt ở phương Nam so với Trung Hoa.
2. Về Phương Diện Chính Trị Nền vàng của lá quốc kỳ chỉ quốc gia và dân tộc Việt Nam và ba sọc đỏ tượng trưng cho ba kỳ. Quốc kỳ vàng mang hai ý nghĩa quan trọng: thứ nhất, tiêu biểu cho chế độ tự do, dân chủ tại Việt Nam; thứ hai, tiêu biểu cho một quốc gia thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, có chính quyền lãnh đạo nhân dân trong lãnh thổ đó và nhân dân gồm tất cả 3 kỳ: Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ. Do đó, nước Việt không thể bị phân chia như thời Trịnh Nguyễn phân tranh, cắt nhượng cho bất cứ ngoại bang nào như Pháp đã chia Nam Kỳ thành một nước khác biệt với Bắc và Trung Kỳ.
3. Về Phương Diện Triết Lý Tương tự như quan niệm về vũ trụ gồm Trời ở trên, Đất ở dưới và Người ở giữa mà tất cả hợp với nhau biến thái, chuyển dịch thành lẽ biến dịch của vạn vật trong vũ trụ, lá Quốc Kỳ Việt Nam chính thống cũng được chọn thế nào để phù hợp hài hòa với lẽ biến dịch này. Màu vàng thuộc hành Thổ, màu đỏ thuộc hành Hỏa và vận chuyển theo Ngũ Hành Tương Sinh thì Hỏa sinh Thổ nên thuận hợp với nhau. Như vậy, kết hợp hai màu vàng và đỏ làm thành quốc kỳ, chúng ta nhấn mạnh cho Trung Quốc biết rằng dân Việt ở phương Nam là một dân tộc có lãnh thổ riêng và chủ quyền hoàn toàn trên đất nước ta như ý nghĩa bài thơ Phạt Tống Lộ Bố Văn của Lý Thường Kiệt (4) và bản Bình Ngô Đại Cáo (5) mà Nguyễn Trãi đã khẳng định.
IV. KẾT LUẬN
Quốc kỳ vàng ba sọc đỏ đã từng được dùng làm biểu tượng chính thức cho một Quốc Gia Việt Nam chưa bị phân chia trước năm 1954; nên chi, quốc kỳ vàng sẽ vẫn là biểu tượng chung của những người Việt quốc gia chân chính. Quốc kỳ vàng mang linh hồn của dân tộc Việt cùng tiêu biểu cho tinh thần bất khuất của dân Việt trong suốt chiều dài lịch sử thăng trầm từ thuở khai quốc đến nay. Quốc kỳ vàng đượm thắm máu đào của bao tiền nhân và anh hùng liệt sĩ đã hi sinh xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, không phân biệt người dân sống dưới thể chế chính trị Quốc Gia hay Cộng Sản, sắc tộc Kinh hay Thượng, hoặc tôn giáo, phái tính, tuổi tác nào. Vì thế, người Việt quốc gia có bổn phận phải bảo vệ và phát huy chính nghĩa quốc gia tượng trưng bởi lá quốc kỳ chính thống nền vàng ba sọc đỏ, lá cờ tiêu biểu cho tự do, công bằng và bác ái của truyền thống dân Việt.
Phạm Văn Thanh
Chú Thích:
(1), (2) và (3) Éric Deroo & Pierre Vallaud, “Indochine Francaise 1856- 1956 Guerres, Mythes et Passions” Perrin, Paris, France, 2003.
(4) Nam Quốc sơn hà Nam Đế cư Tiệt nhiên định phận tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư (Lý Thường Kiệt)
Nước Nam là của dân Nam Thiên thư phân định giang san rõ ràng Nghịch quân xâm lấn tham tàn Tất là nuốt nhục chuốc vàn bại vong (Phạm Văn Thanh dịch)
(5) “...Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu; Sơn hà cương vực đã chia, phong tục Bắc Nam cũng khác. Từ Đinh, Lê, Lý, Trần gây nền độc lập; Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương. Dẫu cường nhược có lúc khác nhau, Song hào kiệt đời nào cũng có...” (Bình Ngô Đại Cáo, Bùi Kỷ dịch)
Torrance Celebration Posted by Warren Enos on 10 Apr 2008 | Tagged as: So. Calif. Related Events
49TH ANNUAL ARMED FORCES DAY CELEBRATION ON MAY 16-18
Torrance, Calif., April 7, 2008 - The City of Torrance continues its long-standing tradition on May 17, 2008 as it hosts its 49th Annual Armed Forces Day Celebration and Parade. The City, one of few cites designated by the Department of Defense, will once again honor the men and women of our nation’s military with a three-day celebration beginning on Friday, May 16 continuing through Sunday, May 18 with the Parade highlight on Saturday, May 17 that will begin at 1:30 p.m. During this weekend, the following events that will occur in the City:
Military Exhibits: Military exhibits on display, including aircrafts, vehicles, support equipment at the Del Amo Fashion Center parking lot between Acapulco & Macy’s (previously Robinson’s May) on May 16 & 17 from 10:00 a.m. to 6:00 p.m. and on May 18 from 11:00 a.m. to 3:00 p.m. Sunday.
Free Concert: The United States Marine Corps 1st Marine Division Band will perform for free at the James Armstrong Theatre on May 16 at 1:30 p.m. and 7:30 p.m.
Parade: 49th Annual Armed Forces Day Parade will run along Torrance Boulevard from downtown Torrance and end at the City Hall on May 17 at 1:30 p.m.
This year’s Grand Marshal, Major General Michael R. Lehnert of the United States Marine Corps, will lead the parade of over 50 entries from active, Guard and reserve military units from the five branches of the Armed Forces. The parade will also include flyovers by military aircraft and will have military vehicles of all descriptions; Humvees, armored personnel carriers, support vehicles and main battle tanks will also rumble down the streets of Torrance. Additionally, military and elected dignitaries will honor the hundreds of military service men and women as they pass in review.
This year, the United States Army Reserve is also celebrating its 100th Anniversary and the United States Navy is marking the 100th Anniversary of the Great White Fleet, bringing more historic significance to this event and more reason to celebrate.
The community is invited to gather along the parade route and cheer for our sons, daughters, friends, husbands and wives who have been called to duty in defense of our nation’s beliefs and principles and to secure a more peaceful world.
Tiếng động cơ trực thăng vang dội khắp bầu trơì, hòa lẫn với tiếng động cơ cuả Quân Xa , tiếng hò reo, vổ tay Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ vẫn đều bước. Hàng ngàn người đã chờ sẳn hai bên đường nhiều giờ trước của một ngày trời thật trong để chào đón ngày quân lực Hoa Kỳ , những Chiến Sĩ Hoa Kỳ đủ mọi binh chủng trở về từ những chiến trường đẩm máu khốc liệt nhất hiện nay Chiến trường Iraq, A Phú Hản và những nơi biến động nhất trên thế giới, tất cả đều ngạc nhiên khi thấy lại những bộ quân phục của vài chục năm về trước một thời chiến tranh thật khốc liệt đã đi qua Chiến Tranh Việt Nam. Lần đầu tiên toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tham dự Ngày Quân Lực Hoa Kỳ.
Truyền thống của thành phố Torrance miền nam California từ năm 1949 cho đến nay họ đã tổ chức 49 lần Diễn Hành chỉ một khác biệt duy nhất là sự xuất hiện của Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa lá cờ vàng ba sọc đỏ , trên lộ trình Đại Lộ Torrance với những hàng cây cao vút . ngoài những người tham dự vổ tay thật lớn và những cánh tay dài vươn ra vẫy tay Toán Quốc Quân Kỳ VNCH, những cựu quân nhân Hoa Kỳ từng tham chiến tại Viêt Nam đứng nghiêm chỉnh chào đón, nhưng trân trọng nhất là những quân nhân Hoa Kỳ tại ngủ từng nhóm một đứng nghiêm chỉnh chào tay cho đến khi nào Toán Quân Kỳ VNCH đi qua họ mới đem tay xuống, tiếng hò reo hai bên đường vẫn tiếp tục không ngừng khi thấy lại những quân xa và những quân nhân từng tham dự trong Chiến Tranh Việt Nam .
Chiếc Trực thăng sau một hồi bay lượn rồi bổng dừng lại một cánh tay thò ra vẫy tay đoàn diễn hành trong những sự kiện xảy ra thật nhanh và nhanh hơn nửa vì đây là lần đầu tiên cho tất cả Cựu Quân Nhân VNCH Tham Dự Diễn Hành, cuộc chiến đã đi qua hơn 33 năm có lẽ đây là lần đầu tiên họ thấy quá nhiều binh sỉ, quân xa, và những sinh hoạt của Quân Đội một phút giây nào đó thóang qua những hình ảnh Chiến Tranh Việt Nam bổng nhiên lại trở về trong giây phút thật hân hoan và phấn khởi.
Rồi Toán Quốc Quân Kỳ tiếp tục đều bưóc một hai ba bốn, trên khán đài chính hàng chục Tướng Lãnh Hoa Kỳ đã đứng Ngiêm Chỉnh Chào Tay, hàng trăm Sỉ Quan Cao Cấp khác đại diện mọi binh chủng trong quân lực Hoa Kỳ củng nghiêm Chỉnh Chào Đón Tóan Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Trên những loa phóng thanh giọng trầm ấm của người xướng ngôn viên vang lên " Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa tham dự diễn hành hôm nay thuộc mọi Quân Binh Chủng của QLVNCH
họ thay mặt cho hơn 350,000 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa , hơn 58 ngàn quân nhân Hoa Kỳ và hơn 6000 quân nhân đồng minh đã nằm xuống trên chiến trường Viêt Nam sự hiện diện của họ nhắc nhở chúng ta đừng quên hàng ngàn quân nhân mất tích trong chiến tranh Việt Nam vẫn chưa tìm kiếm được , Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Hoa Kỳ nhắc nhở đến nhiều thế hệ mai sau lòng biết ơn và tri ân đến những anh hùng quên thân mình đem máu xương đổi lấy Tự Do và An Bình cho nhân loại " giọng nói trầm và âm thanh ghi xâu đậm mãi trong lòng những người tham dự.
Những Quân Nhân Hoa Kỳ với những hình lưu niệm chụp cùng Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, Cựu Quân Nhân Hoa Kỳ Tham Chiến trong chiến tranh Việt Nam mừng rỡ khi thấy những bộ quân phục trong Chiến Tranh Việt Nam gặp lại những Chiến hữu từng một thời chiến đấu bên nhau kể lại những địa danh đẩm máu đã đi qua trên đất nước Việt Nam trong binh lữa và nhất là Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa , lá cờ vàng ba sọc đỏ vẫn tung bay ngạo nghễ trong vòm trời tự do. Thách đố cho sự bền vững dài lâu, cho nhân tâm đạo lý, cho no ấm an sinh và trường tồn của chính nhân và đại nghĩa.
Torrance Parade May 17, 2008 Contact Person Monty Hom 10:00 AM at Monty Resident cell phone 310-373-0856 home phone 310-567-5782 10:30 AM Dino Restaurant 1975 Torrance, CA 90504 310-320-6902 11:30 AM Registration Corner Crenshaw/Torrance Blvd 12:00 PM Line up for parade on TORRANCE BLVD /between Crenshaw/Vanness Blvd we are registered in PROLOGUE VETERAN REPUBLIC OF VIETNAM ARMED FORCES ASSOCIATION COLOR GUARD MARCHING GROUP AND MILITARY VEHICLE 13:30 PARADE after the parade we will meet at Refreshment Center behind the Torrance Library The Military display will be at the corner CARSON and MADRONA at the MALL parking lot . Cell phone contact : Monte Hom 310-373-0856, Hoa Pham 310-245-2284, Anthony Dung 310-951-7324, Minh Duc Ho Navy 714-234-4508, Nguyen Phuong Hung 714-469-0462 Hai Vu Airborne 714-414-6133, Toa`n Dong De 714-837-2807, Quang 909-380-2896, Charlie Thao Vu 714-383-2442 Thieu 714-265-1529 Montgomery Hom 310-567-5782
Bring Hat and Water due to the HOT HOT HOT day Information for Parking
DISPERSAL AREA: MADRONA AT TORRANCE BLVD: All entries are to turn in their line-of-march number identifier to uniformed personnel at this point. Vehicles that are Parade entries, except those returning to the Exhibit Area, will disperse north on Madrona Ave. Parade participants are invited to visit the Recreation Center for refreshments upon finishing the parade route. Civilian parade participants may park in the designated lot north of the northwest corner of Civic Center Dr. at Maple Ave, if so desired, by driving north on Madrona, making a right turn to eastbound Del Amo, following Del Amo as it curves southward and becomes Maple Ave., then south to the parking area.
Units or equipment returning to the Exhibit Area will be directed to turn left at the corner of Torrance Blvd. and Madrona Ave. and then be escorted back to their position at the static display area. Turn in your line-of-march identifier before returning to the exhibit area.
GRAND MARSHAL The Grand Marshal will be located in the center of the Reviewing Stands. Salutes should be rendered in front of the Grand Marshal.
Ngày thứ bảy 17 tháng 5 năm 2008 Thành Phố Torrance Tiểu Bang California sẻ Tổ Chức Diễn Hành Chào Mừng ngày Quân Lực Hoa kỳ truyền thống của thành phố từ năm 1949 cho đến nay đã 49 lần
Sau nhiều năm chờ đợi ghi danh Toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa vơí Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ Việt Nam Cộng Hòa lại được tung bay trên nền trời của những người yêu chuộng Tự Do và Hòa Bình của nhân loại , sánh bước cùng với các Chiến Binh Hoa Kỳ hiện đang tham chiến trên các Chiến Trường Iraq, A Phú Hãn đem máu xương mình để bảo tồn truyển thống hào hung bất khuất cũng như hơn 350,000 Chiến Sĩ và hàng triệu đồng bào của Việt Nam Cộng Hòa đã Hy Sinh trong cùng một chí hướng.
Sự hiện diện của toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa là một niềm Vinh Dự chung cũng bày tỏ lòng tri ân đến những Chiến Sĩ anh hùng đã đem máu xương mình để đánh đổi an bình và tự do cho nhân loại .
Toán Quốc Quân Kỳ với sự tham dự của các Cựu Quân Nhân gồm các đơn vị Biệt Động Quân, Nha Kỹ Thuật , Quân Trường Đồng Đế, Biệt Cách Dù , Chủ Lực Quân, Hải Quân, Nhảy Dù và Thế hệ 2 Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Chúng tôi mong có sự hiện diện của tất cả các đơn vị của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa .
Khi qua Khán Đài Danh Dự toán Quốc Quân Kỳ Việt Nam Cộng Hòa sẽ được xướng danh : " The Color Guard of the Republic of Vietnam Armed Forces Veterans Association represents all Republic of Vietnam Armed Forces participating in the Vietnam War. More than 350,000 Republic of Vietnam soldiers sacrificed their lives together with 58,256 U.S. soldiers and over 6000 soldiers of allied forces in the Vietnam War. And thousands soldiers missing in action are still unaccounted for. The Color Guard represents and honors all the soldiers who sacrificed their lives for the cause of freedom . The Group have participated in many of the parades and community services to help their Veterans"
Mong được sự phổ biến, cổ động và tham dự của tất cả quý vị hẹn gặp lại trong ngày Diễn Hành Truyền Thống của Quân Lực Hoa Kỳ.
The Color Guard of the Republic of Vietnam Armed Forces Veterans Association represents for all Republic of Vietnam Armed Forces participated in the Vietnam War more than 350,000 Republic of Vietnam soldiers scarified their life with 58,256 U.S. soldiers and over 6000 allied forces died in the Vietnam War. And thousand of the soldiers missing in action still uncounted for. The Color Guard represent and honor all the soldiers sacrificed their life for the cause of freedom. The Group had been participated many of the parades and community services to help their Veterans"
We are pleased to include you in the 49th Annual Armed Forces Day Parade, and look forward to your participation on Saturday, May 17, 2008.
Please note the following reminders and guidelines for this year’s Parade:
1. The starting time for the Parade is 1:30 p.m.
2. The parade route is Torrance Blvd., starting at Crenshaw Blvd. and ending at Madrona Ave.
3. This directive will assist you in arriving at the correct location at the appropriate time. Please pay particular attention to your arrival time.
4. This Parade has been structured as Prologue, Division I, Division II, and Division III.
5. Participation trophies will be given to all units involved in the parade upon check in at designated area. No awards will be distributed for performance.
6. No hydraulic equipped personal vehicle(s) will be allowed on the parade route
7. No items shall be thrown or given out along the parade route. This includes, but is not limited to; candy, flags, posters, etc.
8. The Event and Parade Directors will identify parade participants who do not follow the parade directives, and their participation in future events may be jeopardized.
9. Civilian Parade entrants will be limited to five (5) vehicles.
PARADE SCHEDULE
PARADE START TIME - 1330 HOURS A. PROLOGUE - Arrive at Marshaling Area no later than 1200 hours B. DIVISION I - Arrive at Marshaling Area no later than 1215 hours C. DIVISION II - Arrive at Marshaling Area no later than 1230 hours D. DIVISION III - Arrive at Marshaling Area no later than 1245 hours ACCESS ROUTE TO MARSHALING AREAS* In order to ensure maximum control and uninterrupted movement of vehicles along access routes to the Marshaling Area, please adhere to routes shown on the attached map. It is recommended that all units arrive via the 405 Freeway, using the Western Avenue exit; travel southbound Western Avenue to the following:
Prologue units are to take Western Ave. southbound to Del Amo Blvd, turn right to travel westbound to Van Ness Ave., turn left and travel southbound to Torrance Blvd., turn right and travel westbound to the Marshaling Area at Torrance Blvd east of Crenshaw Blvd.
Division I units are to take Western Ave. southbound to Del Amo Blvd, turn right to travel westbound to Van Ness Ave., turn left and travel southbound to Torrance Blvd., turn right and travel westbound to the Marshaling Area at Torrance Blvd and Amapola Ave.
Division II units are to take Western Ave. southbound to Del Amo Blvd, turn right to travel westbound to Van Ness Ave., turn left and travel southbound to Torrance Blvd., turn right and travel westbound to the Marshaling Area at Torrance Blvd and Arlington Ave.
Division III units are to take Western Ave. southbound to Del Amo Blvd, turn right to travel westbound to Van Ness Ave., turn left and travel southbound across Torrance Blvd., continue on Cabrillo to Cravens, turn right and travel to the Marshaling Area at Cravens Ave. and Engracia Ave. *NOTE TO MILITARY PARTICIPANTS: THOSE ATTENDING THE BBQ AT EL PRADO PARK SHOULD REFER TO THE INFORMATION FLYER INCLUDED IN YOUR DIRECTIVE.
MARSHALING AREA and CHECK-IN Upon reaching the appropriate marshaling location (each one is identified by an easy-up and corresponding sign) according to your assigned division, you or your unit’s representative will check-in with a police department representative at which time you will receive your line-of-march number identifier and your participation trophy. A Parade representative will assist you in proceeding to your assigned place in the parade line-of-march.
All transportation vehicles will then proceed to the Dispersal Parking Area on Maple Ave. north of Civic Center Dr. Bus drivers should contact a police officer stationed on Maple Ave. at Civic Center Dr. for direction to the bus parking area. All other vehicles will park in the designated (signed) lot at the northwest corner of Maple Ave. at Civic Center Dr. To reach the parking area, drive west on Carson St. to Hawthorne Blvd., turn right (north), then proceed to Del Amo Blvd., turn right (east). Continue eastbound on Del Amo through Madrona Ave., and follow the roadway as it curves southward and becomes Maple Ave. Continue on Maple Ave. to the parking area.
PROLOGUE: check-in location is Torrance Blvd. immediately east of Crenshaw Blvd. DIVISION I: check-in location is Torrance Blvd. at Amapola Ave. DIVISION II: check-in location is Torrance Blvd. at Arlington Ave. DIVISION III: check-in location is Cravens Ave. at Engracia Ave.
Please note your Division check-in location as shown on the map. March formation and distances between units will be established at Crenshaw Blvd. Parade officials will be located in each Division Area and at the starting point to assist you. Please follow their instructions.
DISPERSAL AREA: MADRONA AT TORRANCE BLVD: All entries are to turn in their line-of-march number identifier to uniformed personnel at this point. Vehicles that are Parade entries, except those returning to the Exhibit Area, will disperse north on Madrona Ave. Parade participants are invited to visit the Recreation Center for refreshments upon finishing the parade route. Civilian parade participants may park in the designated lot north of the northwest corner of Civic Center Dr. at Maple Ave, if so desired, by driving north on Madrona, making a right turn to eastbound Del Amo, following Del Amo as it curves southward and becomes Maple Ave., then south to the parking area.
Units or equipment returning to the Exhibit Area will be directed to turn left at the corner of Torrance Blvd. and Madrona Ave. and then be escorted back to their position at the static display area. Turn in your line-of-march identifier before returning to the exhibit area.
GRAND MARSHAL The Grand Marshal will be located in the center of the Reviewing Stands. Salutes should be rendered in front of the Grand Marshal.
MISCELLANEOUS INFORMATION A. Any person requiring medical aid should contact the nearest police officer or parade official for assistance.
B. Restroom facilities will be available at the Marshaling Area and various locations along the Parade Route.
C. We suggest that parade entry coordinators arrange for any refreshments they deem necessary for their participants at the marshaling area and during the parade. Water is especially important. We are providing refreshments for parade participants at the Recreation Center when they reach the dispersal area.
Should you require additional information about your participation in the 49th Annual Armed Forces Day Parade, please contact Tom Stark at 310-618-5568 or Brenda Felt at 310-618-5695.
Chung toi la 1 nhom ban cung phuc vu tai TK Vinh-Binh (cung TK voi Quach-Nam), ddang lien lac voi Le van Dong (khoa 10B72) dde^` dden nha` Nam tham hoi.
Nhan tien co cai list e_mail nay, chac' toan la nhung nguoi ban ..ddong mon^, biet ddau dduoc biet them nhung ban cu~ cua ngay nao.
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà. Nguyễn thị Thảo An
Không biết bắt đầu từ thuở nào có một quy luật hình thành là ở một thể chế chính trị, đều thành lập một lực lượng để bảo vệ mình, lực lượng đó được gọi là quân đội. Quân đội sinh ra từ chế độ và nó cũng vẽ nên những chân dung của chế độ. Chế độ tốt sẽ xây dựng nên một quân đội tốt. Quân đội tốt sẽ không dung dưỡng một chế độ xấu. Từ hơn hai nghìn năm về trước, người lính Việt Nam với chiếc áo trấn thủ, mang gươm giáo ngàn xưa để gồng gánh trên vai những nhiệm vu giết thù diệt loạn, bảo quốc an dân, giữ gìn cơ nghiệp của tiền nhân. Trải qua bao thăng trầm của đất nước, hình ảnh của người lính thay đổi qua bao thời thế, nhưng trách nhiệm không hề thay đổi.
Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường, khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân. Người tuổi trẻ đã trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm tròn tròn như nửa vầng trăng in rõ bóng trên nền trời xanh lơ. Anh đã bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm mòn nửa vòng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
Bắt đầu từ thập niên Sáu Mươi, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích cồng nô lệ, đã toan tính nhuộm đỏ quê hương, thì từ đó, người lính đã hiện diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Ðất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá. Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.
Tiếng mưa bom đạn réo bên mình. Tiếng xe tăng nghiền nát đường quê hương. Hai mươi năm, anh đã đem sinh mạng của mình đặt trên đường bay của đạn. Ðã đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng thân quen. Hay đã đem tình yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc bình yên. Hay anh đã sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn với gian nguy.
Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng sình lầy nước ngang tầm ngực. Anh đã đi qua những địa danh xa lạ: Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hãn lừng lững sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế mù sương. Dài dọc xuống Miền Nam với rừng Tràm, rừng Ðước, đến Ðồng Tháp Mười anh đã nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
Anh đã đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh đã ngã xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm xuống ở Miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét Miền Trung, hay ở Miền Ðông xác thân thối rửa Từ Ấp Bắc, Ðồng Xoài, Bình Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, Bình Long, người lính đã căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời Miền Nam được yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đã đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đã đem mỗi một 206 lóng xương khổ nạn của mình cắm trăm nẻo đường quê hương muôn ngã, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được tồn tại. Ðể cho người dân quốc gia được sống no ấm ở hậu phương.
Những người dân quốc gia, những người dân quốc gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản, những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể không liên quan gì tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ mãi mãi bảo vệ họ tới cùng. Vì thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của người lính.
Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm được trên từng ngón taỵ Thế nên, người lính về hậu phương, anh ngỡ ngàng và lạc lỏng. Bỗng hình như anh cảm thấy mình như người Thượng về Kinh. Như vậy thì người ta tội nghiệp người lính và yêu người lính để thể hiện tình quân nhân cá nước trong sách vở, báo chí và truyền hình.
Người lính bị bắt cóc vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn chương để tự phản bội chính mình, để thoả mãn cho những kẻ trông con bò để vẽ con nai, và ngồi phòng khách để diễn tả chiến trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo, chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu thì phong lưu và đỏm dáng hay trắng trẻo no tròn. Anh mặc đồ trận mới toanh còn nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca mời gọi ái tình. à người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn kiếp trong ti vi. Như vậy thì quá mỉa mai cho cái gọi là anh trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xã hội hậu phương.
Ðó là những người đàn bà bình dị với tấm áo vải nội hoá rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại, gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa tháng gạo ăn. Ðó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn lộn thăm chồng ở các Trung Tâm Huấn Luyện, hay ở những nơi tiền đồn xa xôi với vài ổ bánh mì làm quà gặp mặt. Ðó là những người âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương. Hạnh phúc của họ mong manh và nhỏ bé, bất chợt như tình cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài thơ, hay chút tình cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc nhìn đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước. Người vợ lính cũng là những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Ðó là những người đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu giếm mảnh khăn sô.
Trong nỗi chịu đựng hy sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho người chồng an tâm cầm súng. Ðể anh, người lính, anh mang sự bất công to lớn, sự bạc đãi phủ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
Ở chiến trường, anh đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh khi, trên đầu anh có lãnh đạo tồi, sẵn sàng dẫm xác anh để cầu vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân. Những người dân của anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đòi quyền sống, trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
Những kẻ để trái tim rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng trước sự ngã xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại quốc thiên tả, lệch lạc ngòi bút, ngây thơ nhận định, mù quáng trong định kiến. ất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đòn chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười phương, tận lòng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới hơi thở cuối cùng. Ngày Hoà Bình, 28 tháng Giêng năm 1973 hiệp định Paris được ký kết Hoà Bình thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho hoà bình của họ và nhận giải Nobel. Nhưng hoà bình đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ngòm như tấm mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái hoà bình bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngã xuống, đem xác thân đắp nên thành luỹ để ngăn bước quân thù. Từ Ðông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận bi thương và oai hùng như người lính?
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng, đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời. Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng cháy da.
Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, Bình Long. Và thủ đô, vòm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại. Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
Người lãnh đạo anh còn mè nheo ăn vạ. Và anh, anh phải đóng trọn vai trò làm vật hy sinh. Trước nguy nan, lãnh đạo anh tìm đường chạy trốn thì anh vẫn còn cầm súng ở tiền phương. Anh đã chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở đó, anh vẫn phải tử thủ cho con đường tẩu thoát của cấp lãnh đạo anh tuyệt đối được bình yên. Và đồng minh của anh, người đồng minh đã từng sát cánh, cùng chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay lại nghiễm nhiên nhìn anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm con người đang yên nghỉ ?
Cho nên, cả thế giới lặng câm để nhìn anh chết. Không chỉ cái chết riêng cho mỗi mình anh, vì bởi dưới đuờng đạn xuyên qua, xác thân anh ngã xuống thì đau thương đã vụt đứng lên. Cái bi thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ. Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang vác quả địa cầu, người lính đã mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn người dân trên đường triệt thoái. Trên những con đường từ Cao Nguyên không thiếu những người lính gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ, tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đã làm dù, làm khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đã căng cứng mấy đường cây số, hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đã chết ở Cao Nguyên lộng gió và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
Bởi lãnh đạo đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với nham nhở mình trần, anh vẫn chưa tin đời đã đổi thay. Có thật không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giã từ những hy sinh và gian khổ của hôm quả có thật không? gày buông rơi vũ khí, anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù?
Anh đã khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đã khóc nhiều lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đã khóc thương cho đời lính? Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim anh đã hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đã sang trang, và loài người đã bắt đầu đi những bước cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô tình. Cả thế giới đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam đi vào cõi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới nhập tên. Hoà bình đã nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời người Cộng Sản, nhưng hoà bình không thật đến ở Việt Nam.
Người Cộng Sản chân chính có truyền thống là những người không hề biết hoà bình, không sống được trong hoà bình thật sự. Như con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn dân đi xây dựng văn minh thời thượng. Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Hoà và hạ tượng Người Lính Việt Nam Cộng Hoà. Người Lính rơi xuống vỡ tan trong lòng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt Miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội Cộng Sản bước chân vào thành phố, thì người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay hình như luôn theo nhau đi vào lịch sử. Vậy thì, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi ta chết ở bãi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta chìm dưới đáy biển Ðông, không phải vì khẩu súng rơi trên tay người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lãnh đạm và thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật về người Cộng Sản đã đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm trăm ngàn thương binh đã để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt. Ðể cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những điều dối gạt chính mình. Ðể cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh xuân không phải vùi chôn ở những gốc mì. Ðể cho bà mẹ già không phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi không cần tuôn chẩy.
Nhưng lịch sử đã sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho người Cộng Sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời bình. Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu luôn số phận tàn nhẫn trong thời bình. Anh người lưu vong trong lòng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
Bởi Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường Tù Ngục này mà Cộng Sản đã chứng minh được Chúng và Anh không là đồng loại. Chúng, là lũ Cộng Sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới Cộng Sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên là Lừa Dối, và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới, giết người bằng những mỹ từ đẹp đẻ, bằng lao động vinh quang, bằng thời gian không thể đếm.
Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lãnh đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng, vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. ày đọa sỉ nhục anh dưới hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở những vòng khoai vớ vẩn. Ðặt hy vọng của anh máng vào những mốc thời gian.
Người lính đã trở thành vật thụ nạn thời bình. Anh chết đói bên những vòng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tã. Giữa những trùng vây sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn Anh vượt qua sự chết để đem về nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng minh được phẩm giá con người. Ðôi mắt anh cao ngạo và chân đạp chữ đầu hàng.
Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ý nghĩa đời người. Anh đã chiến đấu, để từ trong cõi chết anh bước ra mà sống. Ðể anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đã ngã xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đã trở về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đã vì ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên) Nước mắt anh không rơi trong ngục tù Cộng Sản, nước mắt anh rơi khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa lòng quê hương. Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một đất nước thanh bình điêu tàn hơn thời chiến? Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người không cùng chung dòng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đã đổi tên. Anh tìm bạn bè cũ, đứa còn đứa mất. Quê hương này không có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la, và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo dòng đời nghiệt ngã. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học trò giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên đường phố Mỹ.
Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, đ dẫu sắp xếp khéo léo tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đã đạt. Và cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót thương anh.
Chúng ta đã quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Hoà, những anh hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng bình thường mà ta chưa có dịp vinh danh.
Nhưng cho tới nay, ta đã làm gì để tri ân người lính Quốc Gia. Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền Miền Nam do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những người quốc gia đã sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đã để mặc anh chìm trong cơn Hồng Thuỷ của Việt Nam.
Chúng ta, những người quốc gia tầm gửi, đã sống nhờ trên máu xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đã đôi lần hãnh diện vì ta nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.
Ngày nay, Người Cộng Sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy còn ta, bao nhiêu người Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của Người Lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đã ngã xuống hôm nào.
Ðể một mai, khi quê hương không còn giống Cộng Sản, ta đem anh về trở lại quê hương. Ðể anh được đứng lên chính nơi anh ngã xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh. Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề "xây dựng lại đất nước trong thời hậu Cộng Sản". Vậy có ai đã đặt kế hoạch tri ân cho người lính? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu, thì làm sao ta có thể xây dựng được một xã hội đáng gọi là nhân bản.
Hãy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Hoà.
Hãy giữ gìn và bảo vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ
như giữ gìn ngọn lửa thiêng trong lòng dân tộc, thì dân tộc ta mới mong có được những truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai.